Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu của Tổng cục Thống kê, với phương pháp phân tích kết hợp định tính và định lượng, có sự so sánh theo chuỗi thời gian và không gian để đánh giá mô hình tăng trưởng Việt Nam dưới góc độ đóng góp của yếu tố TFP.
Trang 1ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM -
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐÓNG GÓP CỦA YẾU TỐ TFP
TS Nguyễn Quỳnh Hoa ThS Phí Thị Hồng Linh
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế là việc xác lập khung khổ chung hay mô thức chung định hướng vận hành nền kinh tế trên cơ sở tối ưu hóa các nguồn lực của quốc gia với một cơ cấu nền kinh tế hợp lý, hiệu quả, hiện đại nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao theo hướng phát triển bền vững Tại Việt Nam, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và quá triển khiển khai bước đầu đã đem lại những kết quả nhất định Tuy nhiên, nhìn chung mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình
cũ, chậm được đổi mới, chất lượng tăng trưởng thấp Điều này dẫn tới nhiệm vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế vẫn tiếp tục được đặt ra cho giai đoạn 2016 - 2020 và được coi như nhiệm vụ ưu tiên của giai đoạn này khi ngày 1/11/2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế với các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 Bài viết sử dụng nguồn dữ liệu của Tổng cục Thống kê, với phương pháp phân tích kết hợp định tính và định lượng, có sự so sánh theo chuỗi thời gian và không gian để đánh giá mô hình tăng trưởng Việt Nam dưới góc độ đóng góp của yếu tố TFP Kết quả cho thấy mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
đã được cải thiện Tuy nhiên, tốc độ tăng TFP và mức độ đóng góp của yếu tố này vào tăng trưởng kinh tế vẫn dựa vào một số xu hướng thiếu bền vững đòi hỏi có những giải pháp để tiếp tục duy trì tốc độ tăng TFP nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng trong năm
2017 và những năm tiếp theo.
1 Thực trạng mô hình tăng trưởng Việt Nam nhìn từ sự đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế xét về phương diện đầu vào, có 3 yếu tố cấu thành: vốn (K), lao động (L) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), theo hàm sản xuất:
Trang 2Y= F (K, L, TFP) Trong 3 yếu tố này, K và L được xem là yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng còn TFP là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu TFP là một yếu tố tổng hợp phản ánh tác động của yếu tố khoa học công nghệ, vốn nhân lực, các khía cạnh thể chế, cơ chế tác động đến khả năng tiếp nhận, nghiên cứu và vận hành khoa học công nghệ và vốn nhân lực vào hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Trong khi tốc độ tăng các yếu tố đầu vào khác là có hạn, tăng TFP sẽ đảm bảo duy trì tăng trưởng trong dài hạn và tránh được các biến động kinh tế từ bên ngoài
Trên phương diện tính toán, tốc độ tăng TFP chỉ phần trăm tăng GDP sau khi trừ đi phần đóng góp của tăng số lượng lao động và vốn vật chất Với cách tiếp cận này, hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng để xem xét vai trò đóng góp của các yếu tố đối với tăng trưởng kinh tế có dạng như sau:
K L e A
Trong đó, Y là thu nhập của nền kinh tế (GDP), 0 là mức công nghệ thời
kỳ gốc, t là biến thời gian, r là hệ số đo tiến bộ và công nghệ, L số lượng lao động, K số lượng vốn sản xuất, α là hệ số co giãn của vốn và β là hệ số co giãn của lao động
Từ mô hình trên, công thức tính tốc độ tăng TFP (t) do Tổ chức Năng suất Châu Á đưa vào áp dụng có dạng: t = g- (k*α +l* β) trong đó t = tốc độ tăng TFP
Từ đó, đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng được tính như sau:
Đóng góp của tăng TFP = t/g*100 hoặc bằng 100 - đóng góp của lao động - đóng góp của vốn
Dữ liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê giai đoạn 2006 - 2016 với số liệu chuỗi thời gian của GDP, lực lượng lao động L và vốn K (K được đo lường theo
tổng tích lũy tài sản; GTNO là giá trị nhà ở được xây dựng trong năm) Sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng, ta sẽ tính được
0, r và β Từ đó α = 1 - β
