1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn thanh hóa

125 773 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đối với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn - Thanh Hoá
Tác giả Nguyễn Duy Khái
Người hướng dẫn TS. Vũ Đình Chính
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn duy khái

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác

phù hợp đối với giống mía chín sớm phù hợp đối với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS vũ đình chính

Hà nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Khái

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài, được sự quan tâm tạo

điều kiện giúp đỡ về tinh thần, vật chất và thời gian của Lãnh đạo, cán

bộ nhân viên văn phòng thường trực Hiệp hội mía đường Lam Sơn, Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin chân thành cám ơn khoa Sau đại học, khoa Nông học, đặc biệt là các thầy, cô trong bộ môn cây Công nghiệp đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, sinh hoạt tại bộ môn cây Công nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến TS Vũ Đình Chính người đã định hướng và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện, hoàn thiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, anh em bạn bè

đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Khái

Trang 4

Mục lục

2.2 Những kết quả nghiên cứu về cây mía trong và ngoài nước 25

3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 43

3.2 Thời gian, địa điểm và nội dung nghiên cứu 43

4.1 Đánh giá điều kiện sinh thái vùng Lam sơn - Thanh hoá 484.1.1 Điều kiện thời tiết khí hậu tại Thanh Hoá 484.1.2 Điều kiện đất đai vùng Lam Sơn – Thanh Hoá 52

4.2.1 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, năng suất chất lượng mía 54

Trang 5

4.2.2 ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng, năng suất chất

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

Bx : Chỉ độ Brix CCS : Chỉ độ đường thu hồi

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Một số nước sản xuất đường mía lớn trên thế giới 18Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng mía của công ty cổ phần mía

Bảng 4.1: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm

Bảng 4.2: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian và sức đẻ nhánh

Bảng 4.3: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều

Bảng 4.4: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao

Trang 8

Bảng 4.13: ảnh hưởng của lượng phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều

Bảng 4.14 ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến diễn biến mật độ

Bảng 4.15: ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các yếu tố cấu thành

Bảng 4.16: ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến diễn biến độ đường

Bảng 4.17: Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng mía khi thu hoạch 78Bảng 4.18: ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng tái sinh

Bảng 4.22: ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều

Bảng 4.23: ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều

Bảng 4.24: ảnh hưởng của mật độ trồng đến diễn biến mật độ cây hữu

Bảng 4.25: ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng

Trang 9

Bảng 4.28: ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng tái sinh mía gốc 95

Trang 10

Danh mục các HìNH

Hình 2.2 Năng suất mía ở Việt Nam và các nước trên thế giới 22Hình 2.3 Diện tích, năng suất mía qua các thời kỳ tại vùng mía Lam Sơn 24Hình 4.1 Một số yếu tố khí tượng vùng Lam Sơn - Thanh Hoá (2005) 51Hình 4.2 ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất, chất lượng mía 65Hình 4.3 ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất, chất lượng mía 79Hình 4.4 ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, chất lượng mía 95

Trang 11

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây mía là cây trồng nguồn gốc nhiệt đới, cây công nghiệp hàng năm có tiềm năng và triển vọng để thúc đẩy kinh tế phát triển, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác nguồn tài nguyên đất đặc biệt là đất trống, đồi núi trọc cũng như góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Hiện nay mía đang được xem là cây xoá đói giảm nghèo, cây giúp cho bà con nông dân vươn lên làm giàu Cây mía mang lại giá trị kinh tế cao trên vùng đồi khô hạn, khó có cây trồng khác cạnh tranh thay thế

được

Cây mía được trồng ở nước ta từ lâu đời, nhưng ngành mía đường của chúng ta thì rất lạc hậu và kém phát triển cả về công nghệ chế biến lẫn công tác giống cây trồng, nó mới thực sự phát triển và phát triển mạnh trong khoảng

10 – 15 năm trở lại đây, nhất là từ khi có chương trình Quốc gia về mía đường vào năm 1995

Cùng với sự phát triển của ngành mía đường trong cả nước Vùng mía

đường Lam Sơn cũng được hình thành và không ngừng lớn mạnh Từ chỗ thiếu “đói” nguyên liệu trầm trọng, có nguy cơ tháo dỡ nhà máy chuyển vào các tỉnh phía Nam Đến nay Lam Sơn đang là lá cờ đầu về qui hoạch và phát triển vùng nguyên liệu Diện tích mía luôn duy trì ở mức 16 nghìn đến 17 nghìn ha, năng suất trung bình 55 – 60 tấn/ha, sản lượng đạt từ trên 900 nghìn

đến gần 1 triệu tấn Đủ nguyên liệu cho 2 nhà máy chế biến với công suất gần

7 nghìn tấn mía cây/ngày Tạo công ăn việc làm có thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động là người trồng mía

Trang 12

Có được kết quả trên là do Công ty luôn coi trọng và thường xuyên làm tốt công tác nghiên cứu đổi mới cơ cấu giống mía, bổ sung các giống mới có năng suất chất lượng cao, cũng như nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh mía phù hợp nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Đây được xem là nhiệm vụ trọng tâm có tính chiến lược đối với công tác xây dựng, phát triển vùng nguyên liệu trước mắt cũng như lâu dài

Thực tiễn sản xuất nguyên liệu mấy năm gần đây cho thấy khi nhu cầu

về sản lượng mía tăng cao khoảng 1 triệu tấn mía nguyên liệu/vụ, phát sinh một số vấn đề bức xúc cần được giải quyết:

- Biện pháp duy trì ổn định sản lượng mía trong điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt, hạn hán luôn xảy ra đầu vụ, đất đai không có cơ hội mở rộng, điều kiện trồng trọt ngày càng khó khăn do chi phí sản xuất tăng cao (chủ yếu giá phân bón, xăng dầu, nhân công, dịch vụ tăng)

- Chất lượng mía nguyên liệu không ổn định, đa số diện tích mía chặt, trồng đầu và giữa vụ mía tái sinh, mọc mầm rất kém do hạn và rét Gây nhiều thiệt hại cho ngành chế biến và người trồng mía

Trước thực tế đó Công ty luôn kiên trì theo đuổi các mục tiêu thâm canh tăng năng suất, sản lượng, chất lượng mía bằng việc đầu tư, hổ trợ phân bón, xây dựng các biện pháp trồng trọt phù hợp, du nhập khảo nghiệm các giống mía tốt Qua quá trình chọn lọc nhận thấy một số giống mía có đặc tính chín sớm có thể giải quyết được vấn đề chất lượng mía nguyên liệu đầu vụ cũng như rải vụ thu hoạch Song đây là những giống mía mới cần được nghiên cứu

đầy đủ để đưa ra qui trình trồng trọt hợp lý nhằm phát huy tính ưu việt cũng như hạn chế những yếu điểm của giống, phục vụ sản xuất đạt hiệu quả cao Xuất phát từ điều kiện trên, được sự đồng ý của Bộ môn Cây công nghiệp – Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của Tiến

sĩ Vũ Đình Chính chúng tôi đx tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một

Trang 13

số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đối với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn Thanh Hoá”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xác định được thời vụ trồng, mật độ trồng và lượng phân bón thích hợp cho giống mía chín sớm QĐ93-159 để đạt năng suất, chất lượng cao, góp phần hoàn thiện qui trình trồng trọt phù hợp với các giống mía chín sớm

- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất chất lượng mía

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 14

Hạn chế bớt rủi ro, đảm bảo thu nhập cho người trồng mía trong điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn, thời tiết ngày càng khắc nghiệt

1.4 Giới hạn của đề tài

Đề tài được thực hiện tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn, thuộc khu vực Tây Nam tỉnh Thanh Hoá (tại xx Xuân Hưng – huyện Thọ Xuân) Giống mía tham gia thí nghiệm: Giống QĐ93-159

Thời gian tiến hành thí nghiệm: Trong 2 năm 2005-2006

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Giới thiệu chung về cây mía

2.1.1 Nguồn gốc lịch sử và phát triển của cây mía

Cây mía (Saccharum officinarum L) xuất hiện và được thuần hoá trên trái đất từ xa xưa, khi lục địa Châu á và Châu úc vẫn còn dính liền, cách đây hàng vạn năm ở đảo tân Ghinê, bởi những người làm vườn thời đồ đá mới Từ

đây cây mía được dần dần lan truyền đến các vùng khác nhau trên thế giới trong phạm vi kéo dài từ vĩ tuyến 350 Bắc đến vĩ tuyến 350 Nam Trong tác phẩm “Nguồn gốc cây trồng” Candelle viết “cây mía được trồng đầu tiên ở

Đông Nam á rồi từ đó qua Châu Phi và các châu khác” (R,P Humber 1963) [52] Theo Lê Song Dự (1997)[15] người Việt Nam trồng mía và biết chế biến

