Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Nga
Trang 3Lời cảm ơn
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tập thể
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo TS Trần Văn Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
- Các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn
- Tập thể Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá học và thực hiện luận văn
- Tập thể cán bộ Phòng Kinh tế, Phòng Tài Nguyên Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Dân tộc - Tôn Giáo, Trạm Khuyến nông, Ban Quản lý các dự án huyện Krông Bông; Sở Nông nghiệp, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đăk Lăk; UBND, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và toàn thể bà con nông dân là đồng bào Êđê và Mnông tại các xã Ea Trul, Dang Kang, Yang Mao, Cư Pui, đã nhiệt tình cùng tham gia, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu
- Các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Tây Nguyên, đã động viên, chia sẻ những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và luận văn
- Cuối cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn những người thân yêu trong gia
đình, luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện cả về cật chất và tinh thần để tôi học tập và thực hiện tốt luận văn
Buôn Ma Thuột, ngày 10 tháng 11 năm 2006
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Nga
Trang 4Mục lục Trang
Lời cam đoan
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Đất đai đối với phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc
thiểu số 2.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
2.1.3 Các xu hướng chính trong sử dụng đất nông nghiệp
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất ở các hộ nông
dân, đặc biệt đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ 2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
2.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
2.3 Hệ thống các công trình nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp
3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra
iiiiiivviviii113455
589
1115152027313131364646
Trang 53.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc
thiểu số huyện Krông Bông
4.1.1 Đặc điểm văn hoá và kinh tế của người Êđê và Mnông
4.1.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc
thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông
4.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở
các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông
4.2 Định hướng và các giải pháp chủ yếu sử dụng có hiệu quả đất nông
nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ huyện Krông
Bông
4.2.1 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
4.2.2 Mục tiêu phát triển kinh tế và phương hướng sử dụng đất nông
nghiệp ở huyện Krông Bông
4.2.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả đất nông
nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
5 Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
47495052
5252
55
77
9595
97
100111114122
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
Số thứ tự Chữ viết tắt, ký hiệu Nguyên nghĩa
9 GCNQSD Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
10 Go Giá trị sản xuất (Gross Output)
Trang 7Mối quan hệ giữa việc sử dụng máy móc và năng suất nông nghiệp
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1990 -
2003
Năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của Việt Nam giai
đoạn 1990 - 2004
Tỷ lệ diện tích và giá trị sản xuất nhóm cây lương thực
và cây công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 2004
ảnh hưởng của mức bón đạm đến trọng lượng hạt và năng suất ngô
Diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng của huyện Krông Bông
Cơ cấu và biến động đất đai của huyện Krông Bông
Tình hình biến động diện tích các loại cây trồng của huyện
Biến động năng suất, sản lượng các loại cây trồng của huyện
Tình hình dân số và lao động huyện Krông Bông
Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện Krông Bông
Kết quả chọn xã nghiên cứu
Kết quả chọn mẫu điều tra
Tình hình bố trí cơ cấu cây trồng trên đất nông nghiệp ở các hộ năm
2005
Cơ cấu diện tích cây trồng ở các hộ đồng bào
Năng suất và sản lượng các loại cây trồng ở các hộ
Mức đầu tư và hiệu quả các cây trồng trên 1 ha
Hiệu quả đầu tư chi phí và lao động đối với các loại cây trồng
Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ
So sánh hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở các
hộ
Hiệu qủa xã hội và môi trường đối với các loại cây trồng
Hiệu quả xã hội và môi trường đối với các loại hình sử dụng đất
Trang 8Phân tích SWOT đối với loại hình đất ruộng
Phân tích SWOT đối với loại hình đất rẫy
Phân tích SWOT đối với loại hình đất trồng cây lâu năm (cà phê)
Lựa chọn mô hình sử dụng đất ở các hộ đồng bào
Nguồn lực của các hộ đồng bào
Kết quả phân tích hàm C-D về ảnh hưởng của các yếu tố đến năng
suất một số cây trồng chính của hộ
Kết quả giao đất, diện tích đất nông nghiệp BQ hộ và giá trị sản xuất
BQ/ ha canh tác của huyện và cá xã
Tỷ lệ diện tích được tưới và ảnh hưởng đến sử dụng đất ở các hộ
Đối tượng mua nông sản của các hộ
Thời điểm và giá bán nông sản ở các hộ
Nguồn cung cấp tín dụng đối với các hộ đồng bào và mức độ hài
lòng về nguồn vốn vay
Kế hoạch sử dụng đất đai huyện Krông Bông đến năm 2010
Dự kiến phát triển và kết quả của các mô hình sử dụng đất ở các hộ
Dự kiến số lượng các công trình thuỷ lợi và khả năng tưới đến năm
Trang 9Danh mục biểu đồ và sơ đồ
Hiệu quả trên 1 ha các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm Hiệu quả trên 1 ngày công lao động các loại hình sử dụng đất cây hàng năm
Hiệu quả theo quy mô diện tích trên 1 ha của cây lúa nước Hiệu quả theo quy mô diện tích trên 1 ha của cây lúa rẫy Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề của mọi quá trình sản xuất Trong công nghiệp, thương mại và giao thông thì đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới giao thông, thuỷ lợi Còn trong nông nghiệp, đất đai tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu và không thể thay thế được Bàn về vai trò của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp, William Petty đã nhấn mạnh “Lao động là cha còn đất đai là mẹ của mọi của cải” [10, 53] Thuộc tính ưu việt của đất đai so với các tư liệu sản xuất khác là ở chỗ nếu đầu tư hợp lý vốn có thể cho lãi mà không mất tất cả vốn đầu tư trước
Việt Nam là một nước nông nghiệp nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chúng ta đang có nguồn đất đai quý giá làm chỗ dựa cho phát triển đất nước Với 73,68% dân số sống ở nông thôn và gần 60% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp [64], trong khi nông nghiệp là nguồn sống chính thì vấn đề ruộng đất luôn là vấn đề cốt tử đối với người nông dân Nước ta, đất hẹp, người đông; theo số liệu của Tổng cục Thống kê [64], năm 2004 dân số trung bình của cả nước là hơn 82 triệu người, mật độ dân số là 249 người/ km2 (cao gấp 5 lần so với trung bình thế giới và gấp 2 lần so với khu vực Đông Nam á) Do đó, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu gười thấp, khoảng 0,1 ha/ người, cứ một nhân khẩu sống ở nông thôn có 0,16 ha đất nông nghiệp [24] Với sức ép về vấn đề gia tăng dân số làm cho
đất đai ngày càng cạn kiệt, trong khi đó nhu cầu về nông sản phẩm ngày càng tăng thì việc sử dụng đất đai như thế nào để đáp ứng được yêu cầu đó là một vấn đề cấp thiết cần được quam tâm giải quyết
Để tạo điều kiện cho việc sử dụng ruộng đất đạt hiệu quả cao hơn, hàng loạt các chính sách liên quan trực tiếp đến vấn đề ruộng đất ở nông thôn ra đời Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 là mốc giới quan trọng, với các Nghị quyết
