Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học Nông nghiệp I
Trần văn toàn
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sự xâm nhiễm của hai loài ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae ký sinh trên ong ý nhập từ
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu sử dụng để hoàn thành luận văn
này đều đ−ợc thu thập từ các thí nghiệm một cách trung thực và ch−a hề
đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác
Hà nội, ngày 20 tháng 8 năm 2006
Tác giả luận văn
Trần Văn Toàn
Trang 3Lời cảm ơn
• Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau Đại học, Khoa Nông học, Bộ môn Côn trùng Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội đ< tổ chức, đào tạo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
• Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phùng Hữu Chính, người đ< trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn thiện bản luận văn này
• Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu, sự chỉ bảo chân thành của các thày cô Bộ môn Côn trùng trong quá trình xây dựng, thực hiện và hoàn thành bản luận văn
• Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới Tổng công ty Ong TW, Trung tâm nghiên cứu Ong, cùng các bạn bè đồng nghiệp
đ< tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Hà nội, ngày 20 tháng 8 năm 2006 Tác giả luận văn
Trần Văn Toàn
Trang 4Môc lôc
Néi dung Trang
PhÇn II Tæng quan t×nh h×nh nghiªn cøu trong vµ ngoµi n−íc
4
2.1 Nh÷ng nghiªn cøu vÒ ve ký sinh Varroa destructor vµ
Tropilalaelaps clareae
4
2.2 §Æc ®iÓm sinh häc cña ve ký sinh Varroa destructor vµ ký
sinh Tropilaelaps clareae
Trang 52.2.4.1 Varroa destructor 11
2.3 Triệu chứng do ve ký sinh Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae gây hại trên đàn ong 15 2.4 Các phương pháp chẩn đoán ve Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae ký sinh trên đàn ong
17
2.4.1 Kiểm tra xác định ve ký sinh Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae trên rác của thùng ong
17
2.4.2 Kiểm tra xác định ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps
2.4.3 Kiểm tra xác định ký sinh Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae trên nhộng ong
3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học V
destructor và T clareae
27
3.3.2 Điều tra sự xâm nhiễm của 2 loại ký sinh V destructor và
T clareae vào các đàn ong ý Niudilân
ong thợ ý Niudilân
28
Trang 63.4.3 Khả năng sinh sản của ve ký sinh V destructor và T
Clareae của ong thợ ý Niudilân
28
3.4.4 Điều tra sự xâm nhiễm và gây hại của V destructor và T
clarea trên ong ý Niudilân
29
3.4.5 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trị V destructor và T
Clareae trên ong ý Niudilân
29
3.4.6 Phương pháp đánh giá kết quả phòng trị V destructor và T
clareae trên ong ý Niudilân
32
3.4.7 Phương pháp xác định sự phát triển đàn sau khi được phòng
4.1 Một số đặc điểm sinh học của Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae ký sinh trên ong ý Niudilân
34
4.1.1 Một số chỉ tiêu hình thái của Varroa destructor và
4.1.2 Khả năng sinh sản của Varroa destructor và Tropilaelaps
clareae trên ong ý Niudilân
37
4.1.3 Khả năng loại bỏ ký sinh Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae của ong ý Niudilân
39
4.1.4 Thời gian sống của Varroa destructor và Tropilaelaps
4.2 Kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm ve ký sinh Varroa destructor
và Tropilaelaps clareae ký sinh trên ong ý Niudilân
42
4.3 Kết quả nghiên cứu phòng trị ký sinh Varroa destructor và
Tropilaelaps clareae trên ong ý Niudilân
45
4.3.1 Kết quả phòng trị Varroa destructor và Tropilaelaps
clareae trên ong ý Niudilân bằng thuốc Apilife Var
45
4.3.2 ảnh hưởng của các nồng độ thuốc ApilifeVar đến sự tăng
giảm cầu ong ý Niudilân
46
Trang 74.3.3 Kết quả phòng trị Varroa destructor và Tropilaelaps
clareae trên ong ý Niudilân bằng các loại thuốc trừ ve và
hỗn hợp axit hữu cơ - tinh dầu sả
48
4.3.4 ảnh hưởng của các loại thuốc trừ ve và hỗn hợp axit hữu cơ
- tinh dầu sả đến sự tăng giảm cầu ong
49
4.3.5 Kết quả phòng trị V destructor và T clareae trên ong ý
Niudilân bằng biện pháp sinh học kết hợp với học hoá học
51
4.3.6 So sánh tỷ lệ nhiễm ve ký sinh V destructor và T clareae
của của các thế hệ ong ý Niudilân và ong ý Việt Nam
Trang 8Danh mục các bảng Nội dung Trang Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu hình thái của ve ký sinh V
destructor và T clareae trên ong ý Niudilân 34 Bảng 4.2 Khả năng sinh sản của V destructor và T clareae
Bảng 4.3 Khả năng loại bỏ ký sinh V destructor và T
Clareae trong lỗ tổ ong ý Niudilân 40 Bảng 4.4 Thời gian sống của V destructor và T clareae trên
Bảng 4.5 Biến động tỷ lệ nhiễm ve ký sinh T clareae và V
Bảng 4.6 Kết quả phòng trị V destructor và V destructor
bằng thuốc Apilife Var trên ong ý Niudilân 46 Bảng 4.7 ảnh hưởng của các nồng độ thuốc Apilife Var đến
Bảng 4.8 Hiệu lực trừ ve ký sinh T clareae và V Destructor
trên ong ý Niudilân của một số loại thuốc trừ ve
Bảng 4.9 ảnh hưởng của các loại thuốc và hỗn hợp axit hữu
cơ-tinh dầu sả đến sự tăng giảm cầu ong 50 Bảng 4.10 Hiệu quả phòng trị ve V destructor và T clareae
trên ong ý Niudilân bằng biện pháp sinh học kết hợp với hoá học
52
Bảng 4.11 Tỷ lệ ký sinh bình quân của 3 thế hệ ong ý
Trang 9Danh mục các đồ thị và biểu đồ
Nội dung Trang
Đồ thị 4.1 Biến động tỷ lệ nhiễm ve ký sinh T clareae và
V destructor từ tháng 7/2005 đến tháng 6/2006 44 Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ tăng giảm cầu ong sau khi xử lý thuốc
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tăng giảm cầu ong sau khi xử lý các loại
thuốc và hỗn hợp axít hữu cơ tinh dầu sả 51 Biểu đồ 4.3 Sự sai khác về tỷ lệ nhiễm ve ký sinh của các thế
hệ ong ý Niudilân và ong ý Việt Nam 54
Danh mục các từ viết tắt
Trang 10Danh môc c¸c ¶nh
Néi dung Trang
¶nh 2.1 Varroa jacobsoni (a: mÆt l−ng b: mÆt bông)
Varroa destructor (c: mÆt l−ng d: mÆt bông) 7
¶nh 4.2 Ve ký sinh Varroa Destructor con c¸i 35
¶nh 4.3 Ve ký sinh Tropilaelaps clareae con c¸i 36
Trang 11Phần I Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là nước nhiệt đới có thảm thực vật phong phú, đa dạng, bốn mùa cây cối tốt tươi cùng với nghề nuôi ong truyền thống từ lâu đời là tiền đề cho việc tiếp cận và phát triển nghề nuôi ong hiện đại