đường thủ công từ rất sớm, trước cả Trung Quốc “Đường mía của Việt Nam

đx từng được sử dụng làm cống phẩm cho các triều đình phong kiến phương Bắc từ thời Hán Cao Đế vào năm 206 TCN” Liên quan đến vấn đề này Lý Văn Ny (Đài đường thông tin) đx xác nhận nghề chế biến đường bằng mía cổ xưa ở Trung Quốc được du nhập từ Giao Chỉ (Việt Nam) từ thời Chiến quốc

Đầu tiên được nhập vào nước Sở thuộc địa phận Quảng Đông, Hồ Bắc sau đó

đưa vào Trung Nguyên

Một bằng chứng nữa là hiện nay ở nước ta còn rất nhiều loại mía dại, mía nguyên thuỷ – tổ tiên của cây mía công nghiệp như mía De, mía Quý, mía Bầu (Nguyễn Huy Ước, 1992) [44]

Những dẫn liệu trên cho thấy cây mía xuất hiện và được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời, điều này lý giải một cơ sở khoa học hết sức quan trọng: cây mía đx được thích nghi, phù hợp và phát triển rộng khắp trong điều kiện sinh thái nước ta

Trang 16

2.1.2 Yêu cầu về sinh thái

Cây mía là cây trồng có nguồn gốc ở vùng Nhiệt đới và á nhiệt đới nên cần nóng ấm Được phân bố rộng rxi từ vùng đất thấp duyên hải đến vùng đồi núi, cao nguyên Có giới hạn độ cao 1000 - 1200 m ở vùng xích đạo; 700 m ở vùng chí tuyến

2.1.2.1 Yêu cầu về nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cây mía Mỗi giống mía cần một lượng nhiệt nhất định và mỗi thời kỳ sinh trưởng lại có một yêu cầu riêng về nhiệt độ

Mía thường sinh trưởng đạt đến mức tối đa khi nhiệt độ vào khoảng 30 -

340C Trên 350C mía bắt đầu sinh trưởng chậm và ngừng sinh trưởng khi nhiệt

độ trên 380C Dưới 150C mía đình chỉ sinh trưởng và nhiệt độ thấp dưới 00C kéo dài mía sẽ bị chết Nhìn chung nhiệt độ thích hợp cho cả quá trình sinh trưởng là 24 đến 300C

Từ 160C trở lên mía bắt đầu ra rễ và mọc mầm, tốc độ mọc mầm tăng lên theo độ tăng của nhiệt độ, tốt nhất là trên 200C Dưới 200C mía gần như không đẻ nhánh, mía bắt đầu đẻ nhánh ở nhiệt độ 210C và đẻ nhánh nhanh, nhiều khi nhiệt độ trên 250C Thời kỳ làm lóng vươn cao cây mía đòi hỏi nhiệt

độ cao nhất Nhiệt độ thích hợp nhất cho mía ở thời kỳ này là 25 - 340C Thời

kỳ mía chín yêu cầu nhiệt độ tương đối thấp và biên độ nhiệt giữa ngày và

đêm càng cao càng có lợi cho sự tích luỹ đường Nhiệt độ thích hợp cho thời

kỳ này từ 14 đến 250C

2.1.2.2 Yêu cầu về ánh sáng

Cùng với nhiệt độ, ánh sáng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động sinh lý của cây mía Cây mía rất nhạy cảm với ánh sáng, cần cường

Trang 17

độ ánh sáng mạnh, thời gian chiếu sáng dài, là cây không bxo hoà ánh sáng, sản phẩm quang hợp của mía tiếp tục tăng theo cường độ ánh sáng cho đến khi cường độ ánh sáng mặt trời đạt giá trị cao nhất Trong suốt cuộc đời, cây mía cần khoảng 2000 đến 3000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng có trên 1200 giờ chiếu sáng Cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng toàn diện đến sự tăng trưởng của các bộ phận và các thời kỳ sinh trưởng của mía Cây mía được chiếu sáng đầy đủ sẽ đẻ nhánh sớm, đẻ nhiều, sinh trưởng tốt, ít bệnh tật, cây cao to, lá rộng dài, số cây hữu hiệu tăng, năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại mía thiếu ánh sáng cây mọc vóng, bé cây, tỷ lệ xơ thấp, mía dễ bị đổ, nhiều sâu bệnh, năng suất thấp, chất lượng kém

2.1.2.3 Nước

Mía là cây trồng cạn có năng suất sinh vật học cao, cần nhiều nước, nhưng lại sợ úng thuỷ Nước có tác dụng rất lớn trong tất cả các quá trình sinh trưởng, là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống cây mía Để tạo thành 1kg mía nguyên liệu, mía tiêu hao từ 86 đến 210 lít nước Phổ biến vào khoảng 150 lít nước cho 1 kg mía nguyên liệu (Nguyễn Huy Ước, 2001) [45]

Để đạt năng suất cao, mía cần một lượng mưa hữu hiệu tối thiểu là 1500mm cho cả chu kỳ sinh trưởng Trong thực tế lượng mưa từ 12,5

đến18,5mm trong 24 giờ có thể được coi là lượng mưa hữu hiệu tối thiểu Trong 1 tháng lượng mưa từ 180 đến 250mm là thích hợp với yêu cầu phát triển của cây mía

Thiếu hoặc thừa nước đều có hại cho sự sinh trưởng, tích luỹ đường trong cây mía Lượng nước cần cho cây nhiều hay ít phụ thuộc vào độ ẩm không khí, sức gió, giống, nhiệt độ, kỹ thuật canh tác

Độ ẩm trong đất thích hợp cho cây mía sinh trưởng, phát triển cũng thay

đổi khá nhiều theo từng chu kỳ sinh trưởng của mía Thời kỳ mọc mầm mía

Trang 18

cần khoảng 65% độ ẩm tối đa trong đất Lúc này mía tiêu hao nước chưa đáng

kể, song đòi hỏi độ ẩm trong đất rất khắt khe Độ ẩm trong đất quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến sự nảy mầm Thời kỳ đẻ nhánh mía tiêu hao nước nhiều hơn, nhưng giới hạn độ ẩm trong đất ít nghiêm ngặt hơn thời kỳ mầm

Độ ẩm đất thích hợp nhất ở thời kỳ này là 55 - 70% độ ẩm tối đa trong đất Thời kỳ vươn lóng mía đòi hỏi nước cao nhất, tiêu hao nước nhiều nhất Đây

là thời kỳ khủng hoảng nước của cây mía, nếu thiếu nước sẽ ảnh hưởng rất lớn

đến đến tốc độ vươn cao, đường kính thân, chiều dài lóng cũng như số cây hữu hiệu, vì thế sẽ ảnh hưởng nhiều đến năng suất mía khi thu hoạch Độ ẩm đất tối thích thời kỳ này là 60 - 80% Thời kỳ mía chín yêu cầu về nước giảm xuống, độ ẩm đất thích hợp nhất vào khoảng 50 - 60% độ ẩm tối đa trong đất Thừa nước thời kỳ này rất nguy hiểm vì sẽ làm cho mía chín chậm, hàm lượng

đường thấp, tạp chất nhiều

2.1.2.4 Đất đai

Cây mía thuộc loại cây không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất thấp chua phèn (Tây Nam Bộ), đất xám (Đông Nam Bộ) đến

đất đồi, gò ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Tuy nhiên cần xác định đất

đai là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng, phát triển của cây mía và các loại cây trồng khác Vì thế đất thích hợp với cây mía là loại đất

có độ phì nhiêu cao, kết cấu tốt, xốp thoáng, tầng đất dày, khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt; có độ pH thích hợp cho mía phát triển từ 5,5 - 7,5; đất không bị nhiễm mặn Các loại đất trồng mía năng suất cao, hiệu quả kinh tế tốt hiện nay là: đất phù sa mới ven sông suối; đất có nguồn gốc núi lửa (đất bazan); đất thịt nhẹ, cát pha có tỷ lệ mùn cao

Tuy nhiên trong thực tiễn sản xuất không phải lúc nào cũng tìm được loại đất tối ưu theo yêu cầu, do đó người trồng mía phải dùng các biện pháp kỹ

Trang 19

thuật để khắc phục những hạn chế ở các loại đất khác để mở rộng phạm vi, diện tích trồng mía

2.1.3 Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam và trên thế giới

2.1.3.1 Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới

Thế giới có hơn 70 Quốc gia trồng mía để chế biến đường và sản lượng

đường làm từ mía chiếm trên 60% tổng lượng đường sản xuất Tốc độ sản xuất

và tiêu thụ đường trên thế giới không ngừng tăng lên, nếu niên vụ 1992-1993 sản lượng đường thế giới mới đạt 73,01 triệu tấn thì đến vụ 2002-2003 đạt 148,99 triệu tấn và niên vụ 2003-2004 là 146,5 triệu tấn (tăng 2 lần trong vòng

