1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang

111 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Hệ Thống Trồng Trọt Tại Huyện Hiệp Hòa Tỉnh Bắc Giang
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 đặt vấn đề

Để theo kịp nhịp độ phát triển chung của các nước trong khu vực và trên toàn thế giới, cũng như tạo bước tiến cao hơn trên con đường xây dựng và phát triển đất nước, trong thời kỳ quá độ hiện nay Việt Nam phải bằng mọi cách thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, không có con đường nào khác là thúc đẩy sự phát triển công nghiệp, nông nghiệp của đất nước Nông nghiệp là cơ sở phát triển công nghiệp, khoa học kỹ thuật nông nghiệp phải được khai thác triệt để khả năng tiềm tàng của nền nông nghiệp nhiệt

đới, thâm canh tăng năng suất và tăng vụ cây trồng, trong đó khả năng mở rộng diện tích còn lại rất ít, lại cần đầu tư vốn lớn và đồng bộ Do vậy thâm canh tăng vụ đi đôi với việc bố trí lại hệ thống cây trồng nhằm khai thác hợp

lý và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi tự nhiên rất được coi trọng đang

đem lại hiệu quả khả quan

Hoàn thiện hệ thống trồng trọt (HTTT) trên các vùng sinh thái là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp toàn diện và bền vững Xác định hệ thống cây trồng (HTCT) hợp lý đảm bảo có hiệu quả về kinh tế xã hội, môi trường cho vùng là một biện pháp tổng hợp và quan trọng Trong những năm gần đây trên khắp mọi miền sinh thái của đất nước chúng ta đã triển khai nghiên cứu hệ thồng trồng trọt, đặc biệt là những vùng đất bạc màu trung du miền núi

Hiệp Hoà là một huyện miền núi cách thị xã Bắc Giang 30 km về phía Tây, mang đặc trưng của vùng trung du có dạng địa hình đồi núi xen bãi, địa hình không bằng phẳng có diện tích đất tự nhiên là 20.108 ha

- Phía đông và đông bắc giáp hai huyện Việt Yên và Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

Trang 2

- Phía tây giáp huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội

- Phía tây nam giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

- Sông Cầu đồng thời là ranh giới của huyện với Thái Nguyên, Hà Nội và Bắc Ninh với chiều dài 52 km, thuận lợi cho giao thông đường thuỷ Quốc lộ

37 là con đường nối liền quốc lộ 1 với quốc lộ 3 đều đi qua trung tâm huyện cho nên huyện Hiệp Hoà có điều kiện giao thông khá thuận lợi, là một huyện trung du địa hình khá phức tạp, được chia làm 3 vùng rõ rệt

- Vùng 1: là vùng cao gồm 11 xã miền núi có điều kiện phát triển nông nghiệp miền núi, chăn nuôi và cây ăn quả

- Vùng 2: gồm 8 xã tiếp giáp giữa các xã vùng cao là vùng thấp có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày

- Vùng 3: gồm 7 xã vùng thấp nằm giáp đê tả sông Cầu, thường bị ngập úng về mùa mưa, rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản

Vị trí địa lí: huyện nằm ở phía tây của tỉnh giáp giới với các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội và Thái Nguyên do đó có điều kiện giao lưu, lưu thông hàng hóa tốt, địa hình đất đai có cả ba vùng vùng đất cao, đất bằng, đất thấp, nên có thể

bố trí nhiều loại cây trồng hợp lý, tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn

- Đối với vùng đồi núi chủ yếu là đồi núi trọc, đất bị đá ong hoá nhiều cho nên việc canh tác còn gặp nhiều khó khăn

Diện tích đất bằng chủ yếu là bạc màu dinh dưỡng kém Một số diện tích

đất thấp thường bị ngập nước vào mùa mưa, trong khi đó nguồn thu nhập nông nghiệp chiếm 92% trong tổng thu nhập, hơn nữa đất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt trong đó sản xuất lương thực chiếm 65%

Hiện nay trình độ sản xuất thâm canh của huyện còn hạn chế, năng suất

Trang 3

cây trồng không cao, đời sống kinh tế vật chất cũng như thu nhập bình quân của một nhân khẩu trong năm hiện nay còn rất thấp

Việc xây dựng một HTTT hoàn thiện ổn định, có năng suất hiệu quả kinh

tế cao phù hợp tiểu vùng sinh thái của địa phương nhằm phát huy tiềm năng vốn có của vùng về lao động và đất đai, nâng cao dân trí và phát triển xã hội tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường cao hơn HTCT cũ đây là

điều trăn trở đối với lãnh đạo và người dân của huyện

Để thấy được những loại cây trồng nào Hiệp Hoà có ưu thế hơn các vùng khác của tỉnh Bắc Giang và ngược lại những cây trồng nào chưa thích hợp với vùng sinh thái từ đó có thể phát huy thế mạnh, khắc phục những hạn chế trên cơ

sở nghiên cứu cơ cấu cây trồng và những nghiên cứu khác của ngành trồng trọt,

để tìm ra được cơ cấu cây trồng mới hợp lý nhất, những biện pháp kỹ thuật tốt nhất cho hiệu quả kinh tế cao nhất phù hợp với sự phát triển của xã hội

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển kinh tế một huyện nghèo như Hiệp Hoà dựa chính vào sản xuất nông nghiệp Để trả lời được câu hỏi này phải thấy được lợi thế của huyện là gì? hạn chế là gì và làm thế nào để đẩy mạnh sản xuất phát triển trước hết là ngành trồng trọt từ đó tạo điều kiện thúc

đẩy cả nền kinh tế đi theo

Để giải đáp được câu hỏi này chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang’’

1.2 Mục đích của đề tài

Từng bước hoàn thiện hệ thống trồng trọt với năng suất và hiệu quả kinh

tế cao, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển để từng bước nâng cao đời sống nhân dân

Trang 4

1.3 Yêu cầu của đề tài

* Đánh giá các mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có tác động trực đến hiệu quả sinh thái của hệ thống trồng trọt tại huyện

* Khảo sát thực trạng HTTT cũ thông qua số liệu thứ cấp, thông qua phỏng vấn có sự tham gia của người dân

* Xác định hệ thống trồng trọt phù hợp với loại đất của vùng có hiệu quả kinh tế cao, nghiên cứu đề xuất mô hình HTTT có khả năng cho hiệu quả ổn

định gắn với thị trường tiêu thụ

1.4 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt của huyện Hiệp Hoà trong mối quan hệ biện chứng với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và các tiến bộ kỹ thuật nhằm thu

được hiệu quả kinh tế cao nhất trên cơ sở phát triển nền nông nghiệp bền vững

*Về lý luận: đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ thêm mối quan hệ một cách biện chứng giữa hệ thống trồng trọt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế,

kỹ thuật xã hội của từng tiểu vùng trong huyện

*Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra một số giải pháp góp phần cải thiện hệ thống trồng trọt tại Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện, tiến tới phát triển một nền nông nghiệp bền vững tại địa phương

Trang 5

2 Tổng quan tài liệu và những vấn đề

liên quan tới nội dung của đề tài 2.1 cơ sở lý luận

2.1.1 Các lý thuyết về hệ thống

Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác được xuất phát từ lý thuyết hệ thống, đã được các nhà khoa học Speeding, 1979 [35] Đào Thế Tuấn, 1987 [26], Phạm Chí Thành, Đào Châu Thu, Trần Đức Viên, Phạm Tiến Dũng 1996 [17] đề cập tới Các tác giả đều cho rằng: hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác

Hệ thống canh tác (Farming system) là một hệ thống độc lập, ổn định giữa các hoạt động sản xuất phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nông hộ, do đó khi xem xét, đánh giá một hệ thống canh tác tại một vùng nào đó có phù hợp hay không, chúng

ta phải đánh giá chúng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng đó Như vậy, hệ thống canh tác là một tổ hợp sản xuất (bao gồm nhiều ngành nghề có mối quan hệ mật thiết với nhau) và tiêu thụ

Cấu trúc của hệ thống không phải là phép cộng đơn giản các yếu tố, các

đối tượng mà là sự kết hợp hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng Chúng có tác động qua lại với nhau và có quan hệ ràng buộc với môi trường (Đào Thế Tuấn - 1977) [22]