Trang 11của Đại hội về chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và đẩy mạnh ba chương trình sản xuất lớn (lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) đã tác động đến toàn bộ các lĩnh vực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực khai thác và sử dụng đất đai Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhất là từ sau năm 1990, nhiều biện pháp và chính sách cụ thể liên quan đến khai thác và sử dụng đất được ban hành Đối với các khu vực miền núi nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng, Nhà nước đã ban hành nhiều Nghị quyết, Nghị định nhằm bảo vệ
và phát triển vốn đất, rừng đang có nguy cơ suy thoái, trong đó đáng chú ý là Chỉ thị
525 TTg về duy trì và bảo vệ rừng, Nghị định 02/CP và Quyết định 202/TTg của Thủ tướng Chính phủ về giao đất, giao rừng cho người dân quản lý và bảo vệ… Nhờ
đó, sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: nhờ giải quyết tốt vấn
đề lương thực mới có điều kiện để thực hiện đa dạng hoá theo hướng tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị hàng hoá cao; từng bước hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá với quy mô lớn, đặc biệt phải kể đến là vùng chuyên canh lúa, cà phê, cao su,…Vấn đề đặt ra là do quá chú trọng đến khâu khai thác trong sử dụng đất để tạo ra nhiều sản phẩm, đất đai đã bị mất dinh dưỡng và thoái hoá nghiêm trọng, cần phải có biện pháp tác động hợp lý để vừa sử dụng đất có hiệu quả vừa nâng cao độ phì và bảo vệ môi trường sinh thái
Krông Bông là một huyện vùng sâu, vùng xa phía Đông Nam của tỉnh Đăk Lăk, là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em Năm 2005, toàn huyện có 15.868
hộ với 82.410 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 5.218 hộ, chiếm 33% Cũng giống như các địa phương khác trong khu vực Tây Nguyên, việc thực hiện các nội dung của Luật Đất đai đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực: diện tích trồng trọt
định canh theo hướng chuyển mạnh sang kinh tế hàng hoá được mở rộng, khối lượng sản phẩm lương thực và sản phẩm xuất khẩu tăng, đời sống của người dân và cơ sở vật chất kỹ thuật được cải thiện Năm 1995, tổng sản lượng lương thực có hạt của toàn huyện là 16.184 tấn (lương thực bình quân/ người là 268 kg); đến năm
2004, tổng sản lượng lương thực đã là 69.817 tấn (lương thực bình quân/ người là
849 kg) [46]
Trang 12Tuy nhiên, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp vào sản xuất ở các hộ, đặc biệt là khu vực đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ còn nhiều hạn chế, cơ cấu cây trồng đơn
điệu, năng suất và thu nhập trên đơn vị diện tích thấp, đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn Trong những năm qua, tình trạng dân di cư tự do vào địa bàn huyện không theo kế hoạch và quy hoạch chung làm cho một bộ phận không nhỏ hộ đồng bào thiếu đất để sản xuất, phải dựa vào rừng để kiếm sống Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường, đặc biệt đã tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống xã hội của
đồng bào dân tộc thiểu số Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn huyện nhằm tìm
ra các yếu tố hạn chế tác động; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai ở các hộ là rất cần thiết Với quan điểm đó,
chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu vấn đề sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông - tỉnh Đăk Lăk”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai ở các nông hộ đồng bào
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản về đất đai và sử dụng đất nông nghiệp
đối với hộ nông dân nói chung và hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ nói riêng;
- Đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông - tỉnh Đăk Lăk;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ;
- Định hướng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào trên địa bàn huyện
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm và lâu năm, hiệu quả của các phương thức sử dụng đất và các loại cây trồng ở các nông hộ
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng vấn đề sử dụng đất trồng cây hàng năm và lâu năm ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở huyện Krông Bông, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng có hiệu quả đất trồng cây hàng năm và lâu năm trên địa bàn nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu
Các số liệu của đề tài được nghiên cứu chủ yếu từ năm 2003, sau khi địa phương thực hiện chính sách của Chính phủ về vấn đề giao đất sản xuất cho các hộ
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
Thu thập các số liệu về tình hình sử dụng đất ở các hộ vào năm 2005 và định hướng giải pháp đến năm 2010
- Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại huyện Krông Bông - tỉnh Đăk Lăk
Trang 142 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Đất đai đối với phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất là một trong những nguồn tài nguyên tự nhiên quan trọng nhất, là cơ sở cho sản xuất nông lâm nghiệp Từ khi có loài người xuất hiện thì đất đã nuôi sống con người Các Mác đã nhấn mạnh: Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của nền sản xuất nông nghiệp” [dt.8, 2] Vậy đất đai là gì? Từ thời thượng cổ, trong quá trình sản xuất con người đã hiểu biết nhất định về đất Nhưng mãi đến năm 1886, học giả người Nga Docutraiep mới đưa ra một định nghĩa về đất tương đối hoàn chỉnh Theo ông, đất là một thể tự nhiên được hình thành do tác
động tổng hợp gồm 5 yếu tố: khí hậu, sinh vật, đá mẹ, địa hình, tuổi địa phương [8] Theo định nghĩa của William – một học giả người Anh: Đất là lớp mặt tơi xốp của
địa cầu có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng Như vậy, định nghĩa này đi sâu vào đất trồng hơn [8, 2] Theo quan điểm khác: đất được hình thành trong tự nhiên, là phần vỏ trái đất [48, 4] Theo quan điểm Kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm nước mặt đất và nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và động vật [65, 5]
Đất nông nghiệp, theo quy định của Luật Đất đai [49, 20] bao gồm đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm; đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Về phương diện kinh tế, đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau:
* Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế Đặc biệt vì không
giống như các tư liệu sản xuất khác ở chỗ: nếu sử dụng hợp lý thì chất lượng của
đất tăng lên Đặc điểm này có được là do đất đai có độ phì nhiêu [24, 26] Trong
Trang 15nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là
đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động vào đất làm cho đất thay hình đổi dạng như cày, bừa, đập đất… quá trình đó làm tăng chất lượng của đất đai, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suất cây trồng Đất đai là tư liệu lao
động, khi con người sử dụng công cụ sản xuất tác động lên đất, thông qua các thuộc tính lý học, hoá học, sinh học… để tác động lên cây trồng Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp [40, 122]
* Diện tích của đất đai bị hạn chế do giới hạn trong từng nông trại, từng vùng
và phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia Sự có hạn về diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn bởi khai hoang, tăng vụ trong từng điều kiện
cụ thể Đặc điểm này ảnh hưởng tới việc mở rộng quy mô của sản xuất nông nghiệp Quỹ đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc đô thị hoá, công nghiệp hoá và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng [19, 17] Tuy nhiên, mặc dù
bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của đất đai là không giới hạn, nghĩa là mỗi đơn vị diện tích đất đai, nhờ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, đưa khoa học và công nghệ mới vào sản xuất mà sản phẩm đem lại ngày càng nhiều hơn [40, 124] Đây là con đường kinh doanh chủ yếu của nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng lên về nông sản phẩm cung cấp cho xã hội
* Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền Trong khi các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển được từ vị trí này sang vị trí khác, từ nơi không thuận lợi sang nơi thuận lợi hơn, thì đối với đất đai, chúng ta không thể làm thế được Điều này là do mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện
tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước…), điều kiện kinh tế xã hội (dân số, lao
động, giao thông, thị trường…) [dt.23, 8] Do vậy, cần phải bố trí sản xuất nông nghiệp phù hợp với hệ sinh thái từng vùng và phát huy lợi thế so sánh của nó
Trang 162.1.1.2 Vai trò của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp và đối với nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
* Vai trò của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp
Đất đai là tài sản quý giá của mỗi quốc gia, vừa là tư liệu vừa là đối tượng của sản xuất của nông nghiệp Xã hội càng phát triển, nhu cầu sử dụng đất và nhu cầu về đáp ứng nông sản phẩm càng cao thì đất đai càng trở nên quý giá Đất đai
đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đất đai tham gia vào tất cả mọi quá trình sản xuất của xã hội
Trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Con người dùng đất đai để trồng cấy và chăn nuôi Không có đất đai thì không thể có sản xuất nông nghiệp Vì thế, số lượng và chất lượng đất đai quy định lợi thế so sánh cũng như cơ cấu sản xuất của mỗi vùng Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chính vì vậy, cần sử dụng đầy đủ và hợp lý để vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn và bảo vệ đất
Đối với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Do đó, đất ảnh hưởng rất quan trọng tới năng suất, chất lượng sản phẩm và tuổi thọ của cây trồng Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai
sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
* Vai trò của đất đai đối với nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
Các dân tộc thiểu số tại chỗ là những cư dân nông nghiệp; trong sản xuất, đất
đai chiếm vị trí trọng yếu, là nguồn sống chính của hầu hết cư dân Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhấn mạnh vai trò của đất đai “góp phần trực tiếp ổn định đời sống
đồng bào các dân tộc, hạn chế nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy, du canh, du cư” [51] Đối với nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, vai trò của đất đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tạo thu nhập bền vững, ổn định đời sống kinh tế Vì đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, trồng trọt là nguồn sống chính, đồng bào chủ yếu chỉ dựa vào
Trang 17đất đai để sinh sống, đất đai là cơ sở của nguồn sống vật chất và cũng là cơ sở trực tiếp của nhiều mặt đời sống tinh thần [17, 60] Chính vì vậy, việc khai thác và sử dụng hợp lý và có hiệu quả đất đai góp phần tạo việc làm và thu nhập bền vững, ổn
định kinh tế cho các nông hộ
- ổn định an ninh chính trị Đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, đời sống khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhiều hộ thiếu hoặc không có đất đai để sản xuất và đất ở Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng một bộ phận nhỏ đồng bào bị tác động bởi những thế lực thù địch gây nên tình hình an ninh, chính trị không ổn
định Chính vì vậy, việc bảo đảm ổn định đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ sẽ góp phần ổn định kinh tế, giữ vững an ninh chính trị đối với khu vực nói riêng và đối với cả quốc gia nói chung
- Thực hiện định canh, định cư, gìn giữ và bảo vệ môi trường sinh thái Đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, tập quán du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy đã ảnh hưởng lớn tới môi trường sinh thái Bên cạnh đó, nhiều hộ đồng bào vì thiếu hoặc không có đất sản xuất, đã khai thác rừng lấy gỗ bán để sinh sống Do đó, việc ổn định đất đai để sản xuất nông nghiệp còn góp phần định canh, định cư và giữ gìn, bảo vệ môi trường sinh thái
- Đất đai và nông hộ đồng bào có mối quan hệ mật thiết vừa mang tính kinh
tế, vừa mang tính xã hội, tình cảm và tâm lý sâu sắc Đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ, đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp được coi là trung tâm của các mối quan hệ xã hội Có đất là đồng bào có nguồn sống, có vị thế xã hội và có quyền
để được xã hội tôn trọng [79] Chính vì vậy, quá trình sử dụng đất đai gắn liền với quá trình khôi phục và phát triển phong tục, tập quán văn hoá và kinh tế sản xuất của các cộng đồng dân tộc thiểu số
2.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội trên cơ sở bảo đảm an toàn lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông sản cho xuất khẩu Do đó, việc sử dụng đất nông nghiệp cần bảo đảm các nguyên tắc sau:
Trang 18* Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý [19, 17]
Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai có nghĩa là toàn bộ diện tích được sử dụng hết vào sản xuất và việc bố trí cây trồng, vật nuôi phải trên cơ sở phù hợp với đặc
điểm kinh tế – kỹ thuật của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đồng thời giữ gìn và bảo vệ độ phì của đất
Việc thực hiện nguyên tắc này là cần thiết vì: quỹ đất nông nghiệp có hạn về diện tích, trong khi đó nhu cầu về nông sản ngày càng tăng Để đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm phục vụ xã hội và nâng cao độ phì cho đất thì bên cạnh việc sử dụng tiết kiệm đất đai, cần phải cải tạo, bồi dưỡng đất và có chế độ canh tác thích hợp
* Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao [19, 18]
Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất về sử dụng đất đai Muốn biết hiệu quả sử dụng đất đai, cần phải tính toán hàng loạt các chỉ tiêu: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, giá trị sản phẩm… Để nâng cao năng suất đất đai cần phải đẩy mạnh thâm canh bằng cách áp dụng một cách đồng bộ hệ thống các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất
* Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững trong sử dụng đất đai có nghĩa là cả về số lượng và chất lượng
đất đai phải được bảo tồn không những đáp ứng được mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường vì vậy quá trình sử dụng đất phải bảo đảm hài hoà các phương thức sử dụng đất, gắn liền với bảo vệ môi trường vì lợi ích trước mắt kết hợp với lợi ích lâu dài
2.1.3 Các xu hướng chính trong sử dụng đất nông nghiệp
* Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canh
Thâm canh là phương thức sản xuất tiên tiến nhằm tăng sản phẩm nông nghiệp bằng cách nâng cao độ phì nhiêu kinh tế của đất đai, thông qua việc đầu tư thêm vốn và kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp [40, 257]
