1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk & roome)

92 841 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần, mức độ phổ biến của một số bệnh hại chính, diễn biến bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk. & Broome)
Tác giả Vũ Hồng Tráng
Người hướng dẫn TS. Đỗ Tấn Dũng
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 5,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

vũ hồng tráng

Nghiên cứu thành phần, mức độ phổ biến của một số bệnh hại chính, diễn biến

bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk &Broome)

trên cà phê chè tại huyện A Lưới,

tỉnh Thừa Thiên Huế và biện pháp phòng trừ

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: tS đỗ tấn dũng

Hà Nội - 2006

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và ch−a hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đ0 đ−ợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đ0 đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Vũ Hồng Tráng

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy TS Đỗ Tấn Dũng – Bộ môn Bệnh Cây, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Xin chân thành cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa, tập thể giáo viên, cán

bộ, công nhân viên Khoa Sau Đại học, Khoa Nông học trường ĐHNNI Hà Nội đ0 tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban l0nh đạo và tập thể cán bộ, công nhân viên Trung tâm nghiên cứu và phát triển Cà phê chè, thuộc viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc đ0 tạo mọi điều kiện cho tôi làm việc và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn tới anh em đồng nghiệp trạm nghiên cứu Cà phê

A Lưới, nông trường Cà phê A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế nơi tôi triển khai các thí nghiệm nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu về vật chất cũng như tinh thần của những người thân trong gia đình, tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Vũ Hồng Tráng

Trang 4

Mục lục

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới và trong nước 20

4.2 Xác định thành phần bệnh hại chính trên cà phê chè tại huyện Alưới –

4.2.1 Thành phần, mức độ hại của một số bệnh hại chính trên cà phê chè

Trang 5

4.2.2 Điều tra tình hình bệnh khô cành khô quả và vàng lá trên cà phê chè

4.2.3 Điều tra tình hình bệnh lở cổ rễ và vàng lá trên cà phê chè kiến thiết

4.2.4 Điều tra sự phát sinh phát triển của bệnh gỉ sắt trên cà phê chè tại

4.3 Điều tra diễn biến bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor) hại trên cà

4.3.1 Tỷ lệ, mức độ hại của bệnh nấm hồng trên cà phê tại A Lưới, tỉnh

4.3.2 ảnh hưởng của cây che bóng đến mức độ hại của bệnh nấm hồng

4.3.3 ảnh hưởng của giống cà phê chè đến mức độ phát sinh phát triển của

4.3.6 Sự phân bố mức độ hại của bệnh nấm hồng trên các tầng cành của

4.3.7 ảnh hưởng của phân bón đến mức độ hại của bệnh nấm hồng trên cà

4.3.8 ảnh hưởng của hoá tính đất đến mức độ hại của bệnh nấm hồng trên

4.4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc hoá học phòng trừ bệnh nấm

Trang 6

4.4.1 Hiệu lực của thuốc Anvil 5SC ở các nồng độ khác nhau đối với bệnh

Trang 7

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

CSB : ChØ sè bÖnh

KD : Kinh doanh

HL : HiÖu lùc KTCB: KiÕn thiÕt c¬ b¶n NXB : Nhµ xuÊt b¶n NSP : Ngµy sau phun

TLB : Tû lÖ bÖnh

Trang 8

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê Việt Nam 1980 - 2005 23

Bảng 4.2: Thành phần, mức độ phổ biến của bệnh hại cà phê chè tại huyện

Bảng 4.3: Mức độ bệnh khô cành khô quả và vàng lá trên cà phê chè

Bảng 4.4: ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ phát sinh phát

triển của bệnh khô cành khô quả và vàng lá (tháng 11 năm 2005) 44Bảng 4.5: ảnh hưởng của các giống cà phê chè đến tỷ lệ và mức độ phát

sinh phát triển của bệnh khô cành khô quả (tháng 11 năm 2005) 46Bảng 4.6: Tỷ lệ, mức độ hại của bệnh lở cổ rễ và vàng lá trên cà phê chè

Bảng 4.7: Tỷ lệ và mức bệnh lở cổ rễ hại cà phê chè tại huyện Alưới

Bảng 4.8: Tỷ lệ và mức độ hại của bệnh gỉ sắt trên cà phê chè Catimor

Bảng 4.9: Tỷ lệ và mức độ phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng tại một

Bảng 4.11: Mức độ hại của bệnh nấm hồng trên cà phê chè tại A Lưới

Trang 9

Bảng 4.12: ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ hại của bệnh

Bảng 4.13: Quan hệ giữa giống cà phê và mức độ hại của bệnh nấm hồng 57Bảng 4.14: Quan hệ của địa hình và bệnh nấm hồng trên cà phê chè

Bảng 4.15: ảnh hưởng của độ dốc đến sự phát sinh phát triển của bệnh nấm

Bảng 4.16: Quan hệ giữa tuổi cây và bệnh nấm hồng hại cà phê chè

Bảng 4.17: Sự phân bố của bệnh nấm hồng trên các bộ phận của cây cà phê

Bảng 4.19: ảnh hưởng của tính chất hoá học đất đến sự phát sinh phát

Bảng 4.20: Hiệu lực thuốc Anvil 5SC ở các nồng độ khác nhau đối với

Trang 10

Danh mục các biểu đồ

Trang Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ và mức độ phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng tại

một số xj trồng cà phê tập trung của huyện A Lưới năm 2005 52 Biểu đồ 4.2 Diễn biến của bệnh nấm hồng tại huyện A Lưới năm 2005 53 Biểu đồ 4.3 Quan hệ giữa giống cà phê và mức độ hại của bệnh nấm hồng 57 Biểu đồ 4.4 Quan hệ giữa tuổi cây và bệnh nấm hồng hại cà phê chè

Biểu đồ 4.5: Hiệu lực thuốc Anvil 5SC ở các nồng độ khác nhau đối với

Biểu đồ 4.6: Hiệu lực thuốc Tilt 250 EC ở các nồng độ khác nhau đối với

Biểu đồ 4.7 Hiệu lực thuốc Validacin 3 DD ở các nồng độ khác nhau

Biểu đồ 4.8 Hiệu lực thuốc Vicarben 50 HP ở các nồng độ khác nhau

Biểu đồ 4.9 Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học đối với bệnh nấm hồng 64

Trang 11

1 mở đầu

1.1 đặt vấn đề

Cà phê là cây công nghiệp hàng hoá cho giá trị xuất khẩu lớn, là một trong những cây có giá trị kinh tế cao trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp của Việt Nam Hàng năm từ nguồn xuất khẩu cà phê đj đem lại cho nền kinh tế đất nước khoảng nửa tỷ đô la

Cho đến nay cả nước có khoảng 500.000 ha cà phê, trong đó cà phê chè Arabica chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp, khoảng 4,6% (2006), [23] Trên thế giới

cà phê chè được khách hàng ưa chuộng Giá tiêu thụ bình quân thường cao gấp 1,5 – 1,7 lần so với cà phê vối nên cà phê chè có giá trị kinh tế cao Để nâng cao hiệu quả của ngành cà phê, chúng ta phải phấn đấu đưa tỷ lệ cây cà phê chè lên đạt khoảng 15 – 20% Đây là một việc làm nhiều khó khăn, đòi hỏi công tác tổ chức chỉ đạo và đầu tư tốt theo một chương trình hoàn chỉnh và hợp lý