Ong mật cho chúng ta nhiều sản phẩm quí như mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa có giá trị dinh dưỡng cao, có công dụng trong việc bồi dưỡng sức khoẻ cho con người Nuôi ong là nghề phù hợp với mọi lứa tuổi, tận dụng
được nguồn lao động dôi dư thất nghiệp ở các địa phương: từ trẻ em, phụ nữ
đến những cán bộ hưu trí, những người cao tuổi Nghề nuôi ong còn có ưu
điểm là không tốn đất đai, không làm ảnh hưởng xấu tới môi trường sống xung quanh Ngoài ra con ong còn có vai trò quan trọng trong nông nghiệp đó
là thụ phấn cho cây trồng cũng như cây tự nhiên Theo tính toán của các nhà khoa học Niudilân và Mỹ thì giá trị thụ phấn do ong đem lại cho các cây trồng nông nghiệp gấp từ 70 - 140 lần giá trị của toàn bộ các sản phẩm ngành ong (Phùng Hữu Chính, 1999) [1]
Từ năm 1960, kỹ thuật nuôi ong cải tiến được áp dụng cho giống ong bản
xứ Apis cerana và việc nhập nội thành công giống ong châu Âu hay còn gọi là ong ý Apis mellifera ligustica đs làm cho nghề nuôi ong nước ta phát triển mạnh Tuy nhiên, do kỹ thuật nuôi ong còn lạc hậu, chưa có biện pháp phòng trị sâu bệnh hiệu quả nên năng suất và sản lượng mật còn thấp Từ năm 1989, nghề nuôi ong đặc biệt là nghề nuôi ong ý bắt đầu phát triển nhanh Năm
2002 cả nước ta có khoảng 600.000 đàn ong trong đó có tới hơn 400.000 đàn ong ý Tổng sản lượng mật đạt 17.000 tấn, xuất khẩu 14.500 tấn, riêng ong ý chiếm 85% sản lượng mật thu được và toàn bộ 100% lượng mật đều được xuất khẩu (Phùng Hữu Chính và Đinh Quyết Tâm, 2005) [2]
Trang 12Với quần thể nhập khẩu ban đầu nhỏ (khoảng 200 đàn), trải qua hơn bốn thập kỷ được nuôi dưỡng và thuần hoá ở Việt Nam chất lượng giống ong ý đs giảm sút Để cải tạo giống ong ý nuôi ở Việt Nam, năm 2001 Trung tâm nghiên cứu ong đs tiến hành nhập nội một số phân loài thuộc loài ong Apis mellifera, trong đó có phân loài A mellifera ligustica từ Niudilân (được gọi là ong ý Niudilân) Giống ong ý Niudilân có ưu điểm là năng suất mật cao, tỷ lệ cận huyết thấp và mức độ thuần chủng cao đs được rất nhiều nước có nghề nuôi ong công nghiệp phát triển như ít- xa- ra- en, ốt- trây- lia nhập khẩu Cũng như các phân loài khác thuộc loài A mellifera phân loài ong ý bị rất nhiều kẻ thù và dịch bệnh gây hại trong đó hai loại ve ký sinh Varroa destructor Anderson & Trueman và Tropilealaps clareae Delfinado and Baker
là hai loài dịch hại nghiêm trọng nhất Trong nhiều năm qua, để điều trị hai loài ve ký sinh này người nuôi ong đs sử dụng rất nhiều loại thuốc khác nhau Chính vì sử dụng thuốc bừa bsi, thiếu hiểu biết của người nuôi ong đs để lại tồn dư thuốc trong mật, làm giảm chất lượng mật và ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng Bên cạnh đó sử dụng thuốc không hợp lý còn làm giảm sức sống của đàn ong và tạo cho ve ký sinh khả năng kháng thuốc
Vào thời điểm tiến hành nhập nội phân loài A mellifera ligustica ở Niudilân chưa bị nhiễm ký sinh V destructor và T clarea nên khi nhập khẩu
về Việt Nam chúng đs bị ký sinh tấn công và gây hại Việc theo dõi sự xâm nhiễm của ký sinh đối với phân loài ong này nhằm hạn chế những thiệt hại do chúng gây ra để duy trì vật liệu cho công tác cải tạo giống ong ý, thúc đẩy nghề nuôi ong của Việt Nam ngày càng phát triển là yêu cầu cấp thiết của công tác chọn tạo giống, do vậy chúng tôi đs thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học, sự xâm nhiễm của hai loài ve ký sinh Varroa
Trang 13destructor và Tropilaelaps clareae ký sinh trên ong ý nhập từ Niudilân và biện pháp phòng trị”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của 2 loài ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae liên quan đến khả năng gây bệnh trên ong
ý Niudilân, từ đó đề xuất biện pháp phòng, trị an toàn hiệu quả
1.3 Yêu cầu của đề tài
• Nắm rõ đặc điểm sinh vật học của hai loại ve ký sinh Varroa destructor
Trang 14Phần 2 Tổng quan tài liệu
2.1 Những nghiên cứu về nguồn gốc của ve ký sinh Varroa destructor và Tropilalaelaps clareae
2.1.1 Ve ký sinh Varroa destructor
Ve ký sinh Varroa destructor trước đây gọi là Varroa jacobsoni được phát hiện lần đầu tiên năm 1904 trên ong châu á (Apis cerana) ở đảo Java (Indonesia) đs được Oudemans (1904) [54] mô tả và định loại
Theo Tiến sĩ Phùng Hữu Chính (1999) [1] V jacobsoni thuộc họ Varroidae, có nguồn gốc từ ong châu á Apis cerana Chúng ký sinh trên cả ấu trùng ong và ong trưởng thành Khi nhập ong A mellifera từ châu Âu vào châu á, loài ve này chuyển sang ký chủ mới và gây thiệt hại rất lớn Tất cả các châu lục nuôi ong A mellifera đều bị nhiễm ve Varroa chỉ trừ châu úc
Đến năm 1956 – 1957, Varroa được phát hiện đs lây nhiễm và gây bệnh trên ong A mellifera ở 2 tỉnh ven biển miền đông Trung Quốc Năm
1964 Varroa đs xuất hiện ỏ tất cả những vùng nuôi ong của Trung Quốc Loài
ký sinh này tiếp tục được tìm thấy ở các nước châu á như ấn độ; Triều Tiên; Hồng Kông; Inđônêxia; Việt Nam; Philipin và Pakistan, các nước châu Mỹ Paragoay, Urugoay, Achentina (Simirnov, 1979) [61] ở châu âu ve Varroa
được phát hiện lần đầu tiên năm 1964 trên ong a mellifera tại Liên Xô cũ (Crane, 1990) [3] Sau đó bệnh lần lượt được tìm thấy tại Bungari 1967, tại Hungaria 1978 (Eniko, 1994) [30] Năm 1979, bệnh xuất hiện ở châu Phi, ở
Mỹ năm 1987
Theo Crane (1990) [25] Varroa đs xuất hiện tại 56 quốc gia thuộc những châu lục khác nhau trên thế giới
Trang 15Năm 1968 Varroa được tìm thấy trên ong ý ở Việt Nam (Stephan, 1968) [62] Bệnh đs gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi ong ý ở Việt Nam (Nguyễn Văn Hanh và cộng sự, 1990) [6] Theo kết quả điều tra của Lê Minh Hoàng (2002) [7] tại ĐăkLăk có tới 98,8% số đàn ong ý bị nhiễm Varroa, vùng miền núi ong ý có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn vùng đồng bằng
Theo Anderson và Trueman, (2000) [16] Varroa có 18 dạng đơn được phát hiện gây hại trên ong châu á tuy nhiên chỉ có 2 dạng Japan/Thailan và Korea có khả năng sinh sản trên ong A mellifera Hai dạng này ở các nước Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam được xác định là V destructor Anderson & Trueman còn loài V jacobsoni không gây hại trên ong
a mellifera
2.1.2 Ve ký sinh Tropilaelaps clareae
Ve ký sinh T clareae được phát hiện ở Philipin năm 1961 bởi Delfinado và Baker (1961) [28] Nhưng một năm trước đó chúng đs có mặt trên những đàn ong ý ở tỉnh Quảng Đông Trung Quốc Sau đó cũng giống như V destructor, loài T clareae đs được phát hiện từ miền Nam đến miền Bắc của Trung Quốc
