Kỷ yếu thông tin với một số bài viết kinh tế Việt Nam năm 2016 và triển vọng phát triển năm 2017; báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2016 của trường đại học kinh tế quốc dân - tiếp nối xuất sắc chuỗi nghiên cứu truyền thống; ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ rút khỏi tpp tới kinh tế Việt Nam; đổi mới mô hình tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam - nhìn từ góc độ đóng góp của yếu tố TFP...
Trang 2Ban kinh tế
trung -ơng đảng
Tr-ờng đại học kinh tế quốc dân
ủy ban kinh tế của quốc hội
Kỷ YếU HộI THảO KHOA HọC quốc gia
TRIểN VọNG PHáT TRIểN KINH Tế VIệT NAM
Và VAI TRò CủA NHà NƯớC KIếN TạO TRONG HOàN THIệN THể CHế Và MÔI TRƯờNG KINH DOANH
BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO
Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn Trưởng ban
2 Đ/c Vũ Hồng Thanh
Ủy viờn Trung ương Đảng,
Ủy viờn Ủy ban thường vụ Quốc hội khúa XIV, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Đồng Trưởng ban
3 TS Nguyễn Ngọc Bảo Phú trưởng Ban Kinh tế Trung ương Đồng
Trưởng ban
4 TS Nguyễn Đức Kiờn Phú chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Ủy viờn
5 TS Nguyễn Minh Sơn Phú chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Ủy viờn
6 PGS.TS Trần Thị Võn Hoa Phú Hiệu trưởng,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn
Ủy viờn thường trực
7 PGS.TS Phạm Hồng Chương Phú Hiệu trưởng,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn Ủy viờn
8 PGS.TS Hoàng Văn Cường Phú Hiệu trưởng,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn Ủy viờn
Nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân
2017
Trang 4CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
“TRIÓN VäNG PH¸T TRIÓN KINH TÕ VIÖT NAM Vµ VAI TRß CñA NHµ N¦íC KIÕN T¹O
TRONG HOµN THIÖN THÓ CHÕ Vµ M¤I TR¦êNG KINH DOANH”
Thời gian: 8h00 (thứ Năm) ngày 16 tháng 3 năm 2017 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
7.30 – 8.00 Đăng ký và đón tiếp đại biểu
8.00 – 8.05 Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu
8:05 – 8:15 Phát biểu khai mạc và Đề dẫn Hội thảo
8.15 – 8.20 Phát biểu chào mừng Hội thảo
8.20 – 8.40
Triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam - Tái cơ cấu nền kinh tế gắn
với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và vai trò của Nhà nước kiến tạo phát triển
Chủ đề 1: Vai trò của Nhà nước
kiến tạo trong hoàn thiện thể chế
và cải thiện môi trường kinh doanh
(Tại Hội trường A)
Chủ đề 2: Hoàn thiện thể chế
Tài chính cho phát triển bền vững thị trường bảo hiểm và thị trường chứng khoán Việt Nam
(Tại Phòng hội thảo D102)
9:45 – 10:00
Nhìn lại 1 năm thực hiện quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động
PGS.TS Vũ Cương
Đổi mới quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam góp phần hoàn thiện thể chế cho phát triển bền vững
PGS.TS Trần Đăng Khâm
10:00 – 10:15
Góc nhìn của người dân về Chính phủ kiến tạo phát triển: Từ Chỉ số PAPI đến hành động của chính quyền các cấp
TS Đỗ Thị Thanh Huyền
UNDP Việt Nam
Từng bước hoàn thiện thể chế cho
sự minh bạch, hiệu quả và bền vững thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2020
TS Trần Quang Lâm
10:15 – 10:45
Sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện chính sách và xây dựng Nhà nước kiến tạo
GS.TS Eddy Malesky Diễn đàn sáng kiến Việt Nam
Thảo luận của các chuyên gia
Trang 6MỤC LỤC STT Tên bài viết và tác giả Trang
ĐỀ DẪN HỘI THẢO PHẦN 1
CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
1
KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN
NĂM 2017
GS.TS Trần Thọ Đạt PGS.TS Phạm Hồng Chương PGS TS Tô Trung Thành
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
15
2
TÓM TẮT BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN “KINH TẾ VIỆT NAM 2016:
TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ VAI TRÕ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN”
GS.TS Trần Thọ Đạt GS.TS Ngô Thắng Lợi
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
41
3
BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN "KINH TẾ VIỆT NAM 2016" CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN - TIẾP NỐI XUẤT SẮC
CHUỖI NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG
Viện Nghiên cứu Phát triển Việt Nam (VIDERI)
Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam
TS Nguyễn Quang Hiệp
Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
Trang 7STT Tên bài viết và tác giả Trang
7
NGUỒN TĂNG TRƯỞNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2016
PGS.TS Vũ Hoàng Ngân
TS Nguyễn Thị Cẩm Vân ThS Hoàng Thị Huệ
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS Phạm Ngọc Toàn
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
87
8
TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
TRONG BƯỚC CHUYỂN BIẾN QUAN TRỌNG TỪ NĂM 2017
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
105
9
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2017 - 2020
TS Trần Thị Minh Hương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
115
10
NHỮNG “NÖT THẮT” TRONG HIỆU QUẢ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VIỆT NAM
ThS.NCS Ngô Quốc Dũng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
129
11
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH CỦA
VIỆT NAM NĂM 2016 VÀ DỰ BÁO 2017
TS Đặng Anh Tuấn và Nhóm nghiên cứu Viện Ngân hàng – Tài chính
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
151
PHẦN II VAI TRÕ CỦA NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO TRONG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ
VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN QUYẾT TÂM XÂY DỰNG
CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO, LIÊM CHÍNH, HÀNH ĐỘNG
PGS TS Vũ Cương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS.NCS Nguyễn Tuấn Anh
Thanh tra Chính phủ
193
Trang 8STT Tên bài viết và tác giả Trang
14
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ KINH DOANH NĂM 2016 VÀ TRIỂN VỌNG
NĂM 2017 CỦA VIỆT NAM
PGS.TS Trần Kim Chung
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
205
15
VAI TRÕ KIẾN TẠO CỦA CHÍNH PHỦ NHẰM TẠO ĐỘNG LỰC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020
GS.TS Nguyễn Đình Hương
Hội đồng KH&ĐT, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
233
16
MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG
VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
253
18
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TÁI CƠ CẤU ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM
PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn ThS NCS Bùi Thị Thanh Huyền
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
267
19
CHÍNH SÁCH ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH MỚI CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU
PGS.TS Hoàng Văn Cường
PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO GIẢI QUYẾT
BÀI TOÁN “BƯỚC HẪNG” TPP CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
ThS Lê Quốc Anh
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ĐÁNH GIÁ VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC DNNVV TIỂU VÙNG TÂY BẮC
ThS Đặng Công Thức
Đại học Tây Bắc
337
Trang 9STT Tên bài viết và tác giả Trang
24
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ
NGOẠI HỐI GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHÍNH SÁCH KINH TẾ, THƯƠNG MẠI CỦA CHÍNH QUYỀN
TỔNG THỐNG MỸ DONALD TRUMP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng ThS.NCS Trịnh Quốc Tuy
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
381
28
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỦ ĐÔ NHANH VÀ BỀN VỮNG
TS Nguyễn Hồng Sơn ThS Đào Ngọc Lưu
Viện nghiên cứu Phát triển KT- XH Hà Nội
NHỮNG “ĐIỂM SÁNG” TRONG TRIỂN VỌNG KINH TẾ THỦ
ĐÔ HÀ NỘI NĂM 2017
ThS Nguyễn Minh Tuân
Hội đồng nhân dân TP Hà Nội
435
31
GIẢI PHÁP HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ - GÓC NHÌN TỪ CHỈ SỐ DỰ BÁO PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Z-SCORE
ThS NCS Đinh Đức Minh
Ngân hàng CP Xăng dầu Petrolimex
441
Trang 10STT Tên bài viết và tác giả Trang
32
ĐẤU THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI, THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TS.Trần Văn Hùng ThS Trần Mạnh Linh
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
NHU CẦU ĐÀO TẠO NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỔI MỚI
SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM NGÀNH CHẾ BIẾN
ThS NCS Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường Đại học Thủy lợi
487
36
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 4G/LTE: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG VIỆT NAM
ThS Nguyễn Quang Huy
Công ty Mobifone
499
37
ĐẦU TƯ CHO NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN Ở CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TS Đặng Thu Hương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
ThS NCS Nguyễn Thị Lan Hương
Trường ĐH Công nghiệp Dệt may Hà Nội
509
38
NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP, LIÊN KẾT
QUỐC TẾ: BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
ThS Lê Thị Thu Hương
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
527
Trang 12ĐỀ DẪN HỘI THẢO
Kính thưa các Quý vị Đại biểu, các Nhà khoa học
Nhằm làm rõ vai trò của Chính phủ kiến tạo, cũng như những cơ hội, thách thức trong phát triển kinh tế xã hội Việt Nam và những giải pháp cần thực hiện trong giai đoạn 2016-2020, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức Hội thảo khoa học
Quốc gia với chủ đề: “Triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam và vai trò của
Chính phủ kiến tạo trong việc hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh”
vào ngày 16 tháng 3 năm 2017 Hội thảo là diễn đàn trao đổi, thảo luận giữa các
nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, các cán bộ quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp về triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam năm
2017 và các năm tiếp theo cũng như đánh giá và làm rõ những biến động của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam khi thực hiện giai đoạn 2 của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế
Hội thảo cũng là diễn đàn để công bố và trao đổi với các nhà khoa học, các
nhà hoạch định chính sách về Ấn phẩm thường niên “Kinh tế Việt Nam 2016:
Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và vai trò Nhà nước kiến tạo phát triển” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Sau 3 tháng chuẩn bị, Hội thảo đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia kinh tế trong những lĩnh vực khác nhau Gần 50 bài viết đã được gửi đến Ban Tổ chức Hội thảo Trong quá trình biên tập, Ban Tổ chức đã lựa chọn được 38 bài viết có chất lượng để in trong Kỷ yếu Hội thảo Các bài viết tập trung khai thác những góc nhìn đa chiều về ba chủ
đề lớn sau đây: (1) Cơ hội, thách thức và triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam; (2) Vai trò của Nhà nước kiến tạo trong hoàn thiện thể chế và môi trường kinh doanh; (3) Phát triển kinh tế vùng, địa phương và các khu vực kinh tế
Hội thảo sẽ diễn ra trong 1 buổi sáng, bao gồm phiên toàn thể và phiên thảo luận theo chủ đề Trong phiên toàn thể, chúng tôi mong muốn các nhà khoa học tập trung thảo luận, bình luận về các nội dung chính sau:
- Làm rõ những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong phát triển của kinh tế Việt Nam năm 2016 và thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cũng như xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển
Trang 13- Nhận diện những cơ hội, khó khăn và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong điều kiện có những biến động mới của các hiệp định tự do và biến đổi khí hậu toàn cầu như Mỹ rút khỏi TPP, quan điểm thương mại và quan
hệ quốc tế mới của Tân tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump.v.v
Trong phiên thảo luận theo chủ đề, Hội thảo sẽ tập trung làm rõ các vấn đề chuyên sâu liên quan đến 2 nội dung chính sau:
- Thành công và hạn chế của quá trình xây dựng Nhà nước kiến tạo nhằm khơi thông và tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời gian qua và khuyến nghị cho những năm tiếp theo
- Hoàn thiện thể chế thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm cho sự phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững của thị trường Tài chính Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2020
Các ý kiến thảo luận trong Hội thảo sẽ được tổng hợp thành báo cáo kiến nghị chung gửi cho các cơ quan của Đảng và Nhà nước cùng các bên liên quan với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam một cách hiệu quả và bền vững năm 2017 và các năm tiếp theo
Ban Tổ chức chúng tôi trân trọng cảm ơn sự phối hợp và hỗ trợ quý báu của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Ban Kinh tế Trung ương, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược Chính sách Tài chính - Bộ Tài chính, Viện Chiến lược Ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, v.v Sự hỗ trợ và phối hợp của các cơ quan thể hiện trách nhiệm đối với sự phát triển khoa học và công nghệ nói chung và trách nhiệm đối với hoạt động đào tạo và NCKH của Trường Đại học KTQD nói riêng
Đặc biệt, Ban Tổ chức xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các chuyên gia, các cán bộ thực tiễn đã tâm huyết viết bài và dành thời gian quý báu để tham
dự, phát biểu và đóng góp cho sự thành công của Hội thảo
Xin kính chúc quý vị đại biểu, các nhà khoa học mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