ở phía Bắc nước ta, từ đèo Hải Vân trở ra, nhiều vùng có khí hậu thích hợp và quỹ đất còn tương đối dồi dào để có thể trồng cà phê chè như: Vùng Tây Bắc (Điện Biên, Sơn La…), Dải đất miền Trung (vùng cà phê truyền thống), vùng cà phê Arabica Quảng Trị và Thừa Thiên Huế

Huyện Alưới, tỉnh Thừa Thiên Huế nằm trong mạng lưới phát triển cà phê chè thuộc dự án phát triển cà phê chè Việt Nam Trong những năm gần

đây Alưới đj phát triển được trên 700 ha cà phê, tạo việc làm, thu nhập ổn

định cho hàng trăm hộ gia đình dân tộc thiểu số tại chỗ Hiện nay Alưới đj có chủ trương đưa diện tích cà phê chè lên khoảng 3000 – 5000 ha

Việc mở rộng diện tích trồng cà phê đj khó, nhưng để duy trì diện tích

đj trồng và ổn định năng suất còn khó khăn hơn Để cho cây cà phê có năng suất và chất lượng ngày một gia tăng, thì vườn cà phê phải được trồng theo

Trang 12

hướng phát triển bền vững: Có cây che bóng, bón phân hữu cơ, bảo vệ thực vật,

Sâu bệnh hại là một yếu tố rất nhạy cảm, tác động nhanh đến sinh trưởng, năng suất và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm và giá thành của cà phê Những năm gần đây, trong các vườn cà phê ở phía Bắc liên tục xuất hiện các loài sâu bệnh hại như : Bệnh vàng lá do nấm và tuyến trùng, bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix), bệnh khô cành khô quả (Collectotrichum coffeanum), sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes) rệp vảy xanh (Coccus viridis), mọt đục quả cà phê (Stephanoderes hampei Ferr) Đặc biệt

từ năm 2003 trở lại đây bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor) xuất hiện rất phổ biến đj và đang là đối tượng gây hại cà phê kiến thiết cơ bản và kinh doanh tại huyện Alưới, tỉnh Thừa Thiên Huế làm khô cành và rụmg quả rất nhanh, giảm sản lượng và tính bền vững của vườn cây rõ rệt

Để góp phần vào kế hoạch phát triển cà phê chè tại một số tỉnh trung du

và miền núi phía Bắc của Chính phủ, cũng như giúp cho bà con dân tộc tại huyện A Lưới của tỉnh Thừa Thiên Huế trồng và chăm sóc cây cà phê chè một cách bền vững và hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :

“Nghiên cứu thành phần, mức độ phổ biến của một số bệnh hại chính, diễn biến bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk &Broome) trên cà phê chè tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế và biện pháp phòng trừ”

1.2 mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và giới hạn của đề tài 1.2.1 Mục đích của đề tài

Xác định thành phần và mức độ hại của các bệnh hại chính trên cà phê chè tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cứu về đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk &Broome) Bước

đầu tìm hiểu các biện pháp phòng trừ bệnh nấm hồng trên cà phê chè tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 13

1.2.2 yêu cầu của đề tài

- Điều tra thành phần và mức độ hại của các bệnh hại chính Xác định

được các nguyên nhân gây ra các bệnh hại chính

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố (chế độ canh tác, dinh dưỡng

đất…) đến mức độ hại của bệnh

- Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc hoá học đối với các bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk &Broome) trên cà phê chè

1.2.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

+ ý nghĩa khoa học

Đề tài góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu thành phần bệnh hại cà phê nói chung và cà phê chè nói riêng, diễn biến sự phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng hại cà phê chè Kết quả nghiên cứu hiệu quả của một

số loại thuốc hoá học và các yếu tố (chế độ canh tác, dinh dưỡng đất, giống…)

đến sự phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng trên cà phê chè

+ ý nghĩa thực tiễn

Hiện nay, sản xuất cà phê tại A lưới - Thừa Thiên Huế, các hộ nông dân, đặc biệt là đông bào dân tộc Tà Ôi và Vân Kiều chưa chú trọng đến các biện pháp kỹ thuật, không chú ý tới sự phát sinh phát triển của một số loài sâu bệnh hại và các biện pháp phòng trừ dẫn đến vườn cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất thấp

Vì vậy, đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật, nghiên cứu thành phần các bệnh hại và phòng trừ bệnh nấm hồng trên cà phê chè tại

A lưới - Thừa Thiên Huế, góp phần nâng cao sản lượng cà phê của cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng nội địa

1.2.4 Giới hạn của đề tài

- Do thời gian có hạn, lại thực hiện trong điều kiện không đầy đủ về trang thiết bị, kinh phí hạn hẹp Do vậy đề tài chưa thể đánh giá một cách đầy

Trang 14

đủ các đặc điểm mối quan hệ giữa bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor Berk &Broome)

- Nghiên cứu này chưa tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ của nấm hồng với ký sinh và thiên địch Chưa thực nghiệm đánh giá biện pháp phòng chống nấm hồng hại cà phê theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) mà chỉ giới hạn thử hiệu lực một số loại thuốc hoá học

Trang 15

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Giới thiệu chung về cây cà phê

Cà phê là loại cây có nguồn gốc hoang dại được con người trồng chính thức vào khoảng thế kỷ 14- 15 (Phạm Kiến Nghiệp, 1985) [20] Cây cà phê thuộc họ Rubiacea, chi Coffee (Rene Cost, 1960 Hoàng Thị Sản - Phan Nguyên Hồng, 1986) [58] [30] Chi này có hơn 70 loài khác nhau, song ngày nay người ta chỉ chú trọng đến 3 loài có ý nghĩa lớn đối với nền sản xuất cà phê của thế giới đó là:

2.1.1 Cà phê vối (Coffee canephora piere)

Cà phê vối là loại cây thân gỗ, có nguồn gốc từ châu Phi, để tự nhiên cao từ 8- 12 m, lá to, mặt lá đôi khi gợn sóng, hoa mọc ở nách lá, cánh hoa hơi dài, quả tròn khi chín có màu đỏ Hạt tròn kích thước thay đổi tuỳ theo từng chủng và điều kiện canh tác Các chủng cà phê vối phổ biến là:

+Coffee canephora var Robusta

+ Coffee canephora var Qouillou

+ Coffee canephora var Nianli

2.1.2 Cà phê mít (Coffee exelsa Chev)

Loài sinh trưởng khoẻ, ít kén đất, chịu hạn, ít bị sâu bệnh, cây thân gỗ cao từ 15- 20 m, lá to hình trứng hoặc mũi mác Quả có núm lồi, hạt màu xanh vàng hàm lượng cafein thấp dao động trong khoảng (1,02- 1,15%)

Tại Việt Nam cà phê mít chủ yếu được trồng ở những vùng thiếu nước tưới, hoặc trồng làm cây che bóng, che gió cho các vườn cà phê vối hoặc vườn