Kết quả tính toán tỷ lệ đóng góp của vốn, lao động và tiến bộ công nghệ trong tăng trưởng kinh tế được trình bày trong bảng số liệu sau:
Trang 3Bảng 1: Tỷ lệ đóng góp của các nhân tố sản xuất tới tăng trưởng GDP
Đóng góp của K (%)
Đóng góp của L (%)
Đóng góp của TFP (%)
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu TCTK
Phân tích mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng GDP với sự đóng góp của TFP vào GDP của Việt Nam năm 2016 qua kết quả tính toán ở bảng trên đã cho thấy:
Thứ nhất, có sự gia tăng liên tục của tốc độ tăng TFP kể từ sau năm 2012 (Hình 1)
Trang 4Hình 1: Tốc độ tăng TFP giai đoạn 2006-2016 (%)
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ số liệu TCTK
Sự gia tăng tốc độ tăng TFP được giải thích bởi 2 lý do:
- Kể từ sau năm 2012, tốc độ tăng trưởng năng suất lao động (NSLĐ) có xu hướng nhanh dần theo từng năm, bình quân năm trong giai đoạn 2011-2016, NSLĐ tăng 4,51%/năm cao hơn so với giai đoạn 2006-2010 (đạt 3,33%/năm) Riêng năm 2016, NSLĐ tăng 5,3% so với năm 2015 do quá trình tự đổi mới, cải tiến phương thức sản xuất nhằm nâng cao NSLĐ trong nội bộ các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực có NSLĐ thấp sang khu vực có NSLĐ cao được thúc đẩy thực hiện trong những năm vừa qua Ngoài ra, hiệu quả của vốn đầu tư bắt đầu gia tăng sau những động thái chính sách xiết chặt quản lý vốn đầu tư công theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011 của Chính phủ
- Bên cạnh đó, những đổi mới mạnh mẽ trong khía cạnh thể chế của Việt Nam gần đây với các chính sách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đã bắt đầu phát huy tác dụng (trong những năm qua, Nhà nước đều cam kết dành 2% NSNN cho hoạt động khoa học công nghệ (KHCN), Bộ Khoa học
và Công nghệ đã tập trung các nguồn tài chính cho R&D Chính phủ cho phép thành lập Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia - phục vụ cho việc đổi mới, hoàn thiện, chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp Quỹ này đã đi vào hoạt động từ năm 2015, tổng vốn khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm) Thêm vào đó, Chính phủ nhiệm kì mới với quyết tâm điều hành nền kinh tế theo chức năng của Nhà nước “kiến tạo phát triển” đã có những hiệu ứng tích cực đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế góp phần nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia trong xếp hạng cạnh tranh toàn cầu Năm 2016, điểm năng lực cạnh
Trang 5tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam được 4,31/7 điểm - nhỉnh hơn so với 4,3 của năm 2015 (thứ hạng 56 trên 140) Tuy tụt hạng song Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đánh giá xu hướng chung là Việt Nam vẫn đang ngày càng cải thiện năng lực cạnh tranh (trước đó, vị trí của Việt Nam đã liên tục được cải thiện trong giai đoạn 2012-2015), trong đó Việt Nam được chấm điểm cao nhất ở yêu cầu căn bản, với 4,5 điểm, xếp thứ 73 Một số tiêu chí khác cũng có sự cải thiện như: thể chế, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ hay giáo dục và đào tạo bậc cao1
Thứ hai, mô hình tăng trưởng đã bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng tăng trưởng kết hợp giữa rộng và sâu
Đóng góp của yếu tố TFP tăng lên tương đối (đóng góp của sự gia tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 44,65% so với tỷ lệ 42,14% của năm 2015 và 22,13% của giai đoạn 2011 - 2015), dẫn tới sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực vật chất (vốn và lao động) bắt đầu giảm dần xuống chỉ còn < 60 % trong cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào Điều này cho thấy sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế theo hướng tập trung vào chất lượng tăng trưởng, nâng cao chất lượng lao động, hiệu quả sử dụng vốn, áp dụng tiến bộ KHCN vào các lĩnh vực sản xuất Xu hướng này cũng cho thấy những dấu hiệu khởi sắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tái
cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trong đó xác định mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 đi theo hướng tăng trưởng theo chiều sâu hoặc ít nhất là kết hợp giữa rộng và sâu