Hệ thống canh tác là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và các kỹ thuật do một xã hội hiện thực để thoả mãn các nhu cầu của

họ Nó biểu hiện đặc biệt sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái và môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội văn hoá,

Trang 6

qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật Như vậy: hệ thống nông nghiệp là một phạm trù rộng còn hệ thống canh tác là một tổ hợp cây trồng trong không gian và thời gian của một vùng khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù, trong một điều kiện kinh tế xã hội nhất định (Barkef, 1996) [33]

Hệ thống canh tác là một tổng thể thống nhất gữa môi trường và cây trồng, vật nuôi và nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và điều kiện phát triển kinh tế khu vực Các hệ thống phụ trong hệ thống canh tác có liên quan với nhau, tác động qua lại với nhau và cũng chịu sự tác động qua lại của yếu

tố bên ngoài đó là môi trường, tạo thành “Hiệu ứng hệ thống” rất đặc thù Vì thế hệ thống canh tác phải được xây dựng trên cơ sở phân tích một cách khách quan các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc điểm sinh học của cây trồng, vật nuôi để vừa cho hiệu quả kinh tế cao, vừa có “tác dụng lâu bền”

Hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng bố trí theo thời gian và không gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật thực hiện nhằm đạt năng suất cây trồng cao và nâng cao độ phì của đất đai (Nguyễn Văn Luật, 1990) [12]

Nghiên cứu hệ thống canh tác là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan đến môi trường của hệ thống canh tác, như đất đai, khí hậu thời tiết, sâu bệnh, mức

đầu tư và trình độ khoa học nông nghiệp, vấn đề "hiệu ứng hệ thống" của hệ thống canh tác Vì vậy hệ thống canh tác phải được hình thành từ lý luận của sinh thái học nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1984) [24]

Do hệ thống cây trồng mang đặc tính động, vì vậy nghiên cứu hệ thống cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là việc làm thường xuyên để tìm ra xu thế phát triển, yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển đổi hệ thống cây trồng nhằm mục đích khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh

tế xã hội phục vụ cuộc sống con người (Đào Thế Tuấn, 1984) [24]

Việc nghiên cứu hệ thống canh tác thường bắt đầu từ tiếp cận hệ thống

Trang 7

Tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và xử lý các phức hệ có tổ chức Tiếp cận hệ thống toàn diện hơn tiếp cận phân tích (Phạm Chí Thành, 1994) [16]

* Hệ thống trồng trọt, hệ thống canh tác và hệ thống nông nghiệp:

Trước khi hiểu về hệ thống trồng trọt ta hãy hiểu về hệ thống trồng trọt

và hệ thống canh tác Theo FAO (1989) khái niệm về hệ thống trang trại (Faming systems) đã có từ thế kỷ thứ XIX do nhà nông học người Đức Vonwalfen đề xuất Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems)

đầu tiên để các nhà địa lý sử dụng để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hoá (Grigg, 1979) (dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1984) [24]

Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu cầu Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh học, sinh thái và môi trường tự nhiên là đại diện hệ thống xã hội văn hoá qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật (Visasac, 1979 dẫn theo Nguyễn Duy Tính) [21]

HTNN thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp trong không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của việc phối hợp các yếu

tố tự nhiên, xã hội - văn hoá, kinh tế và kỹ thuật (Touve 1988 dẫn theo Nguyễn Duy Tính)[21]

Theo Đào Thế Tuấn (1987) [27] HTNN về thực chất là sự thống nhất của hai hệ thống:

1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái

2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt động của con người trong sản xuất

để tạo ra của cải vật chất của toàn xã hội

Trang 8

Một số tác giả của viện lúa quốc tế cho rằng hệ thống cây trồng (HTCT)

là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt chăn nuôi và tiếp thị Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung những nguồn lực nhận từ môi trường Khái niệm này được dùng để hiểu (HTCT) vượt khỏi ranh giới cụ thể của từng nông trại

HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở mọi môi trường nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến,

nó vượt quá hình thức phổ biến ở các nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt, nhưng nó bao gồm những nguồn lực của nông trại được

sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó (IRRI, 1989 dẫn theo Nguyễn Duy Tính) [21] Như vậy đặc điểm chung nhất của HTCT là bao gồm nhiều hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến tiếp thị, quản lý kinh tế được bố trí một cách có hệ thống, ổn định phù hợp với mục triêu của từng nông trại hay tiểu vùng nông nghiệp [21]

Theo Nguyễn Duy Tính thực chất HTCT đồng nhất với khái niệm hệ thống nông nghiệp (HTNN) HTCT (Farming systems) dùng nhiều trong các nước nói tiếng Anh, HTNN dùng nhiều trong hệ thống nông nghiệp của Pháp [21] Các khái niệm về HTCT cũng như HTNN là một phương thức khai thác môi trường trong một không gian và thời gian nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và bảo đảm phát triển bền vững [21]

Hệ thống trồng trọt (HTTT), Nguyễn Duy Tính (1995) [21] cho rằng: HTTT là hệ thống con và là trung tâm của HTNN, cấu trúc của nó quyết định

sự hoạt động của các hệ phụ khác như chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, với khái niệm HTCT như trên thì HTTT là bộ phận chủ yếu của HTCT

HTTT, theo Dufumier (1996) [38], là thành phần các giống và loài cây

được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội

Trang 9

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn đề phức tạp vì nó liên quan đến các yếu tố môi trường như đất đai, khí hậu ảnh hưởng đến cây trồng, vấn đề sâu bệnh, mức đầu tư phân bón, trình độ khoa học nông nghiệp và vấn đề hiệu ứng

hệ thống của hệ thống cây trồng Tuy nhiên tất cả vấn đề nghiên cứu trên đều nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả đất đai, nâng cao năng suất cây trồng Theo Đào Thế Tuấn (1984) [24] hệ thống cây trồng là thành phần các loại cây

được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng trong một vùng sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý các tài nguyên kinh tế xã hội

Hệ thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp cây trồng và mối quan

hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật

lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý (Zandstra, 1982) [32]

Hình 1: Sơ đồ mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng trọt

Hệ thống

chăn nuôi Hệ thống trồng trọt Hệ thống chế biến

Hệ thống cây trồng

Năng suất chất lượng giá cả

Trang 10

hệ thống canh tác không thể tách rời hệ thống trồng trọt và ngược lại (Xem hình 1)

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp nhằm bố trí lại, cải thiện các thành tố trong hệ thống hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số

sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, lợi thế so sánh của từng vùng sinh thái nông nghiệp, cũng như sử dụng hiệu quả tiền vốn, lao động và

kỹ thuật để nâng cao năng suất, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và giá trị lợi nhuận trên một đơn vị diện tích canh tác trong một năm Tóm lại là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có hiệu quả kinh tế cao, (Dẫn theo Nguyễn Duy Tính) [21]

2.1.2 Cơ sở khoa học của xác định cơ cấu cây trồng

Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất

đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác còn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực

đó Một mặt phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, ngược lại cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý nhất để xác định phương hướng sản xuất của vùng hoặc khu vực đó Vì vậy nghiên cứu bố trí hệ thống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản lý có cơ sở để xác

định phương hướng sản xuất một cách đúng đắn (Đào Thế Tuấn, 1984) [24]

2.1.3 Quan điểm phát triển nông nghiệp theo phương pháp

hệ thống

Lý thuyết về hệ thống nông nghiệp (HTNN) đã được Mazoyer, Roudant (1997) nêu lên, theo các tác giả này thực tế nông nghiệp trong các khu vực khác nhau của thế giới ở mỗi giai đoạn là đại diện cho rất nhiều dạng thức có tính địa phương, vùng biến đổi theo không gian và thời gian nhất định Hơn

Trang 11

nữa, mỗi một dạng xuất hiện như những đối tượng sinh thái và kinh tế phức tạp Cũng theo tác giả này, quan điểm về HTNN là một công cụ cho phép hiểu

được tính phức tạp của mỗi dạng thức bởi sự phân tích có phương pháp về tổ chức, chức năng của hệ sinh thái trồng trọt và của hệ sản xuất xã hội và mối quan hệ của chúng Nó cũng cho phép phân biệt và phân loại vô số hình thức khai thác nông nghiệp trong quá khứ và trong hiện tại bằng giới hạn của những hệ thống, mỗi loại giữ một vị trí xác định trong thời gian và không gian Lý thuyết về diễn biến của hệ thống là một công cụ giải thích sự biến đổi của một khu vực, xác định thời kỳ lịch sử nhất định