Xin trân trọng cảm ơn!
Ban Tổ chức Hội thảo
Trang 14PHẦN 1
CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
Trang 16KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2016
VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN NĂM 2017
Ở trong nước, mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế vẫn chưa được cải thiện đáng
kể khiến những điểm nghẽn tăng trưởng vẫn chưa được giải quyết triệt để, cũng như tác động của các chính sách nới lỏng đã dần đến hạn Những vấn đề biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp ở quy mô lớn Bên cạnh đó, sản lượng ngành khai khoáng giảm mạnh, làm giảm tốc độ tăng chung của ngành công nhiệp xây dựng Theo đó, tăng trưởng kinh tế năm 2016 chỉ ở mức 6,21%, giảm so với 6,68% năm 2015 và không đạt được chỉ tiêu 6,7% đặt ra Điều này cho thấy nền kinh tế dễ tổn thương từ vấn đề biến đổi khí hậu và mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên đã “tới hạn” Tốc độ giảm giá dầu và lương thực thế giới chững lại, cùng với việc điều chỉnh mạnh giá các hàng hóa Nhà nước quản lý là những nguyên nhân chính khiến lạm phát tăng 4,74%, so với 0,63% năm 2015 Chính sách tiền tệ nới lỏng chủ yếu để hỗ trợ phát hành trái phiếu Chính phủ, đi kèm với vấn đề nợ xấu ở hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết triệt để khiến mức lãi suất giảm không sâu và chưa thực sự hỗ trợ khu vực tư nhân phát triển Thâm hụt ngân sách ở mức cao và nợ công đã chạm ngưỡng cảnh báo phản ánh những rủi ro vĩ mô đang ngày càng gia tăng Tuy nhiên, nền kinh tế cũng có một số điểm sáng như cán cân thương mại thặng dư, và cùng với FDI giải ngân gia tăng ở mức cao kỷ lục đã đóng góp lớn vào thặng dư cán cân thanh toán và gia tăng dự trữ ngoại hối Theo đó, thị trường ngoại hối và tỷ giá trong năm tương đối ổn định
Trong năm 2017, kinh tế Việt Nam sẽ gặp một số thách thức chính như biến động thế giới khó lường, thể chế kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa được cải thiện mạnh
mẽ, dư địa chính sách thu hẹp, vấn đề biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt, Vì vậy, việc đạt được các chỉ tiêu kinh tế mà Quốc hội đặt ra cho năm 2017 (tăng trưởng 6,7%
và lạm phát 4%) là rất khó khăn
Trang 17Dẫn nhập
Những diễn biến của kinh tế thế giới năm 2016 đã có những tác động đến kinh tế Việt Nam như tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không quá thuận lợi (do kinh
tế Mỹ, châu u hay Nhật Bản (những bạn hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam) xấu
đi trong năm 2016); thị trường ngoại hối có một số biến động ở một số thời điểm (theo sau một số sự kiện như việc bỏ phiếu ra khỏi châu u của người dân nh, Donald Trump thắng cử tổng Thống Mỹ và kế hoạch tăng lãi suất cơ bản của FED); hay lạm phát trong nước không còn quá thấp như năm 2015 (một phần do mức độ giảm của giá dầu thế giới chỉ còn bằng 1/3 so với mức giảm giá năm
2015, cũng như giá các mặt hàng năng lượng khác đều phục hồi trong Quý IV năm 2016)
Ở trong nước, năm 2016 đã chứng kiến những nỗ lực của Chính phủ trong việc thúc đẩy nền kinh tế, đặc biệt là trong việc cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua hàng loạt các Nghị quyết quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu Chính phủ kiến tạo Tiếp nối chuỗi các Nghị quyết 19 kể từ năm 2014, ngày 28/4/2016, Chính phủ đưa ra Nghị quyết 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020, theo
đó, một số mục tiêu quan trọng là đến hết năm 2016, môi trường kinh doanh đạt tối thiểu bằng trung bình nhóm nước SE N-4, và đến năm 2020, một số chỉ tiêu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nằm trong nhóm nước ASEAN-3 Một số các Nghị quyết quan trọng khác như Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ ngày 16/5/2016, hay Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 22/7/2016 cũng đều đưa ra những nhiệm vụ cũng như giải pháp nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Một yếu tố nữa tác động lớn đến kinh tế trong nước trong năm 2016 cũng như các năm tiếp theo là vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) Năm 2016 được ghi nhận là năm Việt Nam phải gánh chịu nhiều sự cố môi trường và thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và khó dự đoán Sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh ven biển miền Trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế), rét đậm và rét hại trên diện rộng ở các tỉnh phía Bắc, mưa lũ và ngập lụt ở miền Trung, hạn hán ở khu vực Nam Trung Bộ, Tây
Trang 18Nguyên và Đông Nam Bộ và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư ở quy mô lớn
Trong bối cảnh trong nước và quốc tế nêu trên, bài viết sẽ đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2016 thông qua các khu vực chính như khu vực kinh tế thực, khu vực đối ngoại, khu vực tài chính tiền tệ, khu vực ngân sách Phần cuối của bài viết là triển vọng kinh tế năm 2017
Cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ:
Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP (khoảng hơn 40% GDP), với tốc độ tăng trưởng 6,98% đã đóng góp được 2,67% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Sự suy giảm của tốc độ tăng trưởng chủ yếu xuất phát từ hai ngành nông nghiệp và công nghiệp - xây dựng
Kể từ năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đã suy giảm liên tục Tăng trưởng của ngành này giảm mạnh chỉ còn 1,36% năm 2016 (so với 2,41% năm 2015 và trước đó là 3,44% năm 2014) Điều này cũng khiến tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu sản xuất giảm liên tục Năm 2016, tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn 16,32% GDP, so với 17% GDP năm 2015 và 17,70% năm 2014 Theo đó, đóng góp của ngành nông nghiệp đến tăng trưởng chỉ còn 0,22 điểm phần trăm, giảm mạnh so với 0,40 điểm phần trăm năm 2015 và 0,61 điểm phần trăm năm 2014 Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp thấp đã gây hậu quả “kép”: (i) làm giảm tốc độ tăng trưởng của toàn nền kinh tế; (ii) làm giảm tốc độ tăng trưởng của 2 ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ trên góc độ chuỗi giá trị sản phẩm ngành nông nghiệp
Trang 19Hình 1: Tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người
Nguồn: Tổng cục Thống kê, World Development Indicators
Nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng trong GDP cũng như mức
độ đóng góp vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp suy giảm mạnh là từ những diễn biến của biến đổi khí hậu, khắc nghiệt của thời tiết như rét đậm ở miền Bắc, hạn hán và ngập mặn ở miền Nam, và sự cố môi trường biển tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Ngoài ra một nguyên nhân nữa cần phải kể tới là sự yếu kém về trình