Trang 19Lịch sử phát triển của sản xuất nông nghiệp trong nhiều thế kỷ, phương thức quảng canh tái sản xuất mở rộng đã chiếm ưu thế Với sự phát triển của sản xuất xã hội, nhu cầu đòi hỏi về lượng nông sản ngày càng lớn, nhưng khả năng mở rộng diện tích bị hạn chế, con người phải dựa vào khai thác chiều sâu của đất đai, bằng cách đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, trước hết là giống tốt, tiếp đó là việc giải quyết phân bón và vấn đề thuỷ lợi Thâm canh trong sản xuất nông nghiệp đã trở thành khuynh hướng chung có tính quy luật, gắn liền hữu cơ với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa học – kỹ thuật Lê nin đã chỉ rõ: “Hiện tượng nông nghiệp được thâm canh hoá không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, có tính chất
địa phương tạm thời, mà là hiện tượng phổ biến trong tất cả các nước văn minh” [dt.40, 258-259]
* Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng kết hợp giữa đa dạng hoá, chuyên môn hoá trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng
Chuyên môn hoá là hình thức trồng hoặc nuôi một hoặc vài cây, con với quy mô lớn, trên cơ sở phát huy những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khoa học kỹ thuật, lao động… Đa dạng hoá là hình thức sản xuất kết hợp nhiều cây, con với quy mô lớn Thực tế cho thấy khi mức sống còn thấp, với phương thức canh tác truyền thống thì vấn đề sử dụng đất nông nghiệp chỉ là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tự cung, tự cấp Xã hội phát triển, đời sống con người được cải thiện, vấn đề sử dụng đất cũng phải toàn diện và triệt để nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, đa dạng phục vụ nhu cầu của con người Việc kết hợp giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá là hình thức phát triển sản xuất hiệu quả nhất trên một đơn vị diện tích
* Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với bảo
vệ môi trường sinh thái
Theo Haen (1991), tất cả các dạng, hình thức sản xuất nông nghiệp đều liên quan đến sự biến đổi của một hệ sinh thái [dt.24, 221] Chính vì vậy, mong muốn quá trình sản xuất vẫn giữ nguyên tình trạng nguyên thuỷ của tự nhiên là không thực
tế Vấn dề đặt ra là quá trình khai thác, sử dụng đất đai như thế nào để đạt được sự cân bằng giữa lợi ích mang lại từ việc khai thác, sử dụng đất đai và lợi ích từ việc gìn giữ môi trường sinh thái
Trang 20Nhiều nước đang phát triển trên thế giới đã và đang định hướng lại sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là quá trình sử dụng đất, nhấn mạnh tới việc hướng tới môi trường sinh thái Đây cũng chính là mong muốn của mọi xã hội đối với việc gìn giữ môi trường tự nhiên, đồng thời đó cũng là lợi ích dài hạn của sản xuất nông nghiệp vì sản xuất lệ thuộc vào độ màu mỡ của đất đai, chất lượng nguồn nước và khí hậu
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề sử dụng đất ở các hộ nông dân, đặc biệt
đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
2.1.4.1 Các yếu tố tự nhiên
Môi trường tự nhiên của lãnh thổ (đất đai, khí hậu, địa hình, vị trí địa lý…) là tiền đề cơ bản và có ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn hệ thống cây trồng, cũng như quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Mỗi loại cây trồng chỉ có thể sống và phát triển trong những hoàn cảnh tự nhiên nhất định
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp, trong đó các yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đó là:
* Đất trồng: Đất trồng là nơi để cây trồng sinh trưởng và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây Vì vậy, độ phì và đặc tính lý hoá của đất trồng đều có ảnh hưởng lớn tới kết quả và hiệu quả sử dụng đất Đất tốt hay xấu đóng vai trò quyết định đến
năng suất và chủng loại cây trồng “Đất nào cây ấy”, nghĩa là mỗi loại cây trồng
chỉ thích hợp với từng loại đất nhất định Đất tốt (đất tơi xốp, nhiều mùn, thoáng khí, tầng canh tác dầy và có những đặc tính vật lý, hoá học phù hợp) thì sẽ cho năng suất cao, đất trồng đa dạng cũng cho sản phẩm đa dạng và ngược lại Mặt khác, quỹ đất trồng nhiều hay ít còn ảnh hưởng tới phương hướng sản xuất và hình thức canh tác
* Nước và khí hậu: Nước và khí hậu là yếu tố tác động rất mạnh mẽ, quyết
định việc xác định cơ cấu cây trồng, thời vụ sản xuất; đồng thời ảnh hưởng tới khả năng thực hiện các biện pháp gối vụ, xen canh, tăng vụ Điều kiện thời tiết còn có tác dụng kìm hãm hay thúc đẩy sự phát sinh lan tràn của các loại sâu bệnh đối với cây trồng, làm ảnh hưởng tới năng suất cây trồng
Trang 21* Địa hình: Địa hình khác nhau ảnh hưởng tới phương thức canh tác, tạo những thuận lợi hay gây khó khăn đối với việc sử dụng đất nông nghiệp Địa hình dốc ở những vùng đồi núi gây khó khăn cho việc làm đất (nhất là sử dụng máy móc), đất nhanh bị rửa trôi, bạc màu, không giữ được nước, công tác thuỷ lợi khó khăn, gây trở ngại cho sản xuất
Đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là những cư dân sinh sống rải rác ở vùng
đồi núi, địa hình phức tạp, bị chia cắt Điều này gây trở ngại lớn cho sản xuất Nguồn tài nguyên đất đai trù phú, quy mô lớn, thuận lợi cho sản xuất hàng hoá, tập trung, nhưng canh tác chủ yếu diễn ra trên đất dốc Chính vì vậy, đất đai dễ bị xói mòn, rửa trôi; nếu không có biện pháp tác động hợp lý thì hiệu quả sử dụng đất đai
sẽ kém bền vững
2.1.4.2 Các yếu tố kỹ thuật
Các yếu tố kỹ thuật bao gồm khả năng ứng dụng kỹ thuật công nghệ và biện pháp kỹ thuật canh tác vào sản xuất nông nghiệp, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình khai thác và sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu Đối với các nước
đang phát triển gắn với thế mạnh nông nghiệp như Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc… con đường phát triển kỹ thuật trong nông nghiệp là tìm kiếm các kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, hay nói cách khác, tiến bộ kỹ thuật sinh học là yếu tố quyết định giúp nông dân tăng thu nhập [24, 135] Trong thực tế, việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất phụ thuộc vào trình
độ đầu tư các cơ sở hạ tầng kinh tế và trình độ, tập quán của cộng đồng nông dân
2.1.4.3 Các yếu tố kinh tế – xã hội
Các nhân tố kinh tế – xã hội ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ, quyết định
đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Các nhân tố kinh tế – xã hội bao gồm nhiều mặt:
* Năng lực và tập quán sản xuất của các chủ thể sử dụng đất
Đây là nhân tố quyết định đến vấn đề tổ chức và hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, đất nông nghiệp phần lớn được giao cho các hộ nông dân trực tiếp quản lý và sử dụng Năng lực của hộ nông dân được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 22- Khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất;
- Trình độ tổ chức quản lý;
- Khả năng ứng xử trước các thông tin về thị trường và môi trường sản xuất kinh doanh để ra các quyết định trong sản xuất – kinh doanh;
- Khả năng về vốn, cơ sở vật chất phục vụ sản xuất;
- Kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, trình độ tổ chức quản
lý và trình độ canh tác lạc hậu làm hạn chế khả năng sản xuất và nắm bắt thông tin thị trường Bên cạnh đó, đời sống kinh tế nghèo, thiếu các nguồn lực phục vụ sản xuất cũng là nguyên nhân cơ bản khiến các hộ không chủ động trong việc ra quyết
định đầu tư
Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt ở khu vực đồng bào thiểu số, Nhà nước và địa phương cần quan tâm tới việc nâng cao trình
độ và năng lực cho các chủ thể sử dụng đất thông qua các chính sách phù hợp
* Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thì giao thông là yếu tố quan trọng nhất Đây là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung, đặc biệt là việc hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá sản xuất Trong thực tế, nhiều vùng đất đai màu mỡ, khí hậu thời tiết thuận lợi, nhưng do giao thông vận tải yếu kém làm hạn chế sản xuất hàng hoá Bên cạnh đó, các yếu tố như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc cũng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả và hiệu quả sử dụng đát nông nghiệp; trong đó, thuỷ lợi có tác dụng quyết định đến khả năng tăng vụ và năng suất cây trồng