Theo Phạm Bình Quyền, Phạm Chí Thành và Trần Đức Viên (1992) [13] trong phát triển nông nghiệp, phải coi nông nghiệp là một hệ thống để tác

động vào nó một cách đồng bộ tích cực Phải xem nông nghiệp là sự đan xen, kết hợp giữa 3 lĩnh vực: khoa học sinh học, kinh tế và xã hội Phải xác định vùng nghiên cứu có môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội như thế nào những

điều kiện của vùng như đất đai, lao động, vốn, đầu tư, kinh nghiệm quản lý và những định hướng phát triển kinh tế trong những năm trước mắt và lâu dài như thế nào

Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1996) [29] phân tích: phương pháp tiếp cận hệ thống có 3 đặc điểm

1) Tiếp cận từ “dưới lên” là quan điểm quan trọng nhất, một số tiếp cận hiện nay trong khoa học nông nghiệp áp dụng phương pháp tiếp cận từ “trên xuống” Tiếp cận từ “dưới lên” dùng phương pháp quan sát và phân tích hệ thống xem hệ thống nông nghiệp có những hạn chế (điểm thắt) ở chỗ nào, tìm cách can thiệp giải quyết các cản trở đó Phương pháp tiếp cận từ “dưới lên” thường có 3 giai đoạn nghiên cứu: 1- chẩn đoán, 2- thiết kế và thử nghiệm, 3- triển khai Tiếp cận từ “dưới lên” rất quan tâm đến việc tìm hiểu logic của người nông dân vì theo lý luận kinh tế, người nông dân là một là một nhà tư

Trang 12

sản tự bóc lột sức lao động của mình Nếu không hiểu logic ra quyết định của người nông dân thì không thể đề xuất các biện pháp kỹ thuật mà người nông dân có thể tiếp thu

2) Coi trọng mối quan hệ của xã hội như các nhân tố của hệ thống Trong thực tế nông dân không áp dụng các kỹ thuật mới là do họ gặp phải cản trở về kinh tế và xã hội, nếu không thay đổi được các nhân tố này thì không giải quyết được vấn đề Trong giai đoạn chẩn đoán việc phân tích kiểu hộ nông dân là một khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu

3) Phân tích động thái của sự phát triển, phân tích này giúp ta xác định

được hệ thống phát triển trong quá khứ và phương hướng phát triển hệ thống nông nghiệp trong tương lai đồng thời giải quyết các vấn đề cản trở sao cho phù hợp vơí xu hướng phát triển ấy Phải xác định vị trí của HTCT hiện tại trong quá trình phát triển Phải xem quá trình phát triển nông nghiệp từ thấp

đến cao là một quy luật Theo Mazoyer (1993) [39] lịch sử phát triển nông nghiệp của thế giới là:

1- Nông nghiệp du canh, du cư

2- Nông nghiệp định canh

3- Nông nghiệp hỗn hợp

4- Nông nghiệp chuyên môn hoá

5- Nông nghiệp theo kiểu chuyên nghiệp

Hiện nay ở Việt Nam nói chung và khu vực các tỉnh phía Bắc nói riêng, nông nghiệp đang ở dạng nông nghiệp hỗn hợp, một số khu vực vẫn đang ở trong tình trạng du canh Tuy nhiên, trong hệ thống trồng trọt đã có vùng hướng chuyên canh thể hiện rõ như vùng cây công nghiệp, cây ăn quả tập trung, những người nông dân vùng này có tính chuyên môn hoá chưa cao và quy mô còn nhỏ Nhìn chung một số nơi đã hình thành vùng sản xuất hàng

Trang 13

hoá tập trung nhưng nền nông nghiệp vẫn là nền nông nghiệp hỗn hợp theo hướng đa canh hoá hay đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và vật nuôi

Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, Phạm Tiến Dũng và các cộng sự (1996) [17] cho rằng: xác định và phân tích hệ thống canh tác là một nội dung chính của nghiên cứu hệ thống canh tác Hiện nay đang tồn tại hai quan điểm

về phát triển hệ thống nông nghiệp

1) Phát triển nông nghiệp theo quan điểm sinh thái, có nghĩa là đặt cây trồng vật nuôi đúng vị trí của nó trong môi trường (tự nhiên, kinh tế xã hội) sao cho đạt năng suất cao, phát triển ổn định và bảo vệ môi trường 2) Phát triển nông nghiệp theo quan điểm kinh tế thị trường, nghĩa là nông dân tự do kinh doanh, họ lấy lợi ích kinh tế là mục tiêu chính, họ chỉ sản xuất những gì

mà khách hàng cần họ cạnh tranh trong sản xuất và tiền tệ hoá quá trình sản xuất Cả hai xu hướng phát triển trên đều có những ưu và khuyết điểm riêng Hợp lý hơn cả là phát triển nông nghiệp theo kinh tế thị trường kết hợp hài hoà với nông nghiệp sinh thái theo Đào Thế Tuấn (1984), Cao Liêm (1998) phát triển nông nghiệp thực chất là điều khiển hệ sinh thái [22] khi xem xét về nguyên tắc của nông nghiệp sinh thái (NNST) các tác giả như Cao Liêm, Phạm Văn Phê, Nguyễn Thị Lan (1995), Nguyễn Văn Mẵn, Trịnh Văn Thịnh (1995) Lê Văn Khoa (1998) cho rằng NNST không phá vỡ môi trường đảm bảo năng suất ổn định, đảm bảo khả năng thực thi không phụ thuộc vào bên ngoài và ít lệ thuộc vào hàng ngoại nhập Nội dung của NNST là: 1) Tính đa dạng sinh học bao gồm nhiều loài cây, luân canh, xen canh Lai tạo giống mới, trồng trọt theo phương thức nông lâm kết hợp, bảo tồn và giữ gìn các giống cây trồng và vật nuôi 2) Nuôi dưỡng cho đất sống bao gồm thường xuyên bón phân hữu cơ, che phủ mặt đất để chống xói mòn, rửa trôi, khử các yếu tố gây hại cho đất 3) Bảo đảm tái sinh học đất bao gồm việc cung cấp trở lại lượng phân hữu cơ cho đất

Trang 14

2.1.4 Lý thuyết của một số mô hình phát triển nông nghiệp

Nghiên cứu phát triển nông nghiệp thế giới đã đưa ra những lý thuyết khác nhau ở mỗi giai đoạn, những thuyết này ở mỗi giai đoạn đã định hướng cho sự phát triển của nông nghiệp thế giới nói chung Tuy nhiên mỗi quốc gia dựa trên điều kiện thực tế, có thể áp dụng và điều khiển nông nghiệp của mình

đi theo hướng khác nhau, bằng con đường khác nhau Theo Đào Thế Tuấn (1984) [24], các nước đang phát triển muốn đưa nông nghiệp phát triển với sự tăng trưởng từ 1%/ năm lên 4%/ năm đã áp dụng một trong những mô hình, thuyết sau đây để giải thích quá trình phát triển:

1) Thuyết mô hình bảo vệ: thuyết này cho rằng sở dĩ nông nghiệp bị thoái hoá là do độ màu mỡ bị giảm dần và kiệt quệ Muốn tăng năng suất phải phục hồi và bảo vệ độ màu mỡ của đất bằng luân canh, bón phân hữu cơ và phân hoá học

2) Thuyết mô hình thúc đẩy của thành thị công nghiệp: thuyết này chủ trương rằng nông nghiệp chỉ phát triển mạnh các vùng quanh và gần thành thị, nguyên nhân chính là do thành thị cung cấp vật tư nông nghiệp và là thị trường thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp

3) Mô hình khuyếch tán: thuyết này cho rằng kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý trong nông nghiệp phổ biến dần từ nông dân này sang nông dân khác, từ vùng này sang vùng khác như giống cây trồng và gia súc tốt Do vậy chỉ đẩy mạnh và phổ biến kỹ thuật và kinh tế là thúc đẩy được sự phát triển nông nghiệp