độ phát triển sản xuất nông nghiệp Đây là yếu tố làm yếu tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp không chỉ trong những năm vừa qua mà có thể cả giai đoạn sau nếu không có chính sách đổi mới
Hình 2: Cơ cấu ngành trong GDP và tốc độ tăng trưởng của ngành
Nguồn: Tổng cục Thống kê Ghi chú: Từ năm 2010, Tổng cục Thống kê đã tiến hành tách thuế giá trị gia tăng hàng hóa và dịch vụ khỏi VA các ngành công nghiệp và dịch vụ
Trang 20Nếu như năm 2015 tăng trưởng được cải thiện chủ yếu từ ngành công nghiệp - xây dựng, thì năm 2016, ngành này có tốc độ tăng trưởng giảm sút rõ rệt, kéo tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế đi xuống Sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2016 tăng trưởng 7,57% (so với 9,64% năm 2014), chiếm tỷ trọng còn 32,72% GDP (so với 33,25% năm 2015), và chỉ đóng góp 2,59 điểm phần trăm vào tăng trưởng (so với 3,20% năm 2015) Nguyên nhân chủ yếu khiến khu vực này có tốc độ tăng trưởng giảm sút là từ ngành công nghiệp khai thác mỏ Chỉ số phát triển công nghiệp - khai thác mỏ đã giảm tới 5,9% so với năm 2015, sau khi tăng 6,5% năm 2015 Đây là mức giảm nhiều nhất kể từ năm 2011 (giảm 0,09% năm 2011 và 0,20% năm 2013) Sản lượng dầu thô giảm hơn 1,67 triệu tấn hay sản lượng than giảm 1,26 triệu tấn là những nguyên nhân quan trọng khiến ngành khai khoáng suy giảm mạnh Điều này cho thấy tài nguyên thiên nhiên đang dần trở nên cạn kiệt, và mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên đã trở nên “tới hạn”
Hình 3: Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Cơ cấu thành tố chi tiêu:
Trang 21Bảng 1: Tốc độ tăng các thành tố chi tiêu (%, so với cùng kỳ năm trước)
Cả
6 Tháng Q.III
9 Tháng Q.IV
Cả năm GDP 6,12 6,47 6,32 6,87 6,53 7,01 6,68 5,48 5,78 5,65 6,56 5,99 6,68 6,21 Tiêu dùng cuối cùng 8,67 8,72 8,70 9,16 8,87 9,68 9,12 6,84 7,10 6,98 6,97 6,97 8,09 7,32
TDCC Nhà nước 7,02 7,12 7,08 6,62 6,91 7,07 6,96 7,01 7,45 7,25 6,90 7,12 8,40 7,54 TDCC hộ dân cư 8,82 8,88 8,85 9,41 9,05 9,95 9,33 6,82 7,07 6,95 6,98 6,96 8,05 7,30
Tích lũy tài sản 6,70 6,93 6,85 9,79 8,08 10,69 9,04 10,50 9,18 9,60 7,71 8,80 11,23 9,71 Xuất khẩu 15,62 15,91 15,78 15,87 15,81 5,01 12,64 8,95 12,78 11,02 12,91 11,68 19,66 13,86 Nhập khẩu 18,66 20,31 19,55 22,25 20,51 12,61 18,12 11,46 13,12 12,36 13,01 12,60 21,89 15,29
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 22Về phía các thành tố chi tiêu, tốc độ tăng GDP suy giảm năm 2016 có nguyên nhân chủ yếu từ thành tố tiêu dùng cuối cùng Với tỷ trọng của tiêu dùng cuối cùng duy trì mức trên 70% qua các năm, tốc độ tăng 7,32% trong năm 2016, giảm nhiều so với 9,12% năm 2015 đã khiến tiêu dùng cuối cùng chỉ đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng (so với 10,66 điểm phần trăm năm 2015) Trong khi đó, tổng tích lũy tài sản vẫn duy trì ở mức cao 9,71% (so với 9,04% năm 2015), đóng góp 3,08% điểm phần trăm vào tăng trưởng Bên cạnh
đó, chênh lệch xuất nhập khẩu trong năm 2016 đã làm giảm 2,16 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
Vốn đầu tư toàn xã hội trong GDP năm 2016 tiếp tục giữ ở mức cao với tốc
độ tăng 8,7% và chiếm tỷ trọng là 33% GDP, tăng nhẹ so với 32,6% GDP Tỷ trọng đóng góp của các thành phần tương tự như năm 2015, trong đó, tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng đầu tư là 23,40%, khu vực tư nhân 39% và khu vực Nhà nước là 37,6% Như vậy, kể từ tái cơ cấu nền kinh tế năm 2011, tỷ trọng đầu
tư của khu vực Nhà nước mặc dù có giảm dần, nhưng hầu như không đáng kể
Hình 4: Tỷ trọng đầu tƣ của các thành phần kinh tế
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Tỷ trọng đầu tư trên GDP cùng với tăng trưởng tín dụng liên tục tăng dần
từ năm 2012 nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn khó phục hồi bền vững cho thấy mô hình tăng trưởng vẫn theo chiều rộng mà chưa có nhiều cải thiện theo chiều sâu
Trang 23Hình 5: Tăng trưởng, đầu tư/GDP, tăng trưởng tín dụng
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê, NHNN
Cơ cấu thành phần kinh tế
Trong khi khu vực kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn (khu vực doanh nghiệp Nhà nước thiếu hiệu quả, khu vực doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và thiếu các động lực tăng trưởng), thì khu vực FDI vẫn đang được coi là khu vực năng động và tiếp tục đóng góp quan trọng vào GDP Dòng vốn FDI đăng ký và giải ngân tiếp tục gia tăng mạnh trong nhiều năm gần đây, và hiện đóng góp của khu vực này đã chiếm hơn 18% sản lượng (con số năm 2015), hơn 23% tổng vốn đầu tư xã hội, và khoảng 70% giá trị sản xuất công nghiệp, khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp FDI cũng đang đóng góp lớn nhất vào cán cân thương mại của nền kinh tế trong nhiều năm, giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không suy giảm mạnh Năm 2016 khu vực này tạo được thặng dư thương mại 23,7 tỷ USD (so với 17,1 tỷ USD năm 2015); trong khi khu vực trong nước nhập siêu 21,1 tỷ USD (so với 20,3 tỷ USD năm 2015)
Hình 6: Cơ cấu của các thành phần kinh tế trong GDP
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 24Tuy nhiên, sau nhiều năm tham gia vào nền kinh tế, các doanh nghiệp FDI vẫn chủ yếu tập trung vào ngành khai thác tài nguyên, gia công tận dụng lao động giá rẻ, tạo giá trị gia tăng thấp cho nền kinh tế, chưa có những đóng góp tích cực cho cải thiện tiến bộ khoa học công nghệ Sự kết nối giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn lỏng lẻo Các doanh nghiệp FDI có công nghệ cao thì ít tạo được hiệu ứng lan tỏa về công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước do khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài cũng như sự thiếu vắng lực lượng lao động trình độ cao làm giảm khả năng hấp thụ những tiến bộ công nghệ
Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp FDI là một trong những tác nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường Một bộ phận nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng những quy định về môi trường lỏng lẻo để di dời các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đến Việt Nam Với nhiều vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của khu vực FDI (ví dụ Formosa), hiện nay Chính phủ Việt Nam cũng đã
có những thay đổi nhất định về tư duy và có những quy định khắt khe hơn trong thu hút FDI, để hướng FDI vào những ngành tạo giá trị gia tăng cao, ít gây ô nhiễm môi trường, phục vụ phát triển kinh tế bền vững Luật Bảo vệ Môi trường
