Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Trang 21 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế hộ nông dân (KTHND) là loại hình kinh tế phổ biến, có vai trò, vị trí rất lớn và là một bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng trong phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn nước ta Đặc biệt kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành một cách toàn diện vào năm 1988 (từ Nghị quyết 10), ruộng đất được giao cho các hộ nông dân (HND) canh tác, công việc sản xuất kinh doanh hoàn toàn do các hộ tự chịu trách nhiệm, kinh tế hộ trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ
Với thực tế này, nhiều HND đã phát huy được tính tự chủ, sáng tạo trong sản xuất; phát huy tốt các tiềm lực (đất đai, lao động, vốn, kinh nghiệm sản xuất ), ngành nghề truyền thống để nâng cao thu nhập Kết quả cho thấy trong những năm qua nhiều hộ đã vươn lên làm giầu Bên cạnh những HND thành công trong phát triển kinh tế vẫn tồn tại một bộ phận khá lớn hộ còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất (thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu thông tin thị trường )
Nhận thức được vấn đề bức bách này, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu và đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm giúp nâng cao đời sống
cho HND Đầu tiên kể tới là Tchayanov (1924), ông đã rút ra kết luận "Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất,
có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội" [dẫn theo (dt.) Trần
Văn Dư, 5] ở Việt Nam, những năm gần đây cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về KTHND:
- Tác phẩm của Đào Thế Tuấn về "Kinh tế hộ nông dân" [30] đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về KTHND; tình trạng hiện nay của KTHND ở nước ta; dự báo mô hình phát triển KTHND
- Nhiều tác giả của các luận án tiến sĩ kinh tế đã bảo vệ thành công như
Trang 3Vũ Văn Yên [34], Nguyễn Văn Chiểu [2], Nguyễn Văn Huân [14], Hoàng Trung Thành [22], Mai Văn Xuân [32], Nguyễn Văn Ngừng [19], Nguyễn Thanh Phương [20], Nguyễn Thị Phương Thảo [24], Nguyễn Thị Minh Thọ [25], Từ Thị Xuyến [33], Trần Văn Dư [5] đã đi sâu giải quyết từng khía cạnh của kinh tế hộ như khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng HND; thực trạng, xu hướng, giải pháp phát triển của KTHND
Nhìn chung, các công trình khoa học và những tác phẩm đã công bố đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung về KTHND phạm vi toàn quốc hoặc một số vùng cụ thể, đã làm sáng tỏ và phong phú thêm kiến thức nghiên cứu về KTHND nước ta Tuy nhiên, KTHND là một chủ đề rộng lớn, mỗi công trình các tác giả
đi sâu khai thác ở một số khía cạnh nhất định, mặt khác thực tế luôn được vận
động không ngừng và vì thế có những vấn đề nghiên cứu mới cần phải bổ sung
và hoàn thiện Đặc biệt, ở điều kiện cụ thể của huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách cụ thể, nhất là áp dụng phương pháp toán kinh tế trong việc phân tích tìm nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng làm kìm hãm sự phát triển kinh tế của các HND
Để làm được điều này, cần phải có những giải pháp thiết thực và hữu hiệu nhằm phát triển mạnh mẽ KTHND trên cơ sở đánh giá đúng đắn hiện trạng
KTHND trong huyện Vấn đề cần làm rõ là: Hiện trạng phát triển KTHND ra sao? Những nguyên nhân và yếu tố nào cản trở KTHND phát triển? Dùng phương pháp nào để lý giải một cách thực sự khoa học những vấn đề nêu trên?Những giải pháp chủ yếu nào nhằm thúc đẩy phát triển KTHND?
Nhằm góp phần nghiên cứu và giải đáp những vấn đề nêu trên, chúng tôi
lựa chọn đề tài "Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện
Đan Phượng, tỉnh Hà Tây "
Trang 41.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở áp dụng mô hình quy hoạch tuyến tính (QHTT) và một số phương pháp khác, đánh giá đúng thực trạng, phân tích rõ nguyên nhân ảnh hưởng và các yếu tố hạn chế phát triển KTHND tại huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, đề xuất định hướng và giải pháp có căn cứ khoa học đẩy mạnh phát triển KTHND tại địa phương nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển KTHND, đồng thời bước đầu xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng mô hình QHTT trong phân tích KTHND
- Đánh giá thực trạng phát triển KTHND của huyện trên cơ sở áp dụng các phương pháp truyền thống kết hợp với mô hình QHTT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến KTHND và mô hình QHTT trong nghiên cứu phát triển KTHND
Tuy nhiên, để xác định rõ đối tượng nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ chỉ nói về KTHND chứ không phải kinh tế hộ gia đình nói chung
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về nội dung, địa điểm và thời gian
Trang 5nghiên cứu
- Về nội dung: các vấn đề chủ yếu liên quan tới KTHND nói chung và
từng loại HND trên địa bàn nghiên cứu Đề tài đi sâu nghiên cứu vận dụng mô hình QHTT trong phân tích KTHND
- Về không gian: đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Đan Phượng, tỉnh
Hà Tây và chủ yếu tập trung tại các điểm đại diện
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu sự phát triển KTHND trong thời gian từ
sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng tới nay Số liệu thứ cấp
được lấy từ các tài liệu đã công bố, số liệu thống kê của huyện và thống nhất nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 1996-2003; số liệu khảo sát thực trạng
được điều tra năm 2004 kết quả của năm 2003
Luận văn sẽ góp phần làm rõ định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển KTHND của huyện cũng như những vùng có điều kiện sản xuất tương tự cho tới năm 2010
Trang 62 kinh tế hộ nông dân Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn
2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của kinh tế hộ nông dân
2.1.1 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
2.1.1.1 Về hộ
Trong từ điển ngôn ngữ Mỹ (Oxford Press-1987) có định nghĩa "Hộ
là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung" [35]
Tchayanov, nhà khoa học kinh tế nông nghiệp nổi tiếng hàng đầu của Nga