10 năm) Nhu cầu tiêu thụ đường cũng tăng gấp đôi từ 67,38 triệu tấn năm

1994 lên 142,5 triệu tấn vào năm 2004 và dự kiến mức tiêu thụ đường trên thế giới năm 2006 ước đạt gần 150 triệu tấn Cùng với khu vực Nam Mỹ, châu á

là nơi sản xuất đường lớn, luôn chiếm trên 30% sản lượng đường thế giới

Bảng 2.1 Một số nước sản xuất đường mía lớn trên thế giới

Sản lượng đường (triệu tấn) T

Trang 20

Các nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn trên thế giới có ngành đường tương đối phát triển Qui mô sản xuất lớn, công suất của các nhà máy chế biến cao, đa số trên 8000 tấn mía/ngày; nhiều nhà máy có công suất từ 14.000 - 16.000 tấn mía cây/ngày Có vùng nguyên liệu tập trung, đủ lớn cho nhà máy hoạt động Chi phí mua nguyên liệu và chi phí chế biến đường tương đối thấp,

ví dụ ở Thái Lan chi phí nguyên liệu khoảng 9 - 11 USD/tấn; chi phí chế biến khoảng 86 USD/tấn Trong khi ở Việt Nam chi phí nguyên liệu từ 15 - 25 USD/tấn và chi phí chế biến khoảng 170 USD/tấn Năng suất, độ đường trong mía ở các nước này cũng khá cao, năng suất trung bình đạt trên 70 tấn/ha và tỷ

lệ mía/đường vào khoảng 8 - 9 mía/đường, cá biệt ở úc năng suất mía rất cao khoảng 93 tấn/ha và hàm lượng đường trong thân mía đạt tỷ lệ 7 mía/đường (Bộ NN&PTNT 2006) [8]

Nhìn chung khả năng sản xuất và tiêu thụ đường trên thế giới từ năm

2003 trở lại đây là tương đối cân bằng, thị trường đường ổn định, không còn tình trạng cung vượt cầu quá nhiều như thời kỳ 1998-2002 Thậm chí thời gian gần đây nhu cầu sử dụng đường trên thế giới ngày càng tăng cao, trong khi khả năng cung cấp đường bị hạn chế do một lượng lớn nguyên liệu mía được chuyển sang sản xuất cồn ethanol – một dạng nhiên liệu mới cho ngành giao thông vận tải

2.1.2.2 Tình hình sản xuất mía đường ở Việt Nam

ở nước ta mía là nguồn nguyên liệu duy nhất để chế biến đường Cây mía ở Việt Nam có từ lâu đời, nghề trồng mía và chế biến đường thủ công cũng được xuất hiện từ rất sớm “Thời các chúa Nguyễn đx có đường xuất khẩu

ra nước ngoài, Chúa Nguyễn đx có chính sách khuyến khích, miễn thuế cho những người xuất khẩu đường” (Trần Văn Sỏi, 2003) [33] Tuy nhiên ngành mía đường của chúng ta mới bắt đầu phát triển từ những năm đầu của thế kỷ

XX và phát triển tương đối chậm chạp

Trang 21

Năm 1930 cả nước trồng được 36.000 ha mía, thu được 760.200 tấn mía Năm 1940 trồng được 38.000 ha mía, sản xuất được 820.000 tấn mía Năm 1980 trồng được 109.800 ha mía, sản xuất được 4.358.900 tấn mía Năm 1994 trồng được 166.600 ha mía, sản xuất được gần 6.500.000 tấn mía Sau khi chương trình sản xuất một triệu tấn đường được triển khai vào năm 1995, với nhiều chính sách hổ trợ và đầu tư thoả đáng của Chính Phủ, ngành mía đường đx có bước phát triển nhảy vọt Từ 14 nhà máy đường năm

1994, năm 1997 có 24 nhà máy và đến năm 2002 đx có trên 44 nhà máy với công suất ép từ 500 tấn mía cây đến 8000 tấn mía cây/ngày đi vào hoạt động Diện tích trồng mía không ngừng được tăng lên, trung bình khoảng 15%/năm (từ 166.600 ha năm 1994 lên 342.000 ha vào năm 1999) Năng suất mía bình quân tăng từ dưới 40 tấn/ha năm 1994 lên gần 52 tấn/ha vào năm 1999 Tăng năng suất và diện tích trồng mía tất yếu làm tăng sản lượng mía lên 17,8 triệu tấn vào vụ 1999 - 2000 cao hơn gấp 2 lần vụ 1994 - 1995 Vì thế lượng đường sản xuất cũng tăng lên một cách đột biến Từ hơn 200 nghìn tấn đường năm

1994 đến năm 1997 đạt 520 nghìn tấn và niên vụ 1999 - 2000 cả nước đx đạt trên 1 triệu tấn đường Trong những năm gần đây ngành đường gặp phải một số khó khăn, một số nhà máy qui mô nhỏ bị phá sản, một số diện tích mía được chuyển sang trồng cây khác nên diện tích trồng mía chỉ còn lại ở mức 265 nghìn ha trong vụ 2005 - 2006 và khoảng gần 300 nghìn ha ở vụ 2006 -2007

Trang 22

Mặt khác thời gian qua ngành mía đường phát triển quá “nóng” Nhiều nhà máy xây xong không đáp ứng đủ nguyên liệu chế biến, nhà máy hoạt

động cầm chừng không đảm bảo công suất thiết kế Theo tin từ Bộ NN&PTNT (2005)[7] vụ mía 2004 -2005 cả nước chỉ có 17/38 nhà máy đủ mía để tận dụng tối đa công suất, các nhà máy còn lại đều hoạt động dưới công suất thiết

kế dẫn đến chi phí hoạt động trên một đơn vị sản phẩm tăng cao Chi phí sản

Trang 23

xuất trung bình vụ 2004 - 2005 ở các nhà máy đường Việt Nam khoảng 5.700 VNĐ/kg cao hơn nhiều so với các nước khác, đặc biệt là các nước xuất khẩu

đường hàng đầu như úc, Brazil và Thái Lan Chi phí sản xuất thấp nhất tại úc, khoảng 200 USD/tấn; Brazil 205 USD/tấn; Thái Lan 240 USD/tấn và Trung Quốc khoảng 270 USD/tấn đường

Một trong những lí do làm cho giá thành sản xuất đường ở nước ta cao hơn nhiều nước khác là năng suất, hàm lượng đường trong mía của chúng ta còn thấp hơn nhiều so với các nước sản xuất đường lớn trong khu vực và trên thế giới Theo Điều tra của Trung tâm kinh tế Quốc tế (CIE 2001)[49] năng suất mía của Việt Nam hiện đạt khoảng 50,8 tấn/ha Trong khi Trung Quốc,

ấn Độ và Philippin đạt 73 - 76 tấn/ha; Thái Lan 69,5 tấn/ha; Indonesia 62,9 tấn/ha và đặc biệt ở úc năng suất đạt 93 tấn/ha; Brazil là 85 tấn/ha (hình 2)

0 10

Nước

Hình 2.2 Năng suất mía ở Việt Nam và các nước trên thế giới

Trang 24

Tỷ lệ mía/đường trung bình ở Việt Nam khá cao và thiếu ổn định: vụ

2002 là 9,8 mía/đường; vụ 2005 là 11,3 mía/đường Trong khi Thái Lan vào khoảng: 8 - 9 mía/đường và thấp nhất ở úc chỉ 7 mía/đường

Vụ 2005-2006 tình hình sản xuất của các nhà máy đường sáng sủa hơn

do giá đường trên thế giới tiếp tục tăng và đứng ở mức khá cao, nạn buôn lậu

đường bị hạn chế, trong nước nguồn cung không đủ cầu, đa số các nhà máy sản xuất dù không đáp ứng đủ công suất thiết kế song vẫn có lxi Tuy nhiên nhiều nhà máy do chưa xây dựng được vùng nguyên liệu cho mình, nên vẫn còn tình trạng tranh chấp mua bán nguyên liệu làm cho giá thành sản xuất

đường lên mức rất cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới

2.1.2.3 Tình hình sản xuất mía đường ở Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, trước đây là Nhà máy đường Lam Sơn được khởi công xây dựng vào tháng 3 năm 1981 tại xx Thọ Xương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Sau 5 năm triển khai xây dựng đến cuối năm 1986 nhà máy hoàn thành và đi vào ép vụ mía đầu tiên với sản lượng là 9.636 tấn mía nguyên liệu (chưa đạt 5% công suất thiết kế)

Trải qua bao gian truân lận đận, nhiều lần bàn đến việc tháo dỡ nhà máy chuyển đi nơi khác Song cũng từ khó khăn này, tập thể cán bộ công nhân viên công ty đx biết đoàn kết tìm ra được lối đi cho riêng mình Công ty đx xác

