Luận văn
Trang 1M sè: 60.31.10
hµ néi – 2007
Trang 2LêI CAM §OAN
T«i xin cam
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i, nh÷ng sè liÖu, t− liÖu sö dông trong luËn v¨n nµy cã nguån gèc râ rµng C¸c kÕt qu¶
nguån gèc râ rµng C¸c kÕt qu¶ nghiªn cøu nghiªn cøu nghiªn cøu trong LuËn v¨n trong LuËn v¨n
lµ trung thùc vµ néi dung cña LuËn v¨n ch−a tõng ®−îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh khoa häc nµ
c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh khoa häc nµo o o
Trang 3Lời cảm ơn!
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đ tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, các cô giáo trong khoa Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn đặc biệt là các thầy, cô trong Bộ môn Tài chính-kế toán, các thầy, cô trong Khoa Sau đại học- trường Đại học Nông nghiệp I đ đóng góp các ý kiến quí báu và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.NGƯT Nguyễn Thị Tâm, người đ tận tình giúp đỡ, khuyến khích và hướng dẫn tôi từ những bước đi đầu tiên cho tới lúc hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Tây, Sở Nông nghiệp và PTNT Thái Bình, Tổng Cục Thống kê đ nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập các thông tin, tư liệu, số liệu và triển khai nghiên cứu ở cơ sở
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các vị lnh đạo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, anh em đồng nghiệp trong bộ môn Nghiên cứu thị trường và ngành hàng trực thuộc Viện và người thân trong gia
đình đ nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi về chuyên môn, về thời gian
và nhiều sự giúp đỡ quý báu khác để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4Mục lục
1 Mở đầu 0
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 9
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.2.1 Mục tiêu chung 10
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 10
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 12
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH 12
2.1.1 Vai trò của chăn nuôi gia cầm vùng ĐBSH 12
2.1.2 Nội dung phát triển chăn nuôi gia cầm 15
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH 18
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Tổng quan ngành gia cầm thế giới 23
2.2.2 Tổng quan ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam 31
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 36
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 37
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 37
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 38
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 41
3.1 khái quát về đặc điểm tự nhiên và kinh tế xP hội vùng ĐBSH 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xP hội 43
3.1.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn đối với chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng Đồng bằng sông Hồng 46
3.2 Phương pháp nghiên cứu 48
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 48
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 50
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 50
3.2.4 Phương pháp phân tích 51
3.2.5 Các chỉ tiêu phân tích 52
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 54
Trang 54.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH và các địa bàn
nghiên cứu 54
4.1.1 Biến động qui mô tổng đàn và sản lượng 54
4.1.2 Các hình thức tổ chức chăn nuôi gia cầm thịt 58
4.1.3 Phương thức chăn nuôi gia cầm thịt 61
4.1.4 Tỷ suất hàng hoá trong chăn nuôi gia cầm thịt 63
4.1.5 Hiệu quả chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH 65
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH 79
4.2.1 Các yếu tố về nguồn lực 79
4.2.2 Yếu tố thị trường 81
4.2.3 Tác động của dịch cúm gia cầm 84
4.2.4 Yếu tố về chính sách vĩ mô 86
4.3 Đánh giá chung về thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH 90
4.3.1 Đánh giá chung về thực trạng chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH 90
4.3.2 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức 92
4.4 Các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH trong giai đoạn tới 94
4.4.1 Quan điểm phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH 94
4.4.2 Định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH 95
4.4.3 Các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH 96
5 Kết luận và kiến nghị 121
5.1 Kết luận 121
5.2 Kiến nghị 125
Tài liệu tham khảo 127 Danh mục các biểu phụ lục Error! Bookmark not defined
Trang 6Danh mục các bảng số liệu
Bảng 2.1 Quy mô đàn gia cầm thế giới…….……….……… ……… 17
Bảng 2.2 Các nước đứng đầu về sản xuất, thương mại và tiêu dùng thịt gà năm 2005… 18
Bảng 2.3 Tiêu dùng thịt gia cầm ở các nước phát triển và đang phát triển… …… …21
Bảng 2.4 Mật độ phân bố gia cầm của các nước ASEAN….……….………23
Bảng 2.5 Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam….……….……….24
Bảng 2.6 Tiêu dùng các sản phẩm thịt theo vùng……… 25
Bảng 2.7 Hệ số co giPn về giá và tiêu dùng đối với các sản phẩm thịt ……… 26
Bảng 3.1 Thu nhập bình quân đầu người cả nước và vùng ĐBSH 37
Bảng 3.2 Lượng mẫu điều tra 43
Bảng 4.1 Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm thịt vùng ĐBSH 46
Bảng 4.2 Tỷ trọng tổng đàn gia cầm thịt theo hình thức tổ chức chăn nuôi 55
Bảng 4.3 Tỷ suất sản phẩm hàng hoá phân theo các hình thức tổ chức chăn nuôi ở các tỉnh điều tra 57
Bảng 4.4 Hiệu quả chăn nuôi 1 lứa gà thịt theo các phương thức 58
Bảng 4.5 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt ở ĐBSH theo phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ có kiểm soát năm 2006 phân theo qui mô chăn nuôi 61
Bảng 4.6 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt năm 2006 ở ĐBSH theo phương thức chăn nuôi tập trung bán chăn thả phân theo qui mô chăn nuôi 62
Bảng 4.7 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt năm 2006 ở ĐBSH theo phương thức chăn nuôi tập trung với trang thiết bị thô sơ phân theo qui mô chăn nuôi 65
Bảng 4.8 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt năm 2006 ở ĐBSH theo mô hình trang trại bán công nghiệp phân theo qui mô chăn nuôi 66 Bảng 4.9 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt năm 2006 ở ĐBSH theo mô hình trang trại chăn
Trang 7nuôi công nghiệp phân theo qui mô chăn nuôi 68
Bảng 4.10 Hiệu quả chăn nuôi gà thịt công nghiệp năm 2006 ở Hà Tây theo hình thức gia công phân theo qui mô chăn nuôi 70
Bảng 4.11 Mức giảm giá gia cầm thịt ở một số địa phương khi xuất hiện dịch cúm gia cầm 76
Bảng 4.12 Phân tích SWOT đối với chăn nuôi gia cầm thịt vùng ĐBSH 85
Bảng 4.13 Dự kiến qui mô tổng đàn và sản lượng thịt gia cầm vùng ĐBSH 90
Bảng 4.14 Dự kiến cơ cấu tổng đàn gia cầm thịt theo các phương thức nuôi 91
Bảng 4.15 Khuyến nghị lựa chọn phương thức chăn nuôi theo tiểu vùng 96
Bảng 4.15 Các giải pháp và biện pháp cụ thể về khoa học-kỹ thuật và công nghệ trong chăn nuôi gia cầm thịt vùng ĐBSH 101
Bảng 4.16 Các giải pháp và biện pháp phát triển và bảo vệ thị trường tiêu thụ thịt gia cầm ở vùng ĐBSH 104
Bảng 4.17 Kiến nghị các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển chăn nuôi gia cầm tập trung gắn với giết mổ và chế biến công nghiệp ở ĐBSH 106
Bảng 4.18 Kiến nghị các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển chăn nuôi gia cầm tập trung gắn với giết mổ và chế biến công nghiệp ở ĐBSH 109
Bảng 4.19 Kiến nghị chính sách khoa học-kỹ thuật và công nghệ 110
Trang 8Danh mục các đồ thị và sơ đồ
Đồ thị 2.1 Tỷ lệ tăng trưởng các sản phẩm thịt toàn thế giới 16
Đồ thị 2 Các nước nhập khẩu khẩu thịt gia cầm chính giảm nhưng khối lượng nhập khẩu của thế giới vẫn tiếp tục tăng 22