có một quan điểm mang tính chất bao trùm: "Về khái niệm hộ, đặc biệt trong đời sống nông thôn, không bao giờ cũng tương đương với khái niệm sinh học làm chỗ dựa cho nó, mà nội dung đó còn có cả một loạt những phức tạp về đời sống kinh tế và đời sống gia đình" [dt.5]
Năm 1980, tại Hội thảo Quốc tế lần thứ hai về quản lý nông trại tổ chức ở
Hà Lan, các đại biểu thống nhất: "Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan
đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế" [dẫn theo (dt.) Hà Văn Huân, 12]
Năm 1981, trong tác phẩm của mình, Harris (London-Anh) cho rằng "Hộ
là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động" Quan điểm này đã được nhóm các
đại biểu thuộc trường phái "Hệ thống thế giới" (Mỹ) là Smith (1985), Martin và Beiltell (1987) bổ sung: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất nguồn lao động thông qua việc tổ chức nguồn thu nhập chung" [dt.5]
Rõ hơn một bước nữa, năm 1987 tạp chí Khoa học xã hội quốc tế; năm
1988, Mc.Gee khi viết về “Những thay đổi đặc điểm kinh tế của các hộ vùng
Trang 7Đông Nam á” và tiếp theo một số nhà kinh tế Việt Nam đưa ra một khái niệm
về hộ tương đối hoàn chỉnh: “Hộ là nhóm người có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm, cùng tiến hành sản xuất chung và có chung một ngân quỹ ” [dt.5], [dẫn theo (dt.) Frank Ellis, 11], [dt.12]
Các khái niệm trên mới chỉ nêu lên những khía cạnh về hộ tiêu biểu nhất, nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp khái quát chung, nhưng vẫn còn có chỗ chưa đồng nhất Tuy nhiên, từ các quan niệm này có thể thấy rằng:
- Hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy vậy cá biệt có trường hợp thành viên của hộ không phải cùng chung huyết thống (con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành
viên trong hộ )
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế, có nguồn lao động và phân công lao
động chung; có vốn và kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận
có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ
có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống, bởi vì
hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh
tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau )
- Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, hay như ta thường nói gia đình là tế
bào của xã hội
Nghiên cứu những khái niệm khác nhau, chúng tôi nhận thấy: hộ là những người có chung một cơ sở kinh tế, cùng một nguồn thu nhập, cùng tiến hành sản
Trang 8xuất chung và cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ, tuy nhiên
hộ là nhóm người có thể cùng hoặc không cùng huyết thống, cùng hoặc không cùng sống trong một mái nhà
2.1.1.2 Hộ nông dân
HND là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn Các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu thực hiện qua sự hoạt động của HND
- Tchayanov cho rằng “HND là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi
“HND là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” Luận điểm của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển [dt.5]
- Đồng tình với quan điểm trên của Tchayanov, 2 tác giả Mats Lundahl
và Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm “HND là đơn vị sản xuất cơ bản” [dt.5] Chính vì vậy, các cải cách kinh tế ở một số nước trong những thập
kỷ gần đây đã thực sự coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt
được tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Frank Ellis (1988) định nghĩa: “HND là các hộ gia đình làm nông nghiệp,
tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao
động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt
động với một trình độ hoàn chỉnh không cao [11]
ở nước ta, cũng đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm HND, Lê Đình
Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ
sở trong nông nghiệp và nông thôn" [24] Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: "HND
là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề
Trang 9rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn" [30]
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
- HND là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa HND và thị trường
- Các HND ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến cho khó giới hạn thế nào là một HND
Từ các khái niệm, đặc điểm nêu trên cho thấy HND là những hộ sống ở nông thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp; Ngoài hoạt động nông nghiệp, HND còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau; HND là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng
2.1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Theo Tchayanov, nhà nông học người Nga vào những năm 20, “Kinh tế hộ nông dân” được hiểu là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình và nhằm thoả mãn những nhu cầu cụ thể của hộ gia
đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao động đối với mỗi thành viên của nó [dẫn theo (dt.) Nguyễn Đức Truyền, 29]
Có quan điểm cho rằng, KTHND là một hình thức kinh tế phức tạp xét từ góc độ các quan hệ kinh tế - tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân
Có ý kiến khác lại cho rằng, KTHND bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh tế hộ thể hiện được các loại hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ
Trang 10nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp
Theo Frank Ellis (1988), "KTHND là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức
độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường" [28]
Từ các khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy: KTHND là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn
và tư liệu sản xuất được coi là của chung trong gia đình để tiến hành sản xuất
2.1.2 Vai trò của KTHND trong quá trình phát triển nông nghiệp
Sự tồn tại của HND là do đặc điểm rất riêng của sản xuất nông nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận hộ là đơn vị kinh tế cơ bản, là chủ thể sản xuất nông nghiệp
Năm 1925, Tchayanov - nhà nông học Nga xuất sắc đã nghiên cứu hình thái của gia đình nông dân không có lao động làm thuê và chỉ sử dụng sức lao
động gia đình là hình thức tổ chức sản xuất mang lại hiệu quả kinh cao trong
điều kiện sản xuất nông nghiệp còn làm bằng thủ công Tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại ở Mỹ, Anh, Hà Lan, Italia ông cũng chứng minh sức sống của kinh tế hộ trên mảnh đất gia đình [dẫn theo (dt.) Hà Văn Huân, 13]