2014 cũng đã có những điều khoản liên quan đến đánh giá tác động môi trường phù hợp hơn với luật pháp quốc tế với những tiêu chí đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư, trong đó có FDI Có thể nói, trong thời gian tới các vấn đề liên quan đến môi trường sẽ được tính toán và cân nhắc cẩn trọng hơn khi quyết định phê duyệt dự án đầu tư FDI Tuy nhiên, việc thực thi vẫn gặp khó khăn do các nguyên nhân: (i) Năng lực thực thi các quy định về bảo vệ môi trường còn kém, (ii) Việc phân cấp cho địa phương vẫn khiến các địa phương thu hút FDI bằng những quy định dễ dãi về môi trường, đó là chưa kể năng lực thẩm định vấn đề về môi trường các dự án FDI tại các địa phương còn thấp, (iii) Năng lực khoa học công nghệ thấp, thiếu công nghiệp phụ trợ, lao động năng suất thấp,….vẫn là những cản trở chính trong việc chinh phục khu vực FDI vào các ngành có giá trị gia tăng cao và ít gây ô nhiễm môi trường
Khu vực đối ngoại
Do cấu trúc sản xuất và xuất nhập khẩu chưa có nhiều cải thiện, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng vẫn thiếu hiệu quả nên diễn biến cán cân vãng lai và thương mại Việt Nam thiếu bền vững Nếu từ năm 2012-2014, cán cân thương
Trang 25mại và theo đó là cán cân vãng lai đã được cải thiện và xuất hiện thặng dư chủ yếu do cầu nhập khẩu thấp vì suy thoái kinh tế, thì đến năm 2015, khi kinh tế bắt đầu hồi phục, nhập siêu đã quay trở lại với quy mô gia tăng Tuy nhiên, ngay khi nền kinh tế có dấu hiệu suy giảm tăng trưởng năm 2016, thặng dư thương mại hàng hóa lại xuất hiện
Hình 7: Cán cân vãng lai và cán cân thương mại
Nguồn: Tổng cục Thống kê, IMF
Cụ thể, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2016 ước đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% (so với 7,9% năm 2015) Tuy nhiên, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu
đã giảm nhanh chóng (do nhu cầu yếu hơn từ phía sản xuất), theo đó, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 173,3 tỷ USD, chỉ tăng 4,6% so với năm trước (so với tốc độ tăng 12% năm 2015) Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư
2,68 tỷ USD (tương đương 1,26% GDP), so với mức nhập siêu 3,2 tỷ USD
(tương đương 1,56% GDP năm 2015)
Cơ cấu xuất nhập khẩu theo thành phần kinh tế
Đóng vai trò quan trọng trong cả xuất khẩu và nhập khẩu trong 10 năm gần đây vẫn là khu vực FDI Trong năm 2016, khu vực này xuất khẩu 125,9 tỷ USD, chiếm gần 73% tỷ trọng xuất khẩu chung; trong khi nhập khẩu của khu vực này đạt 102,2 tỷ USD, chiếm gần 59% tỷ trọng nhập khẩu chung Theo đó, FDI là khu vực đóng góp quan trọng nhất vào cán cân thương mại khi tạo ra thặng dư thương mại lớn (23,7 tỷ USD), bù đắp cho mức thâm hụt thương mại ngày càng cao của khu vực kinh tế trong nước (21 tỷ USD), từ đó đóng góp chủ yếu vào thặng dư 2,68 tỷ USD trong năm 2016
Trang 26Hình 8: Đóng góp của các thành phần kinh tế vào cán cân thương mại
Những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam vẫn chủ yếu là các ngành hàng gia công và lắp ráp, giá trị gia tăng thấp, với sự đóng góp phần lớn từ khu vực FDI Cụ thể, ngành hàng xuất khẩu quan trọng nhất là điện thoại các loại
Trang 27và linh kiện đạt 34,5 tỷ USD, tăng 14,4% so với năm 2015 (mặc dù có sự cố nổ pin của Samsung Note 7), chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, với đóng góp từ khu vực FDI (đặc biệt là Samsung) gần như chiếm tuyệt đối Tiếp theo là một số ngành hàng như dệt may 23,6 tỷ USD (tăng 3,3%), điện
tử, máy tính và linh kiện 18,5 tỷ USD (tăng 18,4%), giày dép 12,9 tỷ USD (tăng 7,6%); máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 10,5 tỷ USD (tăng 28,4%) Trong khi
đó, xuất khẩu các mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô đều giảm so với năm
2015, và chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Hình 10: Tỷ trọng một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực năm 2016 (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong khi đó, cơ cấu hàng nhập khẩu cũng hầu như không thay đổi trong suốt hơn thập kỷ vừa qua, do công nghiệp hỗ trợ kém phát triển cùng những nỗ lực tăng giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu không có kết quả đáng kể Cụ thể, năm 2016, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 91,1% tổng giá trị nhập khẩu Trong nhóm hàng này, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải, phụ tùng đạt 71,8 tỷ USD; chiếm 41,4% tỷ trọng; trong đó điện tử máy tính và kinh kiện là 27,8 tỷ USD, tăng tới 20% so với năm 2015 Nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu đạt 86,1 tỷ USD, chiếm 49,7%
Trang 28Hình 11: Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Cơ cấu xuất nhập khẩu theo thị trường
Cơ cấu thị trường xuất khẩu trong nhiều năm có ít thay đổi về thứ tự các thị trường xuất khẩu lớn nhất, tuy nhiên, tỷ trọng các thị trường đã có những thay đổi đáng kể Năm 2016, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 21,67% tổng kim ngạch xuất khẩu (tăng so với 20,6% năm 2015); tiếp đến là EU (19,33% so với 19% năm 2015) Trung Quốc đã vươn lên vị trí số
3 với 12,39% (tăng nhanh so với 10,18% năm 2015), vượt qua SE N (8,89%, giảm nhanh so với 11,26% năm 2015)
Hình 12: Cơ cấu thị trường xuất khẩu (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 29Hình 13: Cơ cấu thị trường nhập khẩu (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong khi đó, thị trường nhập khẩu cũng đã có những thay đổi nhanh chóng Theo đó, mặc dù Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 28,73% (giảm so với 30,15% năm 2015); nhập khẩu
từ Hàn Quốc đã gia tăng đến 14,6% so với năm 2015, và tỷ trọng đã tăng lên 18,29% tổng kim ngạch nhập khẩu (so với 16,8% năm 2015), đứng thứ 2 trong
số các thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; điện thoại các loại, điện tử, máy tính và linh kiện phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu điện tử, máy tính và điện thoại, Đây cũng là xu hướng chính khi Hàn Quốc đã coi Việt Nam
là một trong những cơ sở sản xuất ở nước ngoài chủ chốt
Do những diễn biến nhanh chóng trên, hiện nay Trung Quốc là thị trường Việt Nam nhập siêu lớn nhất (28 tỷ USD), nhưng quy mô này đã giảm gần 15%
so với năm 2015 Trong khi đó, Hàn Quốc đang nổi lên là đối tác thương mại quan trọng, với quy mô nhập siêu từ quốc gia này đã lên đến 20,2 tỷ USD (tăng 8% so với năm 2015) Sự phụ thuộc nhiều hơn vào Hàn Quốc, đặc biệt từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) có hiệu lực thể hiện
rõ nét một nền kinh tế phụ thuộc vào đầu vào từ nước ngoài, giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu còn rất thấp Xuất siêu sang Mỹ (29,4 tỷ USD, tăng 14,8%) và
EU (22,9 tỷ USD, tăng 12,3%) đã hỗ trợ cho cán cân thương mại thặng dư trong năm 2016
Trang 30Cán cân vốn và cán cân thanh toán tổng thể
Hình 14: Vốn FDI đăng ký và thực hiện
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Mặc dù cán cân vãng lai có những biến động lớn qua các năm, cán cân vốn tương đối ổn định với FDI giải ngân qua các năm đều đứng ở mức cao Điều này phản ánh Việt Nam vẫn là một điểm đến đầu tư hấp dẫn với triển vọng kinh tế sáng sủa hơn một số nước trong khu vực, môi trường kinh doanh đã có những cải thiện nhất định, đặc biệt khi Việt Nam tham gia hàng loạt các hiệp định thương mại và đầu tư song phương và đa phương Nếu như trung bình giai đoạn 2011-