Bên cạnh những dấu hiệu tích cực tác động đến sự gia tăng TFP và đóng góp của yếu tố này vào tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ đóng góp này vẫn còn thấp và hiện trạng nền kinh tế vẫn còn những yếu tố tác động có xu hướng kiềm chế sự gia tăng của yếu tố này dẫn tới những hạn chế trong thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cụ thể:
Một là, đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế vẫn còn thấp dẫn tới mô hình tăng trưởng vẫn mang đặc trưng thâm dụng vốn
So với các nước khác trong khu vực, nhiều nước có tỷ lệ đóng góp của nhân tố TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt trên dưới 50% (Hàn Quốc: 51,5%;
1
Các tiêu chí đánh giá của WEF được chia thành 3 nhóm chính, gồm: yêu cầu căn bản (kinh tế vĩ mô, giáo dục cơ bản - y tế, cơ sở hạ tầng, thể chế); các yếu tố nâng cao hiệu suất (giáo dục và đào tạo bậc cao, độ hiệu quả trên thị trường lao động, hiệu quả trên thị trường hàng hóa, sự phát triển của hệ thống tài chính, trình độ công nghệ, quy mô thị trường) và các yếu tố về tinh vi - đột phá (sự tinh vi của hệ thống doanh nghiệp, khả năng đột phá)
Trang 6Trung Quốc: 52%, Thái Lan: 53%, In đô nê xia: 49%, Ma lai xia: 49% - theo tính toán của nhóm nghiên cứu từ số liệu của The Conference Board, Total Economy Database (2014) và The World Bank (2014), trong khi ở Việt Nam hiện nay đóng góp của TFP mới đạt khoảng 40% và vốn vẫn là yếu tố đóng góp xấp xỉ 50% vào
số điểm phần trăm tăng trưởng năm 2016
Đóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng thấp liên quan đến hoạt động đổi mới sáng tạo, đầu tư cho KHCN Mặc dù thời gian qua Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi trong khía cạnh thể chế khuyến khích, hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm nâng cao trình độ KHCN, bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho KHCN, tuy nhiên nền kinh tế về cơ bản vẫn là kinh tế gia công với trình độ công nghệ thấp, chưa phát huy được năng lực KHCN quốc gia Theo Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ 2014, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam (chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh) đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ; có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1960 - 1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang… Nhóm ngành sử dụng công nghệ cao mới đạt khoảng 20%, trong khi đó ở Singaore là 73%, Malaysia là 51% và Thái Lan là 51% (tiêu chí để đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trên 60%) Đồng thời, hoạt động đổi mới sáng tạo ở Việt Nam mới bắt đầu được quan tâm đầu tư nên cũng chậm hơn so với các nước khác (Theo Báo cáo về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu 2016 (Global Innovation Index - GII 2016) vừa công bố, Việt Nam xếp hạng 59, với 35,4/100 điểm Trước
đó, năm 2015, vị trí của Việt Nam đã tăng liền 19 bậc từ 71 (năm 2014) vươn lên
52 trong bảng xếp hạng và xếp thứ 9 trong nhóm các quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương So với một số quốc gia trong khu vực có tham gia xếp hạng, Việt Nam thấp hơn Malaysia (35) 24 bậc, thấp hơn Thái Lan (52) 7 bậc Việt Nam chỉ được xếp ở hạng cao hơn các nước Phillipines (74), Indonesia (88), Campuchia (95) về đổi mới và sáng tạo)
Thêm vào đó, đầu tư cho KHCN ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực cũng ở mức thấp Hiện nay, Việt Nam chỉ mới giành được hơn 1% tổng chi ngân sách cho hoạt động KHCN (năm 2016 là 1,27%, thấp hơn so với năm 2015 là 1,52% - nguồn Bộ Tài chính), chiếm khoảng 0,5% GDP, trong khi đó con số này ở Malaixia là 1%, Xingapo là 3%, Chính sách chuyển giao công nghệ thông qua thu hút FDI gần như không thực hiện được, đa
số các dự án FDI đều chỉ nhằm mục tiêu sử dụng lao động rẻ và khai thác bòn rút tài nguyên Nhiều dự án FDI sử dụng công nghệ ở trình độ rất thấp, tiêu phí điện năng rất cao, gây ô nhiễm môi trường nặng nề
Trang 7Hai là, sự gia tăng TFP thông qua tăng năng suất lao động (NSLĐ) có biểu hiện thiếu bền vững
Theo cách tiếp cận phân tích chuyển dịch tỷ trọng (Shift - Share Analysis -