Một số nhà khoa học khác của lý thuyết phát triển coi kinh tế hộ là "hệ thống các nguồn lực" có nghĩa hộ là đơn vị để duy trì và phát triển nguồn lao
động, vốn đảm bảo cho quá trình phát triển của ngành nông nghiệp cũng như của toàn xã hội Hệ thống nguồn lực của hộ được sử dụng theo các phương thức khác nhau, do đó đem lại hiệu quả khác nhau Vì thế, các tác giả đã đưa ra ý kiến
về chiến lược sử dụng các nguồn lực của hộ trong nông thôn
Về phương diện lịch sử thì một trong những con đường tích luỹ tư bản cũng bắt đầu từ quá trình kinh doanh của các gia đình Xã hội càng phát triển thì
sự phân công lao động càng diễn ra sâu sắc, càng tạo nhiều cơ hội để các cá
Trang 11nhân, các hộ tự nguyện tham gia vào sự phân công lao động của xã hội, xoá bỏ
sự ép buộc lao động đã có thời diễn ra ở một số nước, trong đó có nước ta
Thành quả của cải cách kinh tế các nước, có những đóng góp quan trọng của kinh tế hộ ở Trung Quốc đã giao quyền tự chịu trách nhiệm trong sản xuất
và đơn vị sản xuất cơ bản ở nông thôn, vì thế sản xuất đạt kết quả ngạc nhiên Trong nông thôn hình thành nhiều loại hình nông hộ, công nghiệp nông thôn phát triển nhanh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế 12-13%/năm của nước này Các nước khác trong khu vực Đông Nam á như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Philippin trong chiến lược phát triển kinh tế cũng rất chú ý tới khu vực kinh tế nông thôn mà hạt nhân cơ bản là kinh tế nông hộ Rất nhiều cuộc hội thảo quốc tế về kinh tế hộ đã khẳng định, ở các nước trong khu vực chủ thể kinh
tế nông nghiệp là HND Khi sản xuất gặp khó khăn và có biến động lớn thì kinh
tế nông hộ có khả năng thích ứng cao, nó có khả năng phục hồi rất nhanh sau mỗi biến động
ở nước ta trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp, kinh tế hộ cũng chỉ được coi là "kinh tế phụ gia đình" nhưng trên thực tế sản xuất của nông hộ chiếm tới 48% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp, thu nhập chiếm 50-60% tổng thu nhập của hộ Tuy kinh tế tập thể sử dụng trên 90% đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng thu nhập của người nông dân từ kinh tế tập thể cũng chỉ chiếm 40-50% [28] Thời kỳ này thực chất là thời kỳ trì trệ nhất của nông nghiệp nước ta trong hơn 30 năm qua Từ khi Nghị quyết 10 xác định HND là đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất kinh doanh, kinh tế hộ đã có những bước phát triển đáng kể và khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ở nước ta, thể hiện rõ trên các mặt:
- Phát huy tốt các tiềm lực sản xuất (đất đai, lao động, vốn, kinh nghiệm sản xuất ) để tạo ra nhiều nông sản hàng hoá cho xã hội, tạo ra bước tiến quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta từ những năm 90 đến nay
Trang 12- Phát triển kinh tế hộ tạo cho sản xuất phát triển, mặt khác mở rộng thị trường nông sản phẩm hàng hoá cho quá trình phát triển công nghiệp thành thị và nông thôn
- Phát triển kinh tế hộ không chỉ có vai trò to lớn về kinh tế mà nó còn có
ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hoá và hiệu quả kinh
tế trong nông nghiệp đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao
đời sống
Từ những căn cứ về lý luận và thực tiễn, từ các quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy KTHND có những vai trò và ý nghĩa thiết thực đối với nền kinh tế quốc dân:
- Cung cấp sản phẩm không thể thiếu cho xã hội loài người, nhằm đáp ứng tiêu dùng và tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành kinh tế quốc dân
- Cung cấp và duy trì các nguồn lực như đất đai, lao động, góp phần phân công lao động xã hội
- Là thị trường rộng lớn của các ngành kinh tế quốc dân
- Phát triển KTHND sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, giải quyết các vấn đề về văn hoá xã hội trong nông thôn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái
Trang 13Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân
và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về KTHND ở nước ta, từ năm 1988 khi nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các HND, sản xuất nông nghiệp,
đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và sản lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ
+ Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác
+ Sản xuất của HND là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng KTHND là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ
ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
- Đặc điểm KTHND huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây:
Ngoài các đặc điểm chung nêu trên, KTHND huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây có những đặc thù:
Quy mô đất canh tác trung bình của một hộ vào khoảng 1500m2 Để có thể bù đắp những thiếu hụt về thu nhập của sản xuất nông nghiệp, các HND huyện Đan Phượng đã phát triển các hoạt động phi nông nghiệp
Đặc biệt, do lợi thế là một huyện ven đô, thuận lợi về giao thông, lợi thế
về thị trường, KTHND huyện Đan Phượng có xu hướng phát triển mạnh về các ngành nghề mới: buôn bán, làm thuê, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ sản xuất truyền thống sang các dạng mô hình vườn trại, ruộng trại có hiệu quả kinh tế cao cho sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường
Trang 142.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân
2.2.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đặc điểm đất đai:
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sự phát triển KTHND Những HND có được những vị trí thuận lợi như gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn sẽ có điều kiện phát triển kinh tế hơn cả trong sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong quá trình sản xuất, bởi mọi hoạt động trao đổi dinh dưỡng và nước của cây trồng phần lớn
được thực hiện từ đất Do vậy, tính chất nông hoá của đất có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái:
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế
được những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và có cơ hội để phát triển nông nghiệp
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển KTHND, nhất là