4) Thuyết mô hình đầu tư và hiệu quả cao: thuyết này cho rằng nông dân

cổ truyền sở dĩ không tiếp thu được kỹ thuật mới vì thiếu các đầu tư có hiệu quả cao Tình trạng này được thay đổi từ khi xuất hiện các giống mì, lúa, ngô năng suất cao do các trung tâm nghiên cứu quốc tế tạo ra Các giống này phản ứng nhanh mạnh với phân bón, thuốc trừ sâu, cải tạo đất nên mang lại hiệu

Trang 15

quả cao cho người nông dân, thúc đẩy nông nghiệp phát triển với tốc độ nhanh, tạo nên “cuộc cách mạng xanh”

5) Thuyết mô hình phát triển bị kích thích: theo thuyết này sự thay đổi giá cả trên thị trường kích thích cải tiến kỹ thuật và tạo nên sự phát triển

Quả thật theo quan điểm hệ thống, việc phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững hiện nay không chỉ áp dụng một mô hình theo các thuyết kể trên mà phải kết hợp hài hoà lý thuyết của 5 mô hình phát triển Như vậy so sánh 5 thuyết đưa ra và các giai đoạn chiến lược của tăng trưởng bền vững với

sự phát triển nông nghiệp hiện nay của Việt Nam thì thấy rằng: Việt Nam là nước đang phát triển, quá trình phát triển nông nghiệp hội tụ cả 5 thuyết phát triển nói trên Nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển sang sản xuất hàng hoá tìm kiếm thị trường, thu hút đầu tư cải tiến kỹ thuật công nghệ đặc biệt là công nghệ chế biến Bài học về phát triển nông nghiệp thời gian qua cho thấy việc tìm thị trường đầu ra (nội địa hay xuất khẩu) cho các mặt hàng nông sản quyết định đến đầu tư và sự phát triển của các đối tượng này

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: "Hệ canh tác giành ưu tiên cho cây lương thực,

2 vụ ngũ cốc trên năm (2 vụ lúa, hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ lúa mì) đưa thêm vào 1

vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai,

ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân" (Hoàng Văn Đức, 1992) [8]

Tại Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, người ta đã nghiên cứu

đưa giống cây hoa màu chịu bóng để trồng xen trong mía (cây công nghiệp

Trang 16

chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan) và giống cây hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đưa vào trồng sau khi thu hoach lúa mùa

Tại Trung Quốc, đã xác định được hệ thống cây trồng hợp lý trên các vùng đất 2 vụ lúa, hệ thống cây trồng chủ yếu là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì (hoặc

đậu Hà Lan, khoai tây, cải ), trên các vùng đất lúa 1 vụ, hệ thống cây trồng thường là một vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Triệu Kỳ Quốc, 1992) [10]

ở những khu vực đất bằng, nông dân Châu á đã sử dụng nhiều hệ canh tác Những hệ thống này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai lang, ngô, đậu ) Luân canh giữa cây trồng nước và cây trồng cạn, giữa cây lương thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian đã

được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả (Carangal, 1989) Theo tài liệu của Trung tâm môi trường và phát triển bền vững (1999), hiện nay có khoảng 25% diện tích đất canh tác trên thế giới đang bị sa mạc hoá, trong đó có 10% đã bị đã bị sa mạc hoá Mỗi năm có 8.5 triệu ha đất nông nghiệp bị mất do xói mòn (tương đương 20 tỷ tấn đất) Đặc biệt việc sử dụng nhiều phân đạm vô cơ trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho hàm lượng

NO3- tăng lên đáng kể, làm ô nhiễm mạch nước ngầm và chất lượng nông sản phẩm ở Mỹ, mỗi năm đất bị mất khoảng 18 tỷ USD chất dinh dưỡng do bị rửa trôi, xói mòn, trung bình mỗi năm có khoảng 8,5 triệu ha đất bị xói mòn (tương đương 22 triệu tấn đất) và khoảng 5,4 - 8,4 triệu tấn các chất dinh dưỡng bị rửa trôi

Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992) [40], trên thế giới, hàng năm có khoảng 15% đất bị suy thoái vì các lí do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7%, do gió: 28%, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 ha đất

Trang 17

bị chua mặn; 4 triệu ha bị úng, lầy ở ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu

ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu á và Thái Bình Dương có khoảng 860 ha

đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp lâu dài, loài người đã lựa chọn ra những giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng sinh thái

và con người đã thiết lập nên các hệ thống cây trồng phù hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau

Các nhà nông nghiệp trên thế giới đã và đang tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hoàn thiện hệ thống cây trồng bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng và hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích

Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII chế độ canh tác phổ biến ở Châu Âu

là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống cây trồng là ngũ cốc - ngũ cốc - bỏ hoá Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ đạt 5 - 6 tạ/ ha Khoai tây và ngô nhập vào Tây Âu từ khi tìm thấy Châu Mỹ, cùng với việc đưa cây phân xanh họ đậu (cỏ 3 lá) vào hệ thống

đã có tác dụng to lớn, tạo ra những thay đổi có tính chất lịch sử vào nửa đầu thế kỷ XIX Đó là việc tạo ra chế độ luân canh mới: 4 khu, 4 năm (Norfolk) với hệ thống cây trồng là cây củ quả (khoai tây) - ngũ cốc mùa xuân - cỏ 3 lá - ngũ cốc mùa đông Tính chung cả sản lượng thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc đã tăng gấp 4 lần Tính riêng ngũ cốc năng suất tăng gấp 2 lần (Bùi Huy Đáp, 1996) [5]

ở Châu Âu nhiều nước đã áp dụng chế độ (Nordfolk) thắng lợi: nước Pháp áp dụng 5 khu: ngũ cốc xuân - cây phân xanh - ngũ cốc đông - đậu

Hà Lan, yến mạch Nước Đan Mạch thực hiện hệ thống 6 khu: củ quả - ngũ cốc xuân - cây phân xanh - ngũ cốc đông - khoai tây - để nghỉ mùa

đông (Bùi Huy Đáp, 1996) [5]

Trang 18

Vào những năm 60, các nhà sinh lý thực vật đã phát hiện rằng: Trong tự nhiên, không có một cây nào có khả năng sử dụng toàn thể tài nguyên thiên nhiên ở một vùng, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới Do vậy hiện nay trên đất đang sản xuất nông nghiệp, ánh sáng, đất đai, nguồn nước còn chưa được sử dụng

đúng mức, còn nhiều khả năng tăng vụ, phát triển sản xuất

Tại Châu á vào cuối thập kỷ 60, các nhà nghiên cứu Viện Lúa Quốc tế (IRRI) đã nhận thức rằng giống lúa mới thấp cây, đứng lá tiềm năng sản lượng cao chỉ có thể giải quyết vấn đề lương thực trong một phạm vi hạn chế Do đó

từ những năm đầu của thập kỷ 70 các nhà khoa học của các nước Châu á đã

đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu trồng cạn Các chế độ trồng xen, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu Theo hướng này ở Châu á đã hình thành “Mạng lưới hệ canh tác Châu á”, một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Nhìn chung các nghiên cứu hệ thống cây trồng mới rất

đa dạng và tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Tăng vụ ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ

- Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, tăng vụ

- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ một năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: “Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ 1 năm 2 vụ ngũ cốc (2 vụ lúa nước, hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ lúa mì), đưa thêm vào 1 vụ đậu đỗ và đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng

Trang 19

của đất đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân” (Hoàng Văn Đức, 1992) [8]

ở Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng bố trí hệ thống cây trồng hợp lý, người ta đã nghiên cứu đưa các giống cây hoa màu chịu rợp trồng xen trong mía (mía là cây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan), nghiên cứu cây hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đưa vào trồng sau khi thu hoạch lúa mùa (IRRI, 1982) [36]

Gomer A.A; Zandstra H.G (1982), [37] khẳng định xen canh gối vụ có tác dụng tăng tổng sản lượng của các cây trồng cạn, do tạo ra được chế độ che phủ đất tốt hơn, tận dụng được bức xạ mặt trời trong suốt thời gian sinh trưởng Các cơ cấu cây trồng đã được thực hiện: ngô + lúa, lúa + đậu xanh; lúa + lúa mì; lúa + rau; lúa + lúa mì + ngô; lúa + lúa mùa

ở Trung Quốc, từ những năm 1980, ở khu vực phía Nam đã thí nghiệm xây dựng nền nông nghiệp sinh thái ở Xiaoliang, một vùng đồi của Quảng