Sơ đồ 2.1 Kênh phân phối gia cầm ở nông thôn miền Bắc Việt Nam ……….…… …27
Đồ thị 3 Tốc độ phát triển tổng đàn gia cầm vùng ĐBSH giai đoạn 2002-2006 47
Đồ thị 4.1 Tốc độ PT sản lượng thịt gia cầm vùng ĐBSH giai đoạn 2002-2006 47
Đồ thị 4.2 Cơ cấu tổng đàn gia cầm vùng ĐBSH giai đoạn 2002-2006 48
Đồ thị 4.3 Cơ cấu sản lượng thịt gia cầm vùng ĐBSH giai đoạn 2002-2006 49
Đồ thị 4.4 Thu nhập hỗn hợp của các phương thức chăn nuôi gà thịt 59
Sơ đồ 4.1 Tổ chức chăn nuôi gia cầm gắn với giết mổ và chế biến công nghiệp 97
Trang 9Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là 1 trong 2 vùng trọng điểm chăn nuôi gia cầm ở nước ta Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2002-2006, tổng đàn gia cầm bình quân của vùng ĐBSH đạt gần 61 triệu con, chiếm 25,6-28,4% tổng
đàn gia cầm của cả nước Cũng như các vùng khác trong cả nước, chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH cung cấp 2 loại sản phẩm chủ lực là thịt và trứng nhưng chăn nuôi lấy thịt vẫn là chủ yếu Chăn nuôi gia cầm thịt là ngành sản xuất đP gắn
bó với nông dân vùng ĐBSH từ lâu đời bởi vì thịt gia cầm không những là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà nó còn là sản phẩm truyền thống không thể thiếu được trong sinh hoạt hàng ngày của người dân
Tuy nhiên, từ năm 2003 khi dịch cúm gia cầm xuất hiện ở nước ta đP làm cho chăn nuôi gia cầm ở nước ta nói chung, vùng ĐBSH nói riêng phát triển không ổn định, gây thiệt hại cho người sản xuất và cả nền kinh tế Trước bối cảnh dịch cúm gia cầm có nhiều nguy cơ bùng phát thành đại dịch, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, Đảng và Nhà nước ta đP có các chủ trương, giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tác hại của nó Song các giải pháp đP đưa ra vẫn chưa đảm bảo cho ngành hàng gia cầm phát triển
ổn định trước đe doạ của dịch cúm
Dù sao đi nữa thì mọi người dân trong nước nói chung, vùng ĐBSH nói riêng vẫn có nhu cầu thường xuyên về các sản phẩm chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi gia cầm vẫn là ngành sản xuất mang lại thu nhập cho một bộ phận nông dân trong vùng ĐBSH Ngành hàng chăn nuôi gia cầm ở vùng ĐBSH sẽ tồn tại và phát triển là xu thế tất yếu bởi lẽ: (i) Chăn nuôi gia cầm là nguồn giải quyết thực phẩm gia đình rất tiện dụng đối với các hộ nông dân trong vùng; (ii) Chăn nuôi gia cầm góp phần tạo ra việc làm và thu nhập cho một bộ phận đáng kể nông dân trong vùng; (iii) Chăn nuôi gia cầm là giải pháp thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSH theo hướng nâng cao
Trang 11tỷ trọng ngành chăn nuôi, vì nó là ngành sản xuất cần ít đất
Trước bối cảnh dịch cúm gia cầm luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thành
đại dịch, một số câu hỏi đang cần được giải đáp cho sự phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH là: Chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH sẽ biến động ra sao trước sự đe doạ của dịch cúm gia cầm? Cần có những giải pháp, chính sách nào để phát triển ổn định ngành chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH? Để trả lời những câu hỏi này cần phải tiến hành nhiều nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nghiên cứu các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm ở
ĐBSH là vấn đề mang tính cấp thiết Nhằm góp phần phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới trước bối cảnh
bị dịch cúm gia cầm tường xuyên đe doạ bùng phát thành đại dịch, tôi chọn đề tài khoa học: “Các giải pháp chủ yếu để phát triển chăn nuôi gia cầm thịt
ở vùng Đồng bằng sông Hồng” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đề xuất các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm thịt nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng
ĐBSH theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi trong tiến trình hội nhập kinh tế thế gới trước bối cảnh dịch cúm gia cầm
có nguy cơ bùng phát thành đại dịch
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài luận văn nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể sau đây:
+ Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về phát triển chăn nuôi gia cầm trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới trước sự đe doạ của dịch cúm gia cầm
+ Phân tích thực trạng phát triển chăn nuôi gia cầm ở vùng ĐBSH trong những năm gần đây
+ Đề xuất các giải pháp và chính sách phát triển chăn nuôi gia cầm
Trang 12trực của dịch cúm gia cầm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các vấn đề về kinh tế, tổ chức và chính sách chăn nuôi gia cầm thịt (chủ yếu là gà, vịt, ngan), trong đó
đi sâu nghiên cứu hiệu quả chăn nuôi gà thịt vì gà thịt này chiếm tỷ trọng rất lớn (khoảng 87% tổng đàn và 88% sản lượng thịt gia cầm của vùng) Đề tài không nghiên cứu về chăn nuôi các loại gia cầm có sản lượng nhỏ như ngỗng, chim cút… hoặc chăn nuôi gia cầm mang tính chất đặc thù như chim cảnh… 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài luận văn sẽ tập trung vào các nội dung nghiên cứu chính sau đây: + Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển chăn nuôi gia cầm thịt trong và ngoài nước
+ Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả chăn nuôi gia cầm thịt vùng ĐBSH theo các phương thức chăn nuôi
+ Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và chính sách phát triển chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và sự đe doạ thường trực của dịch cúm gia cầm
1.3.2.2 Về không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tổng quát vùng ĐBSH và đi sâu nghiên cứu các địa bàn chọn mẫu
1.3.2.3 Về thời gian
+ Đề tài được triển khai nghiên cứu từ tháng 12/2006 đến tháng 8/2007 + Các số liệu thứ cấp và các số liệu mới được thu thập trong 5 năm gần đây (2002-2006), trước và sau khi nước ta công bố phát hiện dịch cúm gia cầm vào năm 2003
Các số liệu sơ cấp (số liệu điều tra các hộ nông dân, các trang trại chăn nuôi) được thu thập trong 3 năm, từ năm 2004 đến năm 2006
Trang 132 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH
2.1.1 Vai trò của chăn nuôi gia cầm vùng ĐBSH
2.1.1.1 Chăn nuôi gia cầm là ngành sản xuất không thể thiếu trong hệ thống nông nghiệp vùng ĐBSH
Chăn nuôi gia cầm là ngành sản xuất truyền thống gắn liền với nông dân ĐBSH từ lâu đời và đP trở thành một ngành không thể thiếu trong hệ thống nông nghiệp vùng ĐBSH vì các lý do sau:
+ Trong điều kiện người nông dân không thường xuyên có thu nhập bằng tiền thì việc giải quyết thực phẩm gia đình bằng các sản phẩm chăn nuôi gia cầm rất tiện dụng Trong cơ cấu tiêu dùng sản phẩm thịt của người dân Việt Nam nói chung, vùng ĐBSH nói riêng, tiêu dùng thịt gia cầm đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau thịt lợn Hầu hết mọi người đều ưa thích tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi gia cầm (thịt và trứng) vì nó là các loại thực phẩm bổ dưỡng và được coi là sang trọng Trong các ngày tiết, lễ hay khi có khách đến thăm nhà, đa số người dân ở nông thôn đều sử dụng thịt hoặc trứng gia cầm
Do vậy, chăn nuôi gia cầm có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong đời sống của cư dân nông thôn
+ Chăn nuôi gia cầm là giải pháp giải quyết nhu cầu tiền mặt cho các khoản chi tiêu lặt vặt đối với đa số nông dân ĐBSH Khi có nhu cầu chi tiêu tiền mặt với số lượng nhỏ nhưng rất cần thiết như: Đi mừng đám cưới; thăm hỏi người thân ốm đau, qua đời; đóng góp học phí cho con cái Người nông dân chỉ cần bán vài con gà, vịt, ngan hay một vài chục quả trứng là có thể giải quyết được nhu cầu chi tiêu đột xuất Chính vì vậy, hầu hết các hộ nông dân chăn nuôi gia cầm bởi vì ngoài việc giải quyết thực phẩm gia đình, chăn nuôi gia cầm còn là phương án giải quyết tiền mặt cho chi tiêu đột xuất trong điều kiện không dồi dào tiền mặt rất tiện lợi