nguồn nước, không khí Bởi vì, những cây trồng và vật nuôi tồn tại và phát triển theo quy luật của sinh học Nếu môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng sản phẩm cao Ngược lại, nếu môi trường sinh thái không phù hợp thì cây trồng, vật nuôi sẽ chậm phát triển, năng suất, chất lượng sản phẩm giảm, từ đó hiệu quả sản xuất của HND thấp
2.2.2 Nhóm yếu tố về điều kiện và tổ chức sản xuất
Đây là nhóm yếu tố liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu, có
ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế đối với các HND
Trang 15- Yếu tố về lao động, vốn sản xuất, quy mô đất đai và cơ sở hạ tầng nông thôn:
Người lao động cần có trình độ học vấn và khả năng để tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại trong sản xuất
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh; là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá; là một trong những yếu tố quyết định đến phương thức sản xuất của hộ Khi có quy mô vốn đủ lớn
hộ gia đình có xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao thu nhập
Đất đai là tư liệu sản xuất chính của ngành sản xuất nông nghiệp, đặc biệt
là ngành trồng trọt Do đó, quy mô đất đai có quan hệ tỷ lệ thuận với thu nhập của HND sản xuất nông nghiệp lấy đất đai làm tư liệu sản xuất chính
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông thôn bao gồm: đường giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, trang thiết bị trong nông nghiệp Thực tế cho thấy, nơi nào có cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập cao, đời sống của các HND được cải thiện
- Yếu tố tổ chức sản xuất: thể hiện ở việc lựa chọn phương án sản xuất và cách bố trí sản xuất của HND Những hộ lựa chọn được phương án sản xuất và
bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực hiện có, hộ đó sẽ có thu nhập cao và ngược lại sẽ không tận dụng được hết nguồn lực của mình
- Yếu tố về hợp tác trong sản xuất kinh doanh, về xã hội:
Trong nền kinh tế mở, để cạnh tranh có hiệu quả các HND cần có sự hợp
tác để có thêm vốn, nhân lực, kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm làm ăn Ngoài ra các HND cần hợp tác để chống ép cấp, ép giá của tư thương
Trang 16Thực tế cho thấy, để đáp ứng yêu cầu của thị trường về nông sản hàng hoá, các HND phải liên kết, hợp tác lại với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và điều quan trọng là giúp nhau tiêu thụ nông sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các HND có điều kiện áp dụng các thành tựu KHKT và công nghệ mới vào sản xuất, từ đó đã nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và hiệu quả lao động
2.2.3 Nhóm yếu tố về KHKT và công nghệ
- Yếu tố kỹ thuật canh tác:
ở mỗi vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác nhau,
đặc biệt yêu cầu thích nghi của các giống cây trồng, vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái, đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện từng vùng Vì vậy, tập quán, kỹ thuật canh tác từng vùng, từng
địa phương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển KTHND
- Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ:
Sản xuất của HND không thể tách rời những tiến bộ KHKT, vì nó tạo ra cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường,
Trang 17dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh Các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, việc ứng dụng các tiến bộ KHKT có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất, thậm chí những tiến bộ kỹ thuật có thể làm thay đổi hẳn trình độ sản xuất
2.2.4 Nhóm yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước
Nhóm yếu tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước như: chính sách ruộng đất; chính sách về tín dụng; chính sách thuế; chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới; giải quyết việc làm Đây là công cụ để nhà nước điều tiết sản xuất nông nghiệp, tạo
điều kiện cho các HND phát triển sản xuất
Các yếu tố ảnh hưởng đến KTHND được minh hoạ qua sơ đồ 2.1
Các điều kiện tự nhiên
(Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu )
Hộ nông dân
Sơ đồ 2.1 Các yếu ảnh hưởng đến KTHND
Trang 182.3 Sơ lược tình hình phát triển KTHND ở một số nước và ở Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới đã chứng minh sự tồn tại và phát triển của KTHND là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật của sản xuất nông nghiệp, kể cả trong điều kiện nông nghiệp được công nghiệp hóa, hiện đại hoá Trên thế giới, kinh tế hộ gia đình và mức phát triển cao hơn là kinh tế trang trại gia đình tiếp tục được mở rộng, được khuyến khích phát triển
- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Pháp:
Năm 1955 có 2.285.000 trang trại, đến năm 1993 còn 801.400 trang trại Tốc độ trang trại giảm mỗi năm bình quân 2,7% Diện tích bình quân của các trang trại tăng lên: năm 1955 là 12ha, năm 1993 có 35,1ha Số trang trại dưới 5
ha chiếm 27,6%, số trang trại từ 5-20ha chiếm 22,6%, số trang trại trên 20ha chiếm 49,8% Bình quân quy mô về diện tích của trang trại là 29,2ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp Hiện nay, các trang trại gia đình sản xuất ra lượng nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước với tỷ suất hàng hoá về ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70% và riêng năm 1991 đã xuất khẩu trên 24 triệu tấn ngũ cốc [15]
- Tình hình phát triển trang trại ở Mỹ:
Mỹ là nơi có kinh tế trang trại phát triển với trình độ cao Năm 1950 có 5.648.000 trang trại và các trang trại có xu hướng giảm dần về số lượng, năm
1960 còn 3.962.000 trang trại, năm 1970 có 2.954.000 trang trại và năm 1992 còn 1.925.000 trang trại Trong khi đó diện tích bình quân của các trang trại tăng lên, năm 1950 là 86ha, năm 1960 là 120ha, năm 1970 là 151ha và năm 1992 là 198,7ha [15]
Hiện nay ở Mỹ các trang trại gia đình đã sản xuất ra hơn 50% sản lượng
đậu tương và ngô của toàn thế giới, xuất khẩu 40-50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn
Trang 19ngô, đậu tương Các trang trại ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất kinh doanh nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp
+ ở Hàn Quốc năm 1950, nhà nước mua lại ruộng đất của những chủ ruộng trên 3 ha để bán cho nông dân Việc chú trọng phát triển kinh tế trang trại