2014, FDI giải ngân khoảng 11 tỷ USD, năm 2015 tăng lên 14 tỷ USD thì năm
2016, FDI giải ngân đã đạt 15,8 tỷ USD (mức cao nhất từ trước đến nay) Trong
đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút FDI lớn nhất với tổng số vốn đăng ký lên đến 15,5 tỷ USD (chiếm khoảng 64% tổng vốn FDI đăng ký) Ngoài
ra, đầu tư FDI cũng đến nhiều nhất từ Hàn Quốc (chiếm 36,3% vốn FDI đăng ký mới), vượt xa các quốc gia tiếp theo như Singapore (10,5%) hay Trung Quốc (8,3%) Điều này cũng phản ánh thực tế Việt Nam đang dần thay thế Trung Quốc như là điểm cuối trong chuỗi giá trị Đông Á và toàn cầu
Ngược với giải ngân FDI gia tăng mạnh mẽ, giải ngân OD và vốn vay ưu đãi chỉ đạt 3,7 tỷ USD (giảm gần 20% so với năm 2015), mặc dù vốn OD và vốn vay ưu đãi được ký kết ước đạt khoảng 5,38 tỷ USD, tăng gần 40% so với năm 2015
Trang 31Với những cải thiện từ cán cân vãng lai và cán cân vốn, cán cân thanh toán tính đến cuối quý 3 năm 2016 đã thặng dư 9,65 tỷ USD, đi kèm với dự trữ ngoại hối gia tăng đến 41 tỷ USD Đây cũng là nguyên nhân quan trọng giữ cho thị trường ngoại hối tương đối ổn định trong năm 2016
Khu vực tài chính tiền tệ
Lạm phát
Hình 15: Lạm phát, giá dầu và giá lương thực thế giới
Nguồn: Tổng cục Thống kê, EIA, FAO
Nếu như năm 2015, lạm phát chỉ còn 0,63%, thấp nhất kể từ khi gia nhập WTO (nguyên nhân chủ yếu là giá dầu và giá lương thực suy giảm mạnh), thì đến năm 2016, lạm phát đã gia tăng lên 4,74%, cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây Các yếu tố hỗ trợ từ bên ngoài (giá dầu và giá lương thực) không còn khi mức độ giảm giá của hai hàng hóa cơ bản này đã chững lại trong năm 2016; trong khi đó, mức lạm phát cơ bản (1,87%) chỉ tăng nhẹ so với năm 2015 (1,69%) Vì vậy, nguyên nhân cơ bản của lạm phát gia tăng trong năm 2016 chủ yếu từ việc tăng giá các hàng hóa và dịch vụ mà Nhà nước quản lý, cũng như từ những bất lợi về thời tiết và môi trường
Cụ thể, trong năm 2016, giá dịch vụ y tế được điều chỉnh tăng từ ngày 01/3/2016 (theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015) Theo đó, giá các mặt hàng dịch vụ y tế đã tăng tới hơn 70%, đóng góp làm CPI tăng khoảng 2,7% Bên cạnh đó, nhóm giáo dục cũng đã được điều chỉnh tăng trong năm (theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015) khiến chỉ số giá của nhóm này đã tăng 12,5% so với năm 2015 Những khắc
Trang 32nghiệt của thời tiết ở cả 3 miền, hiện tượng ô nhiễm môi trường ở miền Trung, cũng đã khiến sản lượng nông nghiệp tụt dốc và làm tăng giá lương thực và thực phẩm Theo đó, chỉ số giá nhóm lương thực đã tăng 2,57% so với năm 2015
Lãi suất
Hình 16 cho thấy chính sách tiền tệ đã nới lỏng hơn từ năm 2012 nhưng lạm phát cơ bản vẫn giảm, thậm chí giảm sâu như năm 2015 Trong năm 2016, chính sách tiền tệ được nới lỏng hơn nhiều so với năm 2015 (thể hiện ở tăng trưởng tín dụng là 17,88% so với 17,02% năm 2015 và tổng phương tiện thanh toán tăng 17,88% so với 13,55% năm 2015) Theo đó, thanh khoản hệ thống ngân hàng khá dồi dào, dẫn đến lãi suất liên ngân hàng đã suy giảm rất mạnh, thậm chí giảm kỷ lục so vào cuối tháng 9 (các mức lãi suất qua đêm, 1 tuần hay 2 tuần chỉ còn từ 0,5-0,7%/năm) Tuy vậy, lãi suất trên thị trường giảm không đáng
kể (lãi suất cho vay ở thời điểm cuối năm 2016 phổ biến khoảng 6-9%/năm kỳ hạn ngắn và 9-11%/năm kỳ hạn trung và dài hạn)
Một số lý do khiến lãi suất không giảm nhanh trong năm 2016 có thể kể đến như những rào cản từ hệ thống tài chính ngân hàng (đang xử lý vấn đề nợ xấu cùng những rủi ro hệ thống khác), phối hợp tài khóa tiền tệ còn chưa hiệu quả, và một số quy định chặt chẽ hơn của NHNN
Hình 16: Lạm phát, lạm phát cơ bản và chính sách tiền tệ
Nguồn: Tổng cục Thống kê, NHNN
Đối với vấn đề nợ xấu, tính đến cuối quý 2/2016, nợ xấu toàn hệ thống là 2,78%, tăng 0,23 điểm % so với cuối năm 2015 Cụ thể, 9 ngân hàng niêm yết trên TTCK đã tăng 28% so với cuối năm trước Theo NHNN, tính đến
Trang 3330/11/2016, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ước tính còn 2,46% Tuy nhiên, theo ước tính của UBGSTCQG, nợ xấu bình quân toàn hệ thống cuối năm 2016 là 2,8% (so với 2,9% cuối năm 2015)
V MC đã ra đời nhằm hỗ trợ việc tăng vốn khả dụng của các NHTM thông qua xử lý nợ xấu V MC xử lý nợ xấu bằng phát hành trái phiếu đặc biệt nhằm hoán đổi nợ với các NHTM Xét về mặt lý thuyết, việc hoán đổi trái phiếu đặc biệt này là công cụ lý tưởng giúp các NHTM tăng lượng tiền được phép sử dụng và V MC không sử dụng tiền mặt Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả hoạt động của V MC chưa được khả quan Việc bán nợ xấu cho V MC không giải quyết được triệt để nợ xấu vì các TCTD vẫn còn phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với khoản nợ xấu đó Việc bán nợ xấu cho V MC chỉ có tác dụng làm giảm
số phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng V MC từ khi hoạt động cho đến cuối quý 3 năm 2016 đã mua được 251 nghìn tỷ đồng nợ xấu, nhưng chỉ bán thu được
34 nghìn tỷ đồng nợ xấu (chỉ chiếm khoảng 15%)1
Việc xử lý nợ xấu hiện đang khá khó khăn do vẫn bế tắc khi hành lang pháp lý chưa hoàn thiện để các NHTM
và V MC bán đấu giá và thanh lý tài sản đảm bảo để bù đắp tổn thất Nợ xấu vẫn chưa được giải quyết triệt để khiến các ngân hàng khó có thể giảm được lãi suất đầu ra
Ngoài ra, thực trạng phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ cũng ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường Việc nới lỏng chính sách tiền tệ đã không phục vụ được có hiệu quả mục tiêu hạ lãi suất và hỗ trợ doanh nghiệp, mà lại chủ yếu hỗ trợ thanh khoản để các NHTM gia tăng mua trái phiếu chính phủ Đặc biệt là trong 3 quý đầu năm, thanh khoản của NHTM rất dồi dào, lãi suất liên ngân hàng giảm thấp, nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn còn ở mức thấp 10,64% (so với mục tiêu 18-20% cho cả năm) Theo đó, quy mô huy động vốn qua TPCP dồn dập trong 3 quý đầu năm đã hoàn thành 250 nghìn tỷ phát hành ngay trong
tháng 9/2016
Bên cạnh đó, một trong những lý do khác khiến lãi suất khó giảm sâu là các NHTM phải đáp ứng những yêu cầu về cơ cấu vốn huy động và cho vay khắt khe hơn Ví dụ, Thông tư 06 sửa đổi Thông tư 36 quy định tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ phải giảm từ 60% về mức 50% trong năm
2017 và 40% trong năm 2018 Do đó, các ngân hàng phải tăng cường huy động
1 http://baophapluat.vn/thi-truong/vamc-moi-ban-duoc-khoang-15-no-xau-288543.html
Trang 34vốn để giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, theo đó, các mức lãi suất đầu vào khó giảm sâu