Trang 16

Rubiales Cà phê chè có gần 100 loài thuộc chi Coffea Hầu hết các loài cà phê đều

là nhị bội 2n = 22 nhiễm sắc thể và là những cây thụ phấn chéo, chỉ có cà phê chè

là tứ bội 2n = 44 nhiễm sắc thể và là cây duy nhất có khả năng tự thụ phấn

Vùng rừng ẩm ướt phía Tây Nam Ethiopia và cao nguyên Sudan, nơi có

độ cao 1300 - 1.800 mét so với mặt nước biển, 6- 9° vĩ độ bắc, nhiệt độ trung bình 20- 25°C (tối thấp 4- 5°C tối cao 30- 31°C), có 4- 5 tháng mùa khô, chính là nơi nguyên sản của cây cà phê chè Từ trung tâm này, cà phê được du nhập sang Yemen vào thế kỷ 14, đến amsterdam của Hà Lan (1706), sang Trung Mỹ (1724), đến Colombia (1724) và sang Brazin (1715)

Theo Coste R [50] và Hoàng Thanh Tiệm [37] thì trên thế giới người ta trồng phổ biến các giống cà phê Arabica sau đây :

- Coffea arabica var Typica được đưa từ đảo Guyam vào Brazin đầu thế

kỷ 18, là giống được trồng đầu tiên ở các trang trại cà phê ở đây

- Coffea arabica var Amarela Chev là một đột biến của giống Typica

- Coffea arabica var Mundonovo có cây khoẻ, năng suất cao là sản phẩm lai tự nhiên giữa giống Bourbon với một giống cà phê chè khác

- Coffea arabica var Moka là đột biến sinh ra hạt nhỏ, hương vị thơm ngon được trồng ở Arabi ấn độ

- Coffea arabica var Caturra K.M.C là đột biến của Bourbon có cây nhỏ, đốt ngắn, năng suất cao hơn giống Arabica điển hình

- Coffea arabica var Catuai là sản phẩm lai tạo giữa giống Caturra quả vàng với giống Mundonovo cây thấp, tán bé, lóng đốt ngắn

- Coffea arabica var Catimor là sản phẩm lai tạo giữa Caturra với một

đột biến Hibrido de timor do viện nghiên cứu cà phê Colombia lai tạo Hiện nay, thế hệ Catimor F6 được Viện nghiên cứu Cà phê Eakmat chọn lọc từ F4

và F5 Nó có cây thấp lùn, bộ tán bé gọn, lóng đốt ngắn, chống chịu bệnh gỉ sắt cao, thích hợp với việc trồng dày, thích ứng được với cả khí hậu ở những

Trang 17

vùng có độ cao thấp, dưới 400 m so với mặt nước biển

Do xuất xứ từ vùng núi cao Ethiopia nên cà phê chè thích điều kiện mát

mẻ, có cây bóng mát Theo Cannell [49], với các vùng trồng cà phê không thuộc xích đạo như Nam ấn Độ, Ethiopia…thì cây cà phê tuân theo chu kỳ

đơn về sinh trưởng và ra quả một năm một lần, cần một thời kỳ khô lạnh để phân hoá mầm hoa

Từ các đặc điểm trên, người ta cho rằng cần có cây che bóng hoặc trồng dày đối với cà phê chè

2.1.3.2 Yêu cầu sinh thái của cà phê Arabica

cà phê vối, mặc dù cà phê vối có khoảng nhiệt độ thích hợp cao hơn cà phê chè (220C - 260C)

Nguyễn Sỹ Nghị, 1982 [17] cho là cà phê chè chịu rét khoẻ hơn cà phê vối Khi nhiệt độ xuống 1 - 2oC trong vài đêm, vườn cà phê chè chưa thiệt hại

đáng kể, trong khi đó cà phê vối bị thiệt hại khi nhiệt độ đạt 8 - 10oC, còn nhiệt độ 2oC thì lá cà phê phê vối bị “cháy”

Theo Ngô Văn Hoàng, 1964 [11] thì biên độ nhiệt độ ngày đêm ảnh hưởng rất quan trọng đến việc tích luỹ glucoxit và tinh dầu trong cà phê, nên

ảnh hưởng đến hương vị của sản phẩm

Theo Nguyễn Sỹ Nghị, 1982 [17], biên độ nhiệt độ ngày đêm có ảnh

Trang 18

hưởng sâu sắc đến năng suất và phẩm chất cà phê ở các nước trồng cà phê chè

có độ cao từ 800 - 1200 m như Colombia, Ethiopia, Kenya, biên độ nhiệt độ ngày

và đêm dao động lớn nên cà phê của họ thơm, ngon có hương vị đặc biệt

• Lượng mưa

Theo R Coste, 1992 [50], sau nhiệt độ thì lượng mưa có ý nghĩa sống còn đối với cây cà phê Lương mưa và sự phân bố mưa trong năm có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê Theo Wrigly, 1988 [60] thì cây cà phê chè thích hợp với khí hậu mát mẻ, khô khan và thường được trồng ở những vùng cao có lượng mưa hằng năm vừa phải từ 1200 - 1500 mm/năm So với cà phê vối thì cà phê chè có khả năng chịu hạn tốt hơn

ở những nơi có lượng mưa khá cao, lại được phân bố đồng đều giữa các tháng trong năm thì cà phê sinh trưởng tốt nhưng lại cho rất ít quả

Theo R.Coste (1989) [61] khi lượng mưa hàng năm dưới mức 800

- 1000 mm thì dù có được phân bố tốt, ngành cà phê sẽ trở nên bấp bênh, khả năng sinh lợi giảm sút

Theo nghiên cứu của Cannell (1987) [49], từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 5 sau khi hoa nở, quả cà phê rất mọng nước, hàm lượng nước trong quả thường chiếm 80 - 85 % khối lượng quả, thể tích và khối lượng chất khô tăng trưởng rất nhanh Trong giai đoạn này nếu cây bị thiếu nước thì các khoang chứa hạt không đạt được kích thước tối đa nên hạt cà phê nhỏ, quả non bị rụng nhiều Thường thì vào các tháng phân hoá mầm hoa, lượng mưa càng ít, năng suất vụ tới càng cao Những tháng mà thể tích quả phát triển nhanh nếu lượng mưa cao thì kích thước hạt cũng lớn hơn, năng suất cà phê cũng cao hơn, (Hoàng Thanh Tiệm, 1998) [38]

• Độ ẩm không khí

Độ ẩm không khí có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cà phê Độ

ẩm không khí lớn hạn chế bốc thoát hơi nước của lá và ngược lại Tuy vậy, độ

Trang 19

ẩm không khí quá cao lại thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển (Trần Kim Loang, 1995 [15]; Võ Chấp, 1997 [4] )

Theo Phan Quốc Sủng, 1987 [33] độ ẩm không khí trên 70 % là thuận lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây cà phê Đặc biệt, giai đoạn hoa nở cần ẩm

độ cao (thích hợp nhất là 94 - 97%), do đó tưới phun mưa là tạo môi trường thích hợp cho hoa cà phê nở Khi ẩm độ không khí quá thấp nếu gặp điều kiện khô hạn và nhiệt độ cao thì quá trình thoát hơi nước tăng cao, cây thiếu nước làm thui chột mầm, nụ hoa và quả non bị rụng Trong giai đoạn ra hoa, nếu gặp cường độ chiếu sáng mạnh, ẩm độ không khí thấp, nhiệt độ tăng cao (29 -

300C) thì cây cà phê xuất hiện hiện tượng “hoa sao” Đây là hiện tượng bất bình thường, có quan hệ chặt chẽ với yếu tố khí hậu trong giai đoạn ra hoa