định nguyên liệu là trọng tâm là sự sống còn của nhà máy đường Để nhà máy

đường tồn tại và phát triển trước hết phải có vùng nguyên liệu ổn định, tập trung Bằng nhiều giải pháp về chính sách giá cả hợp lý, các biện pháp kỹ thuật phù hợp Công ty tập trung mọi nguồn lực để xây dựng phát triển vùng nguyên liệu Vì thế vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn dần dần được hình thành và không ngừng lớn mạnh cả về diện tích và sản lượng mía

Trang 25

B¶ng 2.2 DiÖn tÝch, n¨ng suÊt, s¶n l−îng mÝa cña c«ng ty cæ phÇn mÝa ®−êng Lam S¬n qua c¸c thêi kú

thÞ

tr−êng Vô

DiÖn tÝch (ha)

N¨ng suÊt (tÊn/ha)

S¶n l−îng (tÊn)

Trang 26

Đi đôi với việc mở rộng diện tích, năng suất mía cũng không ngừng được cải thiện, từ 22,10 tấn/ha vào năm 1986 đến năm 1990 là 37 tấn/ha và trong vòng 10 năm trở lại đây năng suất luôn giữ ở mức 54 - 55 tấn/ha, cá biệt có năm năng suất đạt trên 60 tấn/ha (1999)

Đễ làm được điều đó trong những năm qua công ty đx đầu tư nhiều cho nghiên cứu khoa học như chọn lọc, cơ cấu lại bộ giống mía hiện có, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác, cải tiến hệ thống trồng trọt, hệ thống làm

đất và bảo vệ độ màu mỡ cho đất các kết quả nghiên cứu tuy chưa được tổng kết một cách bài bản khoa học song có ý nghĩa thực tiễn rất lớn thúc đẩy

sự phát triển của vùng nguyên liệu

2.2 Những kết quả nghiên cứu về cây mía trong và ngoài nước

2.2.1 Vai trò của giống mía và cơ cấu giống mía đối với sản xuất

Trong sản xuất mía, giống giữ vai trò vô cùng quan trọng, là biện pháp hàng đầu trong hệ thống kỹ thuật thâm canh tăng năng suất phẩm chất mía Một giống mía tốt không chỉ cho năng suất nông nghiệp cao, nhiều đường mà còn phù hợp với yêu cầu của sản xuất chế biến cũng như khắc phục được những điều kiện bất thuận của tự nhiên Việc chọn được những giống mía tốt thích hợp với từng vùng, từng loại đất, từng thời vụ, từng giai đoạn phát triển sản xuất có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và kinh tế

Cuộc cách mạng sinh học, trong đó có cách mạng giống cây trồng đx tạo ra sự biến đổi to lớn trong sản xuất nông nghiệp thế giới Đó là khả năng tăng năng suất và phẩm chất cây trồng bằng con đường giống mới, nhằm thoả mxn ngày một tốt hơn nhu cầu vật chất của đời sống con người Đối với cây mía, trong vòng 2 - 3 thập kỷ trở lại đây, nhờ tạo được những giống mía mới

có năng suất cao, giàu đường, chống chịu tốt các điều kiện bất thuận của tự

Trang 27

nhiên mà ngành trồng mía và chế biến đường ở nhiêu nước đx có bước tiến

đáng kể (Nguyễn Huy Ước, 1987) [43]

ở úc nhờ chọn được những giống mía tốt, nên hiệu suất thu hồi đường ở các nhà máy chế biến nước này vào loại cao nhất thế giới, tỷ lệ mía/đường khoảng 7-8 thậm chí chỉ 6 mía thu được 1 đường (Martin,1962) [55]

Ngoài mục tiêu năng suất, chất lượng cao chọn giống còn là biện pháp hữu hiệu chống lại một số bệnh nguy hiểm như bệnh than, bệnh hoa lá

Để khắc phục tình trạng đất xấu, nghèo dinh dưỡng và sự xuất hiện của một số bệnh nguy hiểm các nhà chọn giống đx tìm được một số giống có khả năng chống bệnh, có tỷ lệ đường thu hồi cao (7,2-7,5 mía/đường) và tỷ lệ xơ trung bình 12,5 (Krishnamurthi, M và S.C Prasad,1980) [54]

ở Florida chương trình chọn tạo giống mía, được quan tâm nhiều đến việc tìm những giống kháng bệnh than (Ustilago Scitaminea Sydow), (Glas, B.JD Miller, 1980)[51]

ở Việt Nam trong công tác chọn tạo giống mía, đx có nhiều tác giả quan tâm tới việc chọn giống chịu hạn cho mía miền Đông Nam Bộ, chịu úng phèn ở miền Tây Nam Bộ, chọn giống chịu thâm canh cho các vùng đất tốt có

điều kiện tưới tiêu chủ động (Phan Gia Tân, 1992; Phạm Đức Tráng và CS 1995) [34],[41]

Theo Trần Văn Sỏi, 1980 [29] chọn giống còn có vai trò quan trọng trong việc mở rộng phạm vi, diện tích trồng mía Chọn giống là con đường khả thi và hiệu quả nhất để khắc phục những khó khăn, những hạn chế của tiểu vùng sinh thái mà các biện pháp kỹ thuật khác không làm được Cụ thể vùng cao hạn, không có điều kiện tưới phải tìm giống có khả năng chịu hạn làm tiêu chuẩn hàng đầu; vùng đất thấp, chua phèn phải tìm được giống chịu

được độ ẩm cao, chua phèn; vùng đất xấu trình độ thâm canh kém phải tìm

Trang 28

được giống có khả năng chống chịu và có nhu cầu về nước thấp; vùng đất tốt, trình độ thâm canh cao cần chọn và đưa những giống thâm canh có năng suất cao, chất lượng tốt vào để phát huy hiệu quả sản xuất

Trong thực tế rất khó có thể chọn được một giống mía gọi là lý tưởng thoả mxn các yêu cầu của con người Thông thường một giống mía có ưu điểm này lại mắc phải yếu điểm khác, chẳng hạn giống mía tốt nơi này chưa hẵn đx thích hợp ở nơi khác; giống chịu hạn giỏi chưa chắc đx chịu được ngập úng, chua, mặn Lại có giống chín sớm, chín muộn, giống phù hợp với chế biến cơ giới, thủ công vì thế trong sản xuất bao giờ cũng phải chọn được một bộ giống mía, bố trí thành một cơ cấu giống thích hợp để bổ sung những ưu điểm, hạn chế những yếu điểm Do không có giống tuyệt đối tốt nên phải luôn quan tâm chọn lọc, phục tráng đổi mới bộ giống Vì thế công tác nghiên cứu chọn tạo giống mía là một việc làm quan trọng thường xuyên, mang tính chiến lược lâu dài, liên tục

Hiện nay nước ta có một cơ sở chọn tạo giống mía tại Viện nghiên cứu mía đường Bến Cát, tỉnh Bình Dương Đây là cơ quan duy nhất có thể chọn tạo giống mía bằng phương pháp lai hữu tính Đx có nhiều giống mía mang tên

VN được trồng rộng rxi trong cả nước như VN65-65; VN84-442; VN84-1437; VN85-1427; VN85-527

Việc chọn giống thông qua con đường nhập nội giống cũng rất được quan tâm và có từ lâu Thời kỳ Pháp thuộc chúng ta đx bắt đầu nhập nội một số giống mía từ nước ngoài như các giống CO của ấn độ, các giống POJ của Indonesia có năng suất, tỷ lệ đường cao, thay thế cho các giống mía địa phương hiện có là mía Lau, mía De, mía Quý (Lê Song Dự và CS, 1997) [15] Giai đoạn 1945 - 1975 các giống mía được sử dụng cho các vùng nguyên liệu thời kỳ đầu chủ yếu là giống mía đx có từ trước (POJ28-78; POJ30-16; CO290 ) Sau năm 1958 chúng ta nhập thêm một số giống mía

Trang 29

mới từ ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc CO419; CO300; NCO310; CP4950; CP34-120; F134; F156; F160; F164; F108; VĐ54-143 , các giống thuộc tập

đoàn MY của Cu Ba như MY55-14; MY54-65; MY54-129

đặc biệt trong những năm gần đây chúng ta liên tục nhập nhiều dòng, giống mía có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu cũng như có thời gian chín sớm, muộn khác nhau bổ sung vào cơ cấu giống hiện có như giống ROC1; ROC9; ROC10; ROC16; ROC18; ROC20; ROC22; ROC23 của Đài Loan Tập đoàn giống Việt đường: VĐ63-237; VĐ79-177; VĐ81-3254; VĐ85-177 tập đoàn giống Quế đường: QĐ73-167; QĐ15; QĐ93-159; QĐ94-116; QĐ94-119 của Trung Quốc Các giống R570; R579 của Pháp, các giống mới của ấn độ như CO6907; CO8013; 88A89; 81V48; 83V228 Chính sự góp mặt của các dòng, giống mía này với nhiều ưu điểm vượt trội đx