đã tự túc được vấn đề lương thực Từ năm 1975, các trang trại ở Hàn Quốc đã chuyển hướng đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng
có giá trị kinh tế cao Sản lượng rau quả, sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân hàng năm 8-10% [15]
+ ở Đài Loan, thời kỳ 1949-1953 đã tiến hành cải cách ruộng đất, bán ruộng công cho nông dân, trưng mua ruộng đất của các chủ ruộng trên mức hạn
điền và bán lại cho nông dân trả dần Quy mô trang trại gia đình ở Đài Loan thuộc loại nhỏ, chỉ vào khoảng 1ha, trong khi ở nhiều nước châu á quy mô bình quân 2-5ha, ở châu Âu 30-50ha, ở Bắc Mỹ 180-200ha [15] Trang trại không chỉ
Trang 20đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu, bình quân một trang trại có 5,1 người nhưng chỉ có 1,5 người là lao động nông nghiệp, số trang trại thuần nông chỉ có 10% còn lại 90% là trang trại kiêm ngành nghề, thu nhập từ lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 62% tổng thu nhập của trang trại
+ ở Nhật Bản, năm 1946-1949 nhà nước đã mua 1,95 triệu ha đất của các chủ ruộng để bán cho các nông dân thiếu ruộng hoặc không có ruộng Quy mô ruộng đất bình quân của một trang trại ở Nhật Bản năm 1990 là 1,2ha tăng lên 1,5 lần trong vòng 40 năm Số trang trại chuyên làm nông nghiệp trong giai đoạn 1960-1998 giảm trên 3 lần, từ 2 triệu xuống chỉ còn 620.000 cơ sở Các trang trại
có thu nhập từ nghề nông nghiệp giảm dần, phi nông nghiệp tăng lên [15]
+ ở Trung Quốc, từ năm 1982 đã nhanh chóng thực hiện chế độ khoán
đến từng hộ Năm 1984, nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân Đồng thời Chính phủ đưa ra chính sách khuyến khích tích cực việc mở mang ngành nghề và dịch vụ, khuyến khích sản xuất hàng hóa và khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông thôn cùng phát triển Cải cách giá cả thu mua
nông sản theo hình thức "cánh kéo giá cả hợp lý”, để bảo trợ sản xuất và thu
nhập của nông dân Đẩy mạnh phát triển các xí nghiệp hương trấn với ngành nghề chính như gia công nông phẩm, phát triển công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở
"li nông bất li hương", "lấy công bù nông" đã tạo điều kiện cho phát triển sản
xuất nông nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp và thu hút số lao động dư thừa trong nông nghiệp Một trong những thành công chuyển giao KHKT cho nông dân đó
là "kế hoạch đốm lửa" [24]
Năm 1985 cả nước có 25 triệu hộ chuyên trong tổng số 180 triệu nông hộ,
tỷ trọng sản phẩm hàng hoá của các hộ chuyên chiếm tới 50% tổng sản phẩm Chỉ sau 10 năm thực hiện cải cách, bộ mặt nông thôn Trung Quốc đã thay đổi nhanh chóng, bình quân hàng năm giá trị sản lượng trồng trọt tăng 4,6%, chăn nuôi tăng 9%, thu nhập bình quân một người dân tăng 10,7%, quy mô xí nghiệp
Trang 21hương trấn ngày càng được mở rộng Năm 1978 có 1,524 triệu xí nghiệp hương trấn, năm 1991 có 19,08 triệu xí nghiệp với tổng giá trị sản phẩm là 846,1
tỷ nhân dân tệ, giải quyết việc làm cho 20% lao động ở nông thôn [24]
Từ thực tế phát triển kinh tế nông trại của một số nước trên thế giới, với trình độ phát triển, chế độ chính sách khác nhau cho thấy:
- ở các nước phát triển, thường trong giai đoạn đầu có số lượng nông trại nhiều, quy mô nhỏ Theo bước tiến của công nghiệp hoá, số lượng nông trại giảm dần, quy mô nông trại tăng lên Nông sản phẩm hàng hoá tăng lên nhanh chóng,
do đó đã thúc đẩy những tiến bộ về KHKT, về cơ giới hoá, điện khí hoá, hoá học hoá và ngày nay là tin học hoá ngày càng xâm nhập vào nông nghiệp nông thôn
- ở các nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp gia đình ở dạng kinh tế nông hộ tự cấp, tự túc còn chiếm một bộ phận quan trọng Bộ phận kinh tế nông
hộ chuyển sang kinh tế nông trại sản xuất hàng hoá ngày một nhiều Sự chuyển dịch này gần như là một bước đi tất yếu, một quy luật khách quan Bước đi nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào trình độ dân trí, tiến bộ KHKT, thể chế chính sách khuyến khích của mỗi nước
Nghị quyết 10 đã nêu lên những chủ trương giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế hộ, đó là: Giao khoán ruộng đất đến hộ và nhóm hộ xã viên ổn định lâu dài, hoá giá các tư liệu sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã mà tập thể quản lý không có hiệu quả để bán cho xã viên sử dụng Thực hiện việc khoán
Trang 22đến hộ và khuyến khích làm giàu chính đáng Khuyến khích phát triển kinh tế gia
đình, kinh tế cá thể và tư nhân trong nông nghiệp Mở rộng thị trường nông sản, chấp nhận quyền tự chủ tiêu thụ nông sản của HND Sắp xếp đổi mới cơ chế quản
lý hợp tác xã, các đơn vị kinh tế quốc doanh nông, lâm, ngư nghiệp
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển KTHND sản xuất hàng hoá Nghị quyết số 06/NQ/TƯ ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát
triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “ Tiếp tục khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ”[1]
Trên nền tảng kinh tế tự chủ của HND đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường Nghị quyết số 03/2000/NQ- CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về
kinh tế trang trại đã khẳng định “ Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản” [1] Nghị quyết đã đề ra các biện pháp về kinh tế và tổ chức nhằm
khuyến khích phát triển kinh tế trang trại ở nuớc ta trong những năm tới Vì vậy, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, KTHND đã phát huy tác dụng
to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn
Thành tựu nổi bật phát triển KTHND và kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam của những năm đổi mới vừa qua là đã giải quyết vững chắc vấn đề lương thực,
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, biến Việt Nam từ nước thiếu lương thực
Trang 23triền miên thành nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới, kể từ năm 1988, theo hướng năm sau cao hơn năm trước cho đến nay
Bình quân 10 năm 1990-2000 so với bình quân 5 năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tăng 74%, cà phê nhân tăng 2,8lần, cao su tăng 87%, hồ tiêu tăng 68%, chè tăng 27,3%, bông tăng 2,38 lần [4] Các loại cây ăn quả đặc sản
có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam
đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng trong cả nước
Chăn nuôi tăng trưởng cao và ổn định Bình quân 10 năm 1990-2000 so với bình quân 5 năm trước đó đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33% Đặc biệt đàn bò sữa tăng khá, năm 1999 đạt gần 34 ngàn con, tăng gấp 3 lần so với năm 1990 [4]
KTHND từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (4/1988), sản xuất đã phát triển toàn diện, liên tục tăng trưởng cao (đạt tốc độ 4,3%/năm) Hàng năm KTHND đã sản xuất khoảng 98% sản lượng lương thực, 99% sản lượng rau các loại, 95% sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày và 97% sản lượng chăn nuôi gia súc, gia cầm của cả nước Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ (chiếm khoảng 30% GDP nông thôn) [4]
Nhiều nhân tố mới trong nông nghiệp nông thôn đã xuất hiện Kinh tế hộ sản xuất hàng hoá theo mô hình nông trại đã phát triển, trong hơn 12 triệu HND với tư cách là đơn vị tự chủ sản xuất đã có khoảng 2 triệu hộ khá và giàu, trong
đó có 11.000 trang trại, với 62,35% số chủ trang trại là nông dân, có nguồn gốc
từ HND sản xuất kinh doanh giỏi [15]
2.4 Tình hình nghiên cứu KTHND ở Việt Nam, những bài học rút ra từ lý luận và thực tiễn
2.4.1 Tình hình nghiên cứu KTHND ở Việt Nam
Trong những năm đổi mới kinh tế vừa qua đã có một số công trình khoa
Trang 24học nghiên cứu về KTHND Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KTHND như:
- Đánh giá thực trạng kinh tế hộ trên các vùng sinh thái, xu hướng phát triển và những giải pháp để đẩy mạnh kinh tế nông hộ của Chu Văn Vũ và tập
thể tác giả Viện kinh tế học trong cuốn sách "Kinh tế hộ trong nông thôn Việt Nam" [31]
- Nghiên cứu về "Trang trại gia đình ở Việt Nam và trên thế giới" [9] và
"Kinh tế trang trại vùng đồi núi" [10] của Trần Đức đã hệ thống hoá lý luận về
phát triển kinh tế trang trại gia đình và vận dụng vào vùng đồi núi nước ta
- Lý luận và thực tiễn KTHND và dự báo mô hình phát triển KTHND của
Đào Thế Tuấn trong cuốn sách "Kinh tế hộ nông dân" [30]
- Tổng hợp bước đầu để phổ biến những kinh nghiệm hay của mô hình kinh tế trang trại ở tỉnh Yên Bái của các tác giả Vũ Ngọc Kỳ và cộng sự trong
cuốn sách "Kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh miền núi Yên Bái " [16]
- Phân tích thực trạng về phát triển KTHND sản xuất hàng hoá ở vùng
đồng bằng sông Hồng, những kết quả đã đạt được và những hạn chế tồn tại cũng như phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy hơn nữa theo hướng
phát triển sản xuất hàng hoá của Vũ Thị Ngọc Trân trong cuốn sách "Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoá ở vùng đồng bằng sông Hồng" [28]
- Hệ thống hoá và làm rõ được những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại, phân tích khái quát lịch sử phát triển của kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay, xác
định khả năng và các điều kiện phát triển các loại hình kinh tế trang trại, trên cơ
sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong cuốn sách "Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Hương (chủ biên) và tập thể tác giả các nhà khoa
Trang 25học, quản lý ở trung ương và địa phương [15]
Trong những năm gần đây, một số luận án tiến sĩ kinh tế đã đi sâu nghiên cứu làm rõ từng khía cạnh của KTHND như: vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn; định hướng phát triển kinh
tế nông hộ trong kinh tế thị trường; phát triển kinh tế nông hộ theo hướng sản xuất hàng hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước; đánh giá, phân tích và đề xuất giải pháp cho phát triển kinh tế hộ trên các vùng kinh tế trong cả nước của các tác giả: Mai Văn Xuân [32], Nguyễn Văn Huân [14], Nguyễn Thanh Phương [20] gần đây là Nguyễn Thị Minh Thọ [25], Từ Thị Xuyến [33] và Trần Văn Dư [5]
Các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung và từng bước hoàn thiện kiến thức nghiên cứu mới cả về lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế nông
hộ ở nước ta Tuy nhiên, trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội, các hiện tượng kinh tế luôn luôn có sự vận động và phát triển không ngừng, đòi hỏi sự cập nhật
và vận dụng các kiến thức trên vào từng vùng phải hết sức linh hoạt
2.4.2 Những bài học, kinh nghiệm rút ra từ lý luận và thực tiễn phát triển KTHND
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của KTHND phải
được gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, với thị trường trong, ngoài nước và thường có trình độ chuyên môn hoá sản xuất cao
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, KTHND có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế như: Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia và đang tiếp tục phát huy tác dụng
ở nền kinh tế thị trường phát triển cao như: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản [26]
Đối với nước ta, thời kỳ đổi mới kinh tế, từ năm 1988 đến nay KTHND đã
có tiền đề cơ bản để trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, ngày càng có nhiều HND thoát khỏi tình trạng thuần nông, tự cung, tự cấp Trong nông nghiệp, hình thức kinh tế nông trại cũng đã xuất hiện, kể cả các vùng đồi núi và đồng bằng
Trang 263 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm đất đai
3.1.1.1.1 Vị trí địa lý
Đan Phượng là huyện đồng bằng nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tây, cách thủ đô
Hà Nội 20km theo đường quốc lộ 32A, cách thị xã Hà Đông 15km Phía Bắc giáp huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông giáp huyện Từ Liêm - Hà Nội Phía Nam giáp huyện Hoài Đức, phía Tây giáp huyện Phúc Thọ Đan Phượng là một huyện có điều kiện khá thuận lợi trong việc tiếp cận với thị trường Hà Nội và một số huyện trong tỉnh
3.1.1.1.2 Đặc điểm đất đai
Tổng diện tích tự nhiên là 7.657ha, bao gồm: đất nông nghiệp 3.838ha (chiếm 50,1% diện tích đất tự nhiên), đất chuyên dùng 989ha (chiếm 12,9%), đất
ở 788ha (chiếm 10,3%) và đất chưa sử dụng 2.042ha (đất mặt nước và đất bãi sông Hồng chưa được khai thác), chiếm 26,7% diện tích tự nhiên
- Căn cứ đặc điểm đất đai, huyện Đan Phượng phân thành 4 tiểu vùng sinh thái: vùng bãi sông Hồng, ven sông Đáy, mương Tiên Tân và đồng Đan Hoài, cụ thể được trình bày ở bảng 3.1 và đồ thị 3.1
+ Vùng bãi sông Hồng: diện tích đất nông nghiệp đang khai thác: 410ha,