Theo woyke (1985 a) [67] và Phùng Hữu Chính (1999) [1] T clareae
có nguồn gốc ký chủ là ong khoái A dorsata, từ đó chúng lây sang ong ý nuôi ở các nước châu á Ve ký sinh T clareae chỉ có thể ký sinh trên ấu trùng ong, vì thế ở các nước ôn đới có thời gian qua đông kéo dài tới 5 - 6 tháng,
đàn ong không nuôi ấu trùng nên ve ký sinh T clareae không tồn tại được Theo các tác giả Stephan (1968) [62] T clareae gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi ong ý ở các nước thuộc Đông nam châu á cũng như ở Việt Nam
Trang 162.2 Đặc điểm sinh học của ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae
2.2.1 Hệ thống phân loại của Varroa destructor và Tropilaelaps clareae
Những nghiên cứu của Đào Hữu Thanh và Trần Minh Tứ năm 1986 [13] về đặc điểm hình thái của Varroa ở Việt Nam không có sai khác lớn so với những mô tả về Varroa của các tác giả trên thế giới Theo Grobov và cộng
sự (1987) [34] không có sự khác biệt về chiều dài và chiều rộng tấm khiên lưng ở ve ký sinh Varroa phân lập được từ các mẫu thu thập ở các quốc gia thuộc Liên Xô cũ Theo một số nghiên cứu khi phân tích về men và những phân tích về ADN của Kraus và cộng sự (1995) [44] lấy từ các mẫu ở Mỹ, Malaisia và Đức đều cho rằng sự khác biệt về gen là rất nhỏ
Tuy nhiên, những nghi ngờ về phân loại Varroa jacobsoni đs được đặt
ra vào những năm 1980 khi người ta thấy rằng Varroa jacobsoni cái ký sinh trên ong A cerana nhỏ hơn những ve ký sinh trên ong A mellifera (Delfinado, Baker & Houck, 1989) [29] Vào năm 1994, khi nghiên cứu về ve ký sinh V jacobsoni từ Papua New Guinea và Inđônêxia Anderson phát hiện ra rằng V jacobsoni có nguồn gốc từ Inđônêxia hoàn toàn thiếu khả năng sinh sản trên
ấu trùng của ong A mellifera
Phân tích về ADN đs cho thấy những ve ký sinh này rất khác biệt so với
ký sinh trên ong A mellifera ở châu Âu Những nghiên cứu tiếp theo với qui mô lớn về đặc tính sinh sản, kích thước cơ thể, cấu trúc ADN của V jacobsoni
ký sinh trên ong mật A mellifera và A cerana bởi Anderson & Trueman [16]
từ 32 quốc gia khác nhau được tiến hành đs kết luận rằng V jacobsoni là một loài phức tạp được đại diện bởi 5 loài Trong số đó chỉ có một loài duy nhất lây từ A cerana sang A mellifera trở thành dịch hại nghiêm trọng Tên mới của nó là Varroa destructor và vị trí của nó trong hệ thống phân loại như sau:
Trang 17Ngành chân đốt: Athropoda
Ngành phụ có càng: Chelicerata
Lớp ve: Arachnidae
Lớp phụ nhện: Acari Liên họ: Parasitiformes - Mesostigmata Họ: Varroidae
Giống: Varroa Loài: Varroa destructor
ảnh 2.1 Varroa jacobsoni (a: mặt l−ng; b: mặt bụng) Varroa destructor (c: mặt l−ng; d: mặt bụng)
Trang 182.2.2 Hình thái, cấu tạo cơ thể của Varroa destrructor và Tropilaelaps clareae
Dựa vào việc nghiên cứu kỹ các đặc điểm hình thái, cấu tạo cơ thể ve ký sinh có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta phân định loài tương đối chính xác
2.2.2.1 Hình thái, cấu tạo của Varroa destrructor
Bằng mắt thường ta có thể nhìn rõ V destructor Phân biệt con đực và cái
được dựa vào kích thước, hình dạng và màu sắc cơ thể Varroa cái có màu nâu, hình ô van, chiều dài trung bình là 1,104 mm; chiều rộng là 1,567mm (Ousdemans, 1904) [54], như vậy nghĩa là chúng có chiều rộng lớn hơn chiều dài
Theo Đào Hữu Thanh và Trần Minh Tứ (1990) [13] Varroa có hình bầu dục màu nâu sẫm hơi gồ về phía lưng Mặt lưng có khiên lưng (Dorsal scutum) có phủ đầy lông cứng nhọn, dài, chiếm hầu hết chiều dọc thân ve Mặt bụng có khiên bụng (Genitovental scutum) có hình 5 cạnh Ba tấm khiên còn lại của phần bụng là khiên quanh hậu môn (Anal), khiên cạnh bụng (Ventrolaterae), khiên phía sau chân, tất cả đều có hình 3 cạnh
Lỗ thở ở khe đốt đùi các đôi chân 3 và 4 Đầu giả (Gnathosome) gồm có
đáy và vòi Vòi thuộc loại hình châm chích, đốt hút Thông thường đầu giả lẫn vào phía trong thân Đầu giả mang 2 râu đầu (Pedipalpe) gồm 5 đốt, hai hàm dưới (Maxille) và 2 càng (Chelicera) Ve ký sinh Varroa có 4 đôi chân ngắn khoẻ, gồm có 6 đốt và giác bám phát triển rất thích hợp cho việc ký sinh Đôi chân 1 có lông cứng nhỏ với chức năng cảm giác (Arnold, 1988) [18]
Ve ký sinh Varroa đực có thân hình gần tròn màu vàng nhạt, có chiều dài khoảng 0,800 mm, chiều rộng 0,700 mm Khiên ngực và khiên bụng gắn liền
Gờ mép trước có lỗ sinh sản hình phễu Bàn lỗ thở bé ở góc đôi chân 4 (Đào
Trang 19Hữu Thanh và Trần Minh Tứ, 1990) [13] Mỏm tận cùng của càng nhỏ, di chuyển được có tác dụng vận chuyển nang tinh đến cơ quan sinh dục của con cái (Woyke, 1985 b) [68] Mặt bụng, trước cửa hậu môn có nhiều lông cứng Cuối các đốt bàn chân là những giác bám có nhiệm vụ cảm giác (Langhe và Natzkij, 1977) [45]
2.2.2.2 Hình thái cấu tạo của Tropilaelaps clareae
Ve ký sinh T clareae nhỏ hơn V destructor, tuy nhiên cả 2 loài đều có cơ thể có hình bầu dục dài, dẹt theo chiều lưng - bụng, lưng gồ cao, cả 2 mặt lưng bụng phủ đầy lông cứng (Delfinlado và Baker, 1961) [28], Woyke (1985 b) [68] Theo Woyke (1985 a) [67] chiều dài của T clareae trung bình là 1,037
mm, chiều rộng là 0,530 mm nhưng theo Đào Hữu Thanh và Trần Minh Tứ (1990) [13] thì T clareae có kích thước nhỏ hơn: chiều dài trung bình là 0,880 mm; chiều rộng trung bình là 0,512mm
Mặt bụng có khiên ngực, khiên sau ngực, khiên quanh hậu môn, lỗ thở và
đầu giả Khiên ngực hình thành một vệt lõm rất rõ nét Khiên giữa bụng dài từ
đáy đôi chân 2 xuống phía sau thân Khiên quanh hậu môn có hình van, có một vệt sẫm phân làm 2 nhánh hình cánh cung có chiều dài khoảng 0,199
mm Lỗ hậu môn là khe hở theo chiều dọc thân, cửa hậu môn không có van (Delfinlado và Baker, 1961) [28], Đào Hữu Thanh và Trần Minh Tứ (1990) [13]
Ve ký sinh T clareae có 4 đôi chân được phân thành 6 đốt, tận cùng của chân là các giác bám Trong 4 đôi chân riêng đôi chân 1 gồm 6 đốt bé, mảnh, hình trụ tròn dài, kích thước gần bằng nhau Đôi chân 1 tách rời khỏi 3 đôi chân còn lại và duỗi dài về phía trước nên dễ nhầm đó là râu đầu Tuy nhiên,
có thể phân biệt dễ dàng với râu đầu là do đôi chân 1 có 6 đốt và tận cùng có giác bám; râu đầu chỉ có 5 đốt, mỏm tận cùng cụt tù, không có giác bám
Trang 20Đầu giả gồm đáy và vòi Vòi thuộc loại châm chích, đốt hút, gồm 3 phần: càng, râu đầu và hàm dưới Càng của con cái mảnh, nhọn và dẹt, gờ mép ngoài
có răng cưa Hàm dưới mảnh nhỏ, dẹt Lỗ thở ở giữa các đôi chân 3 và 4 bàn