đóng góp không nhỏ trong việc thúc đẩy ngành mía đường cả nước phát triển 2.2.2 Dinh dưỡng khoáng và kỹ thuật bón phân cho mía

Theo Mohan Naidu và Cộng sự (1987) [57], dinh dưỡng của cây trồng là những nguyên tố cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây Có khoảng 90 nguyên tố tìm thấy trong cơ thể thực vật, trong đó có 16 nguyên tố cần thiết

đối với mía Một nguyên tố được coi là cần thiết khi nó thoả mxn 3 tiêu chuẩn: Thứ nhất việc thiếu nguyên tố đó làm cho cây trồng khó hoàn thành được chu

kỳ sống của mình; thứ hai triệu chứng thiếu nguyên tố dinh dưỡng đó chỉ được khắc phục bằng cách cung cấp chính nguyên tố đó, các nguyên tố dinh dưỡng khác không thay thế được; thứ ba nguyên tố đó phải liên quan trực tiếp tới dinh dưỡng của cây

Giống như các loại cây trồng khác, cây mía cũng yêu cầu các nguyên tố dinh dưỡng với số lượng và tỷ lệ thích hợp cho quá trình sinh trưởng phát triển của mình Tình trạng thiếu các nguyên tố dinh dưỡng là thường xuyên xảy ra trong đất, vì thế việc nghiên cứu, bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết để cây

Trang 30

mía sinh trưởng phát triển đạt năng suất cao, chất lượng tốt luôn là vấn đề cần

được quan tâm chú ý

Một số kết quả nghiên cứu về bón phân cho mía

Vấn đề dinh dưỡng khoáng và kỹ thuật bón phân cho mía đx được rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đi sâu nghiên cứu và đx có nhiều kết quả phong phú Nhưng những kết quả đó chỉ thống nhất với nhau về nguyên

lý, nguyên tắc, phương hướng chung còn đi vào các nội dung cụ thể, chi tiết như định lượng, dạng phân, số lần bón, tỷ lệ bón thì mỗi nơi đều làm theo cách riêng của mình

Theo Mohan Naidu và cộng sự (1987)[56] lượng bón phân N,P,K giới thiệu cho các vùng trồng mía chính ở ấn độ thay đổi theo vùng, đất và giống

ở Maharastra lượng bón N cao nhất (400 - 500 kg N) đủ để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng nhanh của cây mía, đồng thời khai thác và tận dụng tốt các điều kiện khí hậu thuận lợi và khả năng tưới nước ở Bhar với trình độ thâm canh thấp không có tưới, lượng N bón được xem là thấp nhất với 90 kg N Trên đất phù sa ở Uttar Pradesh mức bón 200 kg N: 100 kg P2O5: 150 kg K2O đạt năng suất mía và đường cao nhất Bón 50 kg K2O ở các mức bón N và P khác nhau gây tình trạng thiếu ka li ở vụ gốc tiếp theo Ngược lại trên đất Entisol khô hạn

ít có điều kiện tưới nước bón 120 - 140 kg K2O có tác dụng làm tăng năng suất khá rõ Hiệu lực của ka li được phát huy khi tưới nước, bón tăng đạm và

Trang 31

ở Cu Ba thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của N,P,K bón phối hợp và riêng biệt: (0 - 150 kg N); (0 - 115 kg P2O5); trên đất Feralitic vàng có kết von

đá ong ở Hanvana cho thấy: Không có sự khác biệt về năng suất mía giữa các lượng bón và các kiểu phối hợp N, P, K khác nhau Tuy nhiên năng suất có xu hướng tăng khi tăng lượng bón K (Paneque và CS, 1981)[57]

Trên đất đỏ vàng với tỷ lệ bón 2: 1: 2,5 ở các mức bón N(0 - 175 kg N), P(0 -70 kg P2O5), K(0 - 150 kg K2O) thì lượng bón 75 kg N: 30 kg P2O5: 75 kg

K2O là thích hợp nhất đối với mía tơ và mía gốc1; Mía gốc 2 bón 125 N: 50

P2O5: 125 K2O (Paneque và CS, 1985)[58]

Các công trình nghiên cứu về trung lượng, vi lượng nhìn chung còn ít ở

Cu Ba, Martinez và CS (1986) [54] cho thấy bón bột đá vôi không ảnh hưởng

đến năng suất, chất lượng mía

Theo Saroha và CS (1979)[59] bón S có tác dụng nâng cao năng suất mía, song chỉ cần bón 50 kg S/ha ở dạng Superphosphate là đủ Hàm lượng S trong lá phản ánh khá trung thành tình hình S trong đất

Nghiên cứu của Juang và CS (1975)[52] ở Đài Loan cho thấy bón 25 kg

Cu có thể thu được hiệu quả kinh tế Song hiệu lực không giống nhau khi bón cho các loại đất khác nhau

Các kết quả nghiên cứu ở Vân Nam (Trung Quốc) chỉ rõ khi bón cân

đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng N, P, K, Mg đx làm tăng năng suất có ý nghĩa trên cả 3 vùng trồng mía thuộc tỉnh Vân Nam Năng suất tăng khi lượng phân bón tăng, cả 4 nguyên tố dinh dưỡng đều làm tăng năng suất mía, trong

đó nổi bật là 3 nguyên tố P, K, Mg, khi lượng bón đạm cố định ở mức 350 kg N/ha Nghiên cứu cho thấy, với lượng đạm bón cố định 350 kg N/ha, ka li bị giảm hiệu lực khi lượng bón vượt quá 375 kg K2O Tuy nhiên tại một số điểm thí nghiệm Baoshan và Mile lượng bón ka li ở mức 525 kg K2O vẫn còn làm

Trang 32

tăng năng suất mía Từ đó các tác giả đưa ra khuyến cáo, bón phân cho mía với liều lượng 375 kg N: 203 kg P2O5: 375 kg K2O và 60 kg Mg/ha Đây là mức bón rất cao so với mức bón phân ở nước ta hiện nay (Lê Xuân Đính, 2006) [16]

ở Việt Nam theo Trần Văn Sỏi (1980,1988,2003)[29],[30],[33] lượng phân bón cho mía thay đổi tuỳ theo từng loại đất và mục tiêu năng suất cần

đạt Nhìn chung một vụ mía cần bón 15 - 20 tấn phân hữu cơ; N, P, K bón theo tỷ lệ 2:1:1 hoặc 2:1:1,5 với lượng N làm chuẩn từ (100 - 200 kg N) Phân

đạm có thể bón 1 lần (bón lót khi trồng), bón 2 hoặc 3 lần tuỳ điều kiện khí hậu, đất đai, trình độ canh tác và đảm bảo kết thúc trước thu hoạch 6 tháng Phân lân được tập trung bón 1 lần khi trồng hoặc xử lý gốc Phân ka li có thể bón 1 hoặc 2 lần (giống như bón phân đạm)

Phan Gia Tân (1992)[34] cho biết để đạt năng suất 70 - 80 tấn/ha phải bón 15 - 20 tấn phân chuồng; 80 - 100 kg N Mía gốc phải bón thêm 10 - 20%

N, đất nghèo chất hữu cơ phải bón tăng thêm 10-20% kg N Trường hợp thiếu phân đạm có thể bón phân hữu cơ với lượng lớn (30 - 40 tấn/ha) để thay thế, nhưng năng suất không cao so với bón phối hợp N,P,K

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất mía ở Miền

Đông Nam Bộ (Dương Văn Xây và CS, 1995)[46] nêu qui trình bón phân để

đạt năng suất 60 tấn/ha Bón 20 tấn phân chuồng: 140 kg N: 70 kg P2O5: 140

kg K2O và 2000 kg vôi Kỹ thuật bón: Bón lót toàn bộ lượng phân chuồng, phân lân, 1/3 phân đạm và 1/2 kali; bón thúc lần 1: 1/3 lượng đạm; bón thúc lần 2: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng ka li còn lại Vôi được vxi đều trên mặt ruộng khi bừa đất lần cuối, trước khi trồng khoảng 1 tuần

Tài liệu “Cây mía” (Lê Song Dự và CS, 1997)[15] giới thiệu qui trình bón phân cho mía như sau: Phân chuồng (tấn/ha): 15 - 20 tấn (đối với mía tơ),

Trang 33

10 - 15 tấn (mía gốc); phân đạm 120 - 160 kg N; phân lân 60 - 80 kg P2O5; phân kali 120 - 160 kg K2O Về cách bón: bón lót toàn bộ lượng phân chuồng, phân lân khi trồng hoặc khi xử lý gốc; phân ka li 50% bón lót, 50% bón thúc lóng; phân đạm 1/3 bón lót, 1/3 bón thúc đẻ và 1/3 thúc lóng Mía gốc bón 2 lần 50% khi xử lý gốc và 50% khi mía có lóng