* Sự phát triển của các ngành sản xuất hỗ trợ
Các ngành sản xuất hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp là công nghiệp chế biến, dịch vụ cung cấp vật tư, phân bón, dịch vụ tín dụng, dịch vụ thu mua nông sản… Đối với các vùng chuyên môn hoá sản xuất, đặc biệt và vùng chuyên môn hoá sản xuất cây công nghiệp thì ảnh hưởng của các ngành sản xuất hỗ trợ là vô cùng
Trang 23quan trọng Sự phát triển của các ngành hỗ trợ này có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm khả năng sản xuất hàng hoá và vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Thị trường tiêu thụ các nông sản
Thị trường có tác dụng điều tiết mạnh mẽ đối với sự hình thành và phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá Sự biến động của thị trường nông sản cả trong và ngoài nước đều có sự tác động mạnh tới sản xuất nông nghiệp của cả nước và của từng vùng, kéo theo sự biến động về cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
* Quan hệ ruộng đất
Luật Đất đai 2005 [49] quy định rõ: các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cư… được Nhà nước trao quyền sử dụng đất ổn định thông qua giao đất, cho thuê đất; Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp và chính sách ưu đãi phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Người sử dụng đất phải có nghĩa vụ
sử dụng đúng quy hoạch, kế hoạch, đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng
đất xung quanh
Như vậy, việc Nhà nước giải quyết tốt mối quan hệ xã hội về ruộng đất vừa tạo động lực cho quá trình sử dụng đất đai, vừa tránh những mâu thuẫn xung đột về kinh tế – chính trị – xã hội Sự ổn định về chính trị – xã hội có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là đối với các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
* Các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp
Sự điều hành vĩ mô của Nhà nước cùng với những chính sách và biện pháp
đúng đắn góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp Chính sách, đó là phương cách, đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực [20, 9] Các chính sách của Chính phủ có
Trang 24tác động trực tiếp tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đó là: chính sách đất đai, chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, chính sách khuyến nông, chính sách tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, chính sách trợ giá sản phẩm nông nghiệp… Chính sách hỗ trợ của Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số Cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất và rừng Do đó, chính sách hỗ trợ sản xuất không chỉ góp phần tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tạo điều kiện thúc đẩy khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Cách đây 2 thập kỷ, khi dân số thế giới khoảng 5 tỷ người, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người là 0,3 ha Tình trạng đất chật, người đông đã là hiện tượng phổ biến đặc biệt ở các quốc gia Châu á Năm 1985, bình quân diện tích
đất nông nghiệp trên đầu người ở Châu á là 0,17 ha (trong đó Nhật Bản 398 m2, Đài Loan 472 m2, Hàn Quốc 530 m2, Việt Nam 1.080 m2,…), trong khi đó diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở Châu Âu là 0,26 ha, Nam Mỹ là 0,43 ha và Bắc
Mỹ là 0,71 ha [27, 49] Từ năm 1990 đến nay, trung bình mỗi năm dân số thế giới
có thêm hơn 80 triệu người [69, 343] Dân số tăng nhanh là một trong những lý do khiến đất sản xuất nông nghiệp ngày càng khan hiếm Sự phân bố dân cư không
đồng đều và tốc độ tăng dân số khác nhau giữa các khu vực khiến cho quy mô đất
đai và mức độ đáp ứng về lương thực, thực phẩm cho con người ở các khu vực có sự khác biệt lớn ở các nước giàu có của Châu Âu và Bắc Mỹ, khoảng 40% diện tích tự nhiên có thể canh tác được, dân số lại phát triển chậm vì thế bình quân diện tích đất nông nghiệp của một nông hộ nhỏ cũng từ 30 - 60 ha Các quốc gia này mới chỉ sử dụng khoảng 2/3 tiềm năng đất đai nông nghiệp của mình thì đã dư thừa lương thực, thực phẩm cho dân số [69,160] Trong khi đó, ở khu vực Trung Phi và Nam á, nguồn
đất nông nghiệp đã được sử dụng khá triệt để Quy mô đất đai canh tác của các nông
Trang 25hộ ở đây rất nhỏ (không tới 1 ha) Điều này không chỉ làm hạn chế khả năng cơ giới hoá mà còn làm hạn chế việc sản xuất hàng hoá và đẩy nông nghiệp tới chỗ sản xuất không đủ cho tiêu dùng tại chỗ
Hiện nay, để bảo đảm nhu cầu nông sản cho hơn 6 tỷ người, nông nghiệp thế giới đã khai thác trên 5.000 triệu ha đất đai Riêng đất canh tác nông sản phẩm trong
100 năm gần đây đã tăng từ hơn 500 triệu ha lên 1.500 triệu ha [55, 118]
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp hiện đại ở nhiều quốc gia trên thế giới đã dẫn tới sự phá hỏng sinh thái và suy thoái đất đai Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc UNEP [24, 221], khoảng 300 triệu ha trong tổng số 4.700 triệu ha đất nông nghiệp trên toàn thế giới đã bị suy thoái trầm trọng Trong đó, 120 triệu ha trong tình trạng không khôi phục được, hoặc nếu muốn khôi phục đòi hỏi chi phí rất lớn Nguyên nhân chủ yếu do xói mòn bởi nước và gió Khoảng 150 triệu
ha bị suy giảm chất lượng do nhiễm mặn Hàng năm có khoảng 10 đến 17 triệu ha rừng bị phá huỷ cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái đất
Theo Shahih Yusuf [54, 107], ngày nay có 900 triệu người tại khoảng 100 nước bị ảnh hưởng bởi sa mạc hoá và hạn hán Đến 2025, con số này sẽ tăng lên gấp
đôi và 25% diện tích mặt đất trên trái đất sẽ bị suy thoái do ngày càng có nhiều người khai thác quá mức các hệ sinh thái mỏng manh
Do yêu cầu ngày càng cao về lương thực, nguyên liệu và xuất khẩu đối với quá trình công nghiệp hoá và nâng cao thu nhập cho nông dân thì tăng trưởng nông nghiệp nhanh ở nhiều quốc gia đang phát triển là cần thiết Trong quá trình tăng trưởng nông nghiệp, hai phương thức chủ yếu được thực hiện là quảng canh và thâm canh Đối với phương thức quảng canh, do bóc lột chất dinh dưỡng tự nhiên trong
đất và phá rừng để mở rộng diện tích làm cho môi trường tự nhiên bị suy thoái, sản lượng và thu nập sẽ sụt giảm Đối với phương thức thâm canh, để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanh, tình trạng lạm dụng các hoá chất (phân bón, thuốc trừ sâu) cũng
sẽ làm suy thoái tài nguyên đất và nước
Trang 26Để đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm cho con người trên khắp hành tinh và
sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp thâm canh bằng tiến bộ kỹ thuật mới, đồng thời Chính phú các nước cũng
đã can thiệp bằng các chính sách thích hợp, tạo môi trường thuận lợi cho người sử dụng đất
Để tăng sản lượng nông nghiệp, ngoài việc ở rộng diện tích, còn có thể tiến hành thâm canh và tăng vụ đối với diện tích được tưới tiêu chủ động Theo dự báo của FAO [24, 222], trong những thập niên tới, 80% tổng sản lượng nông nghiệp sẽ
được sản xuất trên đất được thuỷ lợi hoá Phương thức thâm canh cũng có khả năng
bổ sung thêm và tạo cân bằng chất dinh dưỡng trong đất Việc sử dụng đúng liều lượng, chủng loại các loại thuốc trừ sâu bệnh và đầu tư phát triển hệ thống thuỷ lợi
đủ về số lượng cũng như bảo đảm chất lượng có thể ngăn chặn tình trạng nhiễm mặn
đất Việc khôi phục và bảo vệ rừng sẽ hạn chế tình trạng lũ lụt và sự thay đổi không lường được về khí hậu