Trang 14+ Chăn nuôi gia cầm tận dụng được phụ phẩm nông nghiệp, tận dụng
được thức ăn rơi vPi để tạo ra thu nhập cho nông dân Vào các vụ thu hoạch, việc phát triển chăn nuôi gia cầm thịt (đặc biệt là nuôi vịt thời vụ) đP tận dụng khá tốt các sản phẩm rơi vPi ngoài đồng ruộng để tạo nên thu nhập Tại gia
đình, người nông dân nuôi vài con gà, con vịt để để tận dụng cơm thừa trong sinh hoạt, các sản phẩm nông nghiệp rơi vPi Tóm lại, chăn nuôi gia cầm đP trở nên thân thuộc và cần thiết với người dân ĐBSH từ rất lâu đời
2.1.1.2 Chăn nuôi gia cầm góp phần bình ổn thị trường thực phẩm và thúc phát triển công nghiệp chế biến ở vùng ĐBSH
Nhu cầu tiêu dùng của con người đối với các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên, trong đó các sản phẩm chăn nuôi gia cầm là các sản phẩm không thể thiếu Sự phát triển của ngành hàng chăn nuôi gia cầm có vai trò nhất định trong việc bình ổn giá thực phẩm trên thị trường Nếu thiếu các sản phẩm chăn nuôi gia cầm, người tiêu dùng phải chuyển sang các sản phẩm thay thế như thịt lợn, thịt bò, thuỷ sản… khác làm cho giá cả các loại thực phẩm này tăng lên Ngược lại, nếu chăn nuôi gia cầm phát triển tốt và ổn định sẽ góp phần ổn định giá cả các loại thực phẩm thay thế Sự biến động giá thịt gia cầm và giá các sản phẩm thay thế thịt gia cầm trên thị trường trong điều kiện
có và không có dịch cúm đP chứng minh rất rõ điều này
Để phát triển chăn nuôi gia cầm đạt thu nhập kinh tế cao, tất yếu người chăn nuôi phải mở rộng qui mô sản xuất và đổi mới phương thức chăn nuôi từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung với phương thức nuôi công nghiệp hoặc bán công nghiệp tạo ra lượng cầu về TĂCN rất lớn ĐBSH là vùng sản xuất ra một khối lượng khá lớn nguyên liệu chế biến TĂCN, nhất là ngô, đậu tương, cám gạo Mặt khác, nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm chăn nuôi đP qua chế biến, các sản phẩm giết mổ tập trung, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm ngày càng tăng lên, rất cần sự xuất hiện của các cơ sở công nghiệp giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm
Trang 15ĐBSH là vùng có cơ sở hạ tầng tương đối khá Do vậy, việc đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH sẽ tạo ra động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở vùng này
2.1.1.3 Phát triển chăn nuôi gia cầm hàng hoá là giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSH
ĐBSH là vùng đất chật người đông, đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm dần do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá Song, trong bối cảnh các ngành công nghiệp, TTCN chưa phát triển mạnh, chưa thu hút được nhiều lao động nông nghiệp thì bản thân quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đP làm cho một bộ phận nông dân mất đất sản xuất và vấn đề việc làm, thu nhập cho lao động trong nông nghiệp, nông thôn trở nên bức xúc Trong điều kiện đó, việc đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia cầm là giải pháp quan trọng để tạo ra việc làm và thu nhập cho nông dân vì chăn nuôi gia cầm vốn là ngành sản xuất không cần dùng nhiều đất
ĐBSH là vùng trọng điểm chuyên canh lúa, có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật, năng suất ở vùng ĐBSH đP tăng nhanh trong hơn 1 thập kỷ qua không những đảm bảo được an ninh lương thực vùng mà còn góp phần quan trọng vào chiến lược an ninh lương thực quốc gia và đưa nước ta trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo Với mức sản xuất lương thực hiện nay,
ĐBSH cần phải chuyển đổi các diện tích đất trồng lúa bấp bênh sang sản xuất các nông sản khác để nâng cao thu nhập cho nông dân, trong đó phát triển chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi gia cầm là giải pháp quan trọng và hiệu quả
Tuy nhiên, ĐBSH không có lợi thế phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ (trâu, bò, dê…) nên việc đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn và chăn nuôi gia cầm thịt để tạo thêm việc làm, thu nhập cho nông dân và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng này theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi là biện pháp đang được quan tâm
Trang 16Chăn nuôi ở ĐBSH hiện nay chỉ chiếm trên 25% GDP nông nghiệp toàn vùng nhưng chủ yếu lại là chăn nuôi gia súc, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng Trong giai đoạn tới, để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính cần phải đẩy mạnh phát triển chăn nuôi gia cầm thịt Song, phát triển chăn nuôi gia cầm thịt hiện nay đang gặp khó khăn rất lớn, đó là sự
đe doạ của dịch cúm gia cầm Sự xuất hiện của dịch cúm gia cầm đP khiến cho chăn nuôi gia cầm thịt ở ĐBSH phát triển không ổn định, cần thiết phải có một
hệ thống giải pháp đồng bộ và hữu hiệu
2.1.2 Nội dung phát triển chăn nuôi gia cầm
Khi nói đến nội dung phát triển chăn nuôi gia cầm người ta thường quan quan tâm đến các khía cạnh: Số lượng, chất lượng, hình thức tổ chức chăn nuôi và phương thức chăn nuôi
2.1.2.1 Phát triển về mặt số lượng
Số lượng gia cầm (hay qui mô) phụ thuộc vào mục tiêu chăn nuôi và nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi gia cầm Với mục tiêu chăn nuôi gia cầm để giải quyết thực phẩm gia đình thì người chăn nuôi không nuôi số lượng lớn và không quan tâm đến hạch toán chi phí Với mục tiêu hàng hoá thì
số lượng gia cầm đưa vào chăn nuôi lớn hơn nhiều so với chăn nuôi để giải quyết thực phẩm gia đình bởi vì chăn nuôi gia cầm là ngành có lợi thế kinh tế nhờ qui mô
Qui mô chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là: Mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người chăn nuôi, các dịch vụ phục vụ chăn nuôi và khả năng tiêu thụ sản phẩm của người chăn nuôi Các hộ chăn nuôi có các điều kiện tốt về mặt bằng sản xuất, vốn đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm, có chuyên môn kỹ thuật cao
sẽ thuận lợi trong việc phát triển chăn nuôi với số lượng lớn và ngược lại
Trang 172.1.2.2 Phát triển về mặt chất lượng
Chất lượng phát triển chăn nuôi gia cầm có thể được đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau như: Sự tăng trưởng ổn định trong một thời kỳ nhất định; khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả năng cạnh tranh trên thị trường; năng suất lao động đạt được khi phát triển chăn nuôi gia cầm; lợi ích thu được của người chăn nuôi gia cầm và của cộng đồng xP hội…
Chất lượng phát triển chăn nuôi gia cầm cũng phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố quan trọng là: Khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ trong chăn nuôi gia cầm của người chăn nuôi cao hay thấp; chất lượng sản phẩm chăn nuôi gia cầm cung cấp ra thị trường cao hay thấp; giá thành sản phẩm cao hay thấp; thu nhập và lợi nhuận tính trên 1 đơn vị sản phẩm cao hay thấp; tổng thu nhập và lợi nhuận thu được của người chăn nuôi cao hay thấp…
2.1.2.3 Các hình thức tổ chức chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm thịt có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu chăn nuôi, các yếu tố về nguồn lực, thị trường tiêu thụ sản phẩm và các yếu tố khác Nghiên cứu về các hình thức tổ chức chăn nuôi gia cầm hiện nay Việt Nam, các nhà nghiên cứu chia thành 2 nhóm chăn nuôi
là chăn nuôi nhỏ lẻ và chăn nuôi tập trung