Theo Nguyễn Văn Bộ (2004)[2], mía là cây trồng có nhu cầu rất cao về mặt dinh dưỡng Trung bình với năng suất 80 tấn/ha, cây mía lấy đi từ đất và phân bón 96 kg N, 37 kg P2O5 và 115 kg K2O, đó là chưa kể đến một lượng khá lớn canxi và magiê Thiếu đạm và ka li năng suất giảm tương ứng là 37

và 35%, thiếu lân giảm 21%, thiếu can xi giảm 13%, thiếu magiê giảm 14% với hệ số sử dụng phân bón khoảng 40% thì cần phải bón cho mía lượng phân tối thiểu là: 240 kg N, 95 kg P2O5 và 290 kg K2O

Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài và Nguyễn Văn Tó (2004)[40] cho rằng:

kỹ thuật bón phân cho mía nhằm phải đạt ba mục tiêu: vừa tăng năng suất mía cây, vừa tăng hàm lượng đường, vừa nâng cao độ phì nhiêu của đất để đảm bảo hiệu quả kinh tế cao trước mắt cũng như ổn định lâu dài Thông thường muốn có được 100 tấn mía nguyên liệu, cây mía cần một lượng dinh dưỡng:

đạm sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng, thiếu đạm sẽ ảnh hưởng xấu đến năng

Trang 34

suất, khả năng tái sinh và chất lượng mầm của vụ mía gốc tiếp theo

Về phân vi lượng, kết quả nghiên cứu của Phạm Đức Tráng và CS (1995)[41] ở miền Đông Nam Bộ cho thấy trên loại đất xám chua, nghèo mùn, nghèo dinh dưỡng, sau khi phá rừng trồng mía 3 ; 6; 9 năm, hàm lượng các nguyên tố đa lượng biến động không nhiều, một số tính chất đất được cải thiện như độ pH, hàm lượng mùn, cation trao đổi Riêng hàm lượng các nguyên tố

vi lượng là thay đổi lớn và có xu hướng giảm dần theo thời gian Việc giảm các nguyên tố vi lượng trong đất dẫn đến làm giảm năng suất mía

Về phân bón cho mía thì phân hữu cơ chiếm vị trí quan trọng hàng đầu Phân hữu cơ ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho cây sử dụng còn tạo điều kiện xốp thoáng ở khu vực rễ mía, đáp ứng tốt chế độ không khí cho mía, giữ

ẩm, tăng lượng mùn trong đất làm cho đất có cấu tượng tốt Trong phân hữu cơ có đầy đủ các chất dinh dưỡng đạm, lân, ka li và các nguyên tố trung, vi lượng cần thiết cho cây mía Bón đầy đủ phân hữu cơ là biện pháp tối ưu để bảo

vệ và bồi dưỡng độ phì nhiêu cho đất, cũng như dễ thực hiện cân đối N,P,K bảo

đảm sự cung ứng đều đặn các chất dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, giúp cho cây sinh trưởng tốt, ổn định, năng suất cao, chất lượng tốt Tuy phân hữu cơ có hiệu lực, hiệu quả cao song để cung cấp được một lượng lớn phân hữu cơ cho vùng mía tập trung là rất khó (gần như không thể), vì thế phân khoáng vẫn giữ vai trò quyết định trong chế độ dinh dưỡng của cây mía

Đánh giá về phân hữu cơ, nhìn chung các tác giả đều nhấn mạnh việc cần thiết phải bón phân hữu cơ cho mía Tuy nhiên để bón được một lượng lớn phân hữu cơ cho mía là cực kỳ khó khăn Vì thế từ lâu người ta đx chú ý đến việc sử dụng các phụ phẩm của công nghệ đường như bùn lọc, tro, tuỷ bx để bón cho mía và đặc biệt ngọn lá mía sau thu hoạch được rất nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm Theo Saroha, 1979 [61] vùi 2,5 – 7,5 tấn/ha ngọn lá mía, kết hợp với bón phân vi sinh vật phân giải xellulo có tác

Trang 35

dụng làm tăng năng suất mía từ 3 - 12,2 tấn/ha, đồng thời làm tăng khả năng hút dinh dưỡng của mía, tăng khả năng giữ nước của đất, hạn chế cỏ dại và nâng cao độ phì nhiêu đất

Theo Abrigo, C.S 1989 [48] ở Philippin người ta sử dụng ngọn lá mía để chế biến phân hữu cơ bón cho mía, bằng cách dùng khoảng 12 tấn ngọn lá mía, cắt nhỏ thành từng đoạn 7 - 10 cm, bổ sung thêm 10 kg urê để điều chỉnh

tỷ lệ C/N giảm xuống gần 30, cho thêm khoảng 2800 lít nước để đưa độ ẩm lên 50 - 60% Nhiệt độ trong đống ủ được giữ không vượt quá 700C Khi kiểm tra thấy tỷ lệ C/N giảm xuống khoảng 10 - 15, quá trình ủ coi như kết thúc Sử dụng khoảng 2,5 tấn/ha loại phân này bón vào đất có tác dụng làm tăng năng suất, chất lượng mía

Các công trình nghiên cứu về phân bón và kỹ thuật bón phân ở Công ty

cổ phần mía đường Lam Sơn từ năm 1992 trở lại đây cho thấy trên chân đất phù sa cổ với giống mía thí nghiệm là (F156, VĐ63-237, QĐ93-159) tỷ lệ bón

N : P2O5 : K2O phù hợp cho năng suất, chất lượng cao là: 2:1:2 hoặc 2:1:2,2 và

được chia làm 2 lần bón chủ yếu bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và 50% lượng phân đạm, phân ka li Số phân còn lại được bón vào thời kỳ mía bắt đầu làm lóng, bón phân kết hợp với vun gốc cho mía Lượng phân bón tối thiểu để đạt năng suất 80 tấn/ha ở đất đồi trung bình không chủ động nước tưới và 100 tấn/ha ở đất ruộng, bxi có tưới là: 200 kg N : 100 kg P2O5 : 200 kg

K2O trên nền 10 tấn phân chuồng với các giống mía thâm canh hiện nay như ROC10; ROC16; ROC22; ROC23; QĐ15; VĐ81-3254 Với mía đại trà người sản xuất vẫn dừng ở mức bón 150 kg N: 75 kg P2O5 : 150 kg K2O

Hiện tại vùng nguyên liệu mía đường Lam Sơn chỉ có khoảng 5% đất

được luân canh hàng năm; 15% đất được xen canh với cây bộ đậu, vì thế ở những ruộng được bón đầy đủ phân hữu cơ mía sinh trưởng rất tốt cho năng suất cao Bón phân hữu cơ được xem là một chỉ tiêu bắt buộc trong qui trình

Trang 36

thâm canh mía của Hiệp hội mía đường Lam Sơn

2.2.3 Mật độ trồng và khoảng cách trồng

Cũng như các loại cây trồng khác, mật độ cây hữu hiệu là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất cấu thành năng suất mía Xác định mật độ cây hữu hiệu tối ưu lúc thu hoạch và có biện pháp điều khiển để đạt mật độ đó là một vấn đề vô cùng quan trọng có ý nghĩa thực tiễn lớn Mật độ cây tối ưu biến động tuỳ thuộc vào từng giống mía, độ phì nhiêu đất đai, cường độ bức xạ và các điều kiện kinh tế, kỹ thuật khác Theo Trần Văn Sỏi,1995 [32], mật

độ cây trung bình qua các thời kỳ tốt nhất như sau:

- Mật độ cây hữu hiệu khi thu hoạch:

+ Giống to cây: 6 - 8 cây/m2 (thường 6 - 7 cây/m2)

+ Giống nhỏ cây: 8 - 10 cây/m2 (thường 7 - 9 cây/m2)

Để có mật độ thích hợp cần quan tâm đến nhiều yếu tố như: Giống, chất lượng hom trồng, thời vụ, đất đai, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc

Một yếu tố cũng có ảnh hưởng đáng kể đến mật độ cây mía là khoảng cách hàng Trong thực tế sản xuất, khoảng cách giữa các hàng mía ở nước ta

và các nước trên thế giới biến động vô cùng lớn từ 0,6 - 1,6 m Mỗi khoảng cách hàng trồng đều có những ưu, khuyết điểm nhất định Vì thế người trồng mía cần linh hoạt vận dụng sao cho phù hợp với điều kiện từng nơi, từng lúc,