lỗ thở kéo dài về phía trước thân Con đực có mảnh khiên lưng che gần kín hết mặt lưng Càng của con đực ở mỏm tận cùng có khả năng cử động được, có tác dụng dẫn tinh đến cơ quan sinh dục của con cái (Woyke, 1987) [69]
Về việc phân biệt giới tính qua hình dạng: theo quan điểm trước đây cho rằng ở con đực mảnh khiên giữa bụng và mảnh khiên quanh hậu môn tách rời,
ở con cái hai mảnh khiên này dính liền Theo quan điểm của Woyke, phân biệt giới tính phải chú trọng tới vòi miệng: con cái vòi miệng to mập, khoẻ; còn ở ve đực thì vòi miệng bé, mảnh, dài (Woyke, 1985 b) [68]
2.2.3 Cấu tạo giải phẫu của Varroa destructor
Cơ thể Varroa được bao bọc bởi lớp vỏ kitin Lớp vỏ kitin được cấu tạo bởi 3 lớp: lớp ngoài, lớp giữa và lớp trong Lớp ngoài cùng dày 0,04 àm - 0,21
àm Phần mảnh ngực có lớp vỏ kitin mỏng nhất, phần mai của lưng có độ dày lớn nhất Dưới lớp vỏ kitin có một lớp mô mỡ dính liền Lớp kitin bao bọc xung quanh giúp ve hạn chế được các tác động cơ học, hoá học, đặc biệt là tác
động của các loại thuốc Acaricide (Smirnov, 1979) [61]
Hệ cơ của Varroa có cấu trúc vững chắc, bao bọc phần trước cơ thể nơi có phần phụ đính vào (xúc giác, chân) Tấm ức phát triển ở phần trước lưng giữ cho phần cơ gấp của chân với phần gian đòn thêm chắc chắn, rất thích hợp cho phương thức sống ký sinh của chúng
Hệ thần kinh của Varroa gồm các sợi thần kinh, hạch thần kinh và hạch thần kinh trung tâm, giữa chúng được nối với nhau bởi các dây thần kinh
Hệ hô hấp của Varroa rất phát triển, khí quản to nối các cơ quan hô hấp bên trong với nhiều lỗ thở (Stigma) Các lỗ thở gắn lại với nhau bằng bàn lỗ thở (Petitrema) Cấu tạo bề mặt bàn lỗ thở không bằng phẳng, một phần của
Trang 21ống thở gắn với bàn lỗ thở, phần còn lại lơ lửng ở bên ngoài Varroa đực có bàn lỗ thở nhỏ hơn con cái và không nhìn thấy các ống thở lơ lửng bên ngoài
Hệ tiêu hoá của chúng bao gồm miệng, hầu, ống tiêu hoá, dạ dày, ruột giữa và ruột sau Thành ống tiêu hoá được cấu tạo từ tế bào dẹp, có nhân dài
và nhỏ (Grobov, 1981) [34] Dạ dày phát triển đến phần lưng nso, một số cá thể dạ dày có thể kéo dài ra phía trước nso Ruột sau là một ống thẳng đi đến phần sau Giữa ruột sau và trực tràng có van trực tràng Varroa không có van hậu môn, hệ tiêu hoá không có lớp Kitin giống như các loài thuộc họ Parasitiformes Mesostigamata khác Phần trước của lưng bên cạnh ruột cụt của Varroa có tuyến Globulin nhưng chưa xác định rõ được chức năng của chúng Các men tiêu hoá chủ yếu từ máu đi vào dịch cơ thể ký chủ (Smirnov, 1979) [61]
Varroa không có cơ quan tạo máu, hệ tuần hoàn có cấu tạo hở, giữa các cơ quan có mô liên kết Cơ quan bài tiết có 2 ống tiết chạy dọc cơ thể ở phía trên dạ dày Phần đầu của cơ quan bài tiết dẫn đến phần trước của đốt thân trước Phần cuối đi về phía sau bụng, song song với ruột và nối với trực tràng
Hệ sinh dục của Varroa cái khá phức tạp bao gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, âm đạo và rsnh âm đạo Ngoài ra còn có ống dẫn phụ, túi nhận tinh, xoang và sừng tròn nhỏ là nơi trứng phát triển thành ấu trùng Cơ quan sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh, và ống phóng tinh (Grobov, 1981) [34] 2.2.4 Sinh sản, phát triển, vòng đời của Varroa destructor và Tropilaelaps clareae
2.2.4.1 Varroa destructor
Trên ong Apis cerana ve ký sinh Varroa chỉ sinh sản trong lỗ tổ có nhộng ong đực, ở lỗ nhộng ong thợ chúng không sinh sản Nhưng ở đàn ong ý chúng sinh sản ở cả lỗ nhộng ong đực và lỗ nhộng ong thợ Tuy nhiên, khả
Trang 22năng sinh sản của Varroa ở lỗ nhộng ong đực lại cao hơn các lỗ nhộng ong thợ (Boot, 1997) [21]
Trong lỗ nhộng ong đực Varroa thường chui vào các lỗ tổ có ấu trùng sắp được vít nắp để lấy thức ăn và tiến hành sinh sản (Marcagelli, 1992) [47]
Ve ký sinh xâm nhập vào lỗ tổ có ấu trùng ong thợ khoảng 15 - 20 giờ trước khi lỗ tổ được vít nắp Còn ở lỗ tổ có ấu trùng ong đực chúng xâm nhập vào
40 - 50 giờ trước khi các lỗ tổ được vít nắp Do thời gian này dài hơn ở ong thợ nên số lượng ve trong các lỗ tổ ong đực nhiều hơn trong lỗ tổ ong thợ từ 8
- 12 lần (Phùng Hữu Chính, 2005) [2] Khoảng 60 giờ sau khi vít nắp Varroa cái đẻ quả trứng đầu tiên (Ifantidis, 1983) [39] Quả trứng đầu tiên thường không được thụ tinh (7 nhiễm sắc thể) được phát triển thành con đực Tiếp sau
đó, cứ khoảng 30 giờ Varroa mẹ lại đẻ một trứng khác đs thụ tinh (14 nhiễm sắc thể) và sẽ phát triển thành con cái Ruijter và Pappas, 1983) [59]
Trứng được thụ tinh sau 6,9 ngày sẽ phát triển thành con cái Trứng không thụ tinh 6,2 ngày sẽ nở thành con đực Những nghiên cứu gần đây cho thấy thời gian từ trứng đến trưởng thành của ve Varroa còn ngắn hơn: ve cái khoảng 5,3 - 5,7 ngày và của ve đực là 5,7 - 6,0 ngày ở lỗ nhộng ong đực Varroa mẹ đẻ khoảng 3 - 7 trứng (Ifantidis, 1983) [39] , (Martin, 1995) [48] Theo Boecking (1992) [20] cũng như Boot (1992) [22] cho rằng Varroa con sinh ra trong lỗ nhộng ong thợ sẽ ít hơn nếu như thời gian phát triển của
nó trong lỗ nhộng ong thợ ít hơn 12 ngày Tỷ lệ sinh sản của Varroa cái ở lỗ nhộng ong thợ và lỗ nhộng ong đực là 1 : 3 (Fuchs và Langenbach, 1989) [32]
Hanel (1986) [35] cũng đs khẳng định Haemolymph của nhộng ong có vai trò quyết định tới quá trình sinh sản của con Varroa cái vì trong máu ong
có chứa một số chất kích thích ve cái sinh sản
Trang 23Quá trình phát triển của Varroa gồm các pha: trứng – ấu trùng, thiếu trùng (Protonymph), thành trùng (Deutonymph) và trưởng thành (Woyke,
1985 a) [67] và (Henderson, 1986) [36]
Giai đoạn trứng – ấu trùng
Theo Woyke (1985 a) [67] cũng như tác giả Đào Hữu Thanh và cộng sự (1990) [13], trứng của Varroa có màu trắng, kích thước 60 àm x 50 àm, nằm
ở đáy hoặc trên thành lỗ tổ Sự phát triển của phôi diễn ra ngay từ khi trứng còn đang ở trong ống dẫn trứng của Varroa mẹ Phôi sẽ phát triển thành ấu trùng trong khoảng 32 – 36 giờ ở nhiệt độ 320C (Woyke, 1985 a) [67], (Fuchs
và Langenbach, 1989) [32]
Giai đoạn Protonymph
Protonymph đực và cái có kích thước tương tự nhau khoảng 0,80 mm x 0,60 mm, hình oval, màu trắng bạc Cơ thể có 4 đôi chân nhưng không di chuyển được vì chưa phân đốt hoàn toàn Vòi hút có cấu tạo mềm so với trưởng thành nhưng cũng có khả năng lấy thức ăn từ dịch nhộng ong Protonymph đực và cái được phân biệt bởi độ che phủ của lông: con cái có lông bao phủ toàn bộ cơ thể, con đực lông bao phủ chỉ ở vùng hậu môn Giai