Chăn nuôi nhỏ lẻ hiện nay khá phổ biến ở tất cả các vùng sinh thái Theo tác giả Minh Lê, hiện nay nước ta có khoảng 8 triệu hộ nông dân chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ với mục tiêu chính là giải quyết thực phẩm gia đình, phần sản phẩm của các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ bán ra thị trường không nhiều và phần lớn chỉ được thực hiện khi các hộ có nhu cầu chi tiêu tiền mặt với số lượng nhỏ Chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ rất tiện dụng đối với các hộ nông dân nhưng
đây lại là hình thức chăn nuôi có hiệu quả thấp, luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch cúm gia cầm
Chăn nuôi tập trung được phát triển trong các hộ, các trang trại, doanh
Trang 18nghệ và thị trường tiêu thụ Mục tiêu chính của những người chăn nuôi theo hình thức chăn nuôi tập trung là chăn nuôi hàng hoá tìm kiếm lợi nhuận Tại Việt Nam hiện nay, số lượng các chủ hộ, trang trại, doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm tập trung tuy không nhiều nhưng lại chiếm tỷ trọng đáng kể về sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường xP hội Phát triển chăn nuôi tập trung
sẽ có những thuận lợi nhất định trong việc hình thành vùng sản xuất hàng hoá
và tiện kiểm soát dịch cúm lây lan
2.1.2.4 Các phương thức chăn nuôi gia cầm
Các nhà nghiên cứu đP chỉ ra rằng, hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại 6 phương thức chăn nuôi gia cầm, trong đó nhóm chăn nuôi nhỏ lẻ có 2 phương thức, nhóm chăn nuôi tập trung có 4 phương thức, cụ thể là:
+ Nhóm chăn nuôi nhỏ lẻ có 2 phương thức chăn nuôi là: (i) Chăn nuôi nhỏ lẻ thả rông trong các nông hộ, không có kiểm soát; (ii) Chăn nuôi nhỏ lẻ trong các nông hộ có kiểm soát
+ Nhóm chăn nuôi tập trung có 4 phương thức chăn nuôi là: (i) Chăn nuôi tập trung với trang thiết bị thô sơ; (ii) Chăn nuôi tập trung bán chăn thả; (iii) Chăn nuôi tập trung bán công nghiệp (iv) Chăn nuôi tập trung theo phương pháp công nghiệp
Phương thức chăn nuôi gia cầm liên quan rất chặt chẽ với qui mô chăn nuôi Khi phát triển chăn nuôi tập trung qui mô vừa và lớn phải chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp Chăn nuôi tập trung với trang thiết bị thô sơ và chăn nuôi tập trung bán chăn thả không thể phát triển qui mô lớn Trái lại, đối với chăn nuôi nhỏ lẻ do tính chất quảng canh, tận dụng và người chăn nuôi không quan tâm đến hạch toán chi phí thì không thể chăn nuôi với qui mô lớn
Trang 192.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi gia cầm thịt ở vùng ĐBSH 2.1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên tuy cũng có ảnh hưởng đến chăn nuôi gia cầm nhưng không ảnh hưởng mạnh như đối với ngành trồng trọt, bởi vì:
Gia cầm là loại vật nuôi có phổ thích nghi rộng, điều này được minh chứng bằng sự tồn tại của các loại gia cầm và hàng chăn nuôi gia cầm trên khắp các dạng địa hình, các dạng thời tiết ở tất cả các châu lục
Nếu như ngành trồng trọt là ngành sản xuất ngoài trời trên địa bàn rộng lớn, rất khó kiểm soát được các diễn biến tự nhiên thì chăn nuôi gia cầm thường được tổ chức trong hệ thống chuồng trại gần nhà hoặc ngay tại gia
đình Như vậy, con người có thể đối phó với các diễn biến bất thuận của điều kiện tự nhiên dễ dàng hơn so với ngành trồng trọt Tuy nhiên, khi gặp những bất thuận thời mang tính huỷ diệt và tiết bất khả kháng như: Lụt lội, lũ quét, bPo lớn, lốc xoáy… thì chăn nuôi gia cầm cũng gặp phải những khó khăn lớn, kết quả và hiệu quả chăn nuôi gia cầm bị giảm sút
2.1.3.2 Điều kiện nguồn lực
Các yếu tố về nguồn lực ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và kết quả, hiệu quả của mọi ngành sản xuất, kinh doanh Chăn nuôi gia cầm thịt cũng không phải là trường hợp ngoại lệ về sự ảnh hưởng của yếu tố này
* Về vốn đầu tư: Vốn là yếu tố nguồn lực quan trọng nhất và mang tính quyết định đối với sự phát triển của ngành hàng chăn nuôi gia cầm Trong trường hợp chăn nuôi nhỏ lẻ đẻ giải quyết thực phẩm gia đình, người chăn nuôi không cần nhiều vốn nên họ cũng không quan tâm đến vấn đề vốn Để phát triển chăn nuôi hàng hoá, người chăn nuôi cần phải có vốn đầu tư xây dựng chuồng trại, mua sắm trang thiết bị chăn nuôi, mua giống hoặc chăn nuôi gà bố
mẹ để sản xuất giống, mua thức ăn, phòng trừ dịch bệnh và nhiều khoản chi phí khác Lượng vốn đầu tư phụ thuộc vào qui mô mong muốn của người chăn
Trang 20thậm chí hàng tỷ đồng Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi mà thu nhập và tích luỹ của nông dân vùng ĐBSH còn khá khiêm tốn thì việc đầu tư phát triển chăn nuôi gia cầm theo phương thức chăn nuôi công nghiệp qui mô vừa và lớn không phải là chuyện dễ dàng
* Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất (hệ thống giao thông,
hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống các cơ sở dịch vụ chăn nuôi,
hệ thống chợ nông thôn …) ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất phát triển không
đều giữa các địa phương Những địa phương có hệ thống cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất phát triển thì ngành hàng chăn nuôi gia cầm phát triển tốt và ngược lại Tuy nhiên, người chăn nuôi chỉ có đủ năng lực và chủ động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất trong cơ sở của mình mà không thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đồng thời phục vụ nhiều ngành sản xuất Để có một hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất đáp ứng
được các yêu cầu sản xuất nói chung, chăn nuôi gia cầm thịt nói riêng cần phải có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước hoặc cộng đồng
* Khoa học-kỹ thuật và công nghệ: Yếu tố này ảnh hưởng khá mạnh
đến chăn nuôi gia cầm trên các phương diện: Một là, các giống gia cầm mới
có năng suất cao đưa vào chăn nuôi đP làm cho năng suất chăn nuôi được nâng cao Nếu như trước đây, nông dân thường sử dụng các giống gia cầm truyền thống của địa phương thì đến nay cơ cấu giống đP có nhiều thay đổi Một số giống gia cầm mới vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt đưa vào chăn nuôi trên diện rộng làm cho thu nhập từ chăn nuôi gia cầm của người chăn nuôi cải thiện hơn Hai là, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật và công nghệ, chăn nuôi gia cầm theo phương thức bán công nghiệp và công nghiệp ngày càng tỏ ra có ưu thế, tính kinh tế nhờ qui mô ngày càng được khai thác tốt hơn làm cho giá thành sản xuất giảm, từng bước tăng được lợi thế cạnh tranh của ngành hàng chăn nuôi gia cầm Ba là, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người chăn nuôi ngày càng được nâng cao hơn đP góp phần thúc đẩy
Trang 21việc ứng dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ mới trong chăn nuôi gia cầm làm cho năng suất lao động ngày càng cao hơn Bốn là, sự phát triển của khoa học-kỹ thuật và công nghệ góp phần hết sức quan trọng trong việc kiểm soát, khống chế dịch bệnh trong chăn nuôi gia cầm Trong giai đoạn tới, khoa học-kỹ thuật và công nghệ phải là yếu tố được ưu tiên hàng đầu nhằm giúp cho người chăn nuôi có thể kiểm soát dịch bệnh một cách chủ
động và hiệu quả vừa bảo vệ được lợi ích của người sản xuất vừa bảo vệ được lợi ích và sức khoẻ của cộng đồng
2.1.3.3 Yếu tố thị trường
Thị trường của ngành hàng chăn nuôi gia cầm bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra Các yếu tố đầu vào quan trọng của chăn nuôi gia cầm là: Vốn, con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, nhiên liệu năng lượng, vốn đầu tư, lao động, khoa học-kỹ thuật và công nghệ Đầu ra của ngành hàng chăn nuôi gia cầm là các sản phẩm chăn nuôi gia cầm cung cấp cho các đối tượng tiêu dùng Sự biến động của thị trường, đặc biệt là biến
động giá các yếu tố đầu vào và đầu ra ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu
* Đối với thị trường đầu ra: Thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi
Trang 22kinh tế quốc tế Theo lộ trình gia nhập WTO, nước ta sẽ từng bước cắt giảm hàng rào thuế và phi thuế đối với sản phẩm chăn nuôi gia cầm Đây là cơ hội thuận lợi cho sản phẩm chăn nuôi gia cầm ở các quốc gia tiên tiến tràn vào nước ta chiếm lĩnh thị trường Trong bối cảnh như vậy, người tiêu dùng sẽ
được lợi nhưng người sản xuất sẽ gặp phải sự cạnh tranh thị trường rất gay go, khốc liệt Bên cạnh đó, người tiêu dùng ngày càng yêu cầu cao hơn cả về khối lượng, chất lượng, vệ sinh thực phẩm và ngày càng tiêu dùng nhiều hơn các sản phẩm chăn nuôi gia cầm qua chế biến Những yêu cầu mới của thị trường
đòi hỏi ngành hàng chăn nuôi gia cầm thịt phải có những sự điều chỉnh căn bản cả về qui mô, cơ cấu, chủng loại sản phẩm, phương thức chăn nuôi và phát triển công nghiệp chế biến Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, khi đa số nông dân vùng ĐBSH còn khó khăn về vốn đầu tư và chưa quen với phương thức chăn nuôi tiên tiến thì sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu của thị trường
đang gặp những khó khăn đáng kể
2.1.3.4 Yếu tố về chính sách
Thông qua hệ thống chính sách vĩ mô, Nhà nước có thể điều tiết được
sự phát triển của các ngành kinh tế nói chung, ngành hàng chăn nuôi gia cầm nói riêng Nhà nước có thể sử dụng 2 hệ thống chính sách sau đây để điều tiết
sự phát triển của ngành hàng chăn nuôi gia cầm:
* Chính sách thuế và hàng rào phi thuế: Nhà nước có thể sử dụng hàng rào thuế và phi thuế để bảo vệ sản xuất trong nước Tuy nhiên, hiện nay nước
ta đP gia nhập một số tổ chức thương mại lớn như AFTA, WTO, hàng rào thuế từng bước phải cắt giảm theo lộ trình hội nhập, chính sách thuế phải tuân thủ các luật lệ quốc tế Trong điều kiện chính sách thuế xuất nhập khẩu tiến tới bình đẳng giữa các quốc gia, Nhà nước sẽ sử dụng các biện pháp phi thuế để bảo vệ sản xuất trong nước mà phổ biến nhất hiện nay là sử dụng hàng rào kỹ thuật (các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo qui định của từng quốc gia)
Trang 23* Chính sách hỗ trợ phát triển: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, các hình thức hỗ trợ qua giá cho mọi ngành sản xuất nói chung, ngành hàng chăn nuôi gia cầm nói riêng không được luật pháp quốc tế chấp nhận Để khuyến khích phát triển chăn nuôi gia cầm, Nhà nước ban hành các chính sách
hỗ trợ không qua giá như: Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và thương mại, hỗ trợ qui hoạch phát triển sản xuất, hỗ trợ vốn tín dụng, hỗ trợ
kỹ thuật thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất
Ngoài ra, Nhà nước còn có thể sử dụng các chính sách khác để điều tiết
sự phát triển chăn nuôi gia cầm tuỳ thuộc vào mục tiêu chiến lược về phát triển ngành hàng này trong từng thời kỳ hoặc ở từng địa bàn cụ thể
đàn gia cầm trong vùng dịch, người chăn nuôi được hỗ trợ thiệt hại nhưng mức
hỗ trợ đền bù là quá thấp, chỉ bù đắp được một phần rất nhỏ chi phí đP bỏ ra Trong trường hợp như vậy, nhiều hộ chăn nuôi bị thua lỗ nặng, có một số cơ sở chăn nuôi đứng trước bờ vực phá sản
Người tiêu dùng cũng phải chịu ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm trên 2 phương diện: Một là, khi dịch cúm xuất hiện, người tiêu dùng phải chuyển
Trang 24làm cho giá cả các mặt hàng này tăng lên; Hai là, ở một số địa phương trong vùng như Nam Định, Thái Bình, Hà Tây một số người bị nhiễm bệnh do virus H5N1cúm gia cầm lây sang đP phải điều trị hết sức tốn kém, một số người đP tử vong, gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng
Từ khi phát hiện dịch cúm đến nay (năm 2003), chăn nuôi gia cầm vùng
ĐBSH đứng trước những khó khăn rất lớn:
+ Một số cơ sở chăn nuôi bị phá sản, một bộ phận nông dân bị mất việc làm nhưng rất khó chuyển sang kinh doanh ngành nghề khác vì vốn đầu tư vào chăn nuôi gia cầm không thu hồi được
+ Việc phục hồi sản xuất sau dịch gặp nhiều khó khăn do người dân thiếu vốn đầu tư nhưng ngân hàng lại e ngại rủi ro khi cho nông dân vay vốn phát triển chăn nuôi gia cầm
+ Chăn nuôi nhỏ lẻ, không kiểm soát đP được xác định là nguồn lây bệnh rất nguy hiểm nhưng rất khó có thể hạn chế vì nó là ngành sản xuất thân thuộc và không thể thiếu đối với người nông dân trong vùng
+ Công tác phòng chống dịch cúm gia cầm còn nhiều bất cập cả từ phía Nhà nước và sự thiếu hiểu biết của người chăn nuôi
+ Sau khi công bố hết dịch, nhu cầu tiêu dùng thịt gia cầm tăng lên đP khuyến khích sự có mặt của sản phẩm chăn nuôi gia cầm của Trung Quốc nhập lậu (chủ yếu là gà và trứng) Sự xuất hiện cảu các sản phẩm chăn nuôi gia cầm nhập lậu từ Trung Quốc không những gây ra những khó khăn lớn cho
sự phát triển của ngành hàng chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH do không cạnh tranh
được về giá mà còn là nguồn lây lan dịch cúm gia cầm rất nguy hiểm
Trang 25lệ tăng trưởng thịt gia cầm đạt mức trung bình 5,2%, trong khi tăng trưởng thịt
Từ năm 2003 trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm thế giới đang phải
đối diện với dịch cúm gia cầm, bắt đầu từ các quốc gia Châu á, nay đP lan rộng ra khắp trên thế giới, gây tổn thất cho người chăn nuôi và tác động xấu
đến tâm lý người tiêu dùng
Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi
Trang 26cầm xuất khẩu Tuy nhiên, ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm là hết sức nặng
nề đối với người chăn nuôi do gia cầm bị chết, tiêu huỷ hoặc không bán được Mặt khác, do dịch cúm tái phát liên tục đP làm cho ngành chăn nuôi gia cầm phát triển không ổn định Trước thời điểm dịch 2003, tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi gia cầm đạt gần 9% năm, nhưng sau một năm (2004) xuất hiện dịch cúm gia cầm tốc độ tăng trưởng đP bị tụt xuống mức -14% Thực tế
đó đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu bức tranh tổng thể sản xuất và thị trường sản phẩm thịt gia cầm thế giới, từ đó rút ra những bài học để định hướng cho ngành chăn nuôi gia cầm trong thời gian tới
2.2.1.2 Tình hình sản xuất gia cầm trên thế giới
Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2005 tổng đàn gia cầm thế giới đạt 18,3 tỷ con Trong đó đàn gà có tới 16,7 tỷ con, chiếm 91%, đàn thủy cầm hơn 1,3 tỷ con, chiếm 7,3%, còn lại gà tây chỉ chiếm 1,5%
Bảng 2.1 Quy mô đàn gia cầm thế giới
ĐVT: triệu con
2005 Loại gia cầm
2000 2001 2002 2003 2004
ðầu con %
Gà 14463,5 15048,9 15770,9 15814,4 16362,2 16696,4 91,1
Gà tõy 265,5 274,7 271,5 271,4 278,8 279,7 1,5 Vịt 927,9 965,2 1038,7 1003,4 1033,4 1046,5 5,7 Ngỗng 234,5 239,9 267,5 259,2 295,1 301,9 1,6 Tổng số 15891,5 16528,8 17348,6 17348,4 17969,5 18324,5 100,0
Nguồn: FAO, 2006
Đứng đầu thế giới về sản xuất thịt gia cầm là Mỹ, Trung Quốc và Braxin Năm 2005, Mỹ sản xuất hơn 15,8 triệu tấn thịt gà, tiêu thụ nội địa đạt 13,4 triệu tấn và xuất khẩu trên 2,4 triệu tấn Những nước đứng sau Mỹ về xuất khẩu thịt gà là Braxin và Thái Lan
Trung Quốc và các nước thuộc Khối liên minh châu Âu (EU) có sản lượng thịt gia cầm lớn, tuy cũng tham gia thương mại thịt gia cầm thế giới
Trang 27nhưng mức độ không lớn Nga và Nhật Bản do điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho chăn nuôi nên hàng năm nhập khẩu khá nhiều thịt gia cầm Năm 2005, Nga nhập khẩu trên 1 triệu tấn, Nhật Bản cũng nhập hơn 0,5 triệu tấn thịt gà Bốn nước cũng nằm trong nhóm nước sản xuất gia cầm chính bao gồm: Canada, ấn Độ, Mêhicô, Achentina; tuy có sản lượng thịt gà lớn nhưng do dân
số đông nên sản lượng thịt sản xuất chỉ đủ tiêu dùng nội địa
Bảng 2.2 Các nước đứng đầu về sản xuất, thương mại
và tiêu dùng thịt gà năm 2005
ĐVT: 1000 tấn
Nhúm nước Quốc gia Sản lượng Tiờu dựng Xuất khẩu Nhập khẩu
Mỹ 15792 13363 2446 17 Braxin 9080 6240 2840 0 Xuất khẩu