Đông bị sa mạc hoá, xói mòn mạnh, nhiệt độ mặt đất cao, trước đây người

ta trồng bạch đàn nhưng đều không thành công Cuối cùng đã chọn hệ thống cây trồng theo hướng đa dạng hoá cây trồng và trồng nhiều tầng Theo Triệu Quốc Kỳ (1990) trên đất lúa 2 vụ thuộc vùng núi phía Nam thường được canh tác 2 hoặc 3 vụ với hệ thống cây trồng là: lúa - lúa mì - khoai tây (hoặc lạc - đậu tương - lúa mì) Trên đất lúa 1 vụ thuộc vùng cao nguyên (gồm tỉnh Vân Nam, Quế Châu, Tứ Xuyên và Tây Tạng), thường

được canh tác với hệ thống cây trồng là lúa luân canh với cây trồng cạn (Triệu Quốc Kỳ, 1994) [10]

ở Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, một hệ thống cây trồng lúa xuân - lúa mùa ít mang lại hiệu quả và chi phí tiền nước quá lớn cộng thêm sự độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chế độ đất Bằng việc chuyển dịch cây

Trang 20

lúa xuân sang cây đậu tương giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể, diện tích tăng gấp rưỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì đất được nâng lên rõ rệt

Đã mang lại một thành công lớn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, ở Thái Lan (Tejwani, V.L - Chun K.Lai Indonesia, 1992) [41]

Ví dụ: tại Chiềng Mai (Bắc Thái Lan) trong những năm 1971 - 1976 đã thí nghiệm 6 công thức hệ thống cây trồng:

- Lúa + lúa mì + ngô

- Lúa + cà chua + lạc

- Lúa + đậu + đậu tương

- Lúa + khoai lang + bắp cải

- Lúa + cà chua + đỗ xanh

- Lúa + lạc + bắp cải (hoặc ngô non)

Kết quả điều tra ở Chiềng Mai cho thấy hệ canh tác 2 vụ lúa + 1 vụ màu hoặc lúa cạn là phổ biến nhất Cây màu thường là đậu tương, thuốc lá, tỏi, hành, đậu xanh, rau xanh Tỷ lệ trồng 3 vụ trong năm (lúa - màu - lúa cạn) còn

- Tại Banuma có mùa khô ngắn, mùa ướt dài Hai đỉnh thu hoạch lúa (khoảng tháng 9, tháng 10) chứng tỏ đa số nông dân trồng 2 vụ lúa trên một diện tích Ngô thu hoạch vào đỉnh mùa mưa, đậu tương thu hoạch vào cuối

Trang 21

mùa khô (tháng 10) hoặc vào cuối mùa mưa (tháng 5), lạc thu hoạch quanh năm (Nguyễn Điền - Trần Đức, 1993) [7], (Bùi Thị Xô, 1994) [31]

ở những khu vực đất bằng, nông dân Châu á đã sử dụng nhiều hệ canh tác Những hệ này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai lang, ngô, đậu ) nói chung hệ thống cây trồng luân canh giữa chế độ cây trồng nước và chế độ cây trồng cạn, giữa cây lương thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian đã được nhiều nhà nghiên cứu

đề cập và kết luận có hiệu quả (Hoàng Văn Đức, 1992) [8], (Triệu Quốc Kỳ, 1994) [10]

Vấn đề đạt hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên đất lúa cũng

được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt ở ấn Độ và Pakistan Nghiên cứu vấn đề này các tác giả đã đề cập đến cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý, phụ thuộc vào điều kiện canh tác và giá cả nông sản trên thị trường Tại vùng Dandkadi, năm 1981 có 13 công thức luân canh khác nhau được áp dụng, năm

1982 có 18 công thức luân canh, năm 1983 có 16 công thức luân canh trong đó phổ biến nhất là cơ cấu 2 vụ Tại vùng Mirrapur và Tangril có các công thức

đáng chú ý là lúa - lúa hè, đảm bảo nền cho việc tăng thêm vụ đông trên một phần diện tích với các cây trồng là lúa mì, cải cay, khoai tây, ớt, kê công thức luân canh này được nông dân áp dụng rộng rãi vì nó đảm bảo lương thực quanh năm và có hiệu quả kinh tế cao (Bùi Thị Xô, 1994) [ 31]

Chương trình SALT của Philippines đã khảo nghiệm có kết quả với hệ thống cây trồng và biện pháp canh tác như sau: các cây hàng năm và cây lâu năm được trồng thành băng xen kẽ rộng từ 4 - 5 m, các loại cây họ đậu cố

định đạm được trồng thành 2 hàng dày theo đường đồng mức để tạo thành hàng rào Khi những cây hàng rào cao 1,5 - 2 m người ta đốn, để lại 40 cm gốc, cành lá dùng để rải lên băng tạo lớp che phủ và giữ ẩm, chống xói mòn Cây lâu năm thường là cây cà phê, cao su, cam Điểm trình diễn từ năm 1978

Trang 22

trên đất có độ dốc 200, thực tế thu nhập bình quân hàng năm trên 1 ha áp dụng SALT cao gấp 3 lần so với hệ thống độc canh cổ truyền Mô hình này cũng

được B.T.Kang (IITA) mang áp dụng ở Nigiêria gọi là canh tác theo băng (Alley Cropping) (Hoàng Văn Đức, 1992) [8]

2.2.2 Thực tiễn nghiên cứu ở việt nam

Tại Việt Nam hệ thống canh tác đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ những năm 1960, các nhà khoa học miền Bắc đã dày công nghiên cứu đưa vụ lúa xuân thành vụ sản xuất chính Một hệ thống tương đối hoàn chỉnh gieo cấy lúa xuân đã được xây dựng từ vụ xuân 1968 ở huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định với 100% diện tích, vụ đông ở miền Bắc hoàn toàn thích hợp với các cây trồng

có nguồn gốc ôn đới như bắp cải, su hào, khoai tây, hành tây và một số cây trồng như ngô, thuốc lá, khoai lang, cà chua (Bùi Huy Đáp, 1998) [4]

Ngày nay các nhà khoa học của nước ta cũng đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống cây trồng mới, có thời gian sinh trưởng ngắn, có năng suất cao, chống chịu các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá, cũng đã tạo điều kiện cho việc bố trí

hệ thống cây trồng hợp lý (Trương Đích, 1995) [6]

Các giống lúa ngắn ngày như CN2, VX83, giống chống rầy CR203 các giống ngô lai không quy ước LS-6, LS-7, LS-8 phù hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc, các giống ngô thuần có thời gian sinh trưởng trung bình, có tiềm năng năng suất khá, thích nghi rộng như: TSB2, Q2, VN1, CV1 thích hợp cho nhiều vùng sinh thái Việc ngày càng có nhiều giống ngô mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều hệ cây trồng hợp lý

Như vậy, nước ta có tập đoàn cây trồng khá phong phú, từ các cây trồng

có nguồn gốc nhiệt đới đến các cây trồng có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới,

từ tập đoàn giống cây trồng ngắn ngày đến trung bình và dài ngày đó là cơ sở

để đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm nông sản, góp phần tăng thu nhập cho nông dân (Bùi Huy Đáp, 1998) [4]

Trang 23

Một số tác giả cho rằng ở nước ta có 3 loại hình luân canh tăng vụ:

♦ Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau

♦ Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nước

♦ Luân canh giữa cây trồng nước với nhau

ở chân đất quanh năm không ngập nước, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước thường luân canh cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu cô ve, đậu xanh ) Ngoài luân canh tăng vụ cây lương thực, cây công nghiệp, cây thức

ăn gia súc còn có những hệ thống cây trồng luân canh giữa cây dược liệu (Bạc

hà, Địa hoàng, Bạch chỉ ) với cây lương thực hoặc cây công nghiệp ngắn ngày (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc, 1987) [2]

Nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam đã có kết luận: đậu tương hè có có năng suất khá cao khá ổn định, có thể

mở rộng vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [3]

Đặc biệt trong những năm gần đây, để góp phần thực hiện các mục tiêu

về sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, cùng với việc chọn tạo, du nhập, khu vực hoá nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao vừa có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, vừa ngắn ngày Nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và có nhiều kết quả quan trọng đóng góp cho sự phát triển hệ thống canh tác như:

- Nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam, đã có kết luận: đậu tương hè có năng suất khá cao ổn định, có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [3]

- Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật sử dụng hợp lý đất bạc

Trang 24

màu, đã có kết luận: đất bạc màu ở ngoại thành Hà Nội có tiềm năng sản xuất lớn, có tập đoàn cây trồng phong phú và hệ thống luân canh đa dạng hơn các

đất khác Tuy nhiên năng suất cây trồng còn thấp, cần có biện pháp thâm canh phù hợp nhất là thâm canh lạc, khoai lang (Nguyễn Minh Thực, 1990) [20]

Đánh giá hệ thống canh tác ở tiểu vùng sinh thái bạc màu ngoại thành Hà Nội, Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải (1990) [19] đã khẳng định: có thể nâng cao hệ số sử dụng đất (2 - 4 vụ/ năm) và trồng được nhiều vụ lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày (nhất là cây có củ, đậu đỗ, thuốc lá ) trên

đất bạc màu, trừ chân ruộng quá cao hoặc trũng Để có năng suất cây trồng cao và ổn định thì phải xác định hợp lý cơ cấu giống đầy đủ, thuỷ lợi, phân bón phù hợp

Dương Hữu Tuyền (1990) nghiên cứu hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/ năm ở vùng trồng lúa đồng bằng sông Hồng đã kết luận: đồng bằng sông Hồng có thể trồng 3 - 4 vụ / năm Khi trồng 3 vụ không nên độc canh 3 vụ lúa mà nên

bố trí 2 vụ lúa, 1 vụ màu hay 2 vụ màu, 1 vụ luá, trong đó có thể 2 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện

ở những chân ruộng đất nhẹ, tưới tiêu chủ động và nguồn nhân lực dồi dào

Khi nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng gò đồi Hà Tây,

Lê Hưng Quốc (1994) đã đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và hoàn thiện cơ cấu cây trồng Tác giả cũng đã góp phần hoàn thiện hệ thống cây trồng thích hợp và biện pháp canh tác đi kèm dựa trên 3 cơ sở là giống, tăng vụ và đổi mới công nghệ

Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996) [9] đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ trở lên trên đất phù sa sông Hồng, địa hình cao không được bồi hằng năm có đủ điều kiện về tài nguyên đất, nhân lực để có thể áp dụng hệ thống 3 - 4 vụ cây ngắn ngày 1 năm, đưa hệ số quay vòng đất từ 2,2 lên 2,49 hoặc 2,6 lần

Trang 25

Tạ Minh Sơn (1996) [14] điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng, đã kết luận: các hệ thống canh tác 3 - 4 vụ /năm bằng các loại rau cao cấp đạt giá trị cao nhất (trên 60 triệu

đồng/ ha/ năm) Những hệ thống cây trồng có giá trị thu nhập cao hiện nay là

các hệ thống trên đất chuyên màu, đất 2 màu - 1 lúa và đất 2 lúa - 1 màu

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hữu Hồng, Trần Đức Hạnh, xác định hệ thống trồng trọt hợp lý cho vùng đất trung du bạc

màu huyện Phổ Yên, Bắc Thái (1995) cho biết: trong các mô hình trồng trọt

được thử nghiệm, 3 mô hình có hiệu quả kinh tế cao do đưa vào sản xuất các

giống mới đó là:

̇ Lúa Xuân- Lúa mùa

̇ Lúa Xuân - Lúa mùa - khoai lang Đông

̇ Đậu tương - lúa Hoa san - khoai lang

Theo Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê (1998) [30]: phát triển nông nghiệp

bền vững là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động, thực vật,

môi trường không thoái hoá, kỹ thuật canh tác phù hợp, kinh tế phát triển Để

phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta phải xem xét chúng trên cả hai mặt:

bền vững sinh thái (cần thiết phải giới hạn việc sử dụng những nguồn năng lượng thương mại và tái tạo sự đa dạng sinh học) và bền vững kinh tế - xã hội

Để có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, trước hết cần quan tâm

đến việc đa dạng sinh học Đa dạng sinh học, đặc biệt nếu số lượng loài và loại tương tác dinh dưỡng trong hệ sinh thái sẽ dẫn đến tính ổn định cao trong

một hệ sinh thái nhân tạo Các loài trong một quần thể có thể có ích cho nhau

trong việc phòng trừ sâu bệnh, phục hồi dinh dưỡng của đất

Tóm lại: trong phần tổng quan chúng tôi xin được tóm tắt các nội dung

cơ bản trên và xem đây là phương pháp tư duy của chúng tôi trong quá trình

Trang 26

thực hiện đề tài nghiên cứu hệ thống canh tác cần xuất phát từ những quan

điểm và khái niệm chính sau:

- Nghiên cứu một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống trồng trọt phải xuất phát từ lý thuyết hệ thống, với phương pháp tiếp cận hệ thống và kết hợp cả 2 loại hình nghiên cứu là vĩ mô và vi mô

- Sự hình thành các hệ thống trồng trọt phải được bắt đầu bằng việc đánh giá các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến hệ thống như những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và những yếu tố bên trong chứa đựng hệ canh tác như: đất

đai, lao động, tiền vốn, kỹ năng nghề nghiệp của người nông dân trong huyện

- Nghiên cứu phát triển hệ thống trồng trọt phải từ sự phân tích để tìm ra những nhược điểm và nghiên cứu các giải pháp khắc phục những nhược điểm

Trang 27

3 Nội dung, phạm vi, đối tượng

và phương pháp nghiên cứu3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế x∙ hội của huyện Hiệp Hoà

- Vị trí địa lý, thuận lợi, khó khăn

- Tình hình sử dụng đất đai

- Phân bố lao động

- Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Hiệp Hoà

- Tình hình sản xuất nói chung

3.1.2 Điều tra nghiên cứu hệ thống trồng trọt của năm trước

Bố trí công thức luân canh trên loại đất khác nhau của từng vùng sinh thái và hệ thống cây trồng trên các vùng

3.1.3 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng trọt cụ thể theo các công thức luân canh

Dùng phương pháp phát phiếu điều tra: giống, cấp giống, biện pháp bón phân cụ thể tạo điều kiện thúc đẩy cơ cấu cây trồng mới phát triển

3.1.4 Làm một số thực nghiệm ứng dụng kỹ thuật trên các đối tượng cây trồng

Lúa, đậu tương, lạc về phương diện so sánh giống, biện pháp kỹ thuật che phủ nilon cho cây lạc

3.1.5 Đề xuất các giải pháp để góp phần hoàn thiện hệ thống trồng trọt

Trang 28

3.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu: huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang, thời gian nghiên cứu từ năm 2003 - 2004, thu thập số liệu từ năm 2000 - 2003

* Đối tượng nghiên cứu: hệ thống trồng trọt trên các vùng đại diện

3.3 Phương pháp nghiên cứu

* Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) bao gồm:

- Thu thập thông tin thứ cấp, kết quả nghiên cứu có liên quan đến phát triển hệ thống trồng trọt của huyện gồm (khí tượng, đất đai, kinh tế xã hội, bản đồ hành chính, bản đồ thực trạng sử dụng đất)

- Đi khảo sát thực địa theo sơ đồ lát cắt, kết hợp thăm hỏi bà con nông dân

- Sử dụng phiếu điều tra kinh tế hộ nông dân tập trung vào tìm hiểu các biện pháp kỹ thuật của đại diện 90 hộ/ 3 điểm đại diện, cụ thể là:

- Thực nghiệm sản xuất so sánh giống lúa: gồm 3 giống

+ Giống Bao thai lùn làm đối chứng

+ Giống VH1

+ Giống VL20

- Thời gian cấy: 20/8/2004

+ Bao thai lùn gieo mạ: 20/7

+ VL20, VH1 gieo ngày 5/8

Trang 29

+ Phân bón (cho 1 ha): 8 tấn phân chuồng + 100kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và 30% lượng đạm, bón thúc đẻ nhánh 50% đạm và 35% kali, bón đón đòng 20% đạm và 65% kali

+ Tiêu nước thường xuyên giữ mực nước 3 - 5cm xen kẽ tháo cạn

+ Phòng trừ sâu bệnh: áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, khi sâu bệnh gây hại quá ngưỡng kinh tế thì dùng biện pháp hoá học

+ Diện tích làm thực nghiệm: trên 3 mảnh ruộng liền kề nhau, mỗi mảnh khoảng 200m2 có cùng chân đất, cùng chế độ chăm sóc