Trang 37

từng hoàn cảnh cụ thể để đạt năng suất, hiệu quả cao nhất

Khoảng cách hàng hẹp có ưu điểm là mía trồng dày mật độ đảm bảo từ

đầu, mía chóng giao tán, vươn cao sớm, hạn chế được cỏ dại, chống xói mòn tốt khoảng cách này được áp dụng đối với nơi đất xấu, thời tiết khô hạn, người trồng mía có trình độ thâm canh thấp, phân bón ít, mía nhỏ cây

Khoảng cách hàng rộng rất thuận lợi cho việc cơ giới hoá các khâu trồng, chăm sóc trừ cỏ, bón phân, vun gốc thường áp dụng cho những nơi đất tốt, chủ động tưới tiêu, trình độ cơ giới hoá cao, phân bón nhiều, giống tốt, người dân có điều kiện và trình độ kỹ thuật cao

Đài Loan là nước có ngành sản xuất mía đường vào loại hiện đại nhất thế giới với trình độ thâm canh và cơ giới hoá cao, khoảng cách hàng được tuỳ thuộc vào thời vụ trồng, biến động từ 1,37 - 1,40 m ở vụ Đông xuân và 1,4 - 1,5 m trong vụ Thu

ở Nước ta khoảng cách hàng phổ biến từ 0,8 - 1,4 m Hàng rộng áp dụng cho những nơi có điều kiện cơ giới hoá và trình độ thâm canh cao Hàng hẹp áp dụng ở nơi đất xấu, có độ dốc lớn và làm đất thủ công

Cùng với khoảng cách hàng trồng lượng hom và chất lượng hom giống cũng là một yếu tố quan trọng để đảm bảo mật độ cây Lượng hom trồng cho một ha thay đổi rất nhiều tuỳ theo mục tiêu, điều kiện, thời vụ và trình độ canh tác ở mỗi nơi Trong thực tiễn sản xuất và nhân giống, lượng hom trồng

có thể từ 2,5 đến 12 tấn/ha; phổ biến ở mức 4 - 5 tấn/ha Cụ thể trong điều kiện đất tốt, đủ ẩm, hom giống tốt, thời tiết thích hợp người ta chỉ trồng 4 - 5 tấn, thậm chí dưới 3 tấn/ha, khi thu hoạch mía vẫn đủ số cây cần thiết Ngược lại, khi trồng bằng ngọn giống tận thu từ ruộng mía nguyên liệu, trên chân đất không có tưới, thời vụ trồng không phù hợp (rét, khô hanh ), lượng giống trồng sẽ tốn rất nhiều Mặt khác quan niệm của người dân một số địa phương

Trang 38

cho rằng “tỉa cây còn hơn dặm mầm”, vì thế lúc trồng người ta sử dụng lượng hom giống nhiều để đảm bảo mật độ mầm ngay từ đầu

Trong điều kiện thâm canh cao như Đài Loan giống hầu hết được lấy từ ruộng nhân giống 6-8 tháng tuổi và sử dụng bằng hom 2 mầm với lượng giống trồng nhiều ít theo từng vụ

- Vụ Đông xuân: 27 - 28 nghìn hom

- Vụ Thu là 30 - 31 nghìn hom

Cu Ba là nước có ngành sản xuất đường phát triển, song trình độ sản xuất thâm canh mía rất đơn giản, mía trồng dày, lượng hom giống được sử dụng nhiều Hom mía được rải thành hàng hai, hàng ba sau đó dùng dao chặt ngay trên ruộng và lấp đất

ở Việt Nam, vùng Đồng bằng, Trung Du Bắc Bộ khoảng cách hàng trồng thường 1,2 m; vùng Quảng Ngxi và Miền Trung trồng dày hơn từ 1,0 - 1,1 m Nam Bộ trồng với khoảng cách 0,8 - 1 m Do vậy lượng hom trồng thay

đổi nhiều từ 15.000- 60.000 hom/ha, hom trồng chủ yếu được tận dụng từ ngọn của ruộng mía nguyên liệu sau thu hoạch có 3 – 4 mầm/hom

Theo Nguyễn Huy Ước (2001)[45] người ta có thể trồng một hàng hom nối đuôi nhau, hai hàng hom từng đôi một hoặc hai hàng hom kiểu xếp nanh sấu tuỳ theo khoảng cách hàng mà lượng hom trồng có thể là:

Khoảng cách hàng mía trên 1,4 m cần 28 - 30 nghìn hom

Khoảng cách hàng mía 1,3 - 1,4 m cần 30 - 32 nghìn hom

Khoảng cách hàng mía 1,0 - 1,2 m cần 34 - 36 nghìn hom

Khoảng cách hàng mía dưới 1,0 m cần 38 - 40 nghìn hom

Thông thường người ta trồng khoảng 30 nghìn hom/ha

Các kết quả nghiên cứu và khảo nghiệm tại vùng nguyên liệu mía

Trang 39

đường Lam Sơn cho thấy trong điều kiện thời tiết rét, khô hạn lượng hom giống trồng tương đối nhiều khoảng 40 nghìn hom/ha (hom có chiều dài 3 - 5 mầm), ngược lại trong điều kiện thời tiết thuận lợi ấm, đất đủ ẩm lượng hom trồng khoảng 30 đến 40 nghìn hom (2 mầm)/ha, thậm chí có nơi trồng thưa hơn khoảng 20 - 30 nghìn hom (2 mầm)/ha

Theo kinh nghiệm trồng mía lâu năm của công nhân Nông trường Sao Vàng (Thanh Hoá), trên đất đồi người ta sử dụng lượng ngọn giống trồng rất nhiều (10 - 12 tấn/ha), ngọn mía được rải dày theo rảnh không cần bóc bẹ, dùng dao chặt những ngọn cong ngay trên ruộng và dùng bò cày lấp

Trong một chừng mực nhất định có thể nhận thấy mật độ trồng và khoảng cách hàng trồng không phải là hai yếu tố chính quyết định đến mật độ cây hữu hiệu khi thu hoạch, bởi cây mía là cây đẻ nhánh có khả năng tự điều chỉnh mật độ rất cao Tuy nhiên nó lại rất có ý nghĩa khi được gắn vào một thời vụ cụ thể nào đó và được dùng như một giải pháp để kéo dài hoặc rút ngắn một số giai đoạn sinh trưởng nào đó của cây trồng nhằm đạt mục tiêu mà con người đề ra

2.2.4 Vấn đề thời vụ trồng mía

Thời vụ trồng mía là một biện pháp rất quan trọng trong hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất cây trồng nói chung cây mía nói riêng Đến nay loài người chưa đủ sức cải tạo điều kiện thời tiết khí hậu trên qui mô lớn, mà chỉ mới có thể vận dụng khéo léo, hợp lý điều kiện tự nhiên để mang lại lợi ích cao nhất cho mình Nghiên cứu bố trí thời vụ hợp lý chính là thực hiện phương châm đó Đây là biện pháp rẻ tiền, đơn giản nhưng mang lại

có hiệu quả kinh tế cao Muốn xác định thời vụ trồng mía thích hợp cho mỗi vùng phải căn cứ vào các nguyên tắc sau (Hoàng Văn Đức, 1982; Trần Đức Hạnh và CS, 1997)[17],[19]:

Trang 40

Tận dụng tốt điều kiện tự nhiên đễ có được năng suất cao, chất lượng tốt Thoả mxn được các yêu cầu của các nhà máy đường, kéo dài được thời gian chế biến và duy trì tương đối ổn định hàm lượng đường trong vụ thu hoạch

Sử dụng hợp lý sức lao động và các thiết bị phục vụ nông nghiệp hiện có, cân đối được lao động trong cả năm, giảm bớt tình trạng lúc quá thừa hoặc quá thiếu lao động

Hạn chế được tác hại của thiên tai, sâu bệnh hại Khắc phục được một số nhược điểm của giống như ra hoa sớm, thời gian lưu giữ đường trong thân ngắn

Tạo điều kiện để luân canh, xen canh, gối vụ quay vòng, nâng cao hệ số

sử dụng đất nông nghiệp

Tuy nhiên để bố trí thời vụ một cách có hiệu quả một vấn đề quan trọng không thể bỏ qua đó là đặc tính của giống (tính thích ứng, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh cũng như đặc tính chín sớm, muộn của giống )

ở nước ta cây mía có thể sống và sinh trưởng quanh năm, tuỳ từng vùng, từng miền với đặc điểm thời tiết, khí hậu và địa hình cụ thể mà có thời

vụ trồng mía khác nhau cho phù hợp Hiện tại người ta trồng mía theo một số thời vụ sau

Vụ Thu đông: Tính từ cuối tháng 9 đến tháng 12 dương lịch Trồng mía thời vụ này, lúc trồng trời ấm, độ ẩm đất cao rất thuận lợi cho mía mọc mầm,