Thỏi Lan 950 650 300 0 Nga 759 1799 0 1040 Nhập khẩu
Nhật 1130 1820 5 695 Trung Quốc 10200 10150 50 250 Xuất và nhập khẩu
EU 7670 7330 780 440 Canaủa 1000 984 100 16
ấn Độ 1900 1900 0 0 Mờhicụ 2510 2869 1 360 Tiờu dựng nội ủịa
Achentina 1080 973 110 3
Nguồn USDA, 2005
Trong 5 năm gần đây, chăn nuôi gia cầm trên toàn thế giới gặp khó khăn do giá dầu mỏ leo thang dẫn đến chi phí sản xuất tăng, đặc biệt là dịch cúm gia cầm liên lục bùng phát và ngày càng lan rộng ra các châu lục Tuy nhiên, sản lượng thịt gia cầm vẫn tăng tỷ lệ với khối lượng tiêu dùng thịt gia cầm tăng liên tục trong những năm qua Sau 4 năm dịch cúm gà bùng phát, thị trường thịt gia cầm thế giới đP có những điều chỉnh, các nước nhập khẩu chính
đP chuyển từ các thị trường truyền thống sang các nước không bị ảnh hưởng của dịch cúm Brazin là nước gặp nhiều thuận lợi về sản xuất và xuất khẩu thịt gia cầm do không bị ảnh hưởng của dịch cúm Chăn nuôi gia cầm của Brazin
Trang 28hưởng nặng nề bởi dịch cúm gia cầm, không chỉ gây khó khăn cho các nhà sản xuất mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý của người tiêu dùng, dẫn đến giảm tiêu thụ thịt gia cầm trong 4 năm trở lại đây Thái Lan, nước xuất khẩu gia cầm đứng đầu khu vực Châu á chịu tổn thất ước chừng 20-25% GDP ngành chăn nuôi Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp Mỹ, khoảng 23% những nhà chăn nuôi gà vừa và nhỏ của Thái Lan bị khủng hoảng do sự bùng phát dịch cúm gia cầm
Các quốc gia ở Châu á đứng sau Việt Nam và Thái Lan về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm gồm cả những nước sản xuất và những nước nhập khẩu thịt gia cầm lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc Tác động của dịch cúm đến tâm lý người tiêu dùng đP gây áp lực cho những nước này đóng cửa thị trường nhập khẩu các sản phẩm thịt gia cầm có xuất xứ Châu á, gây tác động xấu đến sự phục hồi ngành chăn nuôi trong khu vực Năm 2006, sản lượng thịt gia cầm của Thái Lan dự báo sẽ tăng vượt ngưỡng 1,1 triệu tấn Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn 16% so với thời điểm dịch cúm gia cầm năm 2003 Sản lượng thịt gia cầm của Indonesia cũng được dự đoán sẽ đạt mức 672 nghìn tấn trong năm 2006 nhưng vẫn thấp hơn mức sản lượng năm 2003
2.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành sản xuất gia cầm thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
Tăng trưởng kinh tế thế giới được kỳ vọng duy trì ở mức cao trong năm
2006 Đây là tín hiệu góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư vào sản xuất, chế biến thịt của một số ngành chăn nuôi chính trong đó có chăn nuôi gia cầm Các nhà chăn nuôi, chế biến ở các quốc gia xuất khẩu đang tiếp tục đầu tư để tăng quy mô và chất lượng theo hướng hiện đại hoá, điển hình là kế hoạch xây dựng các lò mổ hiện đại ở Brazil hay mở rộng mô hình nuôi tăng trọng gia súc, gia cầm ở Nam Phi Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại một khoảng cách, trong đó tăng trưởng kinh tế sẽ không đủ để trợ giúp cho hoạt động chăn nuôi và chế biến phát triển, chẳng hạn như trường hợp của Indonesia, dịch
Trang 29cúm vẫn đang hoành hành, chi phí năng lượng leo thang, nội tệ mất giá, chi phí thức ăn cao làm cho lợi nhuận giảm và cản trở sự tăng trưởng trong năm
2006 Song, dự báo tăng GDP thực tế bình quân theo đầu người trên toàn thế giới năm 2006 là điều kiện khả quan cho việc tiêu dùng và sản xuất sản phẩm chăn nuôi gia cầm Các nền kinh tế châu á, đặc biệt là Trung Quốc, Đài Loan
và Thái Lan được dự báo tăng trưởng mạnh, là tín hiệu khả quan về tiêu dùng thịt do thu nhập của người tiêu dùng tăng lên
Giá thịt gia súc và gia cầm của các nước xuất khẩu chính bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh dẫn đến sự méo mó trong thương mại Trong năm 2004 và năm
2005, sự bùng phát của dịch cúm gia cầm, bệnh bò điên là nguyên nhân chính dẫn đến sự méo mó thương mại và ảnh hưởng trực tiếp đến giá xuất khẩu gia cầm và thịt bò của các quốc gia xuất khẩu chính như Mỹ, Brazil Hệ quả là giá xuất khẩu của các sản phẩm thay thế như thịt lợn và nấm tăng trong năm 2004
và 2005 do lo ngại của người tiêu dùng đối với dịch bệnh
Tỷ giá hối đoái phù hợp cho phép Mỹ duy trì giá cạnh tranh Đồng USD yếu đi làm tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm gia súc, gia cầm xuất khẩu của Mỹ trên thị trường thế giới từ năm 2003, trong khi Mỹ là nước sản xuất gà thịt lớn nhất thế giới Điều này cho thấy thương mại các sản phẩm gia cầm trong những năm tiếp theo vẫn chịu ảnh hưởng mức tiêu dùng nội địa cũng như khả năng phát triển của ngành chăn nuôi ở Mỹ và các nước xuất khẩu gia cầm đứng sau Mỹ như Brazil và Australia
Xuất khẩu gà thịt sẽ vượt trội xuất khẩu thịt bò trên toàn thế giới Năm
2005, Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo xuất khẩu gà thịt trên toàn thế giới ước đạt 7,5 triệu tấn Năm 2006, nhu cầu về thịt gia cầm được kỳ vọng là tăng mạnh
do sự vắng bóng sản phẩm thịt bò của Mỹ ở các thị trường chính như EU, Nhật Bản và Hàn Quốc, bên cạnh đó sản xuất thịt bò của Brazil gặp khó khăn tạo ra rào cản tăng trưởng xuất khẩu thịt bò của nước này và tăng thương mại thịt của một số quốc gia như Achentina, Trung Quốc, Thái Lan và Mỹ
Trang 302.2.1.4 Thương mại thịt gia cầm trên thế giới
Trong thập niên 1990, cầu về tiêu dùng các sản phẩm thịt gia cầm có mối quan hệ chặt chẽ với các sản phẩm thịt thay thế như thịt bò, thịt lợn ở các quốc gia phát triển nhưng trong những năm gần đây, mối quan hệ trên đP
3 Cỏc nước ủang phỏt triển 5,5 7,9 8,1 8,3 8,3 8,6
II Tỷ lệ tiờu dựng thịt gia cầm so tổng tiờu dựng SP thịt (%)
1 Thế giới 25,7 29,8 29,9 30,1 29,9 30,2
2 Cỏc nước phỏt triển 26,9 31,6 31,9 32,3 32,8 33,1
3 Cỏc nước ủang phỏt triển 24,4 28,4 28,4 28,5 27,8 28,1
Nguồn: FAO, 2005
Xu thế tiêu dùng thịt gia cầm đP tăng nhanh và không chịu nhiều tác
động của các sản phẩm thay thế ở các quốc gia đang phát triển Năm 1994, tiêu dùng thịt gia cầm bình quân đầu người ở các quốc gia phát triển và đang phát triển lần lượt là 20,9 kg và 5,5 kg, đến năm 2005 đP tăng lên là 27,7 kg
và 8,6 kg Như vậy, trong khoảng thời gian từ 1994-2005 tiêu dùng bình quân
đầu người đP tăng lên 33% ở các quốc gia phát triển và 56% ở các quốc gia
Trang 31Đồ thị 2.2 Các nước nhập khẩu khẩu thịt gia cầm chính giảm nhưng khối
lượng nhập khẩu của thế giới vẫn tiếp tục tăng
Nguồn : USDA, 2006
Thương mại thịt gia cầm thế giới tăng nhanh qua các năm Tuy nhiên, thị trường thịt gia cầm thế giới chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nước nhập khẩu lớn như Nhật Bản, Nga và các nước EU Các nước có thu nhập cao ngày càng
đòi hỏi tiêu dùng các sản phẩm thịt gia cầm chất lượng cao Kể từ khi dịch cúm gia cầm bùng phát, nhập khẩu thịt gia cầm của các quốc gia này đP giảm
đáng kể do lo ngại dịch cúm gia cầm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Các quốc gia xuất khẩu gia cầm chính trên thế giới cũng đP có những
điều chỉnh trong chiến lược nhằm phục hồi ngành chăn nuôi và tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm thịt gia cầm trên thị trường thế giới Mỹ đP chuyển từ xuất khẩu nguyên con sang xuất khẩu từng bộ phận nhờ đó sản lượng xuất khẩu đP tăng trở lại trong 2 năm gần đây Brazil đề ra chiến lược mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, hiện nay sản phẩm thịt gia cầm của Brazil đP có mặt ở hầu khắp các châu lục Thái Lan, nước chịu ảnh hưởng nặng nền bởi dịch cúm gia cầm, cũng đP điều chỉnh kịp thời chiến lược xuất khẩu từ xuất đông lạnh nguyên con sang các sản phẩm thịt gà đP qua chế biến và đóng hộp