Cơ giới hoá là một biện pháp được áp dụng triệt để ở các nước phát triển để nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Kết quả công bố của Ngân hàng thế giới (WB) [84, 306] cho thấy, năng suất nông nghiệp và vấn đề sử dụng máy móc trong sản xuất có mối quan hệ với nhau, kết quả được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa việc sử dụng máy móc và năng suất nông nghiệp
Chỉ tiêu
Cămpu -chia
Trung Quốc
Malai -xia
nêxia
Inđô-Nhật Bản
Hàn Quốc
Lào
Máy nông nghiệp*
Năng suất NN**
0207
1296
236.267
1745
593 28.665
3410.962
0
526
Ghi chú: * Số máy kéo tính trên 1.000 người sản xuất
**giá trị nông nghiệp gia tăng tính trên 1 người sản xuất (USD)
Trang 27Trên phạm vi toàn cầu, giống là khâu then chốt nhất trong phát triển nông
nghiệp Mô hình “Cách mạng xanh” lần thứ nhất trong những năm 60 đã từng phát
triển cao trong nông nghiệp ấn Độ và lần thứ hai trong những năm 70 ở Trung Quốc
đã phát triển cao hơn với năng suất cao gấp 3 - 4 lần Giống lúa lai với năng suất cao vượt trội đã được ứng dụng rộng rãi ở Trung Quốc Đến năm 1999, diện tích lúa lai của quốc gia này chiếm tới 18 triệu ha (trong tổng số 33 triệu ha trồng trọt) Nhờ vậy, trong 20 năm qua, Trung Quốc tăng được 250 triệu tấn thóc, dành ra được khoảng 2 - 3 triệu ha đất để trồng hoa quả Trên toàn thế giới, giống lúa lai của Trung Quốc cũng được trồng trên 10% diện tích đất nông nghiệp trồng lúa, sản lượng tăng hơn 20% [55, 96]
Cuộc “Cách mạng xanh” về giống cây con xuất hiện ở Thái Lan cũng đã
giúp cho quốc gia này không chỉ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới (trên 5 triệu tấn gạo/ năm) mà còn là quốc gia xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực
Như vậy, nhờ áp dụng công nghệ sinh học trong việc lai tạo giống mới và phương thức canh tác tiến bộ, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đông dân ở khu vực Châu á từ chỗ thiếu lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng nội bộ đến nay đã có nông sản để xuất khẩu
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, Chính phủ thực hiện các chính sách can thiệp để vừa nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai, vừa bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao thu nhập cho người nông dân
Là quốc gia đất chật người đông, nguồn tài nguyên nghèo nàn, chính quyền
Đài Loan rất chú trọng tính công bằng trong phân phối quỹ đất nông nghiệp cho các
hộ nông dân và luôn kêu gọi sử dụng đất có hiệu quả Chính quyền chủ trương hạn chế quy mô sở hữu tư nhân về đất nông nghiệp thông qua quy định mức tối đa ruộng
đất chiếm hữu cá nhân Nhà nước trưng mua số đất nông nghiệp vượt quá mức quy
định để bán cho nông dân nghèo với giá bán đúng bằng giá mua Kết quả là tạo điều kiện cho 20% hộ nông dân được nhận ruộng mới (chiếm 16% quỹ đất nông nghiệp) Ngoài ra, chính quyền Đài Loan còn áp dụng chính sách hỗ trợ và khuyến khích nông dân đầu tư cải tạo đất và giảm thuế đất nông nghiệp từ 50 - 70% xuống còn
Trang 2835% sản lượng thu hoạch tạo điều kiện để nông dân có thu nhập cao hơn để tích luỹ phát triển sản xuất Để tăng quy mô sử dụng đất và khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả, chính quyền cũng đã thực hiện chính sách cho phép nông dân chuyển nhượng đất nông nghiệp cho nhau
ở Nhật Bản, “Luật về tổ chức lại ngành nông nghiệp tại các vùng cần phát
triển” đã xác định các vùng chuyên canh nông nghiệp sản xuất hàng hoá nông sản
tập trung để Nhà nước đầu tư kết cấu hạ tầng cần thiết phục vụ cho sản xuất thâm canh, áp dụng quy trình canh tác tiến bộ, thay đổi quy trình canh tác truyền thống của nông dân để đạt năng suất, chất lượng cao Chính quyền Nhật Bản đưa ra các quy định cụ thể đối với người sử dụng đất buộc phải tiến hành những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng như: khuyến khích và mở rộng việc nông dân trao đổi đất cho nhau, từng bước hợp lý hoá quy mô canh tác của mỗi hộ nông dân, giảm thiểu các mảnh ruộng có diện tích quá nhỏ, phối hợp các hộ cùng canh tác một loại sản phẩm thì áp dụng một loại quy trình canh tác thống nhất…
Mặc dù Chính phủ Hàn Quốc đã có nhiều nỗ lực hỗ trợ nông dân tăng quy mô đất canh tác, nhưng không dễ dàng giải quyết vì gặp phải rất nhiều cản trở từ cả phía chủ đất và nông dân Đến những năm 1990, quy mô đất canh tác của các hộ nông dân trực tiếp sản xuất vẫn còn rất nhỏ, bình quân chỉ đạt 1,3 ha vào cuối năm
1997 Chính phủ phải tiếp tục chi ngân sách nhằm hỗ trợ nông dân mua thêm đất của các chủ đất để tăng quy mô diện tích canh tác Từ năm 1988 đến 1997, tổng số tiền chính phủ đầu tư cho các chương trình hỗ trợ nông dân tăng quy mô đất canh tác (bình quân 3 ha/ hộ), sử dụng đất có hiệu quả cao, giảm tiêu hao vô ích trong quá trình canh tác lên 2,9 tỷ Won [79, 65]
Để hỗ trợ cho sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, chính quyền nhiều quốc gia còn kết hợp thực hiện nhiều chính sách khác như chính sách
hỗ trợ đầu vào cho sản xuất, chính sách tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Một số nước còn áp dụng chính sách trợ cấp Ví dụ: Mỹ trợ cấp 66,2 tỷ USD chiếm 28,3% tổng thu nhập của ngành nông nghiệp; úc 1,7 tỷ USD (14,5%); Nhật Bản 42,3 tỷ (68,9%) [dt.23, 38]
Trang 292.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình trên thế giới Theo số liệu của Tổng cục Thống kê [64], năm 2003, tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là 32.931,4 ngàn ha (xếp vị trí thứ 60 trong số 160 nước trên thế giới), trong đó, đất nông nghiệp là 9.531,8 ngàn ha (chiếm 28,9%) Mặc dù là một quốc gia đông dân (năm 2004, dân số hơn 82 triệu người, chiếm 1,3% dân số toàn thế giới) nhưng diện tích đất chưa sử dụng vẫn chiếm tỷ trọng cao (26,9% trong tổng diện tích tự nhiên) Phần lớn diện tích đất chưa sử dụng là đất đồi núi với diện tích là 6.690,8 ngàn ha Như vậy, nếu có biện pháp thích hợp thì Việt Nam vẫn có khả năng
mở rộng diện tích đất nông nghiệp để phục vụ sản xuất
Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp Đất chuyên dùng
Đất ở Đất chưa sử dụng
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất đai ở Việt Nam năm 2003
Trong 13 năm trở lại đây, quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam có sự biến động
đáng kể [64]: Năm 1990, quỹ đất nông nghiệp là 6.933,2 ngàn ha, chiếm 21% tổng diện tích tự nhiên Nhờ khai hoang, phục hoá những diện tích bỏ hoang nên diện tích
đất nông nghiệp được mở rộng và liên tục tăng Đến năm 2003, diện tích đất nông nghiệp tăng 2,6 triệu ha so với năm 1990 (bình quân mỗi năm tăng 200 ngàn ha)
Quỹ đất nông nghiệp tăng, chủ yếu là đất trồng cây lâu năm, từ 604,7 ngàn
ha năm 1985 lên 1.533,5 ngàn ha năm 1997 (tăng 154%) Trong đó, Tây Nguyên
Trang 30tăng 304,7 ngàn ha (tương ứng 320%), Đông Nam Bộ tăng 345,5 ngàn ha (tương ứng 53%) Điều đáng lưu ý là quỹ đất lúa giảm, trong 13 năm diện tích đất lúa của cả nước giảm 97,06 ngàn ha, trong đó đồng bằng sông Hồng giảm 51,54 ngàn ha [40, 129]
Ngàn ha 850.7
910.6 435.9 756.8 549.3
1326.9 1741.1
2960.5
ĐBSH
Đông Bắc Bộ Tây Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Duyên Hải NTB Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐBSCL
Biểu đồ 2.2: Quy mô đất nông nghiệp phân theo vùng (năm 2003)
Quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam tập trung nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long Năm 2003, diện tích đất nông nghiệp của vùng này là 2.960,5 ngàn ha, chiếm 31% tổng quỹ đất nông nghiệp của cả nước; kế đến là các vùng Đông Nam Bộ (chiếm 18%), Tây Nguyên (chiếm 14%), Đông Bắc Bộ (chiếm 9,6%) và đồng bằng sông Hồng (chiếm 9%) [64]