đẻ nhánh vì thế số cây ban đầu nhiều Mặt khác mía trồng thời vụ này có thời gian sinh trưởng và vươn lóng dài Thời kỳ mía làm lóng, vươn cao trùng hợp hoàn toàn với các tháng có lượng mưa đầy đủ, nhiệt độ cao, số giờ chiếu sáng nhiều, cường độ ánh sáng mạnh nên mía đạt năng suất, chất lượng rất cao

Tuy nhiên trồng mía thời vụ này cũng gặp không ít khó khăn do thiếu

đất (chủ yếu trồng trên đất luân canh, chuyển vụ), thiếu giống (mía chưa hoặc

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000), Báo cáo về thực hiện 5 năm ch−ơng trình mía đ−ờng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về thực hiện 5 năm ch−ơng trình mía đ−ờng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
9. Lê văn Căn, Đỗ áng, Võ Minh Kha, Hà Huy Khuê, Hoàng Đăng Kỳ, Phạm Đình Quắc (1977), Nông Hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông Hoá
Tác giả: Lê văn Căn, Đỗ áng, Võ Minh Kha, Hà Huy Khuê, Hoàng Đăng Kỳ, Phạm Đình Quắc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1977
22. Hiệp hội mía đ−ờng Việt Nam (2004, 2005, 2006), Tin mía đ−ờng, Số 2/2004 đến số 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin mía đ−ờng
Tác giả: Hiệp hội mía đ−ờng Việt Nam
Năm: 2004, 2005, 2006
31. Trần Văn Sỏi (1988), "Công tác nghiên cứu về mía: kết quả, kinh nghiệm và các vấn đề tồn tại cần lưu ý", Tuyển tập công trình nghiên cứu cây công nghiệp và cây ăn quả 1968 - 1988, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác nghiên cứu về mía: kết quả, kinh nghiệm và các vấn đề tồn tại cần lưu ý
Tác giả: Trần Văn Sỏi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1988
40. Phạm Đức Tráng, Nguyễn Xuân Độ, Nguyễn Văn Nam (1995), "Một số kết quả bón phân vi l−ợng cho mía trên đất xám Miền Đông Nam Bộ", Tạp chí Nông Công nghiệp Thực phẩm số 11/1995, Tr 412 - 414 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bón phân vi l−ợng cho mía trên đất xám Miền Đông Nam Bộ
Tác giả: Phạm Đức Tráng, Nguyễn Xuân Độ, Nguyễn Văn Nam
Năm: 1995
42. Nguyễn Huy Ước (1987), Giống mía, NXB tổng hợp Sông Bé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống mía
Tác giả: Nguyễn Huy Ước
Nhà XB: NXB tổng hợp Sông Bé
Năm: 1987
45. D−ơng Văn Xây, Đỗ quang Yên, Ngô Văn Tấn, Trần Văn Lợi (1995), "Kết quả nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật tăng năng suất mía đạt 60 tấn/ha ở Miền Đông Nam Bộ", Tạp chí Nông Công nghiệp Thực phẩm số 11/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu các yếu tố kỹ thuật tăng năng suất mía đạt 60 tấn/ha ở Miền Đông Nam Bộ
Tác giả: D−ơng Văn Xây, Đỗ quang Yên, Ngô Văn Tấn, Trần Văn Lợi
Năm: 1995
49. Chowdhury, M.K.A. and Rahman (1990), "Potash requiremen of sugarcane in gangetic river flood plain soils of Bangladesh", Journal of the Indian Society of soil science (Indian), v.38 (4) pp. 688-691. Dec. 10 refs Sách, tạp chí
Tiêu đề: Potash requiremen of sugarcane in gangetic river flood plain soils of Bangladesh
Tác giả: Chowdhury, M.K.A. and Rahman
Năm: 1990
52. Juang, T.C. and Chang, C.H (1975), Response of zine application on field and nutrient uptake of Sugar cane, soil and fertilizer in Taiwan sugar cane, Institute Sách, tạp chí
Tiêu đề: Response of zine application on field and nutrient uptake of Sugar cane
Tác giả: Juang, T.C., Chang, C.H
Nhà XB: Institute
Năm: 1975
1. Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn thế Côn, Lê Song Dự, Đoàn Thị Thanh Nhàn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
2. Nguyễn Văn Bộ (2004), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997), Báo cáo hội nghị kiểm định chương trình mía đường toàn quốc, Tháng 9/1997 Khác
4. Bộ NN&PTNT, Tổng công ty mía đ−ờng I, Công ty đ−ờng Lam Sơn (1998), Báo cáo kết quả nghiên cứu các giống mía ROC1, ROC10, VĐ81- 3254, trồng tại vùng đồi Lam Sơn – Thanh Hoá Khác
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Báo cáo tổng kết mía đ−ờng 2003-2004, Hà Nội Khác
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Báo cáo ngành đ−ờng giai đoạn 2001-2005 và định hướng giai đoạn 2005-2010, Hà Nội Khác
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Xây dựng lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành đ−ờng Việt Nam, Hà Nội Khác
10. Công ty đ−ờng Lam Sơn (1997), Kết quả nghiên cứu về số lần bón, thời kỳ bón và tỷ lệ bón phân có hiệu quả cho mía vùng đồi Lam Sơn, Thanh Hoá Khác
11. Công ty đ−ờng Lam Sơn (1998), Các kết quả nghiên cứu, khảo nghiệm về nhóm giống mía mới: Đài Loan - Trung Quốc giai đoạn 1992-1998, Thanh Hoá Khác
12. Công ty cổ phần mía đ−ờng Lam Sơn (2005), Tuyển tập 25 năm xây dựng và phát triển 1981 - 2005, Thanh Hoá Khác
13. Cục khuyến nông và khuyến lâm (1996), Sâu bệnh và cỏ dại hại mía. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Một số n−ớc sản xuất đ−ờng mía lớn trên thế giới   Sản l−ợng đ−ờng (triệu tấn) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 2.1. Một số n−ớc sản xuất đ−ờng mía lớn trên thế giới Sản l−ợng đ−ờng (triệu tấn) (Trang 19)
Hình 2.1. Diện tích, sản l−ợng mía 1994-2005 - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Hình 2.1. Diện tích, sản l−ợng mía 1994-2005 (Trang 22)
Hình 2.2. Năng suất mía ở Việt Nam và các n−ớc trên thế giới - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Hình 2.2. Năng suất mía ở Việt Nam và các n−ớc trên thế giới (Trang 23)
Hình 2.3. Diện tích, năng suất mía qua các thời kỳ tại vùng mía Lam Sơn - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Hình 2.3. Diện tích, năng suất mía qua các thời kỳ tại vùng mía Lam Sơn (Trang 25)
Hình 4.1. Một số yếu tố khí t−ợng vùng Lam Sơn - Thanh Hoá (2005) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Hình 4.1. Một số yếu tố khí t−ợng vùng Lam Sơn - Thanh Hoá (2005) (Trang 52)
Bảng 4.3: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều  cao của cây mía qua các tháng (cm) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.3 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao của cây mía qua các tháng (cm) (Trang 59)
Bảng 4.4: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao  cây qua các tháng (cm/tháng) - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.4 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các tháng (cm/tháng) (Trang 60)
Bảng 4.6: ảnh h−ởng của thời vụ - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.6 ảnh h−ởng của thời vụ (Trang 62)
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu đánh giá chất l−ợng mía khi thu hoạch - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu đánh giá chất l−ợng mía khi thu hoạch (Trang 65)
Hình 4.2. ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất, chất lượng mía  Kết quả nghiên cứu bảng 4.8 khẳng định với giống mía chín sớm (giống  có tỷ lệ đ−ờng đầu vụ cao), thời gian sinh tr−ởng của mía có vai trò quan trọng  trong quá trình tích luỹ đ−ờng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Hình 4.2. ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất, chất lượng mía Kết quả nghiên cứu bảng 4.8 khẳng định với giống mía chín sớm (giống có tỷ lệ đ−ờng đầu vụ cao), thời gian sinh tr−ởng của mía có vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ đ−ờng (Trang 66)
Bảng 4.9: ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng tái sinh mía gốc  Công thức  Sè c©y khi thu - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.9 ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng tái sinh mía gốc Công thức Sè c©y khi thu (Trang 67)
Bảng 4.10: ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian   và tỷ lệ mọc mầm của mía - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.10 ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm của mía (Trang 69)
Bảng 4.11: ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian   và sức đẻ nhánh của mía - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.11 ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian và sức đẻ nhánh của mía (Trang 70)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái tăng trưởng  chiều cao cây qua các tháng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.12 ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao cây qua các tháng (Trang 72)
Bảng 4.13: ảnh h−ởng của l−ợng phân bón   đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các tháng - Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với giống mía chín sớm tại vùng nguyên liệu mía đường lam sơn  thanh hóa
Bảng 4.13 ảnh h−ởng của l−ợng phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây qua các tháng (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w