Trang 322.2.2 Tổng quan ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Chăn nuôi gia cầm giữ vai trò quan trọng trong đời sống và nâng cao thu nhập của người dân nông thôn Việt Nam So với các nước trong khu vực,
số đầu con gia cầm bình quân đầu người của Việt Nam đạt mức trung bình cả
ở khu vực nông thôn cũng như trên phạm vi toàn quốc
Bảng 2.4 Mật độ phân bố gia cầm của các nước ASEAN
Số gà tớnh bỡnh quõn trờn Số gia cầm tớnh bỡnh quõn trờn Quốc gia
1 km2 1 khẩu 1 khẩu
nụng thụn
1 km2 1 khẩu 1 khẩu
nụng thụn Campuchia 94,5 1,2 1,5 130,2 1,7 2,1 Inủụnờsia 143,6 1,2 2,2 167,5 1,3 2,6 Lào 66,2 2,5 3,6 74,0 2,8 4,0 Thỏi Lan 459,6 3,6 4,8 509,1 4,0 5,3 Việt Nam 501,3 2,0 2,7 716,1 2,8 3,9
Nguồn: Rushton, 2004
Mặc dù Việt Nam chưa có sản phẩm thịt gia cầm xuất khẩu nhưng trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam đP có những bước tiến vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng Tổng đàn gia cầm tăng nhanh qua các năm nhờ thay đổi quy mô sản xuất từ chăn nuôi hộ gia
đình sang chăn nuôi trang trại, cải tiến chất lượng giống và thức ăn chăn nuôi
đP góp phần tăng năng suất và chất lượng gia cầm thịt
Từ năm 2003 trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam chịu tổn thất nặng nề do dịch cúm gia cầm gây ra Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, dịch cúm gia cầm gây thiệt hại kinh tế khoảng 1,8% GDP, tương đương 650-700 triệu USD Ngoài ra, những thiệt hại do việc không tiêu thụ được gia cầm sạch cũng lên đến hàng nghìn tỷ đồng Tăng trưởng tổng đàn chăn nuôi gia cầm giai đoạn 2002-2006 đạt mức -2,07% và rất khó phục hồi do dịch cúm liên tục bùng phát
Trang 33Theo số liệu thống kê, đến năm 2006, tổng đàn gia cầm của Việt Nam
đạt 214,56 triệu con với sản lượng thịt đạt 344,41 nghìn tấn So với thời điểm trước khi dịch cúm gia cầm được phát hiện và công bố ở Việt Nam năm 2003, tổng đàn gia cầm năm 2006 giảm 15,73%, sản lượng giảm 7,6%
Trong cơ cấu tổng đàn gia cầm, gà các loại chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 80%), còn lại khoảng 20% là thuỷ cầm trong đó chủ yếu là vịt, ngan, ngỗng Các loại gia cầm khác như gà tây, chim cút…chiếm tỷ trọng rất nhỏ
Bảng 2.5 Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam
Nguồn: USDA, 2005 và GSO
Đàn gia cầm của Việt Nam giảm đáng kể ở hầu hết các vùng trong đợt dịch cúm gia cầm 2003/2004 Dịch cúm đP gây ảnh hưởng trên quy mô toàn quốc, trong đó các khu vực chịu tổn thất lớn nhất là vùng ĐBSCL, ĐNB và
ĐBSH, đây là những vùng chăn nuôi gia cầm lớn nhất nước Thiệt hại từ dịch cúm gia cầm vụ chăn nuôi 2003/2004 của Việt Nam ước tính khoảng 117,5 triệu USD Trong đó vùng ĐNB phải tiêu huỷ 38% tổng đàn gia cầm, vùng
ĐBSCL là 32,2% và vùng ĐBSH là 21,2%
Kể từ khi dịch cúm gia cầm xảy ra đến nay, ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam đP trải qua 3 đợt dịch cúm liên tiếp, hơn 40 triệu gia cầm đP bị tiêu huỷ, sự thiệt hại về kinh tế rất lớn nhưng nghiêm trọng hơn nữa là đP có tới 46 người tử vong do bị nhiễm virus H5N1 Tổng số gia cầm tiêu huỷ trong
đợt tái phát dịch tháng 10 năm 2005 là 4 triệu con
Trang 34Tãm lỰi, chẽn nuềi gia cẵm ẻ Viỷt Nam nãi chung, vỉng ậBSH nãi riếng ệang tõng ngộy, tõng giê phời ệèi diỷn vắi dỡch cóm gia cẵm cã nguy cể bỉng phịt thộnh ệỰi dỡch Nạu khềng cã cịc biỷn phịp phưng chèng sù lẹy lan cựa dỡch cóm gia cẵm mét cịch hiỷu quờ thừ ngộnh hộng chẽn nuềi gia cẵm trong n−ắc nãi chung, chẽn nuềi gia cẵm ẻ ậBSH nãi riếng sỳ ệụng tr−ắc nguy cể cỰnh tranh gay gớt khi cã sù xuÊt hiỷn cựa cịc sờn phÈm chẽn nuềi gia cẵm tõ cịc quèc gia tiến tiạn trộn vộo Viỷt Nam
2.2.2.2 Tiếu dỉng thỡt gia cẵm
Thỡt gia cẵm giọ vai trư quan trảng thụ 2 sau thỡt lĩn trong cể cÊu tiếu dỉng sờn phÈm thỡt cựa Viỷt Nam Theo sè liỷu ệiÒu tra mục sèng dẹn c− nẽm
2002 cựa Tững côc Thèng kế, tũ lỷ tiếu dỉng thỡt gia cẵm t−ểng ệèi ệăng ệÒu
so vắi cịc loỰi thỡt khịc trong 5 nhãm hé cã mục thu nhẺp khịc nhau
Tiếu dỉng sờn phÈm thỡt gia cẵm bừnh quẹn cờ n−ắc khoờng 5kg trến
ệẵu ng−êi mét nẽm, thÊp hển mục tiếu dỉng thỡt lĩn vộ thuũ sờn Cể cÊu tiếu dỉng cịc loỰi sờn phÈm thỡt cựa cịc hé gia ệừnh còng cã tũ lỷ t−ểng tù Tũ lỷ
sè hé tiếu dỉng thỡt lĩn cao nhÊt (98,45%), tiạp ệạn lộ thuũ sờn (97,23%), thỡt
gộ (80,94%), trong khi ệã tũ lỷ sè hé tiếu dỉng thỡt bư chử chiạm 40,23% vộ thỡt trẹu chử chiạm 7,12% [10]
Bờng 2.6 Tiếu dỉng cịc sờn phÈm thỡt theo vỉng ậVT: kg/ng−êi/nẽm
Sản phẩm đBSH đông
Bắc
Tây Bắc
đNB đB
SCL
Trung bình
Nhu cẵu tiếu dỉng thỡt gia cẵm trong n−ắc vÉn cưn tiÒm nẽng rÊt lắn,
ệiÒu nộy ệ−ĩc thÓ hiỷn thềng qua hỷ sè co giPn cẵu theo chi tiếu Hỷ sè nộy
Trang 35đối với tiêu dùng thịt gia cầm xấp xỉ 1, điều này có nghĩa nếu chi tiêu của hộ gia đình tăng 1%, cầu về thịt gia cầm sẽ tăng tương ứng 1%
Bảng 2.7 Hệ số co giãn cầu theo giá và theo chi tiêu đối với các sản phẩm thịt
Hệ số co gión giỏ
Hệ số co gión theo chi tiờu
Mức tiêu dùng các loại thịt bình quân đầu người/năm của Việt Nam hiện nay khoảng 25-26 kg thịt hơi, thấp hơn so với nhiều quốc gia và vùng lPnh thổ khác như: Đài Loan (38kg), Hồng Kông (55kg), Trung Quốc (35kg) Khoảng cách về tiêu dùng thịt của Việt Nam so với các nước cho thấy tiềm năng thị trường thịt trong nước là rất lớn nếu Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao như hiện nay
2.2.2.3 Kênh tiêu thụ
Từ khi dịch cúm xảy ra, kênh tiêu thụ gia cầm đP có những thay đổi lớn
ở khu vực thành thị, do việc kiểm soát dịch bệnh khá nghiêm ngặt nên kênh
Trang 36phân phối gia cầm thịt tập trung nhiều hơn vào các siêu thị và các điểm bán gia cầm sạch
Một kênh phân phối gia cầm mới xuất hiện ở một số khu đô thị Việt Nam trong thời gian gần đây, đó là các loại thịt gia cầm nhập khẩu chính ngạch có xuất xứ từ Mỹ, Thái Lan Thịt gà nhập khẩu từ Mỹ, Thái Lan hiện
đang được bày bán trong các siêu thị với giá tuy không rẻ nhưng chất lượng
đảm bảo, nguồn gốc rõ ràng, được người tiêu dùng tin tưởng
ở khu vực nông thôn, gia cầm thịt được luân chuyển qua nhiều kênh khác nhau trước khi đến tay người tiêu dùng Tại khu vực nông thôn, hầu hết gia cầm thịt được bán ở chợ và người tiêu dùng tiếp cận thông qua kênh bán lẻ (93%) Những người thu gom đi đến tận các hộ nuôi gia cầm để thu mua, sau
đó vận chuyển đến bán cho người bán buôn (64%) hoặc trực tiếp bán lẻ (18%) tới tay người tiêu dùng
Sơ đồ 2.1 Kênh phân phối gia cầm ở nông thôn miền Bắc Việt Nam
Trang 37Trong thời gian dịch cúm gia cầm xảy ra, giá thịt gia cầm và giá nguyên liệu chăn nuôi ở trong nước đều cao hơn giá thế giới Hậu quả là thịt gia cầm ngoại đP tràn vào thị trường Việt Nam theo đường nhập khẩu tiểu ngạch Do những hiểu biết hạn chế của người dân đối với tác hại của cúm H5N1, một khối lượng lớn gà thịt Trung Quốc giá rẻ đP tràn sang Việt Nam Gia cầm có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau khi vào thị trường nội địa được lưu thông trên thị trường tương tự như gia cầm sản xuất trong nước
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
Nghiên cứu tổng quan thị trường thịt gia cầm trong nước và thế giới trong 5 năm gần đây có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Xu thế tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi gia cầm trên thế giới vẫn tiếp tục tăng lên trong thời gian tới Các sản phẩm chăn nuôi gia cầm chất lượng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ ngày càng có ưu thế trong thương mại thế giới Điều này đòi hỏi chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam nói chung, ĐBSH nói riêng phải có những đổi mới căn bản về phương thức chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và phải đặc biệt chú ý đến việc đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn thực phẩm