• ánh sáng

Các nhà nghiên cứu xếp cà phê vào loại cây ưa bóng Nutman [57] cho rằng trong điều kiện cường độ ánh sáng thấp, cường độ quang hợp của cà phê chè tăng theo ánh sáng Khi cường độ ánh sáng quá cao, cường độ quang hợp giảm

và ngừng hẳn Trong cùng một đơn vị thời gian, nếu được che bóng thì cường độ

đồng hoá của lá cà phê cao gấp 3 lần so với lá đặt dưới ánh sáng trực xạ

Theo Phan Quốc Sủng, 1987 [33], dưới ánh sáng trực xạ, cây cà phê bị kích thích ra hoa quá độ dẫn tới hiện tượng khô cành quả, vườn cây xuống sức nhanh Còn ánh sáng tán xạ lại có tác dụng điều hoà việc ra hoa cho phù hợp với hoạt động quang hợp, tích luỹ chất hữu cơ có lợi cho cây cà phê, giúp cho vườn cây cà phê được bền, năng suất ổn định

Trần Kim Đồng, 1991 [10] cho rằng cà phê chè có đặc điểm thực vật học ứng với cây ưa bóng mát như: Lá rộng, lớp cutin mỏng, khí khổng lớn Theo Đoàn Triệu Nhạn, 1999 [22], cây cà phê chè không ưa cường độ

ánh sáng quá mạnh, chỉ quang hợp tốt khi cường độ ánh sáng khoảng 23.000 - 27.000 lux Do vậy điều tiết chế độ chiếu sáng bằng trồng cây che bóng cho

cà phê chè là cần thiết

Trang 20

• Cây che bóng cho cà phê

Nhiều công trình nghiên cứu xác định việc che bóng cho cà phê là cần thiết

Theo Alman A L và Dittmer D S (1968) [47] thì ở nhiệt độ 200C, cường độ quang hợp trong điều kiện cây không được che bóng là 7 àmol

CO2/m2 lá/giây so với điều kiện được che bóng là 14 - 15 àmol CO2/m2lá/giây

Kết quả nghiên cứu cây che bóng tại Brazin cho giống cà phê chè Catuai trồng năm 1982, mật độ 3,5 x 1m (dẫn theo Phan Quốc Sủng, 1998) [34] Cannell, 1974 [48] cho rằng đối với cây cà phê hiện tượng rụng quả hàng loạt vào giai đoạn quả phát triển nhanh là do thiếu dinh dưỡng hoặc hiện tượng cây bị kiệt sức Cà phê khô cành hàng loạt là do huy động quá nhiều chất dinh dưỡng để nuôi quả Hiện tượng này thường thấy trên những vườn cà phê không có cây che bóng và năng suất quá cao

Tuy nhiên, những tác giả đứng về trường phái bỏ cây che bóng thường chứng minh ngược lại

Theo Sylvain (Nguyễn Sỹ Nghị dẫn, 1982) [17] cho thấy cây cà phê trồng trong điều kiện ánh sáng toàn phần đạt tốc độ tăng trưởng gấp 2 lần và có số lá gấp 4 lần so với cây cà phê trồng trong điều kiện có bóng mát 75%

2.1.4 Vai trò của hạt cà phê trong đời sống con người

Theo Anad Alwar RP 1994 [46] sở dĩ cà phê được sử dụng ngày càng nhiều vì trong hạt cà phê chứa 1-2 % cafein

Theo Phan Quốc Sủng (1999)[32], trong hạt cà phê chè tại Việt Nam chứa 1,2 % cafein còn trong cà phê vối chứa chất này chiếm tới 2,5 %

Chất cafein có tác dụng kích thích thần kinh tăng cường hoạt động của

tế bào njo tạo nên cảm giác sảng khoái tinh thần minh mẫn hơn cho con người khi làm việc, nhất là khi làm việc bằng trí óc

Trang 21

Theo tính toán của Anad Alwar RP 1994 [46] một tách cà phê được pha bởi 10-11 gr cà phê bột và 150 ml nước sôi sẽ cung cấp cho ta 2 mg nicotinic acid hơn 50 mg chlorogenic acid, 140-170 mg kalo…

2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới

và trong nước

Cà phê là cây công nghiệp đặc sản của vùng nhiệt đới nhưng lại được tiêu dùng phần lớn ở các nước ôn đới Hoạt chất chính trong hạt cà phê là Cafein (0,8 - 3% khối lượng chất khô của hạt) Cafein có tác dụng kích thích thần kinh, tăng sức làm việc của trí óc và hoạt động của hệ tuần hoàn, bài tiết, nâng cao phản ứng của hệ thống cơ bắp Do vậy, sau khi uống cà phê, con người cảm thấy sảng khoái và làm việc có hiệu quả hơn

Tập quán uống cà phê trước đây hầu như chỉ có ở tầng lớp thượng lưu Ngày nay, cà phê đj trở thành thức uống thông dụng của tầng lớp nhân dân lao động nhiều nước trên thế giới

Sản lượng cà phê trên toàn thế giới niên vụ 1990 - 1991 là 5,586 triệu tấn, trong đó cà phê Arabica chiếm 75,6%, còn cà phê Robusta chiếm 24,4%

Tỷ lệ này hầu như vẫn tương đối ổn định cho đến ngày nay Dạng sản phẩm cà phê xuất khẩu trên thị trường thế giới chủ yếu là nhân cà phê sống Lấy số liệu năm 1990 làm thí dụ: Lượng cà phê trao đổi trên thị trường là 4,788 triệu tấn với trị giá 6,73 tỷ USD, trong đó, cà phê nhân sống chiếm đến 95,2%, cà phê hoà tan chiếm 4,7% và cà phê rang chỉ có 0,1%

Trang 22

108,087

30,837 13,133 11,999 6,833 4,970 4,200 3,669 3,595 3,158

123,607

48,617 11,555 11,889 6,785 4,683 4,000 4,070 3,145 2,890

105,621

28,820 15,230 11,197 6,571 4,495 4,550 3,610 2,689 2,598

115,219

39,272 13,844 12,043 7,536 3,844 3,407 3,703 2,328 2,593

107,986

32,944 11,000 11,900 7,654 4,630 4,000 3,675 2,171 2,366

Nguồn: International Coffee Organization (31/3/2006)

Người ta chia 70 nước sản xuất cà phê trên thế giới thành 2 nhóm: Nhóm sản xuất cà phê Arabica và nhóm sản xuất cà phê Robusta Tuy nhiên, một số nước trong nhóm sản xuất cà phê Arabica vẫn sản xuất cà phê Robusta và ngược lại (bảng 2.1)

Trong một vài năm gần đây, tốc độ tiêu thụ của các nước nhập khẩu cà phê có xu hướng giảm Mức tiêu thụ nội địa của các nước xuất khẩu tăng dần Trong những năm qua, mức cà phê tiêu thụ bình quân đầu người trên thế giới ít thay đổi, dao động trong khoảng 4,5 - 4,8 kg/người/năm

Trang 23

có mức tiêu dùng nội địa cao như Brazin, ấn Độ hay Indonesia, mức tiêu thụ cũng chỉ khoảng 3 kg/người/năm

Trong năm 2005 các nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới vẫn là Mỹ,

Đức, ý, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Luxembour Từ tháng 6 đến tháng 11/2005 tổng lượng cà phê nhập khẩu của toàn thế giới là khoảng 8.256.462 bao, trong