đây là vùng đất phù sa được bồi hàng năm, rất màu mỡ, thích hợp cho trồng những cây có giá trị kinh tế cao như: rau, màu, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc (đặc biệt là bò thịt và bò sữa), thuỷ đặc sản
+ Vùng ven Đáy: diện tích đất nông nghiệp đang khai thác: 475ha, đây là
Trang 27vùng đất phù sa cổ, có thể trồng được nhiều loại cây trồng giá trị kinh tế cao: cây
ăn quả, cây màu, cây công nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản
Bảng 3.1 Tình hình đất nông nghiệp huyện Đan Phượng năm 2003
(Phân theo tiểu vùng sinh thái) Tiểu vùng
Diện tích (ha)
Cơ
cấu (%)
Đặc điểm đất đai
Trồng rau, màu rất tốt
năm, rau, màu
Trồng cây ăn quả tốt Vùng đồng Đan Hoài 2.036 53,0 Đất thịt nhẹ Trồng lúa tốt
Tổng cộng: 3.838 100,0
Nguồn: số liệu thống kê huyện Đan Phượng năm 2003
Mương Tiên Tân 23,9%
Ven sông
Đáy 12,4%
Bãi sông Hồng 10,7%
Đồng
Đan Hoài 53,0%
Đồ thị 3.1 Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2003
(Phân theo tiểu vùng sinh thái)
Trang 28+ Vùng Tiên Tân: diện tích đất nông nghiệp đang khai thác là 917ha Đất thịt nhẹ, màu mỡ, địa hình cao ráo, thuận lợi cho trồng các loại cây: hoa màu, rau, cây ăn quả và chăn nuôi
+ Vùng đồng Đan Hoài: diện tích đất nông nghiệp đang khai thác là 2.036ha Đất thịt cứng pha sét nhẹ, hàng năm được tưới bằng nước phù sa sông Hồng, qua hệ thống thuỷ nông Đan Hoài, thích hợp cho trồng 2 vụ lúa và vụ màu (đông), cây công nghiệp ngắn ngày, phát triển chăn nuôi gà, vịt, con đặc sản
Tóm lại, Đan Phượng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, đất đai được bồi lắng của phù sa, do phân lũ hoặc lấy nước từ các công trình thuỷ lợi qua đê Do vậy, đất có phản ứng ít chua ở tầng mặt, càng xuống sâu độ pH, KCl càng tăng Nhìn chung, đất nông nghiệp có độ phì nhiêu cao, tầng đất dày nên có thể bố trí trồng nhiều loại cây ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả
Phân đất theo 4 tiểu vùng sinh thái trên có vai trò quan trọng trong việc quy hoạch các loại hình sản xuất như bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái trong huyện, thể hiện trên mỗi kiểu địa hình hiện đã có những loại hình sản xuất đặc trưng, phản ánh rõ nét lợi thế so sánh
- Đất nông nghiệp phân theo ranh giới hành chính:
Với sự phân chia tiểu vùng sinh thái trên của huyện, đất nông nghiệp thuộc các xã trong huyện có sự phân bố khác nhau giữa các tiểu vùng Cụ thể
được biểu hiện trong bảng 3.2 và đồ thị 3.2
Số liệu bảng 3.2 và đồ thị 3.2 cho thấy về đất đai, xã Thọ An có thể đại diện cho vùng bãi Sông Hồng và sông Đáy; xã Thượng Mỗ đại diện cho vùng
đồng Đan Hoài và mương Tiên Tân; xã Song Phượng đại diện trung gian cho vùng đồng nhưng có bãi
Trang 29Bảng 3.2 Tình hình đất nông nghiệp huyện Đan Ph−ợng năm 2003
(Phân theo ranh giới hành chính)
(%)
Sông Hồng
Sông
Đáy
Tiên Tân Đan Hoài
Trang 30Liên Hồng 3,5%
Phương Đình 10,4%
Thọ Xuân 6,9%
Thọ An 7,7%
Trung Châu 4,5%
Hồng Hà 5,8%
Thị trấn 0,6%
Đồng Tháp 4,6%
Hạ Mỗ
6,7%
Tân Hội 10,6%
Song Phượng 6,0%
Tân Lập 10,5%
Đan Phượng 8,9%
Đồ thị 3.2 Cơ cấu đất nông nghiệp năm 2003
(Phân theo ranh giới hành chính)
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Một số chỉ tiêu khí hậu đặc trưng của huyện Đan Phượng thể hiện trong
các bảng 3.3 và đồ thị 3.3
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu khí hậu đặc trưng huyện Đan Phượng
(Số liệu bình quân từ 2001-2003)
Các tháng trong năm Chỉ tiêu
Nhiệt độ ( 0 C) 17,3 19,1 21,5 24,8 27,1 29,1 29,1 28 27 25,1 21,3 17,8 Mưa (mm) 21,7 27,3 52,6 48,8 260,3 270,6 318,6 319,7 187,4 111 34,4 32,4
Số giờ nắng (giờ) 82 56,3 49,1 92,1 139,6 141,5 154,7 144,7 148,4 141,8 113,1 78,8
Độ ẩm K.khí (%) 83 86,3 86 88,7 87 84,3 85 89 87 84 81,3 82,7
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tây năm 2003
Trang 31Nhiệt độ (0C) Lượng mưa (mm) Số giờ nắng (giờ) Độ ẩm K.khí (%)
Đồ thị 3.3 Một số chỉ tiêu khí hậu trung bình các tháng trong năm
huyện Đan Phượng giai đoạn 2001-2003
- Khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa hè nóng ẩm, nhiệt độ trung bình trên 23,90C Mùa đông khô và lạnh, nhiệt độ trung bình 17-
190C Độ ẩm tương đối trung bình 85,4% (ẩm nhất thường là tháng 3, 4, 8 và 9)
- Nắng trong vùng mang tính chất chung của vùng Bắc bộ, trung bình hàng năm có 1.342 giờ nắng
- Lượng mưa trung bình 1.684,8mm/năm Mưa lớn tập trung trong 4 tháng (5, 6, 7, 8) Từ tháng 1 đến tháng 4 thường hay có mưa phùn
- Gió theo mùa, mùa đông thường là Đông Bắc - Tây Bắc đến Đông Nam, tốc độ gió trung bình 4m/s Mùa hè thường là Đông Nam - gió Tây và Tây Bắc, tốc độ gió trung bình 2,5-3m/s Bão thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 8
Nhìn chung, khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi
Trang 323.1.2 §Æc ®iÓm kinh tÕ - x∙ héi
Nguån: sè liÖu thèng kª huyÖn §an Ph−îng n¨m 2003
* D©n sè trung b×nh ph©n theo giíi tÝnh vµ theo thµnh thÞ, n«ng th«n thÓ
Trang 33Nguồn: số liệu thống kê huyện Đan Phượng năm 2003
Dân số tăng qua các năm và có sự chuyển dịch từ nông thôn sang thành thị, sự chuyển dịch dân số do huyện Đan Phượng quy hoạch lại đất đai của của các xã để mở rộng thị trấn
* Lao động (từ 15 tuổi trở lên) đang làm việc trong các ngành kinh tế đến năm 2003 có 55.000 người, chiếm 41,8% dân số trong toàn huyện Bên cạnh số lượng lao động dồi dào, chất lượng lao động không ngừng được cải thiện, nhìn chung dân thuộc huyện Đan Phượng có trình độ văn hoá khá cao, có khả năng tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường Tình hình lao động năm 2003 đang làm việc trong các ngành kinh tế được thể hiện trong bảng 3.6 và đồ thị 3.5
Trang 34Bảng 3.6 Tình hình lao động huyện Đan Phượng năm 2003
2,9%
Thương nghiệp, dịch vụ:
Trang 35+ Lao động dịch vụ phát triển, phù hợp với thị trường
+ Lao động các lĩnh vực khác nhìn chung đáp ứng được yêu cầu, đã và
đang được đào tạo lại tương xứng trong thời kỳ mới
3.1.2.2 Hệ thống cơ sở hạ tầng
- Hệ thống thuỷ lợi:
+ Vùng đồng Đan Hoài và Tiên Tân: hệ thống thuỷ lợi đã hoàn chỉnh, có thể tưới chủ động cho 100% diện tích đất nông nghiệp, bằng hệ thống thuỷ nông
Đan Hoài Hệ thống kênh mương tưới hầu hết đang được kiên cố hoá Tuy nhiên,
về tiêu vẫn còn một số vùng khó khăn, đặc biệt khi mực nước sông Nhuệ tại thượng lưu sông Hà Đông cao