Cần lưu ý, việc nới lỏng chính sách tiền tệ quá nhanh trong khi tăng trưởng suy giảm và không tương xứng (hiện tốc độ gia tăng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán gấp xấp xỉ 3 lần so với với tốc độ tăng trưởng) sẽ gia tăng rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Chính sách tiền tệ nới lỏng được coi là để hỗ trợ nới lỏng chính sách tài khóa, thông qua TPCP gia tăng nên nguồn lực cũng đang dồn
về phía khu vực công, lãi suất cho vay khó có thể giảm sâu và khả năng khu vực
tư nhân tiếp cận nguồn vốn giá rẻ dần bị thu hẹp, ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế nói chung
Hình 17: Lãi suất chính sách và liên ngân hàng
Trang 35Hình 18: Diễn biến tỷ giá
Nguồn: NHNN, VCB
Hầu hết các tháng trong năm 2016 tỷ giá và thị trường ngoại hối đã tương đối ổn định, mặc dù có những cú sốc từ bên ngoài như Brexit, FED tăng lãi suất,
bầu cử tổng thống Mỹ Có một số lý do chính có thể kể đến: Thứ nhất, là cơ chế
tỷ giá trung tâm đã linh hoạt hơn, có lên có xuống nên cũng hạn chế một phần
yếu tố tâm lý và đầu cơ; Thứ hai, công tác tuyên truyền thông tin cũng đã có những cải thiện trước mỗi cú sốc để trấn an thị trường; Thứ ba, cán cân thanh
toán được cải thiện đáng kể (thặng dư thương mại, gia tăng kiều hối và FDI giải ngân, xu hướng rút vốn khỏi các thị trường mới nổi suy giảm), theo đó, cung thị trường ngoại hối dồi dào, NHNN đã gia tăng được dự trữ ngoại hối ở quy mô lớn Cho đến cuối quý 3, quy mô dự trữ ngoại hối đã lên đến 41 tỷ USD
Tuy nhiên, những tháng cuối năm thị trường ngoại hối và tỷ giá đã trở nên căng thẳng Tỷ giá tự do đã gia tăng rất mạnh kể từ tháng 11 Cho đến ngày 5/12,
tỷ giá tự do đã vượt ngưỡng 23.000 VND/USD
Nếu nhìn vào cân đối cung cầu ngoại tệ trên thị trường chính thức, có nhiều yếu tố hỗ trợ cho tỷ giá Nhu cầu ngoại tệ có gia tăng trong những tháng cuối năm do yếu tố mùa vụ (xuất nhập khẩu hay thanh toán), đồng thời nhu cầu vay bằng ngoại tệ cũng đã gia tăng sau khi NHNN đưa ra Thông tư 31 nới lỏng hơn quy định cho vay ngoại tệ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu (đến cuối tháng
10, tín dụng ngoại tệ đã tăng 4,4% so với cuối năm ngoái) Tuy nhiên, nhu cầu trên có thể được đáp ứng tốt do thanh khoản ngoại tệ của hệ thống không có đột biến đáng lo ngại Theo đó, tỷ giá chính thức và tỷ giá liên ngân hàng có xu hướng gia tăng nhưng ở mức độ thấp Do đó, nguyên nhân khiến tỷ giá tự do gia tăng, chủ yếu là tác động từ tâm lý và các yếu tố bên ngoài gây sức ép gia tăng
Trang 36đến tỷ giá Đặc biệt, yếu tố tin đồn đổi tiền đã tác động rất lớn đến tâm lý, gây hoang mang và đẩy giá USD tự do tăng cao Cũng không loại trừ khả năng thị trường tích trữ USD để mua vàng khi chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế
đã gia tăng đến 4,5-4,6 triệu đồng/1 lượng
Đối diện với sức ép rõ ràng đến tỷ giá, NHNN cũng đã có những giải pháp rốt ráo hơn Cụ thể, mặc dù cần lãi suất giảm để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng, nhưng trong tháng 11, lãi suất tín phiếu NHNN gia tăng nhanh để hút thêm tiền đồng về, khối lượng hút ròng trên thị trường mở cũng đã gia tăng, thanh khoản
hệ thống Ngân hàng kém hơn kéo theo lãi suất liên ngân hàng cũng đã gia tăng hơn so với thời điểm trước
Tuy nhiên, cách thức điều hành tỷ giá hiện nay không có quá nhiều khác biệt so với trước đây Mặc dù tỷ giá trung tâm có thay đổi linh hoạt hàng ngày, nhưng mức độ điều chỉnh tính cộng dồn cho cả năm còn ở mức độ rất khiêm tốn Việc giữ tỷ giá ổn định trong bối cảnh sức ép gia tăng từ bên ngoài hiện nay được cho là NHNN có mong muốn ổn định thị trường, chống rủi ro lạm phát có xu hướng gia tăng, giữ giá trị tiền đồng, và giúp giảm nợ nước ngoài Tuy nhiên, giữ tỷ giá ổn định trong giai đoạn dài khiến VND đang được định giá cao Ngoài ra, việc giữ ổn định tỷ giá không hỗ trợ cho xây dựng công nghiệp hỗ trợ Các biện pháp để giữ ổn định tỷ giá như trung hòa cũng sẽ đắt đỏ hơn, tính độc lập chính sách tiền tệ sẽ kém hơn Bên cạnh đó, mặc dù quy mô dự trữ ngoại hối gia tăng, nhưng vẫn còn tương đối mỏng, và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Hình 19) Theo đó, mặc dù khả năng giữ được tỷ giá trong ngắn hạn là có thể đạt được, nhưng duy trì trong dài hạn cũng còn nhiều thách thức đối với NHNN
Hình 19: So sánh dự trữ ngoại hối giữa Việt Nam và các nước (tháng nhập khẩu)
Nguồn: IFS (IMF)
Trang 37Nguồn: Bộ Tài chính, Thâm hụt ngân sách theo phân loại của Việt Nam, Bản tin
nợ công số 3 * năm 2016 là theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội
Theo Tổng cục Thống kê, tổng thu ngân sách đến thời điểm 15/12/2016
ước đạt 943,3 nghìn tỷ đồng, bằng 93% dự toán năm, trong đó thu nội địa 744,9
nghìn tỷ đồng (94,9%) thu từ dầu thô 37,7 nghìn tỷ đồng (69,2%); thu cân đối
ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 156,2 nghìn tỷ đồng (90,8%) Như
vậy, mặc dù thu nội địa tăng 13,4% nhưng một số các khoản thu quan trọng như
thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu đều đã giảm mạnh, với mức giảm tương ứng
39,6% và 2,3% so với năm 2015
Theo đó, tỷ lệ thu ngân sách/GDP của Việt Nam đang liên tục suy giảm
qua các năm Nếu như giai đoạn 2006-2010, thu NSNN ước đạt 28,7% GDP
thì giai đoạn 2011-2015 giảm chỉ còn 23,3% Năm 2016, tỷ lệ ước tính chỉ
còn 22,1% Tỷ trọng tổng thu NSNN/GDP của Việt Nam đang ở mức trung
bình trong khu vực nhưng đang ngày càng giảm dần, do một số nguyên nhân
như: (i) Kinh tế chưa thực sự khởi sắc, (ii) Cắt giảm thuế quan theo lộ trình
tham gia các Hiệp định thương mại, (iii) Thu từ dầu thô suy giảm do giá dầu
và sản lượng dầu suy giảm
Hình 20: So sánh thu chi ngân sách giữa Việt Nam và một số nước (% GDP)
Nguồn: Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới (IMF) và Bộ Tài chính
Trang 38Trong khi đó, tổng chi ngân sách đến thời điểm 15/12/2016 ước đạt 1.135,5 nghìn tỷ đồng, bằng 89,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 190,5 nghìn tỷ đồng (74,7%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 786 nghìn tỷ đồng (95,4%); chi trả nợ và viện trợ đạt 150,3 nghìn tỷ đồng (96,9%) Tỷ trọng chi ngân sách/GDP vẫn duy trì ở mức cao So sánh với các nước trong khu vực, tỷ trọng chi trên GDP của Việt Nam thuộc loại cao nhất trong hơn 10 năm qua Cho đến năm 2016, tỷ trọng này vẫn ở mức trên 28% GDP
Chi thường xuyên vẫn tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn (khoảng 70%), theo đó, chi thường xuyên đã lớn hơn mức thu từ thuế và phí Như vậy, các biện pháp cải cách hành chính vẫn chưa phát huy tác dụng, hệ thống và cơ chế chi tiêu thường xuyên chưa có cải thiện tích cực và trong những năm tới khả năng giảm nhanh chi thường xuyên là không dễ dàng, gây ảnh hưởng lớn đến thâm hụt ngân sách