- Chiến lược đa dạng hoá thị trường và sản phẩm chăn nuôi gia cầm, nhất là các sản phẩm qua chế biến đang là những biện pháp chủ yếu được các nước xuất khẩu gia cầm áp dụng
- Tâm lý lo ngại về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến sức khoẻ con người đP tác động mạnh đến cầu về tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi gia cầm Chăn nuôi gia cầm của Việt Nam nếu không cải thiện được chất lượng
đảm bảo rõ ràng nguồn gốc cũng như các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm thì sẽ rất khó khuyến khích người tiêu dùng trong nước tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi gia cầm
- Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam vẫn còn tiềm năng rất lớn do sản lượng sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thu dùng nội địa nhưng sự xuất hiện của các sản phẩm chăn nuôi gia cầm của nước ngoài trên thị trường trong thời gian gần đây là một tín hiệu xấu đối với thị trường thịt gia cầm Việt Nam
Trang 38cầm nhỏ lẻ vẫn trong các hộ gia nông dân vẫn còn khá phổ biến, chất lượng thịt gia cầm lưu thông trên thị trường chưa đảm bảo, khả năng người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng thịt gia cầm nhập khẩu với giá rẻ và có nguồn gốc rõ ràng là rất cao Nếu ngành chăn nuôi gia cầm ở ĐBSH không có những điều chỉnh kịp thời thì nguy cơ mất thị trường ngay trên sân nhà là rất lớn
- Trong dài hạn, chăn nuôi gia cầm thịt của Việt Nam cũng như ở vùng
ĐBSH không có lợi thế so sánh do chưa chủ động được nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp chế biến thịt gia cầm chưa đáp ứng được các yêu cầu của thị trường thế giới Vì vậy, trong giai đoạn tới, ngành chăn nuôi gia cầm nên hướng mục tiêu phát triển vào thị trường nội địa
và cần phải giải quyết đồng bộ 5 yếu tố: (i) Chăn nuôi tập trung; (ii) Tiến bộ
kỹ thuật’ (iii) Thức ăn chăn nuôi; (iv) Thú y; (v) Thị trường Có như vậy thì chăn nuôi gia cầm thịt ở Việt Nam nói chung, ĐBSH nói riêng mới có thể phát triển bền vững nâng và cao được sức cạnh tranh ở thị trường trong nước
2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan
Trong giới hạn các tài liệu có được, tác giả xin tóm tắt một số điểm nổi bật trong một số công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm trên thế giới và trong nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nhà khoa học trên thế giới đP có nhiều công trình nghiên cứu về các giải pháp phát triển chăn nuôi và các biện pháp khống chế sự lây lan của dịch cúm gia cầm
Rushton và các cộng sự (2004) đP có công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm đến 5 quốc gia Đông Nam á Trong nghiên cứu này, tác giả và cộng sự đP đề cập đến nhiều vấn đề và khẳng định chăn nuôi nhỏ lẻ hiện nay vẫn còn khá phổ biến ở một số quốc gia Đông Nam á Qua nghiên cứu, tác giả và cộng sự cũng khẳng định chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ trong các nông hộ vừa đạt hiệu quả thấp vừa là nguồn lây nhiễm dịch cúm rất nguy hiểm Tác giả đP đưa ra khuyến cáo: “Các quốc gia Đông Nam á cần phải có sự điều chỉnh mạnh mẽ ngành hàng gia cầm theo hướng phát triển
Trang 39chăn nuôi tập trung, gắn với chế biến công nghiệp và khi dịch cúm xảy ra thì biện pháp hiệu quả nhất vẫn là khoanh vùng dịch và thực hiện tiêu huỷ hoàn toàn đàn gia cầm trong vùng công bố nhiễm dịch” [13]
Taha, FA (2003) đP có công trình nghiên cứu về chăn nuôi gia cầm và những yêu cầu về thức ăn ở các quốc gia có thu nhập trung bình: Trường hợp nghiên cứu ở Ai Cập Trong nghiên cứu này, tác giả đP khẳng định chăn nuôi gia cầm có vai trò khá quan trọng đối với một bộ phận nông dân ở các nước có thu nhập trung bình Tác giả cũng đP đưa ra một số kết luận về vấn đề TĂCN, trong
đó nổi bật nhất là kết luận về TĂCN gia cầm ở một số quốc gia có thu nhập trung bình chưa đảm bảo chất lượng, trong thành phần thức ăn gia cầm ở một số nước
có hàm lượng Dioxin khá cao, vượt ngưỡng cho phép, có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ con người Tác giả cũng đưa ra khuyến cáo về việc các Chính phủ các nước
có thu nhập trung bình “cần có các biện pháp quản lý tốt hơn về chất lượng thức
ăn chăn nuôi và thuốc thú y” [9] Có như vậy thì sản phẩm sản xuất ra mới có thể
đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm, điều mà toàn thể cộng đồng thế giới đang rất quan tâm
Delquigny và các cộng sự (2004) có công trình nghiên cứu về tiến trình
và ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả và cộng sự đP mô tả khá kỹ diễn biến phát triển dịch cúm gia cầm và tác
động của nó đến nền kinh tế Việt Nam cũng như đối với người chăn nuôi Tác giả cũng đP đánh giá cao về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ở Việt Nam và coi Việt Nam là một quốc gia có nhiều thành công trong lĩnh vực này Tuy nhiên, tác giả và cộng sự cũng đưa ra những cảnh báo: “Nguy cơ lây nhiễm dịch cúm gia cầm ở Việt Nam là khá cao nếu không có các biện pháp hữu hiệu để hạn chế chăn nuôi nhỏ lẻ trong các nông hộ” [3]
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong nước cũng có nhiều tác giả có các nghiên cứu về kỹ thuật và thể chế, chính sách phát triển chăn nuôi gia cầm thịt
Nguyễn Trọng Khương (2005) đP có đề tài nghiên cứu về hiệu quả kinh
tế chăn nuôi lợn và gà trong nông hộ và trang trại Trong nghiên cứu này, tác
Trang 40sản xuất hàng hoá ở vùng ĐBSH Qua nghiên cứu, tác giả đP rút ra kết luận:
“Chăn nuôi gà trong các nông hộ và trang trại có tính kinh tế nhờ qui mô Tuy nhiên, do thị trường các yếu tố đầu vào diễn biến phức tạp, nhất là giá thức ăn chăn nuôi và giá thuốc thú y diễn biến theo chiều hướng tăng cao trong những năm gần đây đP làm cho hiệu quả chăn nuôi gà trong các nông hộ và trang trại
có xu hướng bị giảm sút” [5]
Nghiên cứu tổng quan ngành hàng chăn nuôi Việt Nam, các tác giả: Trần Công Thắng, Đinh Xuân Tùng, Vũ Trọng Bình (2004) đP nêu lên bức tranh tổng quát về ngành hàng chăn nuôi Việt Nam, trong đó có chăn nuôi gia cầm thịt Trong nghiên cứu này, các tác giả đP tính toán được hệ số co giPn cầu về thịt gia cầm theo giá và theo thu nhập, qua đó các tác giả đP rút ra kết luận: “Thị trường tiêu thụ thịt gia cầm ở Việt Nam còn rất lớn, tuy nhiên khi thu nhập tăng lên thì mức tăng cầu về thịt gia cầm ở khu vực thành thị sẽ thấp hơn ở khu vực nông thôn”
Nghiên cứu đề tài khoa học cấp thành phố “Nghiên cứu giải pháp và đề xuất mô hình ứng dụng khoa học, công nghệ để dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” (năm 2005) tác giả Nguyễn
Đình Chính và các cộng sự đP rút ra kết luận: “Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Sóc Sơn theo hướng nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi cần phải đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm trên cơ sở phát triển các mô hình kinh tế trang trại và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học-kỹ thuật và công nghệ
để phát triển chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp” Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng: “Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi gia cầm chỉ
đạt hiệu quả cao và rõ ràng ở qui mô phù hợp còn đối với chăn nuôi nhỏ lẻ thì việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đạt hiệu quả rất thấp” [23]
Trong bối cảnh dịch cúm gia cầm bùng phát đP có nhiều nghiên cứu về giải pháp phát triển chăn nuôi và hạn chế sự lây lan của dịch gia cầm như: Tác giả Trần Công Xuân (2006) với các bài viết “Làm gì để khôi phục đàn gia cầm”, “Đổi mới hệ thống chăn nuôi và giết mổ gia cầm tập trung, công nghiệp”; tác giả Trần Bạch Đằng (2006) với bài viết “Nâng dân trí trong phòng chống dịch cúm gia cầm”; tác giả Trần Công Thắng (2004) với công