đó riêng thị trường Châu Âu là 5.225.911 bao

Trang 24

2.2.2 Tình hình sản xuất cà phê trong nước

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê Việt Nam 1980 - 2005

Diện tích: 1.000 ha Năm

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

9,2 23,4 61,9 99,9 99,9 157,5 174,4 205,8 330,8 417,0 473,0 492,0

-

-

-

8,4 8,8 14,9 18,0 21,8 20,3 24,1 19,9 14,7 19,2 17,8 15,8

-

-

-

7,7 20,5 92,0 180,0 218,1 320,1 420,5 409,3 486,8 802,5 840,4 776,4 720,0 750,0 680,0

Nguồn: Niên giám tổng cục thống kê 2002 và tổng công ty cà phê Việt Nam

Trong 25 năm qua (1980 - 2005), việc sản xuất cà phê ở Việt Nam tăng lên rất nhanh: Diện tích gieo trồng đj tăng 24 lần, diện tích thu hoạch tăng hơn 50 lần, năng suất tăng 1,9 lần và sản lượng tăng 100 lần, đặc biệt vào các năm 2000 và 2001 (bảng 2.3)

Diện tích cà phê Robusta do quốc doanh quản lý chiếm khoảng 20%, còn 80% là của nhân dân Ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình với trên 600.000 lao động thường xuyên Vào thời kỳ thu hoạch, số lao động cần huy động lên đến 700 000 - 800.000 người Như vậy lao

động hoạt động của ngành cà phê chiếm tới 1,83 % tổng số lao động trên toàn

Trang 25

quốc nói chung và 2,93 % tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng

Ngoài diện tích Robusta hiện có, Việt Nam đang thực hiện chương trình mở rộng diện tích cà phê Arabica ra phía Bắc Từ đèo Hải Vân trở vào thuộc miền khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp cho cà phê Robusta Miền khí hậu á nhiệt đới phía Bắc có mùa đông lạnh và mưa phùn thích hợp với

cà phê Arabica Nhược điểm lớn nhất của sản xuất cà phê hiện nay là thiếu qui hoạch và kế hoạch, còn phân tán và tự phát, cơ cấu giống chưa hợp lý, tập trung quá lớn vào Robusta mà chưa quan tâm mở rộng cà phê Arabica, tính bền vững của vườn cây chưa cao, hiệu quả kinh tế thấp do công nghệ chế biến kém và không đồng bộ, việc chọn lọc trước khi đưa vào chế biến không tốt nên vẫn còn hiện tượng lẫn hạt xanh, đen, mốc…

Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 1990-2005

Trang 26

Về giá trị xuất khẩu, sản lượng cà phê xuất khẩu tăng gấp 8 lần Song

do cà phê của ta chủ yếu là cà phê Robusta, qui trình chế biến lại không được tuân thủ một cách chặt chẽ nên đj tạo ra mặt hàng kém phẩm chất Giá bán cà phê Việt Nam thường thấp hơn cà phê cùng loại của thị trường thế giới (Đoàn Triệu Nhạn [21], Hoàng Anh, 1996 [2])

Do vậy khối lượng hàng hoá xuất khẩu tăng song kim ngạch xuất khẩu không tăng So với năm đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất (598 triệu USD vào năm 1995) thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 55 % (331 triệu USD) (Bảng 2.4)

Nếu ước tính giá bình quân trong điều kiện bình thường (trung bình 10 năm) trên 1.000 USD/tấn (với cà phê Robusta) thì cà phê Arabica thường có giá cao gấp 1,5 - 1,7 lần so với cà phê Robusta Nếu năng suất đạt 2,0 - 2,5 tấn nhân/ha thì cà phê Arabica cho thu nhập đến 3.000 - 3.500 USD/ha/năm 2.3 Tình hình nghiên cứu bệnh hại cà phê ở trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh hại cà phê ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Hà Minh Trung và ctv (2000)[42] năm 1999, hiện tượng vàng lá cà phê tiếp tục tồn tại và gây hại ở các vùng trồng cà phê khác nhau Trong số các tác nhân gây bệnh trong đất đj xác định được 16 loài tuyến trùng và 6 loài nấm Trong đó đáng chú ý là tuyến trùng Meloidogyne; Pratylenchus, các loại nấm Fusarium solani, F oxysporum, Pythium các loại tác nhân này có thể gây hại trực tiếp hoặc kết hợp gây triệu chứng vàng lá,

đặc biệt trên cà phê chu kỳ 2

Phan Quốc Sủng và ctv (2002) [35], năm 1976 có đề cập đến hiện tượng cây cà phê chè kinh doanh bị chết rải rác và cà phê chè sau một năm trồng lại trên đất cà phê cũ bị chết hàng loạt tại Phủ Quỳ - Nghệ An Tác giả cho rằng tuyến trùng Pratylenchus coffeae với mật độ 357 con/5g rễ là một trong các tác

Trang 27

nhân gây ra hiện tượng này, sau đó là sự xâm nhiễm của các loại nấm như Fusarium rosellina làm thối rễ cà phê Bằng các thí nghiệm trong chậu có

đất lấy từ nơi cà phê bị hại so với đất cà phê bình thường, tác giả đj cho thấy mật độ của 2 loài tuyến trùng Pratylenchus coffeae và Meloidogyne spp Trong rễ của các cây được trồng trong đất bệnh rất cao so với trong rễ các cây trồng trong đất bình thường

Các nghiên cứu bước đầu của Trần Kim Loang (1999) [26] về bệnh hại

rễ trên cà phê ở ĐăkLăk cho thấy, có 5 triệu chứng của bệnh hại rễ trên cà phê là thối rễ tơ, thối rễ cọc, nhũn cổ rễ, thối cổ rễ và lở cổ rễ Trong đó, các bệnh ở phần cổ rễ không phổ biến và nghiêm trọng bằng bệnh thối rễ Nấm

và tuyến trùng là 2 tác nhân gây hại chính của hiện tượng vàng lá, thối rễ trên cà phê bên cạnh các nguyên nhân sinh lý khác Tác giả đj cho thấy, bên cạnh sự hiện diện của các loài nấm như Fusarium oxysporum và Rhizoctonia bataticola thì hầu hết các mẫu đất phân tích đều có sự hiện diện của tuyến trùng Pratylenchus coffeae và Meloidogyne spp Nhất là trên các vườn được trồng lại trên đất cà phê cũ Sự phá hại của tuyến trùng là tiền đề cho các loài nấm phát triển và gây hại

Nguyễn Văn Nam (1996) [16] trong nghiên cứu về sự liên quan của một

số loài nấm Fusarium với tuyến trùng gây hại rễ cà phê cho thấy, trên cà phê

có một số loài tuyến trùng như P coffeae; Meloidogyne spp.; Helicotylenchus sp.; và Aphelenchus spp Trong đó, P coffeae là loài có quan hệ mật thiết với

F oxysporum Trong trường hợp chỉ có một trong 2 loài ký sinh này hiện diện thì mức độ gây hại ít nghiêm trọng hơn

Trần Kim Loang (1998) [27], bệnh khô cành khô quả tại Việt Nam được Brat (người Pháp) phát hiện ở Kon Tum và các tỉnh Tây Nguyên từ năm 1930 Năm 1979 đoàn điều tra khảo sát Tây Nguyên (Bộ Nông nghiệp) phát hiện bệnh ở các nông trường cà phê tại Tây Nguyên Trần Kim Loang, (1998)[26]