đoạn Protonymph kéo dài khoảng 50 giờ (Fuchs và Langenbach, 1989) [32], (Ifantidis, 1983) [39]
Giai đoạn Deutonymph
Deutonymph cái có màu nâu sẫm, hình oval đối xứng Deutonymph đực
có màu trắng bạc, hình bầu dục Con đực nhỏ hơn con cái; con cái có kích thước trung bình là 1,00 mm x 1,30 mm, con đực là 0,75 mm x 0,80 mm Deutonymph cũng có 4 đôi chân như trưởng thành nhưng yếu hơn, thành cơ thể cũng mỏng hơn (Langhe và Natzkij, 1977) [45] Giai đoạn này kéo dài từ 2,5 - 3,2 ngày tuỳ thuộc vào thời tiết khí hậu cũng như mùa vụ
Trang 24Theo tác giả Nguyễn Văn Hanh (1991) [6] các ấu trùng ong đực bị nhiễm Varroa nhiều hơn so với các ấu trùng ong thợ Nguyên nhân là do thời gian phát triển từ trứng đến ong trưởng thành đực là 24 ngày, nhiều hơn ở ong thợ (21 ngày) và ong chúa chỉ có 16 ngày Trong lỗ tổ ong đực, thời gian vít nắp là
14 ngày và có đến 4 Varroa: 3 con cái và 1 con đực có thể thành thục về giới tính Sự xâm nhiễm của Varroa tập trung chủ yếu vào lúc ấu trùng sắp được vít nắp (Crane, 1991) [25], (Arnold, 1988) [18]
Theo Rosenkranz (1984) [58] thì ấu trùng ong tiết ra pheromon (Aliphatic ettes) đs kích thích khứu giác của Varroa giúp chúng tìm được các
ấu trùng thích hợp Varroa có khả năng phân biệt được lỗ tổ ấu trùng với lỗ tổ chứa phấn hoa nhờ vào mùi vị khác nhau của lỗ tổ (Kraus, 1994) [43], (Boot, 1992) [22]
2.2.4.2 Tropilaelaps clareae
Sự sinh trưởng phát triển của ve ký sinh T clareae tương tự như V destructor, cũng bao gồm các giai đoạn: trứng - ấu trùng, protonymph, deutonymph và trưởng thành
Theo Woyke (1985 a) [67] thì T clareae trưởng thành chui vào các lỗ tổ
có ấu trùng sắp vít nắp để sinh sản Con cái đẻ từ 3 - 4 quả trứng Trứng có kích thước khoảng 50àm, màu vàng nhạt, sau khoảng 1 ngày nở thành ấu trùng ấu trùng có kích thước 40 x 60 àm, không có khả năng di động
Trang 25Sau 2 ngày ấu trùng lột xác và chuyển sang giai đoạn protonymph Protonymph có màu trắng, kích thước khoảng 700 x 450 àm, có 4 đôi chân đs bắt đầu phân đốt nên chúng có khả năng di chuyển Hai ngày sau chúng lột xác và chuyển sang giai đoạn deutonymph Giai đoạn này chúng có khả năng
di chuyển khá nhanh, kích thước 900 x 500 àm và tiếp tục lột xác và chuyển sang giai đoạn trưởng thành
Theo Woyke (1985 a) [67] thời gian từ trứng đến trưởng thành là 9 ngày, tất cả các pha đều được nuôi dưỡng bằng máu của ấu trùng và nhộng ong (trừ giai đoạn trứng) Trần Đức Hà và cộng sự (1992) [4] lại cho rằng thời gian từ trứng đến trưởng thành chỉ kéo dài 5,5 - 6,1 ngày Con đực và con cái giao phối cả ở trong và ngoài lỗ nhộng Trong khi đó V destructor, quá trình giao phối giữa con đực và con cái chỉ diễn ra ở bên trong lỗ tổ vít nắp Tuy nhiên T clareae trưởng thành đực và cái không thể tồn tại quá 3 ngày bên ngoài lỗ nhộng ong (Woyke, 1985 a) [67], (Trần Đức Hà và cộng sự, 1992) [4] Thời gian T clareae ở ngoài lỗ tổ chỉ có 1,4 ngày cho nên trong vòng 25 ngày nó
có thể sinh sản tới 2 thế hệ Trong khi đó V destructor chỉ có 1 Do vậy tỷ lệ gia tăng quần thể của T clareae lớn hơn của V destructor
2.3 Triệu chứng do ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae gây hại trên đàn ong
Đàn ong thường chưa biểu hiện triệu chứng khi mới bị bệnh nên người nuôi ong rất khó có thể phát hiện ra chúng Khi ve ký sinh phát triển mạnh, với số lượng lớn trong đàn thì lúc này người nuôi ong mới phát hiện ra ký sinh trùng Việc phát hiện chậm trễ này sẽ gây nên các khó khăn trong việc điều trị hoặc làm cho biện pháp điều trị kém hiệu quả
Theo De Jong (1983) [26] khi quan sát tỉ mỉ đàn ong bị bệnh thường thấy
có những phản ứng cào chải lên những vị trí bị ngoại ký sinh trùng ký sinh do Varroa và T clareae thường bám ở vùng bụng, ngực của ong gây ra
Trang 26Một đặc trưng nổi bật của đàn ong bị ve ký sinh V destructor hoặc T clareae ký sinh là thường thấy có nhộng hoặc xác ong non chết ở dạng không bình thường và bị ong thợ vứt ra ngoài cửa tổ, xung quanh thùng ong và đáy thùng ong, làm cho thế đàn ong bị giảm dần (Cavalloro, 1983) [23] và IBRA (1986) [38]
Quan sát trước cửa tổ ong bị bệnh thường thấy một số ong non bị cụt hoặc xoăn cánh Trên bánh tổ thấy một số lỗ nhộng già bị thủng và bị xẹp xuống, mở nắp và lôi nhộng ong lên sẽ tìm thấy Varroa trưởng thành và các giai đoạn phát triển của ấu trùng trên vách hoặc dưới đáy lỗ tổ (Trần Đức Hà
và Phùng Hữu Chính, 1993) [5] Đàn ong lúc này sẽ thưa quân, lớp ong thợ trong đàn giảm dần, ong thợ không phủ kín được cầu ong (Moretto, 1995) [53] Nhộng ong nếu bị nhiễm nhiều hơn 5 con Varroa thì trọng lượng sẽ bị giảm và ong nở ra thường yếu ớt và dị dạng (De Jong, 1982) [27]
Theo nghiên cứu của Boeking và cộng sự (1992) [20] (Koch và Ritter, 1991) [42] ấu trùng ong bị bệnh ký sinh khi chết có màu vàng sẫm Ong trưởng thành bị bị bệnh thường bị ngắn bụng, cánh xoăn và chân cong, thường gặp khó khăn khi bay, giảm trọng lượng cơ thể và cuối cùng bị chết do kiệt sức ấu trùng vít nắp bị nhiễm V Destructor và T clareae thường bị ong thợ loại bỏ ra ngoài, làm cho các cầu nhộng vít nắp không đồng đều
Các ong thợ có khả năng phát hiện các ấu trùng ong bị nhiễm ký sinh Tuy vậy việc di chuyển các ấu trùng đs bị nhiễm bệnh ra khỏi tổ còn phụ thuộc rất nhiều vào số quân hiện có trên cầu ong Đối với các cầu đủ quân, ong thợ phủ kín 2 mặt cầu vì vậy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở ong thấp; ngược lại các cầu không đủ quân tỷ lệ nhiễm bệnh sẽ cao
Theo các tác giả Mautz (1990) [50] thì nguồn thức ăn chứa đạm có ảnh hưởng rất lớn tới tuổi thọ và thể chất của ong Khi ấu trùng bị 1 - 3 Varroa ký sinh thì hàm lượng đạm trong máu của ong non nở ra giảm 6,24% và nếu bị
Trang 27từ 4 - 6 con Varroa ký sinh thì hàm lượng đạm trong máu của ong non nở ra
sẽ giảm 11,19% (Weinberg và Madel, 1985) [66]
Đối với ong đực khi bị Varroa ký sinh, cơ cánh sẽ không phát triển chính vì vậy khi quan sát chúng ta thấy một số con không thể bay được (Glinsky,1984) [33] Một số tác giả khác lại cho rằng việc sử dụng các chất Protein dự trữ để bù dần vào sự thiếu hụt Protein đs làm ảnh hưởng lớn đến cơ năng sinh dục, đặc biệt là quá trình tạo Glycoprotein ở tinh trùng
2.4 Các phương pháp chẩn đoán ve Varroa destructor và Tropilaelaps clareae ký sinh trên đàn ong
2.4.1 Kiểm tra xác định ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên rác của thùng ong
Rác thùng ong bao gồm những mảnh sáp, vít nắp tổ và xác ký sinh trùng có thể được tìm thấy vào bất kỳ thời điểm nào trong năm