SS ), thay đổi năng suất lao động có thể xem xét qua ảnh hưởng của 3 yếu tố: (1) Thay đổi năng suất lao động trong nội bộ các ngành Hiệu ứng này cho thấy
sự tăng trưởng năng suất lao động có thể xảy ra ngay cả khi không có sự thay đổi
cơ cấu, đó là do việc tăng TFP thu được từ những cải tiến năng suất trong nội bộ của từng ngành; (2) Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, được gọi là tác động
“tĩnh” nó phản ánh việc thay đổi năng suất lao động có thể xảy ra do chuyển dịch
cơ cấu lao động mặc dù không có sự thay đổi về năng suất lao động trong nội bộ ngành; (3) Do tác động đồng thời của chuyển dịch cơ cấu lao động và thay đổi năng suất lao động trong nội bộ ngành (còn được gọi là tác động tương tác hay tác động “động”)
Bảng 2: Tác động của các yếu tố đến NSLĐ giai đoạn 2011-2016
Đơn vị: Triệu đồng/lao động
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK
Bảng số liệu trên cho thấy trong năm 2016 và cả giai đoạn 2011-2016, chỉ
có cấu phần “tĩnh” mới đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ, bên cạnh đó tác động này đang có xu hướng tăng lên (năm 2011 đạt 0,62 triệu - chiếm 40,24% tăng lên đến 51,02% năm 2016); trong khi cấu phần “động” mang dấu âm và có độ lớn khá nhỏ Kết quả từ phương pháp SS cũng chứng tỏ đóng góp của chuyển dịch
cơ cấu vào tăng trưởng NSLĐ phần lớn là do tác động của sự di chuyển lao động
từ ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn Việc gia tăng NSLĐ dựa trên dịch chuyển lao động từ ngành NSLĐ thấp sang ngành NSLĐ
Trang 8cao có yếu tố rủi ro khi những ngành NSLĐ cao không có nhu cầu tăng thêm lao động Điều này cũng xảy ra tương tự khi lao động trong ngành mà có NSLĐ tăng nhanh giảm đi và di chuyển sang ngành có NSLĐ tăng chậm hơn
Ảnh hưởng ngày càng yếu đi của tăng NSLĐ nội ngành tới tăng NSLĐ nói chung của toàn bộ nền kinh tế có nguyên nhân từ những hạn chế về chất lượng nguồn lao động, cụ thể:
- Lao động được đào tạo chiếm tỷ lệ thấp
Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52,2 triệu người Những năm gần đây trung bình hàng năm có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Theo Báo cáo của Tổng cục Dạy nghề số lượng người qua đào tạo không ngừng tăng lên, nhưng chủ yếu là lao động được đào tạo ngắn hạn, nên rất thiếu lao động có trình độ tay nghề giỏi, công nhân kỹ thuật bậc cao Theo Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỷ lệ lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuật trong toàn xã hội chiếm 81,6% tổng số lao động Đây thực sự là vấn đề rất đáng báo động về chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa đất nước và hội nhập quốc tế Lực lượng lao động ở nước ta vẫn trong tình trạng thiếu các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; yếu kém về tin học, ngoại ngữ; thiếu hiểu biết về pháp luật; đạo đức nghề nghiệp chưa cao; thiếu tinh thần và
ý thức trách nhiệm trong công việc, tự do, tùy tiện, chậm thích nghi với môi trường làm việc mới Đây là một rào cản lớn nhất về nguồn nhân lực theo yêu cầu của công nghiệp hóa đất nước
- Cơ cấu lao động đào tạo không phù hợp
Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất là
để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó Lực lượng cán bộ khoa học đầu đàn, đội ngũ doanh nhân giỏi còn rất thiếu là một khó khăn để phát triển các ngành đủ sức cạnh tranh trong hội nhập Ngay cả đối với lao động đã qua đào tạo thì cơ cấu cũng chưa hợp lý, nếu xét cơ cấu hợp lý theo cấp đào tạo: cử nhân/ trung cấp/ công nhân, chuẩn mực của thế giới là 1/4/10 trong khi đó ở nước ta hiện nay là 1/0,98/3,02 Như vậy, Việt Nam chúng ta đang thiếu hẳn một đội ngũ thợ lành nghề để thực hiện vận hành một nền kinh tế hiện đại
Trang 9- Chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo của nước ta ngày càng tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực
Năng lực đổi mới và sáng tạo KHCN của lực lượng lao động có trình độ cao còn nhiều yếu kém Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để
sử dụng hiệu quả Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực
sử dụng ngoại ngữ là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế Trong môi trường làm việc có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hóa thế giới luôn là điểm yếu của lao động Việt Nam
2 Kết luận và khuyến nghị chính sách
Sự yếu kém của yếu tố TFP không chỉ làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế về mặt lượng mà còn là nguyên nhân chính gây cản trở hiệu quả của tăng trưởng kinh tế Do đó, việc duy trì tốc độ tăng TFP thông qua tái cơ cấu nền kinh
tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế là một điểm nhấn quan trọng trong việc thúc đẩy nâng cao vai trò của TFP với
tư cách là động lực tăng trưởng lớn nhất xét trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào
Để nâng cao vai trò của TFP đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, tạo bước đột phá đổi mới mô hình tăng trưởng trong thời gian tới, các chính sách nên tập trung vào cải thiện hai khía cạnh đó là chất lượng nguồn nhân lực và áp dụng công nghệ cao trong sản xuất, cụ thể:
Đẩy mạnh phát triển công nghệ cao
Để tăng trưởng đảm bảo yêu cầu nhanh và hiệu quả, rõ ràng cần có chính sách để nâng cao tình độ công nghệ trong nước Cần có sự kết hợp đồng thời 2 nhóm chính sách thực hiện chuyển giao công nghệ nước ngoài và tăng cường R&D nhằm hình thành và phát triển công nghệ cao từ trong nước
Một là, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của chuyển giao công nghệ
Việc chuyển giao công nghệ cần được triển khai bằng nhiều phương cách khác nhau để có thể lựa chọn đựơc công nghệ mới mang lại mức TFP cao hơn Các phương cách đó là: đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhập khẩu công nghệ, mua
Trang 10thiết bị mới; mua giấy phép sử dụng công nghệ sản xuất sản phẩm mới trong nước hoặc những quy trình sản xuất mới; sử dụng công nghệ phi độc quyền, bao gồm cả những công nghệ có được từ những người mua hàng xuất khẩu; sử dụng vốn kiến thức của những kiều bào hồi hương đã được đào tạo hay đã được làm việc tại các nước phát triển hoặc thông tin từ các kiều bào hiện còn đang sống ở nước ngoài
Đối với phương thức chuyển giao công nghệ từ FDI
Chuyển giao công nghệ nên được khuyến khích xảy ra theo một trong hai cách thức: chuyển giao theo chiều ngang hoặc chuyển giao theo chiều dọc Những cơ chế cho việc chuyển giao công nghệ theo chiều ngang bao gồm: (i) Học tập dựa vào quan sát và bắt chước; (ii) Chuyển dịch lao động giữa các tập đoàn đa quốc gia với các công ty nội địa; (iii) Thông qua áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước Những hiệu ứng của chuyển giao công nghệ theo chiều dọc xuất phát từ những mối liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và những nhà cung cấp nội địa hoặc những cơ sở sản xuất Ở trường hợp này, các tập đoàn đa quốc gia có thể thực sự cung cấp cho các doanh nghiệp nội địa những công nghệ mới trong nỗ lực nâng cao năng suất trong chuỗi sản xuất Các mối liên kết theo chiều dọc khác có thể kể đến như hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo hoặc những ưu đãi cho các doanh nghiệp nội địa Bằng chứng cho thấy ở Việt Nam hình thức chuyển giao công nghệ này đã có thể được triển khai và đem lại một số lợi ích cho quá trình học tập và nâng cấp công nghệ dưới một cơ cấu quản lý đúng đắn của doanh nghiệp
Chính phủ có một vai trò hết sức quan trọng trong việc giảm thiểu những tác động tiêu cực từ quá trình thâm nhập thị trường của những tập đoàn đa quốc gia cũng như trong việc tối đa hóa những tiềm năng chuyển giao công nghệ giữa các ngành công nghiệp nội địa và quốc tế Những chính sách của Chính phủ có thể là: (i) Xây dựng những quy định cho các mối liên hệ công nghiệp giữa những tập đoàn nước ngoài đang thâm nhập với những công ty nội địa; (ii) Thành lập các Ban xúc tiến và hỗ trợ đầu tư (IP s) để định hướng thu hút những ngành công nghiệp cho việc kết hợp những ngành công nghiệp hiện có; (iii) Định hướng những ngành công nghiệp có lợi theo các hướng phát triển lâu dài trong tương lai
Đối với chuyển giao công nghệ từ phương thức trực tiếp nhập khẩu
Thông thường, các nước phát triển trong quá trình chuyển giao công nghệ thường chủ trương xuất khẩu công nghệ ở mức độ trung bình và máy móc thiết bị