và nợ công trong trung và dài hạn khi ngân sách có thể phải đi vay để chi thường xuyên chứ không phải để đầu tư phát triển Tỷ trọng chi đầu tư phát triển đã giảm mạnh từ 28,5% (giai đoạn 2001-2005), 24,4% (giai đoạn 2006-2010), 18% (giai đoạn 2011-2015) và chỉ còn 15,2% trong tổng chi ngân sách năm 20152
Thâm hụt ngân sách lớn đã khiến nợ công năm 2016 chạm trần 65% GDP
Tỷ lệ này hiện cũng đang ở mức rất cao so với nhóm nước trong khu vực, đặc biệt là tăng rất nhanh so với các nước kể từ năm 2011 Áp lực chi trả nợ công đang ngày càng gia tăng khi tỷ trọng chi trả nợ trung và dài hạn đã vượt ngưỡng 25% tổng thu ngân sách (năm 2016 ước đạt 26,3%) Ngoài ra, rủi ro nợ công của Việt Nam còn nằm ở hai yếu tố: (i) Nợ công trên chưa tính đến nợ của khu vực DNNN trong khi khu vực này vẫn luôn nhận được ngân sách “mềm” từ Chính phủ và là nguồn tiềm ẩn đối với nợ công Theo báo cáo của Chính phủ3, tổng số
nợ phải trả hợp nhất năm 2015 của riêng 103 Tập đoàn, TCT đã là 1.547.859 tỷ đồng, tương đương hơn 70 tỷ USD (chiếm khoảng 35% GDP) Như vậy, nếu tính
cả nợ của DNNN, tỷ lệ nợ công đã vượt quá 100% GDP; (ii) Tốc độ gia tăng nợ công nhanh trong khi triển vọng tăng trưởng kinh tế còn nhiều khó khăn phía trước, ngân sách trung hạn thiếu bền vững, tỉ trọng trả nợ vay trong tổng chi ngân
sách đã vượt ngưỡng cho phép đang là nguy cơ rất lớn đến nền kinh tế
Trang 39http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2016-10-24/doanh-nghiep-nha-nuoc-no-hon-154-trieu-ty-Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2017
Kinh tế thế giới năm 2018 được dự báo còn rất bất ổn Ở trong nước, nền kinh tế vẫn còn những thách thức lớn từ mô hình tăng trưởng chưa có những cải thiện nhanh và triệt để Mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào gia tăng tích lũy các yếu tố nên khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững Những nỗ lực cải thiện thể chế kinh tế có thể bị trì hoãn khi Hiệp định TPP không còn hiệu lực Vấn đề biến đổi khí hậu và thời tiết khó lường có thể ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và tác động chung đến tăng trưởng
Bên cạnh đó, dư địa chính sách nới lỏng hỗ trợ tăng trưởng không còn nhiều do lạm phát đang có xu hướng gia tăng Ngoài ra, FED có thể tăng tiếp lãi suất trong năm 2017, tỷ giá gia tăng khiến NHNN khó có thể giảm mạnh lãi suất tiền đồng để duy trì ổn định tỷ giá Bên cạnh đó, hệ thống tài chính ngân hàng vẫn trong quá trình tái cơ cấu, những vấn đề lớn chưa được giải quyết triệt để như nợ xấu hay mất cân đối kỳ hạn Điểm nghẽn của hệ thống tài chính ngân hàng khiến nỗ lực hạ lãi suất đầu ra khó khăn hơn mặc dù thanh khoản hệ thống tốt Dư địa chính sách cũng bị thu hẹp do cân đối ngân sách năm 2017 sẽ tiếp tục gặp những sức ép lớn Nguồn thu ngân sách vẫn thiếu bền vững trong khi chi ngân sách không có dấu hiệu giảm và kỷ luật tài khóa chưa được cải thiện Thâm hụt ngân sách lớn nên quy mô vay nợ của Chính phủ gia tăng, đặc biệt là vay nợ trong nước bằng phát hành TPCP (dự kiến năm 2017 tổng mức phát hành trái phiếu chính phủ là 250.000 tỷ đồng), tiếp tục gây sức ép đến lãi suất và giảm khả năng tiếp cận vốn của khu vực tư nhân
Tuy vậy, kinh tế Việt Nam cũng có một số động lực tăng trưởng được duy trì Trước hết là với tư duy Nhà nước kiến tạo, môi trường kinh doanh được dự báo sẽ dần được cải thiện tốt hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển của khu vực tư nhân Việt Nam hiện vẫn là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài với môi trường đầu tư cởi mở, kinh tế chính trị ổn định, tận dụng được lợi ích từ các hiệp đinh thương mại đã ký kết, cũng như do xu hướng chuyển dịch vị trí cuối của chuỗi sản xuất Đông Á từ Trung Quốc về Việt Nam vẫn đang tiếp diễn Theo
đó, khu vực FDI sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò là động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2017 và những năm tiếp theo Mặc dù sản xuất nông nghiệp được dự báo là khó khăn, nhưng sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo vẫn có xu hướng gia tăng với sự đóng góp lớn từ khu vực FDI, sẽ giữ nhịp cho tốc độ tăng trưởng
Trang 40Trong khi đó, lạm phát có thể tiếp tục gia tăng trong năm 2017 Tăng trưởng phương tiện thanh toán và tín dụng trong năm 2016, đặc biệt là những tháng cuối năm có thể có tác động trễ đến lạm phát cơ bản trong năm 2017 Đầu
tư và tiêu dùng (đặc biệt là tiêu dùng tư nhân) được dự báo vẫn tiếp tục được cải thiện sẽ khiến tổng cầu gia tăng, gây sức ép nhất định đến lạm phát Về phía chi phí đẩy, giá dầu thế giới được dự báo tăng lên 20% sẽ khiến giá xăng dầu trong nước phải điều chỉnh tăng giá Thêm nữa, chính sách thuế và phí cho mặt hàng xăng dầu (như thuế bảo vệ môi trường) cũng sẽ khiến giá xăng trong nước có thể tăng hơn so năm 2016 Bên cạnh đó là lộ trình tăng các hàng hóa và dịch vụ Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục, điện cũng sẽ khiến chỉ số giá của các nhóm hàng tương ứng gia tăng Nông nghiệp dự báo tiếp tục gặp khó khăn do biến đổi khí hậu và thiên tai cũng có thể ảnh hưởng lớn làm tăng giá lương thực Tỷ giá được
dự báo điều chỉnh mạnh hơn năm 2016 cũng sẽ có tác động đến giá các yếu tố đầu vào nhập khẩu, theo đó, tác động đến chi phí sản xuất của phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam
Tỷ giá năm 2017 cũng sẽ gặp nhiều sức ép mới FED có thể sẽ tiếp tục gia tăng lãi suất nhiều lần trong năm 2017 do: (i) Kinh tế Mỹ có thể phục hồi tốt, thất nghiệp giảm; (ii) Những cam kết chính sách của ông Donald Trump ví dụ cắt giảm thuế, đầu tư lớn cơ sở hạ tầng,… có thể khiến thâm hụt ngân sách, lạm phát tăng và lãi suất cần tăng để chống lạm phát Lãi suất FED gia tăng sẽ khiến đồng USD tăng giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới, gây áp lực đến VND vốn đã được định giá cao khoảng 25% so với năm 2009 Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối mặc dù gia tăng mạnh trong năm 2016, nhưng vẫn còn tương đối mỏng và hiện đang ở mức thấp nhất so với các nước trong khu vực Dư địa tác động ổn định
tỷ giá thông qua lãi suất không có nhiều do mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng rõ ràng thông qua các chỉ tiêu được Quốc hội và Chính phủ thông qua Vì vậy, khả năng giữ
ổn định tỷ giá trong dài hạn gặp khó khăn Tuy vậy, tỷ giá sẽ không có những cú sốc lớn đột ngột do cơ chế điều hành đã linh hoạt hơn, và về ngắn hạn, NHNN có đủ khả năng để can thiệp nếu vẫn muốn ổn định tỷ giá Dự báo tổng mức biến động tỷ giá chính thức trong năm nay có thể ở quanh mức 5-6%
Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 với mục tiêu đặt ra đối với tăng trưởng GDP là khoảng 6,7%, CPI tăng khoảng 4% Tuy nhiên, với triển vọng kinh tế được phân tích ở trên, mục tiêu này khó có thể đạt được nếu không có những quyết