+ Vùng bãi sông Đáy và sông Hồng: còn thiếu công trình tưới, hiện nay nhà nước và nhân dân mới đầu tư xây dựng hệ thống tưới bằng giếng khoan cho vùng bãi Ngũ Châu - xã Trung Châu, ngoài ra còn một số trạm bơm tưới cục bộ lấy nước sông Đáy Nhìn chung diện tích đảm bảo tưới còn ít, cần tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống công trình thuỷ lợi
+ Hệ thống đê, kè sông Hồng, sông Đáy, công trình phân lũ là những công trình quốc gia, hàng năm được nhà nước đầu tư củng cố và nâng cấp đảm bảo an toàn chống lũ với tần suất thiết kế
Trang 36Đan Phượng có hệ thống giao thông thuỷ, bộ khá thuận tiện:
+ Đường thuỷ theo sông Hồng, sông Đáy có thể đi tới nhiều địa bàn vùng châu thổ sông Hồng và cả nước
+ Đường bộ có quốc lộ 32A, hệ thống đường liên huyện, liên xã tương đối tốt, đường ô tô đi vào được tất cả các xã Đường giao thông trong thôn, xã hầu hết đã được gạch hoá hoặc bê tông hoá, một số xã đã hoàn chỉnh đến ngõ
Với hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận tiện, tạo điều kiện giao lưu kinh tế
dễ dàng với các vùng trong cả nước Tuy nhiên, cần thường xuyên tu bổ, nâng cấp hệ thống đường bộ, đặc biệt là hệ thống giao thông nông thôn để đáp ứng đủ yêu cầu phát triển
Với hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh và hiện đại, nhân dân
có thể tiếp thu nhanh chóng các thông tin: thời sự, thị trường, khoa học công nghệ trong nước và quốc tế
- Hệ thống nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn:
Hầu hết các hộ gia đình đã được dùng nước giếng khoan, giếng khơi, nước mưa cho sinh hoạt và đời sống Phần lớn số hộ gia đình đã có hố xí hợp vệ sinh, phong trào xây dựng hầm Bioga đang phát triển mạnh
Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã chú ý tới vấn đề bảo vệ môi trường Tuy nhiên, do khả năng tài chính hạn chế, hệ thống thoát và
Trang 37xử lý chất thải chưa được quan tâm đầu tư, nên vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề đang trở lên bức xúc
3.1.2.3 Đời sống của hộ nông dân
Qua những năm đổi mới, với sự giúp đỡ của Trung ương, tỉnh và sự phát huy nội lực để phát triển kinh tế, từ 1990 trở lại đây GDP bình quân của huyện tiếp tục tăng, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt GDP bình quân đầu người năm 1990 là 903 nghìn đồng, năm 2003 là 2.500 nghìn đồng Là huyện khá giỏi
về sản xuất nông nghiệp sản lượng lương thực, năm 1990 đạt 35.093kg, bình quân đầu người là 329kg; năm 2003 đạt 37.820tấn, bình quân đầu người là 287,4kg [21] Nguyên nhân sản lượng lương thực năm 2003 thấp hơn năm 1990
là do chuyển bộ phận diện tích trồng lúa sang trồng màu, cây ăn quả có hiệu quả kinh tế cao hơn
Năm 2003, sản lượng lợn hơi xuất chuồng là 10.921tấn, bình quân đầu người là 83,3kg/năm; sản lượng cá tươi là 464tấn, bình quân đầu người là 3,75kg/năm; sản lượng trứng gia cầm 11.470.000quả, bình quân 93quả/năm [21]
Tỉ lệ nhà xây lợp ngói, mái bằng: 97-98%; số giường bệnh: 1,06/1.000dân,
số bác sĩ, y sĩ: 1,43/1.000dân; 70% số hộ dân thuộc huyện có đài và ti vi [21]
Nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được thoả mãn, nâng cao dần Đặc biệt, Đan Phượng là một huyện không còn hộ đói,
số hộ nghèo chỉ chiếm dưới 3% Đây là kết quả đáng khích lệ mà huyện Đan Phượng đạt được trong những năm đổi mới
3.1.2.4 Giáo dục đào tạo và y tế
3.1.2.4.1 Mạng lưới y tế
Mạng lưới y tế của huyện Đan Phượng nhìn chung đã đảm bảo khám chữa bệnh, sơ cứu, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phục vụ các chương trình kế hoạch hoá gia đình, sinh đẻ có kế hoạch, tiêm chủng, phòng dịch bệnh cho nhân dân
Trang 38trong huyện Tình hình mạng lưới y tế của huyện Đan Phượng được phản ánh
Nguồn: số liệu thống kê huyện Đan Phượng năm 2003
3.1.2.4.2 Giáo dục đào tạo
Hình thức giáo dục đa dạng (công lập, dân lập) Cơ sở trường lớp đều được
xây dựng kiên cố từ 1-2 tầng, nhiều trường được bê tông hoá, còn lại đều được
ngói hoá; không còn học 3 ca và có đủ giáo viên giảng dạy Trong đó đã có giáo
viên dạy ngoại ngữ ở một số trường cấp 1, 2 Trang thiết bị giảng dạy dần được
bổ xung và hoàn thiện, chất lượng đội ngũ giáo viên được chú trọng, bởi vậy kết
quả học tập ngày càng tốt hơn Cụ thể được biểu hiện trong bảng 3.8
Trang 39B¶ng 3.8 T×nh h×nh gi¸o dôc cña huyÖn §an Ph−îng n¨m 2003
Trang 403.1.2.5 Truyền thống văn hoá
Huyện và các xã đều có đài truyền thanh, hệ thống truyền dẫn từ huyện xuống xã Đài FM phủ sóng toàn huyện đảm bảo thông tin thường xuyên đều khắp với tính nhanh nhạy và chất lượng tốt Số hộ sử dụng đài, ti vi khá (70%) Hiện tại huyện có 4 làng được cấp bằng đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, có 63% số
hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, có 35 di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng Phong trào làng văn hoá đang được phát huy và nhân rộng, hướng các sinh hoạt lành mạnh, văn minh giữ gìn bản sắc dân tộc Nhà văn hoá trung tâm huyện
có thể tổ chức được nhiều loại hình văn hoá, văn nghệ
Về thể dục thể thao: Sân vận động huyện có từ lâu, thu hút đông người tham gia hoạt động thể thao và đã được lập dự án cụ thể huy động vốn xây dựng, năng lực thiết kế 6.000 ghế ngồi Các xã đã và đang quy hoạch xây dựng sân bãi phục vụ các môn bóng đá, bóng chuyền, cầu lông các nơi vui chơi thể thao cho thiếu nhi, người cao tuổi Tuy nhiên, hệ thống sân bãi, trang thiết bị còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu thể thao trong huyện
3.1.2.6 Công trình công cộng và phúc lợi
Đã được quan tâm và đầu tư, đảm bảo cho các cơ sở nhà nước huyện, xã tiến hành các công việc Tuy nhiên, nhiều cơ sở xã còn sơ sài và chưa thuận tiện, các công trình phúc lợi còn nghèo nàn
3.1.2.7 Môi trường sinh thái
Đã có những bước cải thiện đáng kể, đa số dân cư dùng nước giếng khoan, giếng khơi, nước mưa cho sinh hoạt; hố xí tự hoại, bán tự hoại, mô hình bếp Biogas đảm bảo vệ sinh Các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã có ý thức về vấn đề môi trường (ví dụ: sản xuất vật liệu xây dựng phải có dự án xem xét kỹ tránh độc hại cho người, cây trồng, vật nuôi) Vấn đề đang bức xúc hiện nay là hệ thống cống rãnh, thoát tiêu nước ở các khu dân cư, phân huỷ rác thải nhất là các xã đất hẹp, người đông, hồ ao ít