- Thực nghiệm sản xuất so sánh giống đậu tương

+ Thực nghiệm được bố trí trên 3 mảnh ruộng gần nhau, mỗi mảnh có diện tích khoảng 300m2, không nhắc lại Có 3 giống DT99, ĐT9 và Lơ 75 (đối chứng) được trồng vào mỗi mảnh

+ Các biện pháp kỷ thuật chỉ đạo thực hiện:

̇ Thời vụ trồng: 25/5/2004

̇ Mật độ: khoảng cách hàng x hàng 30cm,

hốc x hốc 15 - 18 cm, 3 hạt/hốc đạt mật độ 40 - 45 cây/m2

̇ Phân bón: lượng đầu tư cho 1 sào Bắc Bộ:

Phân chuồng hoai mục 200 - 300 kg, Lân supe 10 - 12 kg, đạm urê 2,5 - 3kg, kali 3 - 4 kg

̇ Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân Bón thúc lần 1 khi cây có 2 - 3 lá thật toàn bộ lượng đạm + 1/2 lượng kali kết hợp xới phá váng Bón thúc lần 2 lượng kali còn lại kết hợp vun cao chống đổ

- Thực nghiệm sản xuất biện pháp kỹ thuật che phủ nilon cho lạc

+ Thực nghiệm được tiến hành tại xã Ngọc Lý

+ Diện tích trồng: ô lớn 200m2

+ Các biện pháp kỹ thuật áp dụng: giống lạc TQ6 trồng có che phủ và không che phủ

Trang 30

̇ Thời vụ trồng: 5/2/2004

̇ Làm đất; Đất cày bừa lên luống rộng 60cm, trồng 2 hàng để phát huy

“hiệu ứng hàng rìa”

̇ Mật độ khoảng cách: hàng x hàng 30cm, cây x cây = 15cm,

̇ Lượng phân bón cho 1 sào bắc bộ: phân chuồng 300kg, supe lân 15kg,

đạm urê 3kg, kali 6kg, vôi bột 20kg,

đâm tia thì bón 50% số vôi bột còn lại đồng thời vun luống cao

̇ Phát hiện phòng trừ kịp thời đối với các loại sâu bệnh hại

- Xử lý số liệu: dùng phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh

Trang 31

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙ hội

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1.Vị trí địa lý

Hiệp Hoà là một huyện miền núi nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Bắc Giang, cách thị xã Bắc Giang 30 km, diện tích đất tự nhiên là 20.108 ha (niên giám thống kê huyện Hiệp Hoà tháng 6/ 2001)

- Phía đông và đông bắc giáp hai huyện Việt Yên và Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Phía Tây giáp huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội

- Phía Tây Nam giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Sông Cầu đồng thời là ranh giới của huyện với Thái Nguyên, Hà Nội và Bắc Ninh với chiều dài 52 km, thuận lợi cho giao thông đường thuỷ Quốc lộ

37 và con đường nối liền quốc lộ 1 với quốc lộ 3 đều đi qua trung tâm huyện cho nên huyện Hiệp Hoà có điều kiện giao thông khá thuận lợi cho việc giao lưu khoa học kỹ thuật, vận chuỷen vật tư và sản phẩm nông nghiệp tới các thị trường trong và ngoài nước khác nhau

4.1.1.2 Địa hình

Là một huyện trung du địa hình khá phức tạp, đặc trưng là đồi thấp, xen

kẽ các đồng bằng lượn sóng thấp dần từ Đông - Bắc xuống Tây - Nam Đất đai của huyện phần lớn có độ dốc < 80, được chia làm 3 vùng rõ rệt

- Vùng 1: là vùng cao gồm 11 xã miền núi có điều kiện phát triển nông nghiệp miền núi, chăn nuôi và cây ăn quả

Trang 32

Vùng 2: gồm 8 xã tiếp giáp giữa các xã vùng cao và vùng thấp có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát trển trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày

Vùng 3: gồm 7 xã vùng thấp nằm giáp đê tả sông Cầu, thường bị ngập úng

về mùa mưa, rất thuận lợi cho trồng cây lương thực và nuôi trồng thuỷ sản

Vị trí địa lí: huyện nằm ở phía tây của tỉnh giáp giới với các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội và Thái Nguyên do đó có điều kiện giao lưu, lưu thông hàng hóa tốt, điạ hình đất đai có cả ba vùng vùng đất cao, đất bằng, đất thấp Nên có thể

bố trí nhiều loại cây trồng hợp lý, tuy nhiên cũng gặp không ít khó khăn

4.1.1.3 Đặc điểm khí hậu thời tiết

Hiệp Hoà là một huyện được coi là vùng trung du chuyển giao khí hậu giữa 2 vùng đồng bằng và miền núi, nên khí hậu của vùng là khí hậu trung gian giữa miền núi và đồng bằng Ngoài ra cũng mang khí hậu chung của khí hậu phía Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc á Trung Hoa tạo nên khí hậu của tỉnh thành 2 mùa rõ rệt trong năm đó là mùa đông lạnh và khô hạn, mùa hè nóng và ẩm

Theo số liệu khí tượng của đài khí tượng Bắc Giang với trị số trung bình nhiều năm (1999 - 2003) của các yếu tố khí tượng thể hiện qua bảng 1

Qua số liệu khí tượng của 5 năm chúng ta thấy khí hậu của huyện cũng như của tỉnh Bắc Giang cũng có những điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy là tỉnh miền núi nhưng qua số liệu khí tượng chúng ta thấy các yếu tố khí tượng không biến động nhiều, không phức tạp như các tỉnh miền núi khác

4.1.1.3.1 Chế độ nhiệt, ánh sáng

- Trước tiên xét về yếu tố nhiệt độ: chúng ta thấy nhiệt độ trung bình các tháng trong năm không ảnh hưởng nhiều đến nông nghiệp Trái lại còn thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng

Trang 33

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2003

Huyện hiệp hoà- tỉnh bắc giang

Chú thích

Đất 3 vụ lúa Đất chuyên màu

Đất 2 vụ lúa Đất trồng cây CNLN Đất 1 vụ lúa Đất trồng cây ăn quả

Trang 34

Bảng 1: Một số đặc tr−ng khí hậu của tỉnh Bắc Giang năm 1999 - 2003

- Tối cao TB(ngày) 21,2 21,5 24,1 28,6 31,1 32,8 33,0 32,5 31,8 29,6 26,1 22,1 27,9

- Tối thấp TB(ngày) 14,9 16,5 19,2 22,8 24,5 26,0 26,5 26,0 24,7 22,6 18,1 14,8 21,4

- Tối thấp tuyệt đối/ngày 9,1 10,5 13,3 17,1 20,7 23,5 24,2 23,9 21,6 18,2 12,4 7,3 7,3

Trang 35

0 5 10

Trang 36

0 50 100 150 200 250 300

Tháng

Số giờ nắng

0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200

L−ợng m−a

- L−ợng m−a trung bình (mm)

- Số giờ nắng TB(tháng)

Biểu đồ 2: Quan hệ giữa l−ợng m−a trung bình và số giờ nắng trung bình/tháng

Trang 37

Những tháng có nhiệt độ cao nhất là từ tháng 6 đến tháng 9 nhưng nhiệt

độ cũng chỉ xấp xỉ 290C Với nhiệt độ này vẫn ở trong khoảng nhiệt độ sinh trưởng và phát triển của một số loại cây trồng Đối với vụ đông từ tháng 11 của năm trước đến tháng 2 của năm sau thì nhiệt độ có xuống thấp hơn so với các tháng khác nhưng cũng xuống không quá thấp Tháng thấp nhất là tháng 1

và nhiệt độ trung bình của tháng này là 17,40C, với các tháng trong mùa đông này vẫn nằm trong khoảng nhiệt độ các cây trồng vụ đông ưa thích như cây khoai tây, cây rau, đậu các loại Như vậy đứng về góc độ yếu tố khí tượng là nhiệt độ ta thấy với điều kiện nhiệt độ trung bình của các tháng trong năm ở huyện Hiệp Hoà có thể trồng được nhiều loại cây và có thể trồng được 3 - 4 vụ/ năm Nhưng cần chú ý trong tháng 12, 1, 2, 3 có những ngày nhiệt độ xuống quá thấp sẽ có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cây trồng