Trang 28

cho thấy, nấm Colletotrichum là tác nhân gây bệnh khô cành khô quả trên cà phê chè Catimor, song có nhiều loài cùng gây hại, loài Colletotrichum coffeanum gây hại trên quả, loài Colletotrichum gloesporiodes gây hại trên cành quả và lá, loài Colletotrichum capsici gây hại trên lá và cành Hiện tượng khô cành khô quả thường xuất hiện nhiều ở các vườn có năng suất cao, lượng phân bón thấp

Theo Trần Thị Kim Loang (1999) [26], bệnh gỉ sắt cà phê do nấm Hemileia vastatrix B & Br gây ra, thuộc họ Puccinniaceae, bộ Uredinales, lớp nấm đảm Basidiomycetes Đây là loại nấm chuyên tính chỉ ký sinh trên

cà phê

Nguyễn Sỹ Nghị (1996) [18], điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho nấm gỉ sắt (Hemileia vastatrix) là: nhiệt độ từ 19 - 24oC, độ ẩm không khí 80 - 90%.ở các vùng trồng cà phê ở miền Bắc có mùa đông lạnh, có chế độ nhiệt trong năm biến động lớn, nấm bệnh phát triển vào 2 thời kỳ là tháng 9, 10, 11 và tháng 2, 3 có nhiệt độ xung quanh 21 - 26 oC và ẩm độ không khí 80 - 90% Kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Trâm và Vũ Hồng Tráng (2001) [41] cho thấy, tại một số tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc đj xuất hiện 8 loại bệnh hại trên cà phê chè đó là gỉ sắt (Hemileia vastatrix), đốm mắt cua (Cercospora coffeicola), cháy lá (Phoma coffeicola), khô cành khô quả (Collectotrichum coffeanum), lở cổ rễ (Rhizoctonia sp., Pythium, Fusarium oxysporum), nấm hồng (Corticium salmonicolor), Muội đen (Capnodium spp), mạng nhện (Corticium kolerega)

Theo Đường Hồng Dật (1996) [8] Bệnh nấm hồng ban đầu ở chỗ bị bệnh có từng đám nấm xốp trắng, mọc nối Đám nấm phát triển thành các phiến màu hồng hoặc hồng nâu trên vỏ cây Mô bào trên vỏ cây chết, hoá nâu

và khô, nứt ra, tách khỏi lõi gỗ Bệnh thường phát triển mạnh trong mùa mưa, nhất là những nơi nhiều bóng râm, ít được chiếu nắng Nấm xâm nhập vào cây qua các vết thương và thường gây bệnh cho các cây bị suy yếu Nấm hồng là

Trang 29

loài đa thực, hại nhiều loại cây như cây gai, cao su, chè, hồ tiêu…

Phan Quốc Sủng, Trần Kim Loang, Trương Hồng và ctv, năm 2003 [31] Bệnh nấm hồng do Corticium salmonicolor Berk & Broome, bộ Polyporales,

họ Corticiaceae, thuộc lớp nấm đảm Basidiomycetes Đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn Những chấm này phát triển tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử của nấm Nếu xuất hiện ở cành thì thường lớp phấn này nằm ở mặt dưới cành, nếu ở quả thường ở cuống quả Vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành

và lan dần sang cả quả làm cành bị chết khô, quả thì héo, rụng non Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao nhưng lại nhiều ánh sáng Do đó, trong vườn cây, bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên, ít thấy ở tầng dưới Bệnh phát sinh từ đầu mùa mưa (tháng 6, 7), cao điểm vào tháng 9 và chấm dứt vào cuối mùa mưa (tháng 10, 11) Bệnh phát triển rất nhanh trên cây, tốc độ làm chết cành rất nhanh nhưng lây lan từ cây này sang cây khác thì chậm Bệnh gây hại nặng trên cà phê chè và cà phê vối, cà phê mít cũng bị rải rác Bệnh còn xuất hiện trên ca cao, chè, tiêu và nhiều cây ăn quả khác

Nguyễn Sỹ Nghị và ctv (1996) [18] Bệnh nấm hồng gây hại trên cả 3 giống: chè, vối, mít và nhiều loại cây khác như cao su, chè, cam, quýt… Các cành cà phê bị hạn héo khô, tương tự như sâu đỏ đục cành Phía dưới cành vỏ cây bị bao phủ bằng một lớp màng trắng phớt hồng do các sợi nấm tạo nên Dưới lớp màng trắng, vỏ cây bị thối nhũn, nơi có ánh sáng chiếu vào thì vỏ cây không bị thối nhưng thấy nhiều nốt màu hồng xuất hiện ở các kẽ nứt trên

vỏ cây Dưới lớp vỏ cây bị hại sợi nấm có thể xâm nhập vào bên trong tới 20 – 30 cm Bệnh nấm hồng thường tác hại trên vườn cà phê đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản hoặc vào những năm cây cà phê cho vụ quả đầu tiên Bệnh thường xuất hiện vào cuối mùa mưa nhưng cũng thấy lẻ tẻ ở các thời kỳ khác trong năm

Theo Ngô Văn Hoàng, Nguyễn Sỹ Nghị (1964) [11] cho biết bệnh nấm

Trang 30

hồng do nấm Corticium salmonicolor gây nên Vị trí tác hại chủ yếu là trên cành, đôi khi bệnh nặng hại tất cả các cành trên phía ngọn Màu sắc của vết bệnh màu hồng, vết cũ có màu trắng xám, vỏ cành bị nứt nẻ Bệnh thường hại

ở cả 3 loại cà phê: chè, vối và mít Để phòng trừ bệnh này cần chặt bỏ cành

đem đốt và dùng thuốc hoá học gốc đồng để phun

2.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh hại cà phê trên thế giới

Các tài liệu của Roger (dẫn theo Phan Quốc Sủng, 2001), [35] ở ấn Độ cho thấy, có nhiều loại nấm gây hại trên rễ cà phê như Fomes, Rosellina, Rhizoctonia, Armillariella Tất cả chúng đều có chung triệu chứng là vàng lá

và thối rễ

Theo Shou - Kung Sun (1984) (dẫn theo Phan Quốc Sủng, 2001), [35], tại

Đài Loan F oxysporum là loài nấm gây héo trên nhiều loại cây trồng như chuối, khoai lang, lanh, dưa hấu

Hiltner (1904), (dẫn theo Phan Quốc Sủng, 2001), [35] đj khám phá ra vùng rễ của cây trồng là vùng tập trung nhiều hoạt động của vi sinh vật Hoạt

động của vi sinh vật ở vùng này không chỉ khác ở vùng đất xa rễ về số lượng

mà còn khác về chất lượng Nguyên nhân chủ yếu là do rễ tiết ra dịch bao gồm

đường, acid hữu cơ, acid amino, nucleotid, vitamin, chất béo và các chất khác, ngoài ra còn do mô và các tế bào chết thải ra trong quá trình phát triển Có rất nhiều báo cáo về sự kích thích của R solani do dịch rễ của cây ký chủ Kerr (1956), Flentje và ctv (1963), De Silva và Wood (1964) cho thấy, dịch rễ có thể kích thích sự phát triển của ký sinh trước khi xâm nhập vào mô ký chủ Fluiter (1949) và Lordello (1968) (dẫn theo Phan Quốc Sủng, 2001), [35] đj cho thấy sự hiện diện của tuyến trùng trong đất đj trồng cà phê và đề nghị biện pháp không trồng cây ký chủ của tuyến trùng trong vòng 2 - 3 năm trên