Đây là phương pháp khá đơn giản dựa và đs được Brem đề xuất từ năm
1981 Trước hết làm khô rác ở nhiệt độ 370C trong 48 giờ, sau đó cho vào cốc chứa cồn 96% (chú ý là phải để ngập rác trong cồn khoảng 2 cm) Dùng đũa thuỷ tinh khuấy đều và nghiền nát những mảnh vụn và sáp ong trong rác để rác chìm xuống còn xác ký sinh thì nổi lên trên bề mặt do ký sinh có cấu tạo
vỏ Kitin Đổ thêm nước hoặc cồn vào cốc để bề mặt dung dịch dâng lên miệng cốc Dùng vợt vớt xác ve ký sinh ra khỏi cốc
Đàn ong chưa có biểu hiện bệnh nếu tìm thấy ít hơn 5 xác ký sinh trùng/thùng/ngày Đàn ong mắc bệnh nhẹ nếu nếu tìm thấy từ 5 - 10 xác ký sinh trùng/thùng/ngày Đàn ong mắc bệnh nặng nếu nếu tìm thấy từ 10 - 30 xác ký sinh trùng/thùng/ngày Đàn ong mắc bệnh rất nặng nếu nếu tìm thấy nhiều hơn 30 xác ký sinh trùng/thùng/ngày (Ritter,1984) [57]
2.4.2 Kiểm tra xác ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên ong trưởng thành
Trang 28Có nhiều cách để làm cho ký sinh trùng rời khỏi mình ong Trước hết người ta rũ khoảng 200 – 300 ong thợ vào chậu nước nóng hoặc có chứa cồn 75%, lắc nhẹ cho ký sinh rời khỏi ong và tính tỷ lệ nhiễm bệnh (Trần Đức Hà
và Phùng Hữu Chính, 1993) [5] Theo tác giả Ritter và cộng sự (1981) [56] khi
rũ ong vào chậu chứa xăng thì 100% ký sinh Varroa tách khỏi mình ong Theo Dejong (1982) [27] nếu dùng cồn Ethanol 75% cũng thu được kết quả tương tự, có thể dùng dung dịch chất tẩy rửa theo tỷ lệ 3 giọt chất này/1 lít nước ấm để rũ ve ký sinh ra khỏi ong trưởng thành
Ngoài ra trong thực tế người ta còn có thể sử dụng một số hoá chất có tác dụng diệt ký sinh mạnh như Sineacar, Varoastan, Folbex hoặc lưu huỳnh Cách tiến hành rất đơn giản: đặt mảnh giấy trắng ở đáy thùng, đốt cháy thuốc,
đậy kín nắp thùng ong trong khoảng 30 phút, sau đó lấy mảnh giấy ra để kiểm tra xác định số lượng và phân loại ve ký sinh
2.4.3 Kiểm tra xác ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên nhộng ong
Theo Woyke (1985b) [68] mỗi đàn ong lấy khoảng 200 – 300 con nhộng ong thợ, 50 - 100 nhộng ong đực để kiểm tra Mở nắp lỗ tổ bằng panh kẹp, lôi nhộng ra để tìm ký sinh trùng hoặc tìm phân của chúng ở đáy hoặc trên thành lỗ tổ
Theo phương pháp của Ritter và cộng sự (1984) [57] thì trước hết nên cắt bỏ nắp vít lỗ tổ bằng dao, sau đó dùng vòi nước ấm phun vào cho bật nhộng ra khỏi lỗ tổ Nhộng được hứng phía dưới bằng một tấm lưới mắt cáo (mắt lưới rộng 2 - 3 mm), tiếp tục phun nước vào tấm lưới để cho ấu trùng và xác ký sinh trùng lọt xuống tấm lưới thứ 2 có mắt dày hơn (1 mm) Ve ký sinh
sẽ được đọng lại trên tấm lưới thứ 2, tại đây người ta có thể phân loại và xác
định số lượng của từng loài
Trang 292.5 Các biện pháp phòng trị
2.5.1 Biện pháp hoá học
Các loài ve ký sinh ong mật không chỉ ký sinh trên ong trưởng thành mà còn xâm nhập vào các lỗ tổ đs vít nắp nên việc phòng và trị ve ký sinh gặp không ít khó khăn Mặt khác đối với các loại thuốc sử dụng để phòng trị ký sinh trên ong cần phải thoả msn các yêu cầu sau: phải có tác dụng diệt được
ve ký sinh một cách nhanh chóng; không độc cho ong cũng như người sử dụng; đơn giản dễ áp dụng và có khả năng phân huỷ nhanh không có tồn dư trong sản phẩm ong như mật ong, phấn hoa và sáp ong
Từ trước đến nay, nhiều loại thuốc hoá học đs được sử dụng trong việc phòng trị ve ký sinh, tuy nhiên nó cũng đs bộc lộ một số khiếm khuyết Theo một số tác giả, sự phát triển của thuốc phòng chống ve ký sinh chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoa học kỹ thuật và được chia làm 3 thời kỳ (Ruttner, 1983) [60], (Ming, 1990) [51]
Thời kỳ thứ nhất (1957 – 1962): là thời kỳ dịch ký sinh Varroa lần đầu tiên xuất hiện Các loại thuốc chống côn trùng được sử dụng phòng trị ve ký sinh chủ yếu là Rotenon, Triclorophon, Nicotine, Chlordimeform hydrochlorid Các loại thuốc này có hiệu lực diệt trừ ve ký sinh tương đối cao nhưng không an toàn cho ong và người sử dụng
Thời kỳ thứ hai (1963 – 1979): thời kỳ này đs có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm, cấu tạo ve ký sinh Các nhà khoa học đs tìm ra nhiều loại hoá chất đặc hiệu diệt trừ ve ký sinh như: Phenothiazin, Phenothiazol, Sineaca Người ta sử dụng thuốc bằng cách đưa thuốc vào các cầu ong bị bệnh (đs được tách ra khỏi đàn và đưa vào một thùng trống)
Trang 30Thời kỳ thứ ba (1980 – nay): đây là thời kỳ có nhiều loại thuốc có hiệu lực cao đối với ve ký sinh và an toàn cho ong hơn cả Phương pháp đưa thuốc vào đàn ong cũng rất đa dạng như phun, xông khói, thăng hoa Các loại thuốc thế hệ mới là Folbex - VA, Chlorobenzilate, Amitraz, Perizin, Apitol, Aspitan, Bayvarol… được sử dụng rộng rsi ở các nước châu Âu, châu á, châu Mỹ và châu Phi Tuy nhiên, những loại thuốc này vẫn có nhược điểm là thời gian tồn lưu của thuốc trong sản phẩm tương đối dài
Folbex - VA: Thuốc ở dạng dải, mỗi dải 1 gam trong đó chúa 411 mg Bromopropynat Đây là loại thuốc chống Varroa hiệu quả Tuy nhiên, thuốc chỉ có tác dụng diệt ve trên ong trưởng thành và bên ngoài ấu trùng vít nắp Perizin: Thuốc có dạng sữa (có chứa 32 mg Coumaphos/1g Perizin), có thể được sử dụng bằng cách phun trực tiếp lên cơ thể ong trưởng thành Ve ký sinh sẽ bị giết chết khi chúng hút máu của ong trưởng thành đs bị ngấm thuốc
Đặc biệt khi trong đàn không có ấu trùng hiệu lực của thuốc sẽ được tăng cường Thuốc có thể được sử dụng phối hợp với các biện pháp khác như nhốt chúa trong vòng 2 - 3 tuần rồi phun thuốc trực tiếp lên cơ thể ong (Tangkanasing và cs., 1990) [63]
Apitol: thuốc ở dạng hạt, có chứa 175 mg Cymiazol Sử dụng dưới dạng pha vào thức ăn cho ong Thuốc ngấm vào máu của ong trưởng thành, ve ký sinh sẽ bị chết khi hút máu những con ong này Nhược điểm của thuốc là chúng có ảnh hưởng đến ấu trùng ong và để lại tồn dư thuốc trên bánh tổ (Moosbeckhofer và cộng sự, 1985) [52]
Aspitan: lưu hành dưới dạng dải, dài 25 cm, rộng 3 cm Trong dải thuốc chứa 919 mg Fluvalinate Thuốc được đưa vào đàn ong bằng cách treo dải thuốc vào khoảng trống giữa các cầu ong trong thời gian từ 6 - 8 tuần Thuốc
được hấp phụ lên cơ thể ong do ong thợ trao đổi chất chúa (Ferre Dufol, 1994) [31] Loại này diệt được cả ve T Clareae Aspitan phân huỷ chậm
Trang 31Thuốc có nhược điểm là để lại tồn dư trong sáp Khi sử dụng trong thời gian dài dễ gây hiện tượng kháng thuốc