Đối với Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người vốn đã thấp lại ngày càng giảm đi Theo báo cáo của FAO [dt.24, 34]: diện tích đất nông nghiệp bình quân trên nhân khẩu ở Việt Nam là 0,13 ha, xếp hạng 159 trên 200 nước Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên nhân khẩu nông nghiệp là 0,17 ha Quy mô này thấp hơn bình quân chung của 27 nước đang phát triển (0,23 ha) Trong khi đó, ở một số nước phát triển, chỉ tiêu này là 5,91 ha/ người So với các nước láng giềng (Malaixia 0,9 ha; Thái Lan 0,66 ha; Cămpuchia 0,54 ha; Myanmar 0,52 ha; Inđônêxia 0,26 ha) thì chỉ tiêu này ở Việt Nam thấp hơn nhiều
Trang 311162 477 985 1726
720 787
2839
1320 1734
0 500 1000 1500 2000 2500 3000
Cả n
ước
ĐBSH
Đông B
ắc BộTây B
ắc B ộ
Bắc Tru
ng Bộ
Duy
ên H
ải NTB
Tây Nguy ên
Biểu đồ 2.3: Đất nông nghiệp bình quân đầu người phân theo vùng (năm 2004)
Do sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hoá nông thôn tăng nhanh làm cho quy mô đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm xuống Đến năm 2004, đất nông nghiệp bình quân nhân khẩu của cả nước còn 1.162 m2, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng chỉ có 477 m2, Bắc Trung Bộ 720 m2, Duyên hải Nam Trung Bộ 787 m2
Như vậy, nguồn lực đất đai trong nông nghiệp ở nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới là rất hạn chế Chính vì vây, việc sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất đai, đặc biệt đất nông nghiệp là yêu cầu cấp bách và việc phân loại đất đai là cơ sở để thực hiện sử dụng đất đai theo yêu cầu đó Vấn đề
sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay bao gồm một số loại hình chính sau [62, 44]:
Các loại hình sử dụng đất bền vững: bao gồm loại hình sử dụng trồng lúa 2
-3 vụ trên đất phù sa; loại hình sử dụng trồng lúa - màu trên đất xám, đất phù sa, đất cát; loại hình sử dụng trồng cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả trên đất bazan
- Những loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế (khoảng 1,5 triệu ha): bao gồm loại hình sử dụng trồng 1 vụ lúa chiêm hoặc 1 vụ lúa mùa Các loại hình sử dụng này chưa tận dụng được đất đai, hiệu quả kinh tế thấp và bấp bênh
Trang 32- Loại hình sử dụng đất không bền vững về môi trường (khoảng 1,5 triệu ha): chủ yếu là loại đất trồng cây cạn ngắn ngày chờ nước mưa Do địa hình cao, dốc, lại không có khả năng tưới nên đất khô, dễ bị rửa trôi, xói mòn
- Loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế và môi trường: là loại hình
đất đồi núi trọc, diện tích khoảng 12,9 triệu ha
Trong những năm qua, nhờ công cuộc Đổi mới kinh tế, nền nông nghiệp Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân giai
đoạn 1990 - 2004 là 5,6% năm (biểu đồ 2.4), Việt Nam đã giải quyết tốt vấn đề lương thực và trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới Đạt được kết quả
đó là nhờ vào sự đóng góp của ngành trồng trọt, đặc biệt phải kể đến hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai trong nông nghiệp Có thể khái quát vấn đề này qua các bảng 2.2, 2.3, 2.4
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 2003
1 Đất nông nghiệp (ha) 6.933,2 7.993,7 9.345,3 9.531,8 % trong tổng diện tích tự nhiên (%) 20,99 24,21 28,38 28,94Chia ra: + Đất trồng cây hàng năm (ha) 5.490,9 5.586,7 5.682,6 5.958,4 + Đất trồng cây lâu năm (ha) 938,5 1.272,7 2.104,0 2.303,2
2 DT trồng cây hàng năm (ha) 8.101,5 9.224,2 10.540,3 11.261,4
3 Hệ số SD đất cây hàng năm (lần) 1,48 1,65 1,85 1,89
Nguồn: Tổng cục Thống kê [64]
Trong giai đoạn 1990 - 2003, diện tích đất trồng cây hàng năm và lâu năm
đều liên tục tăng Năm 2003, diện tích đất trồng cây lâu năm bao gồm cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả tăng 2,5 lần Hệ số sử dụng đất đối với cây hàng năm tăng từ 1,48 năm 1990 lên 1,89 năm 2003
Trang 33
%
96 98 100 102 104 106 108 110
1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004
Nông nghiệp Trồng trọt
Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1990 - 2004
Trong những năm gần đây (2000 - 2004), năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng lên rõ rệt Sản lượng lúa đạt xấp xỉ 35,9 triệu tấn vào năm 2004 Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người đạt trên 479 kg (đồng bằng sông Cửu Long là 1.095 kg) Việt Nam đã đạt mức kỷ lục về xuất khẩu gạo vào năm 2005 là 5,3 triệu tấn
Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích các loại cây có giá trị kinh tế cao như cây công nghiệp, giảm diện tích trồng cây lương thực không chỉ góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng
đất mà còn đáp ứng tốt hơn nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội
Như vậy việc sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tăng cường thâm canh, tận dụng nguồn đất đai sẵn có và bố trí hệ thống cây trồng phù hợp trên cơ sở chú trọng cây có giá trị hàng hoá cao là cơ sở để nâng cao thu nhập và hiệu quả sử dụng đất
đai trong nông nghiệp ở nước ta
Trang 34B¶ng 2.3 : N¨ng suÊt vµ s¶n l−îng mét sè c©y trång chÝnh cña ViÖt Nam
Trang 35Bảng 2.4: Tỷ lệ diện tích và giá trị sản xuất nhóm cây lương thực
và cây công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 2004 (%)
Một là, đất nông nghiệp đang sử dụng bị chia cắt manh mún, làm hạn chế
việc quản lý và sử dụng có hiệu quả, đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Hồng Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2002) [79, 82]: Năm 2000, cả nước có 75 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân một hộ có 6 - 7 thửa (hộ ít nhất 3 thửa, hộ nhiều 10 đến 20 thửa) Ví dụ, ở tỉnh Hà Tây, trung bình một hộ có 9,5 thửa, diện tích bình quân 216 m2; số liệu này ở tỉnh Vĩnh Phúc là 9 thửa và 288 m2
Hai là, chưa khai thác triệt để nguồn đất nông nghiệp đang sử dụng và hiệu
quả sử dụng đất còn thấp Năng suất ruộng đất bình quân đạt 1.000 USD, trong khi
có nhiều mô hình đạt 3.000 - 5.000 USD; so với các nước trong khu vực còn thấp hơn nhiều (Đài Loan năng suất ruộng đất đạt 15.000 USD [24, 35]
Ba là, tình trạng đất bị suy thoái diễn ra khá phổ biến Điều này là do:
+ Xói mòn rửa trôi do tình trạng phá rừng: Trung bình hàng năm, lớp đất màu
bị hao mòn từ 1 - 2 cm chiều dày, làm mất khoảng 140 - 300 tấn đất màu/ ha, trong khi trong 1 tấn đất màu có 20 kg đạm, 1,5 kg lân và 32 kg kali [24, 35];
Trang 36+ Mất cân đối dinh dưỡng trong đất do sử dụng phân bón và bố trí cây trồng không hợp lý
Như vậy, để sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn lực đất đai trong nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nông sản phẩm phục vụ cho xã hội, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó đặc biệt chú trọng việc sử dụng đầy đủ
và khai thác có hiệu quả kết hợp với bảo vệ đất đai
2.3 Hệ thống các công trình nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều các công trình, đề tài nghiên cứu về vấn
đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam Mỗi công trình nghiên cứu đều có cách tiếp cận và mục tiêu riêng xoay quanh vấn đề về thực trạng, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và những biện pháp tác động để sử dụng hiệu quả và bền vững đất đai ở cả cấp vùng và cấp Trung ương
Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 -2005 [57] do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 225/ 1999/ QĐ-
TTg ngày 10/ 9/ 1999 Đây là một chương trình đầu tư quy mô lớn và toàn diện lần
đầu tiên được thực hiện ở nước ta Một trong những mục tiêu của Chương trình là bảo đảm đủ giống tốt cung cấp cho nhu cầu phát triển sản xuất Kết quả đã chọn tạo