- Về số giờ nắng trong năm: số giờ nắng trong tuy không ảnh hưởng nhiều

đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng nhưng nó gián tiếp ảnh hưởng đến nhiệt độ không khí và ảnh hưởng đến tổng tích ôn của cây trồng Nhìn chung số giờ nắng của các tháng trong năm của vùng là thích hợp đối với cây trồng Chỉ chú ý những tháng từ tháng 2 đến tháng 4 số giờ nắng trung bình các tháng này thấp và nhất là tháng 2 số giờ nắng trung bình là 41 giờ/ tháng

Như vậy đối với những tháng này trời thường nhiều mây, âm u, ánh sáng thiếu và ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, kết hợp lúc này nhiệt độ thường xuống thấp và có mưa phùn, ẩm độ cao thì ảnh hưởng đến sự ra hoa, thụ phấn, thụ tinh của một số cây có giai đoạn ra hoa trong thời gian này như một số cây ăn quả nhãn, vải dẫn đến tỷ lệ đậu quả không cao Ngoài ra thời gian này trời âm u kết hợp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho sâu bệnh phát triển gây hại cho nên ở những tháng này phải chú ý phòng trừ sâu bệnh tốt

4.1.1.3.2 Chế độ mưa và ẩm độ không khí

Hai yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của cây

Trang 38

trồng Chính vì vậy nó ảnh hưởng lớn đến việc bố trí cây trồng cho thích hợp với từng thời gian trong năm và các loại giống cây trồng trong các mùa vụ nhất là trong điều kiện huyện chưa có hệ thống tưới tiêu chủ động mà chủ yếu phụ thuộc vào nước trời Đối với độ ẩm không khí ta thấy nói chung các tháng trong năm độ ẩm đều phù hợp yêu cầu của cây trồng Các tháng có độ ẩm cao nhất 84 - 85% (như tháng 7, 8) và tháng có độ ẩm thấp nhất (tháng 11, 12) cũng chỉ 78% Do đó độ ẩm không khí trong vùng không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của huyện

- Về lượng mưa: ta thấy nói chung các tháng trong năm đều có mưa Các tháng thường bị khô hạn nhất là từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Nhưng ở các tháng này ta thấy vẫn có một lượng mưa nhất định như ở tháng 1: có lượng mưa thấp nhất trong năm cũng có lượng mưa trung bình 23,4 mm/ tháng Tuy nhiên nếu chỉ có lượng mưa như thế này thì trong những tháng khô hạn này cũng chỉ thích hợp một số cây trồng nhất định, nhất là những diện tích không

được tưới còn những tháng mưa nhiều trong năm là từ tháng 6 đến tháng 8 Tháng có lượng mưa cao nhất trong năm là tháng 8 đạt 268,8 mm/ tháng, ở những tháng này cũng sẽ gặp khó khăn cho vùng đất trũng Nếu không có hệ thống thoát nước sẽ bị úng ngập Nhưng nói chung lượng mưa trong năm tương đối phù hợp với các loại cây trồng

Nói tóm lại: đối với các yếu tố khí tượng cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của các tiểu vùng sinh thái của huyện tương đối là thuận lợi, nếu biết phát huy hết tiềm năng về các yếu tố này thì nông nghiệp của

huyện, nhất là ngành trồng trọt sẽ phát triển tốt

4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

4.1.2.1 Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng toàn tỉnh có 7 loại Trong đó đa số là các loại đất bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất phù sa không được bồi

Trang 39

Bảng 2: Phân loại thổ nhưỡng huyện Hiệp Hoà

STT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Nguồn: Báo cáo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001 - 2010

Với phần đất như trên, huyện Hiệp Hoà có thể vừa phát triển cây lương thực, vừa phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao như: lạc, đậu tương và các loại cây ăn quả trên các vùng đồi thấp Tuy nhiên,

do địa hình dốc, quá trình rửa trôi làm đất bạc màu nhanh, độ phì thấp nên đã hạn chế năng suất mùa màng do đó cần có biện pháp cải tạo nâng cao độ phì của đất

Diện tích đất đai của huyện được đưa vào sử dụng năm 2000 là 17.454.705 ha chiếm gần 91,28% tổng diện tích đất tự nhiên Phân theo mục

đích sử dụng thì đất nông nghiệp chiếm 65,03%, đất chuyên dụng chiếm 15,8%, đất ở chiếm 9,5% và đất chưa sử dụng là 8,72% (xem biểu 3)

Hiện trạng sử dụng đất hiện nay cho thấy mặc dù đất sử dụng vào mục

đích nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao (65,03%) nhưng do dân số của huyện

đông nên bình quân đầu người chỉ đạt 654 m2 thấp hơn so với mức trung bình của cả nước (1.100 m2/ người)

Trang 40

Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Hiệp Hoà

Tổng diện tích đất tự nhiên 20.107.916 100

5 Đất chưa sử dụng 1.753.211 8,72

6 Bình quân đất nông nghiệp/khẩu 0,654 ha

Nguồn: Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Hiệp Hoà -

tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2001 - 2010

Diện tích đất chia cho người dân sau khoán 10 hiện còn rất manh mún, thậm chí có hộ có tới 12 mảnh ruộng rải rác các khu đồng khác nhau

Hiện tại cơ sở hạ tầng huyện Hiệp Hoà còn chưa phát triển nên trong tương lai quỹ đất nông nghiệp của huyện sẽ chịu áp lực của những hoạt động

đầu tư phát triển (mở mang đường xã, xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp) Để đáp ứng mục tiêu sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực cho huyện, trong giai đoạn sắp tới đòi hỏi huyện một mặt trong đầu tư thâm canh trong sản xuất nông nghiệp, một mặt phải mở rộng và khai thác nguồn đất hoang chưa sử dụng để bổ sung cho quỹ đất nông nghiệp, khắc phục mức đất bình quân đầu người thấp

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng trọt - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Hình 1 Sơ đồ mối quan hệ giữa hệ thống nông nghiệp và hệ thống trồng trọt (Trang 9)
Bảng 2: Phân loại thổ nh−ỡng huyện Hiệp Hoà - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 2 Phân loại thổ nh−ỡng huyện Hiệp Hoà (Trang 39)
Bảng 5: Điều kiện lao động và dân số - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 5 Điều kiện lao động và dân số (Trang 47)
Bảng 6: Tình hình phát triển giáo dục của huyện 2000 - 2003 - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 6 Tình hình phát triển giáo dục của huyện 2000 - 2003 (Trang 50)
Bảng 8: Tình hình VH - TT, TDTT của huyện - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 8 Tình hình VH - TT, TDTT của huyện (Trang 52)
Bảng 9: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hiệp Hoà - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 9 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hiệp Hoà (Trang 57)
Bảng 10: Hệ thống luân canh cây trồng trên các loại đất - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 10 Hệ thống luân canh cây trồng trên các loại đất (Trang 62)
Bảng 12: Diện tích và hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng ở vùng 1 - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 12 Diện tích và hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng ở vùng 1 (Trang 67)
Bảng 13: Hiệu quả của công thức luân canh trên đất đủ nước - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 13 Hiệu quả của công thức luân canh trên đất đủ nước (Trang 70)
Bảng 16: Quan hệ giữa mức đầu t −  phân bón và năng suất lúa vụ xuân năm 2004 - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 16 Quan hệ giữa mức đầu t − phân bón và năng suất lúa vụ xuân năm 2004 (Trang 75)
Bảng 17: Hiện trạng hệ thống giống lúa - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 17 Hiện trạng hệ thống giống lúa (Trang 79)
Bảng 18: Hiện trạng về cấp giống lúa đang đ−ợc sử dụng tại huyện Hiệp Hoà - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 18 Hiện trạng về cấp giống lúa đang đ−ợc sử dụng tại huyện Hiệp Hoà (Trang 82)
Bảng 19: Hiện trạng hệ thống giống cây màu tại huyện - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 19 Hiện trạng hệ thống giống cây màu tại huyện (Trang 84)
Bảng 20: Kết quả thực nghiệm một số giống lúa mùa muộn - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 20 Kết quả thực nghiệm một số giống lúa mùa muộn (Trang 89)
Bảng 23: ảnh hưởng của việc che phủ nilon đến năng suất lạc TQ6 - Nghiêm cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống trồng trọt tại huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang
Bảng 23 ảnh hưởng của việc che phủ nilon đến năng suất lạc TQ6 (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w