Bayvarol: hoạt chất của thuốc là Flumtrin Thuốc lưu hành dưới dạng dải, cơ chế tác động của thuốc cũng giống như Apistan Thuốc để lại tồn dư trong mật ong, sáp ong và các sản phẩm khác (Thrasyvoulow và cs, 1988) [64] WangManpu: là thuốc diệt Varroa do Trung Quốc sản xuất, lưu hành dưới dạnh dải nhựa chưa được nhập vào Việt Nam theo con đường chính thống Hiện nay, đs có nhiều người nuôi ong hiện đang sử dụng để điều trị ve
ký sinh Hoạt chất của thuốc này là: Cypermethrin và Decamethrin là 2 chất thuốc trừ sâu thuộc nhóm "Pyrethroi" được tổng hợp nhân tạo (có trong hoa cúc dại) Hoạt chất này tương tự hoạt chất " Fluvalinate" Thuốc ít độc với người, gia súc, các loài thiên địch Thuốc có tác dụng xua đuổi ở nồng độ thấp
và diệt côn trùng ở nồng độ cao
Hiện nay một số tác giả cho rằng đs xuất hiện hiện tượng kháng thuốc của Varroa trên nhiều đàn ong, ở nhiều vùng địa lý khác nhau (Lodesani, 1995) [46]
2.5.2 Biện pháp sử dụng các dược liệu có nguồn gốc tự nhiên
Sản phẩm của ngành ong cũng giống như các sản phẩm nông nghiệp khác, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng dinh dưỡng mà còn rất chú trọng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm mà đặc biệt là tồn dư hoá chất trong sản phẩm Chính vì vậy công tác phòng và trị ve ký sinh trên
đàn ong có ý nghĩa rất to lớn, nó không chỉ nhằm ngăn chặn tác hại của ve đến sinh trưởng phát triển của đàn ong mà còn phải đảm bảo tồn dư hoá chất độc dưới ngưỡng cho phép Để đạt được mục đích trên nhiều nhà nghiên cứu (Ritter, 1981) [56] đs tìm đến những dược liệu có nguồn gốc tự nhiên như a xit Formic, axit Lactic và tinh dầu sả (hương nhu, khuynh diệp, kinh giới, bạc hà) có nguồn gốc tự nhiên để phòng trừ ve ký sinh cho đàn ong Ngoài việc
Trang 32đảm bảo độ an toàn cho sản phẩm ong, sử dụng các loại dược liệu này còn giảm được giá thành điều trị so với một số loại thuốc khác
Apilife VARTM: thuốc do ý sản xuất, là sản phẩm hỗn hợp của 4 loại tinh dầu: tinh dầu Bách lý hương (C10H13OH), tinh dầu Khuynh diệp (Bạch đàn), tinh dầu Long nso (C10H17O) và tinh dầu Bạc hà (C10H19OH)) trong đó thành phần chính là tinh dầu Bách lý hương (76%) Tinh dầu bay hơi sẽ giết chết ve
ký sinh, hiệu quả diệt ve từ 70 - 90% Thuốc không để lại tồn dư trong sản phẩm ong, tuy nhiên loại thuốc này có giá thành khá cao
Axit Formic
Axit Formic là axit hữu cơ, có mặt trong một số thực vật và côn trùng Trong 1 kg mật ong tự nhiên có khoảng 600 mg axit Formic Axit Formic có tính diệt khuẩn cao nên có thể hạn chế được sự xâm nhập của vi sinh vật vào mật ong
Axit Formic được sử dụng để điều trị Varroa lần đầu tiên vào năm 1979 bởi Kunzler, sau đó được Ritter hoàn thiện năm 1981 Axit Formic 85% được
đưa vào bình thuỷ tinh được đậy bằng nút cao su có dùi một lỗ ở chính giữa (có đường kính 1 cm) Tại đây được luồn sợi dây bấc cho axit Formic thẩm thấu và thăng hoa trong không khí của thùng ong
Một số tác giả cho rằng dùng 2 ml axit Formic 85%/cầu ong vào 2 tấm
gỗ nhẹ và xốp có kích thước 40 cm x 25 cm x 1,2 cm đặt ở dưới và trên khung cầu Tiến hành liên tục như vậy trong 2 tuần có khả năng diệt được 90 – 95% Varroa Sau này một số nhà nghiên cứu như Woyke (1987) [69] đs cải tiến cách thức sử dụng axit Formic như sau: dùng bìa để thấm 14,2 g axit Formic 85%, đặt tấm bìa dưới đáy thùng ong trong vòng bốn ngày liên tục (hiệu quả diệt ký sinh của phương pháp này là 94%)
Trang 33Tuy nhiên việc dùng axit Formic nồng độ cao sẽ ảnh hưởng đến đàn ong
và người sử dụng Tốc độ bốc hơi của axit Formic phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ, môi trường xung quanh Trong điều kiện nhiệt đới dùng nồng độ 85% axit Formic sẽ làm ong chết với tỷ lệ khá cao, vào mùa hè chỉ nên dùng ở nồng độ 60% (Lê Tử Long, 1998) [10]
Axit Oxalic
Có tác dụng tiếp xúc do vậy nếu pha chúng ở nồng độ 3,5% trong nước
đường và thấm lên tấm vải đặt trong đàn ong thì ong thợ sẽ rải rác hợp chất này khắp đàn ong do vậy sẽ không phụ thuộc vào nhiệt độ Axit Oxalic chỉ diệt được ký sinh ngoài lỗ tổ
Dùng tinh thể axit oxalic rắc vào đàn ong (1 - 3 gam/đàn) qua một cái sàng với đường kính lỗ là 0,2 - 0,3 mm, hiệu quả cao trong diệt ký sinh trên ong trưởng thành và biện pháp này có ưu điểm là không làm cho đàn ong bị xáo động như các phương pháp khác
Axit Lactic
Phương pháp điều trị ve ký sinh V destructor bằng axit Lactic 15% được Ritter nghiên cứu và khẳng định năm 1984 Dùng axit Lactic phun trực tiếp lên bánh tổ với liều lượng 5 ml/cầu ong có hiệu quả diệt Varroa từ 96,2 – 99,0% Liều trình điều trị lặp lại nhiều lần sẽ nâng cao hiệu quả diệt ve ký sinh
Tinh dầu chiết xuất từ thực vật
Có 32 loại tinh dầu thực vật có ảnh hưởng tới sự phát triển của ve ký sinh Các loại tinh dầu thường được sử dụng là Major, Nelken, Thymol (tinh dầu bạc hà), Eukalyptol (dầu khuynh diệp), Menthol, Campher (Kraus, 1994) [43] Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả dùng hỗn hợp dầu thực vật Thymol – Eukalyptol – Menthol - Campher trong vòng 38 ngày có khả năng
Trang 34diệt ve ký sinh Varroa được 96,4 % và trong 79 ngày diệt được 99,0% Nghiên cứu của Hoppe và Ritter (1988) [37] cho rằng tinh dầu kinh giới làm rối loạn sự định hướng của Varroa Sau khi thử nghiệm 54 loại tinh dầu khác nhau các tác giả trên cho biết wintergtun có tác dụng diệt Varroa mạnh hơn, ong có sức chịu đựng tinh dầu tốt hơn
ở Việt Nam thường sử dụng một số loại tinh dầu bạc hà, kinh giới, mần tưới và sả để phòng trị ve ký sinh ong cũng như xử lý mạt gà, bọ chó ở các chuồng nuôi gia súc, gia cầm (Đỗ Tất Lợi, 1977) [11], (Phan Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho, 1998) [8] Theo Ngô Nhật Thắng (2004) [14] sử dụng dầu sả ở nồng độ 10% với lượng 4 ml/cầu có hiệu quả diệt trừ ve ký sinh Varroa tới 75,28% trên ong A.cerana và 74,30% trên ong A mellifera
Cây sả (Cymbopogon citratus - Stapf.): thuộc họ lúa (Gramineae), là cây sống hoang ds mọc thành bụi Từ lâu nó đs có mặt trong các thang thuốc nam,
có tác dụng chống cảm cúm, chướng bụng, đầy hơi, nôn mửa Tinh dầu sả
được chiết suất từ cây sả có tác dụng xua đuổi và diệt côn trùng
Cây bạc hà (Mentha arvenci-L): trong tổng trọng lượng của cây có chứa 1,3-1,5% tinh dầu Riêng dầu Menthol chiếm tỷ lệ 40-50% ở nồng độ 10-18% chất này có tác dụng làm tê liệt thần kinh cảm giác Có thể được áp dụng
để làm giảm đau ở người và gia súc