được 69 giống lúa, 31 giống ngô, 12 giống đậu tương, 8 giống cây công nghiệp,… Các giống cây trồng mới này hầu hết đều có phẩm chất tốt, gieo trồng được ở nhiều vùng sinh thái trong cả nước và cho năng suất cao hơn giống cũ từ 10 - 15% Nhờ việc gieo cấy hơn 1,6 triệu ha giống lúa mới trên góp phần làm tăng sản lượng lương thực là 794.267 tấn, tương ứng với số tiền gần 2 tỷ đồng Tương tự, việc trồng các giống ngô mới đã góp phần làm tăng thêm sản lượng ngô là hơn 30 ngàn tấn, làm lợi cho nông dân khoảng 60,4 tỷ đồng
Chương trình ứng dụng các mô hình nông lâm nghiệp công nghệ cao [26] với
mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành nông sản để nâng cao
Trang 37sức cạnh tranh của các nông sản xuất khẩu, đồng thời xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững Kết quả của Chương trình đã xây dựng được các mô hình trồng hoa, rau an toàn ở Đà Lạt, Hà Nội, Vĩnh Phúc; mô hình vườn ươm cây giống trong nhà lưới ở Bến Tre,… đều cho thu nhập cao hơn so với các phương thức canh tác truyền thống
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Trương Đức Rân, Nguyễn Thị Lan [53]; Nguyễn Đình Chinh, Nguyễn Đình Long [6], Phạm Minh Trí [66], Phạm Văn
Hồng, Ngô Văn Hải [25], Nguyễn Thế Yên [83] … đều quan tâm đến vấn đề cải
tiến hệ thống cây trồng trên cơ sở phát huy lợi thế sản xuất nông nghiệp nhằm nâng
cao thu nhập của hộ nông dân và bảo vệ môi trường
Để giảm mức tưới cho cây trồng trong điều kiện khô hạn, tác giả Trần Viết
ổn (2006) đã có đề tài Nghiên cứu khả năng dịch chuyển thời vụ nhằm làm giảm
mức tưới vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên [42] Nội dung của đề tài là nghiên
cứu bố trí thời gian gieo trồng hợp lý để vừa bảo đảm yêu cầu cho năng suất cao và
ổn định vừa tiết kiệm được nước tưới
Nghiên cứu về ảnh hưởng của mức đạm đến sự sinh trưởng và năng suất ngô
lai ở đồng bằng sông Cửu Long của Dương Văn Chín (2006) [5] đã cho kết quả ở
các mức bón đạm khác nhau, sự sinh trưởng, phát triển và năng suất ngô lai có sự khác biệt lớn, kết quả được trình bày ở bảng 2.5
Trang 38Nghiên cứu của Lê Văn Dũng, Ngô Hữu Tình về ảnh hưởng của tỷ lệ trồng
ngô - lạc đến sinh trưởng và năng suất của hệ thống xen trong vụ xuân ở Thọ Xuân, Thanh Hoá [13] cho kết quả như sau: Tỷ lệ trồng xen 1 ngô - 1 lạc thì năng suất của
hệ thống quy ra ngô là 72,29 tạ/ ha; tương tự 1 ngô - 3 lạc (79,93 tạ/ ha); 1 ngô - 5 lạc (85,89 tạ/ ha); 1 ngô - 7 lạc (80,06 tạ/ ha); 1 ngô - 9 lạc (81,01 tạ/ ha); ngô thuần (49,35 tạ/ ha), lạc thuần (26,19 tạ/ ha) Như vậy, việc lựa chọn tỷ lệ trồng xen cũng
đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất
Tây Nguyên với đặc thù khí hậu 2 mùa, trong đó mùa khô kéo dài 6 tháng
Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc bố trí hệ thống cây trồng và hiệu quả sử dụng đất đai Chính vì vậy, trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau đã đề cập đến việc nghiên cứu, xây dựng và cải tiến hệ thống cây trồng, đặc biệt là cây trồng cạn
Các công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Lương về Xây dựng các mô hình
cây trồng cạn ngắn ngày hợp lý ở Đăk Lăk không chỉ góp phần tăng hiệu quả kinh
tế sử dụng đất trên những diện tích trồng trọt cây ngắn ngày mà còn có tác dụng cải thiện môi trường sinh thái [33], [34], [35] Kết quả nghiên cứu thể hiện khá rõ sự khác biệt về hiệu quả giữa mô hình truyền thống của hộ nông dân (Mo) và các mô hình nghiên cứu Cụ thể, trên đất chân vàn, mô hình trồng 1 vụ lúa (Mo) thì tổng thu trên 1 ha là 3,6 triệu; thu nhập thuần là 1,4 triệu; trong khi mô hình trồng xen ngô -
đậu xanh (vụ 1) và lúa cạn (vụ 2) thì số liệu tương ứng là 13,8 triệu và 7,8 triệu Trên đất cao, mô hình đậu xanh (vụ 1) - Ngô địa phương (vụ 2) (Mo): tổng thu 8 triệu/ ha, thu nhập 3,4 triệu/ ha; mô hình trồng xen ngô lai - đậu xanh (vụ 1) và ngô lai (vụ 2): 14,7 triệu và 8,4 triệu; mô hình trồng 2 vụ ngô lai: 16 triệu và xấp xỉ 9 triệu
Đề tài Xây dựng mô hình thâm canh cây trồng cạn [37] và Nghiên cứu phát triển một số hệ thống canh tác trên đất cạn [38] của tác giả Trịnh Xuân Ngọ tại
huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum cũng đã góp phần xây dựng chế độ canh tác hợp lý,
Trang 39có hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường cho các vùng đất dốc và đất cạn; đồng thời xây dựng hệ thống cây trồng cạn phù hợp với đặc điểm đất đai, khí hậu, tập quán canh tác của người dân trong khu vực Qua tính toán của tác giả, sản lượng lúa cạn của toàn huyện Sa Thầy tăng thêm1.999 tấn/ năm (tương ứng số tiền gần 2,6 tỷ
đồng) là do trồng giống lúa mới kết hợp đầu tư thâm canh
Nghiên cứu tại vùng thấp huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum, tác giả Nguyễn Hữu
Tháp và Đặng Văn Minh đã có công trình nghiên cứu áp dụng hàm sản xuất Cobb -
Douglas để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất cây trồng [59] Kết luận
của đề tài là năng suất cây trồng tỷ lệ thuận với mức chăm sóc và đầu tư phân bón, nếu được đầu tư thâm canh tốt hơn thì tiềm năng tăng năng suất cây trồng ở địa phương vẫn còn cao
Tóm lại, về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu Các nghiên cứu mặc dù ở các phạm vi không gian và thời gian khác nhau; đồng thời cách tiếp cận cũng khác nhau nhưng đều hướng tới việc xây dựng và cải tiến các mô hình canh tác phù hợp với điều kiện của từng vùng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và bảo vệ môi trường sinh thái Bên cạnh đó, các đề tài cũng đã quan tâm tới việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất ở cả khía cạnh kinh tế và kỹ thuật để có biện pháp tác động phù hợp
Tuy nhiên, những tác động về mặt xã hội liên quan tới vấn đề sử dụng đất đai trong nông nghiệp, đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ ở vùng sâu, vùng xa còn ít được quan tâm nghiên cứu
Do vậy, nội dung của đề tài này là nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ vấn đề
sử dụng đất nông nghiệp ở các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong mối quan
hệ tổng thể kinh tế - xã hội và môi trường, tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn đất nông nghiệp sẵn có ở địa bàn nghiên cứu
Trang 403 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Krông Bông nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đăk Lăk, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 55 km về phía Tây Bắc, ranh giới hành chính của huyện như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Krông Pắc và Ea Kar;
- Phía Nam giáp huyện Lăk;
- Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà và tỉnh Lâm Đồng;
- Phía Tây giáp huyện Krông Ana
Toàn huyện có 1 thị trấn và 13 xã, bao gồm thị trấn Krông Kmar; các xã Yang Reh, Ea Trul, Hoà Sơn, Khuê Ngọc Điền, Hoà Lễ, Hoà Phong, Cư Pui, Cư Drăm, Yang Mao, Hoà Tân, Cư Kty, Hoà Thành và Dang Kang
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Nằm tiếp giáp giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột với Trường Sơn Nam nên địa hình của huyện bị chia cắt mạnh, thấp dần theo hướng Đông Nam xuống Tây Bắc, bao gồm 3 dạng địa hình chính sau:
- Dạng địa hình núi cao: Diện tích 79.637 ha, chiếm 63,70% diện tích tự nhiên toàn huyện, tập trung thành vòng cung lớn bao quanh 3 phía Bắc, Đông và Nam; mức độ chia cắt mạnh; độ cao trung bình từ 1.500 - 2.500 mm, độ dốc trên
25O; hiện trạng chủ yếu là rừng tự nhiên, không thích hợp cho phát triển nông nghiệp
- Dạng địa hình núi thấp: Diện tích 23.829 ha, chiếm 19,06% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở khu vực phía Bắc - Đông Bắc huyện và trải dài từ Đông sang Tây, độ cao trung bình từ 500 - 1.000m, độ dốc phổ biến từ 15 - 25O Dạng địa hình này cũng không phù hợp cho phát triển nông nghiệp, hiện trạng chủ yếu là rừng
tự nhiên