Cây kinh giới (Elcholtlia criata- Wild): trong cây có chứa 1,8% tinh dầu Tinh dầu kinh giới chủ yếu là D - Melthol và D - Linmonen, có tác dụng làm rối loạn sự định hướng của Varroa ký sinh trên ong mật
Để hạn chế được hiện tượng kháng thuốc và tăng hiệu quả diệt ký sinh trùng Lê Tử Long (1998) [10] đs phối hợp 2 loại axit Formic và dầu kinh giới (Marjoram) và hiệu lực trừ ve ký sinh trên ong tại Đức và Việt Nam đều đạt tới 99,0 %
Trang 352.5.3 Biện pháp vật lý
Biện pháp vật lý được ứng dụng nhiều đó là dùng nhiệt độ (41- 460c) thổi vào trong đàn ong làm cho Varroa rời khỏi mình ong (Woyke, 1985b)[68] Các nhà khoa học thuộc Liên Xô cũ thử nghiệm giữ ong trong thùng có nhiệt
độ (46 - 480c) trong vòng 10 phút, tiêu diệt được 90 - 95% Varroa bám trên ong trưởng thành Tuy nhiên khi xử lý nhiệt độ sẽ làm ảnh hưởng lớn đến đàn ong Theo Appel và cộng sự (1991) [17] nhiệt độ 450C làm chết ong non và giảm tuổi thọ của ong trưởng thành
Theo Colin và Richard (1998) [24] Varroa rất mẫn cảm với tác dụng của dòng điện Họ đs tiến hành thí nghiệm để ở lỗ tổ đàn ong những bàn chải sắt nhỏ có gắn điện cực 12 von, kết quả cho thấy Varroa bị dòng điện làm rời khỏi cơ thể ong
2.5.4 Biện pháp sinh học
Biện pháp điều trị sinh học được tiến hành nhằm tiêu diệt được các loài
ve ký sinh trên ong nhưng không để lại tồn dư trên sản phẩm ong
Trang 36hưởng đến kế hoạch khai thác mật chỉ nên áp dụng ở những trại ong có quy mô nhỏ và nơi có cây nguồn mật phong phú
Sử dụng cầu ong đực
Nuôi dưỡng những đàn ong mạnh, kích thích cho đàn ong xây cầu ong
đực hoặc cắt 2 góc phía dưới các bánh tổ để đàn ong xây lỗ tổ ong đực, ấu trùng ong đực sẽ thu hút ký sinh chui vào, sau khi ấu trùng ong đực vít nắp thì lấy cầu ong đực ra để tiêu diệt ký sinh (Trần Đức Hà và Phùng Hữu Chính, 1993) [5]
Chọn giống chống bệnh
Theo Hanel (1986) [35] giống ong A mellifera châu Phi và giống ong
A mellifera capensis có sức đề kháng cao với Varroa Hai giống ong này
được sử dụng là nguồn gen tạo ra giống ong lai F1 vừa cho năng suất cao lại
có khả năng chống bệnh do Varroa gây nên
Tại Ai cập đs lai tạo thành công giống ong lai F1 từ hai giống A mellifera châu Phi và A mellifera châu Âu ở nước ta đs thử nghiệm thành công một số cặp lai giữa ong ý Việt Nam với một số chủng ong nhập ngoại cho con lai có năng suất mật cao Bước tiếp theo sẽ tiếp tục nghiên cứu chọn lọc và lai tạo giống ong có năng suất và chất lượng mật cao đồng thời có khả năng chống bệnh do ve ký sinh gây nên
Trang 37Phần III địa điểm, vật liệu, nội dung
3.1.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2005 - 6/2006
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là 2 loài ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên ong ý (A mellifera) nhập nội từ Niudilân
- Các loại thuốc trừ ve hoá học, thuốc thảo dược, axít Formic, axit Oxalic, cồn, Glyxêrin, panh, kéo, bột đường
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và hình thái của 2 loại ve ký sinh V destructor và T clareae
- Điều tra sự xâm nhiễm của 2 loài ve ký sinh V destructor và T clareae trên các đàn ong ý Niudilân nhập nội
- Thử nghiệm một số phương pháp phòng trị V destructor và T clareae trên ong ý Niudilân nhập nội
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Xác định V destructor và T clareae
- Mẫu ký sinh thu từ những đàn ong ý Niudilân và từ đàn ong nội
Trang 38V destructor được xác định theo Andeson và Trueman; T clareae được xác định theo Delfinado và Baker (1961) [29]
- Hình thái được xác định bằng cách đo chiều dài, chiều rộng cơ thể, quan sát các cặp chân, các tấm khiên, đầu giả và vị trí lỗ thở
3.4.2 Khả năng loại bỏ ve ký sinh V destructor và T Clareae của ong thợ ý Niudilân
Thí nghiệm gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại:
Công thức 1: gây nhiễm ve T clareae
Công thức 2: gây nhiễm ve V destructor
Công thức 3: Chỉ dùng dao lam mở nắp nhộng ong đực và ong thợ mà không gây nhiễm ve ký sinh
Thưc hiện theo 3 bước:
Bước 1: cho ong chúa đẻ trong các cầu cách ly (cầu ong đực và ong thợ) Sử dụng tấm nhựa trong đánh dấu và theo dõi các ấu trùng ong đực và ong thợ từ đó xác định được thời gian ấu trùng vít nắp
Bước 2: dùng dao lam mở một lỗ nhỏ nắp vít nhộng ong đực và ong thợ (vít nắp chưa quá 6 giờ), đưa trực tiếp ve ký sinh vào lỗ tổ Đánh dấu các lỗ
Trang 39Dùng panh mở nắp các lỗ nhộng ong thợ sau 9 - 10 ngày và 10 - 12 ngày đối với nhộng ong đực, soi kính núp, đếm số ký sinh (các pha: trứng - ấu trùng, deutonymh, protonymph ) có trong các lỗ nhộng
3.4.4 Điều tra sự xâm nhiễm của Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên ong ý Niudilân
Tiến hành điều tra định kỳ một lần/tháng trên 30 đàn ong Niudilân nhập nội để xác định tỷ lệ nhiễm ve ký sinh V destructor và T clareae
- Tỷ lệ nhiễm ve ký sinh V destructor và T clareae trên ong ý Niudilân:
+ Trên ong trưởng thành: mỗi đàn thu 100 - 300 ong thợ, 50 - 100 ong đực kiểm tra ong nhiễm ký sinh (sử dụng phương pháp của Woyke, 1985 b)
+ Trên nhộng ong: kiểm tra số lỗ nhộng nhiễm ký sinh, 100 - 200 nhộng ong thợ và 50 - 100 nhộng ong đực
Trang 40* Thí nghiệm phòng trị Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên ong ý Niudilân bằng thuốc Apilife Var
- Thí nghiệm 1: Tiến hành trên 18 đàn nhiễm ve ký sinh V Destructor Gồm 6 công thức, mỗi công thức xử lý 3 đàn, lô đối chứng không xử lý Công thức thí nghiệm xử lý thuốc với các 1iều lượng tương ứng: 2,5 g/cầu; 3,5 g/cầu; 4,5 g/cầu; 5,5 g/cầu và 6,5 g/cầu Xử lý 4 đợt mỗi đợt cách nhau 7 ngày
- Thí nghiệm 2 : Tiến hành trên 18 đàn nhiễm ve ký sinh T Clareae Gồm 6 công thức, mỗi công thức xử lý 3 đàn, lô đối chứng không sử lý Công thức thí nghiệm và cách xử lý tương tự thí nghiệm trên ve ký sinh V destructor
* Thí nghiệm so sánh hiệu quả diệt ve ký sinh Varroa destructor và Tropilaelaps clareae trên ong ý Niudilân của các loại thuốc Wang manpu, Apilife Var và các hỗn hợp axít hữu cơ - tinh dầu sả
- Thí nghiệm diệt ve ký sinh V destructor:
Thí nghiệm gồm 5 công thức xử lý thuốc phòng trị ve ký sinh V destructor, mỗi công thức xử lý trên 3 đàn ong nhiễm ve ký sinh V destructor
Công thức 1: Dùng thuốc Wang manpu (0,15 thanh/cầu)
Công thức 2: Dùng thuốc Apilife Var (5,5 g/cầu/1 đợt điều trị,
điều trị 4 lần)
Công thức 3: Dùng Axít Formic nồng độ 30% + tinh dầu Sả với
tỷ lệ: (30 ml Axít + 0,4 gam tinh dầu)/cầu trộn đều, đựng trong khay có lưới ngăn không cho ong tiếp xúc với hoá chất và được đặt ở đáy thùng ong