đất này

Tác giả Kumar công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Cà phê ấn Độ (1984)

Trang 31

[52] cũng đj cho thấy tác hại của tuyến trùng trên cà phê chè tại đây và đề nghị thay thế bằng cà phê vối hay cà phê chè được ghép trên gốc cà phê vối Cũng theo các nghiên cứu của Kumar (1991) [53] về biến động số lượng tuyến trùng P coffeae trong đất trên cà phê chè và vối tại ấn Độ cho thấy trên cà phê chè tuyến trùng hiện diện trong đất quanh năm, trong khi trên cà phê vối trong mùa khô hoàn toàn không có tuyến trùng trong đất Đỉnh cao của mật độ tuyến trùng trong đất của cả 2 giống này là vào tháng 9 tức là vào giữa mùa mưa Nhiệt

độ hầu như không ảnh hưởng đến mật độ tuyến trùng trong đất ở cả 2 giống Trong khi đó tại Guatemala, Villain (1991) [54] cho thấy mật độ tuyến trùng P coffeae trên cà phê chè tăng cao vào thời kỳ khô hạn hoặc vào những tháng trong mùa mưa nhưng có lượng mưa thấp Sự cạnh tranh thức ăn của nhiều loài tuyến trùng có thể làm thay đổi số lượng của chúng như cạnh tranh giữa Pratylenchus và Meloidogyne

Theo J.M.Wallet (1972) [13] với bệnh khô cành khô quả thì sự bjo hoà nước của cây cà phê rất cần để thực hiện một sự phát tán bào tử thật nhiều, thường gặp ở đầu ngọn cây và ở những cây nhiều chồi Thời gian ẩm ở bên trong và bên ngoài tán lá có khác nhau chút ít, nhưng thời gian để hoá ẩm và khô ráo ở bên trong tán lá cao hơn và dài nhất ở giữa cây Từ đó những cây hoặc phần nào khô ráo chậm hơn sẽ thích hợp cho sự nảy mầm của bào tử hơn Theo A.E Haarer (1962) [1] hiện tượng khô cành khô quả do die - back

là các lá bị vàng, rụng lá, các đầu cành tóp lại và chết xuống dần là những biểu hiện sinh lý quen thuộc khi cây cà phê mang quá nhiều quả Đây là dấu hiệu của sự kiệt sức gây ra bởi việc mang quá nhiều quả, chiếu nắng, thiếu độ

ẩm, sự cạnh tranh của cỏ dại và thiếu chất dinh dưỡng Nó thường xảy ra ở độ cao thấp trong điều kiện quá nóng và quá khô

Theo René Coste (1965) [29] trong vòng đời của nấm H vastatrix chỉ có 3 dạng bào tử là Uredospore (bào tử hạ), Teleutospore (bào tử đông), Basidiospore (bào tử đảm) Trong 3 loại bào tử kể trên thì bào tử hạ là phổ

Trang 32

biến nhất, nó nẩy mầm ở nhiệt độ từ 15 - 280C và khi bào tử nảy mầm đòi hỏi phải có sự hiện diện của nước

Trong Crop Profile for Coffee in Puerto Rico năm 2002 [64] Bệnh nấm hồng phát sinh phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt đọ ôn hoà và ẩm độ cao, đặc biệt trong những mùa mưa Bệnh được đặc trưng bởi một lớp vảy trên thân và cành, nấm xuyên qua các mô của thân gây ra sự tắc nghẽn bên trong thân và trong một số trường hợp gây ra những vết nứt trên thân Khi nhiễm trên cành nó gây ra khô cành, trên quả gây ra những đốm mất màu

Theo René Coste (1960) [58] Bệnh được quan sát lần đầu tiên ở ấn độ, nhưng sau đj được báo hiệu ở hầu khắp thế giới Nó không phải là bệnh đặc thù của cây cà phê (của cam quýt, sung, vả…) Loài cà phê arabica nhạy cảm

đặc biệt với bệnh này

Bệnh do nấm Corticium salmonicolor Berk & Broome, bộ Polyporales,

họ Corticiaceae, thuộc lớp nấm đảm Basidiomycetes Đầu tiên trên quả hay cành xuất hiện những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn Những chấm này phát triển tạo thành một lớp phấn mỏng sau này có màu hồng đó là bào tử của nấm Nếu xuất hiện ở cành thì thường lớp phấn này nằm ở dưới mặt cành, còn nếu ở quả thường ở cuống quả Vết bệnh phát triển chạy dọc theo cành và lan dần sang quả làm cành bị chết khô, quả bị héo và rụng non Bệnh thích hợp với điều kiện ẩm độ cao nhưng lại nhiều ánh sáng

Trang 33

3 vật liệu, Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu bệnh hại

- Các giống cà phê chè: Catimor, TH1, TN1, TN2, 17 ACB

- Kính hiển vi, hộp peptri, bình lọ thuỷ tinh, que cấy, môi trường

- Một số loại thuốc hoá học: Anvil, Tilt, Validacin, Vicarben

- Phân bón: Đạm, lân, ka li

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Xác định thành phần bệnh hại chính trên cà phê chè tại huyện Alưới tỉnh Thừa Thiên Huế

- Điều tra, nghiên cứu sự phát sinh phát triển và diễn biến của bệnh nấm hồng

- Nghiên cứu một số các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hại của bệnh nấm hồng:

+ Giống: Catimor, TN1, TN2, TH1, 17ACB

+ Phân bón: Đạm, lân, ka li (150K – 200N – 150P; 150K – 250N – 150P, 150K – 300N – 150P)

+ Dinh dưỡng đất + Tuổi cây

+ Độ dốc + Cây che bóng

+ Khí hậu, thời tiết

- Tìm hiểu hiệu lực của một số loại thuốc hoá học đối với bệnh nấm hồng trên cà phê chè ngoài đồng ruộng

Trang 34

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra ngoài đồng

Theo phương pháp điều tra cơ bản sâu bệnh hại 1997 Viện Bảo vệ thực

vật Và tuyển tập tiêu chuẩn Nông nghiệp Việt Nam; Bộ NN&PTNT, 2001

Chọn vùng điều tra điển hình và đại diện, chọn tuyến điều tra tính sao

cho các điểm điều tra trong tuyến điều tra đi qua được các địa hình (trũng,

cao ), các giống, các giai đoạn sinh trưởng, các điều kiện canh tác khác nhau

Quan sát triệu chứng bệnh trên toàn bộ cây trồng ở điểm điều tra đj

chọn Có thể đánh giá mức độ phổ biến của bệnh theo thang 4 cấp sau:

+ : < 10% cây bị bệnh ++ : > 10 - 25% cây bị bệnh +++ : > 25% - 50% cây bị bệnh ++++ : > 50% cây bị bệnh

* Chỉ tiêu theo dõi:

- Tỷ lệ bệnh (%)

- Chỉ số bệnh (%)

* Bảng phân cấp bệnh hại trên lá và quả :

Điều tra trên các điểm chéo góc, mỗi điểm 5 cây Trên mỗi cây chọn 4 cành

theo 4 hướng để điều tra Khi điều tra phải đếm tổng số lá, quả bị bệnh để sau

đó tính toán Đánh giá mức độ bệnh theo thang sau :

Trang 35

* Bảng phân cấp bệnh hại trên thân, cành

Chọn điểm điều tra giống như đối với lá, quả nhưng tuỳ theo thời gian sinh trưởng của cây mà quyết định số cây điều tra của mỗi điểm Đánh giá mức độ bệnh theo thang sau:

Cấp 0: Không bị bệnh

Cấp 1: 10% số cành tuổi 1 bị bệnh

Cấp 2: 20% số cành tuổi 1 bị bệnh hoặc 10% số cành tuổi 3 bị bệnh Cấp 3: 20% số cành tuổi 3 bị bệnh hoặc 10% số cành tuổi 5 bị bệnh Cấp 4: 20% số cành tuổi 5 bị bệnh hoặc 10% số cành cơ bản bị bệnh Cấp 5: 20% số cành cơ bản bị bệnh hoặc 50% chu vi vỏ gốc cây bị bệnh 3.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng

- Sử dụng các mẫu thân, cành, lá, quả có triệu chứng đj thu thập được, sau đó, phân lập mẫu bệnh hại tại Bộ môn Bệnh cây, Khoa Nông học, Trường

Đại học Nông nghiệp I Nhằm xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh 3.3.3 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực của thuốc với bệnh nấm hồng

Trang 36

T: Cấp bệnh cao nhất trong thang phân cấp

+ Tính hiệu lực thuốc hóa học ngoài đồng: theo công thức Henderson - Tilton (Otto Zahner, 1981)

Ta Cb

Độ hữu hiệu (%) = (1 - x ) x 100

Ca Tb

Trong đó:

Tb: Chỉ số bệnh ở công thức thí nghiệm trước khi phun thuốc

Ta: Chỉ số bệnh ở công thức thí nghiệm sau khi phun thuốc

Cb: Chỉ số bệnh ở công thức đối chứng trước khi phun thuốc

Ca: Chỉ số bệnh ở công thức đối chứng sau khi phun thuốc

Trang 37

Trong đó: ∆: sai số ước lượng

δ : phương sai ngẫu nhiên

α

t : giá trị tra bảng Student ở mức ý nghĩa α = 0,05

n = N-1: dung lượng mẫu thí nghiệm

3.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu :

Một số xj trồng cà phê tập trung của huyện A Lưới - tỉnh Thừa Thiên Huế Phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu và phát triển Cà phê chè, phòng thí nghiệm của Bộ môn Bệnh cây Khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 1/2005 đến tháng 9/2006

Trang 38

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Điều kiện tự nhiên huyện Alưới tỉnh Thừa Thiên Huế 4.1.1 Vị trí địa lý

A lưới là một huyện phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm trên

16o12’ Vĩ độ Bắc và 107o25’ Kinh độ Đông, nằm trên dải đất hẹp nhất của ljnh thổ nước ta giữa djy Trường sơn và biển và nằm trong vùng bị chắn bởi 2 djy núi rất cao lấn ra biển, phía Bắc là djy Hoành sơn cao gần 1100 m và phía Nam là dải Bạch mj cao gần 1500 m Alưới, thuộc đới khí hậu không có mùa

Kết quả phân tích bảng 4.1 cho thấy: Đất chua toàn phẫu diện pHKCl từ 3,7-4,1; hàm lượng mùn nghèo 2,03-2,10 %, hàm lượng đạm trung bình 0,20-0,22 %, lân tổng số 0,03-0,04 %, kali tổng số 0,13-0,15 %; lân dễ tiêu nghèo 1,2-1,4 mg/100 g đất; kali dễ tiêu nghèo 3,2-3,3 mg/100 g đất Nhìn chung hàm lượng dinh dưỡng đất ở mức nghèo đến trung bình

Trang 39

Bảng 4.1: Tính chất hoá học đất làm thí nghiệm

(xj Nhâm 1, huyện A Lưới)

Tổng số (%)

Dễ tiêu (mg/100g

Do mùa đông vẫn còn chịu ảnh hưởng của khí hậu cực đới nên Alưới có mùa đông tương đối lạnh so với phần phía Nam đèo Hải Vân, nằm trên dải đất hẹp, là một trong những vùng có lượng mưa lớn nhất của nước ta, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng

Vùng A lưới (Thừa Thiên Huế) có nền nhiệt tương đối cao, tổng nhiệt

độ năm đạt khoảng trên dưới 8000o C Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21-23o

C, trong đó tháng nóng nhất khoảng 24-25o C (tháng 6, 7) và tháng lạnh nhất khoảng 16-17o C (tháng 12, 1) Trong năm chỉ có từ tháng 11 đến tháng 4 năm

Trang 40

sau là nhiệt độ xuống dưới 20o C Trong những tháng này nhiệt độ tối thấp trung bình là 13o C

Do ảnh hưởng còn khá mạnh của vùng ôn cực đới, vào mùa đông có những ngày nhiệt độ xuống khá thấp <10o C Mùa hè, vào các tháng từ 5 đến 8 nhiệt độ trung bình không vượt quá 25o C, nhiệt độ tối cao trung bình không vượt quá 31o C

Biên độ giao động ngày đêm của nhiệt độ trung bình khá cao vào khoảng 5-11o Các tháng đầu mùa hè, biên độ ngày đêm lớn nhất đạt 8-11o, vào giữa mùa đông (tháng 11, 12) đại lượng này có giá trị thấp nhất, vào khoảng 5-7o

Đối chiếu với yêu cầu của cây cà phê chè thì điều kiện khí hậu tại vùng Alưới là tương đối thích hợp cho cây phát triển, khí hậu mát mẻ và có biên độ nhiệt ngày và đêm tương đối cao có thể cho sản phẩm cà phê chè chất lượng cao

Tổng lượng mưa năm ở vùng A lưới (Thừa Thiên Huế) rất lớn, đạt giá trị trên 3.000 mm, số ngày mưa trung bình khoảng 210-220 ngày/năm phân bố

đều ở các tháng Tuy vậy, vẫn có thể phân thành mùa mưa và mùa ít mưa

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 12 và có lượng mưa

từ 150-700 mm Mùa ít mưa từ tháng 1 đến tháng 3 và có lượng mưa từ 16-58

mm, số ngày mưa trung bình khoảng 10-15 ngày/tháng Lượng mưa lớn nhất

là từ tháng 9 đến tháng 11, đạt cực đại là trên 700 mm vào tháng 10 Số ngày mưa trung bình lúc này khoảng 22-24 ngày/tháng

Độ ẩm không khí vùng A lưới (Thừa Thiên Huế) đạt giá trị trung bình năm khoảng 85 %, tháng có độ ẩm không khí nhỏ nhất là tháng 7 với giá trị trung bình 78 %, tháng 7 đồng thời là tháng có số ngày khô nóng nhiều nhất trong năm và có lượng nước bốc hơi nhiều nhất, đạt giá trị trung bình 155 mm

Đối với cây cà phê chè chế độ mưa ẩm như trên là thích hợp, nhưng

đồng thời cũng tạo điều kiện cho các loại bệnh hại phát sinh phát triển, nên công tác Bảo vệ thực vật phải đặc biệt quan tâm

Ngày đăng: 06/12/2013, 17:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sản l−ợng cà phê sản xuất trên thế giới - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 2.1. Sản l−ợng cà phê sản xuất trên thế giới (Trang 22)
Bảng 2.2. Một số n−ớc nhập khẩu cà phê lớn nhất   trong những tháng cuối năm 2005 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 2.2. Một số n−ớc nhập khẩu cà phê lớn nhất trong những tháng cuối năm 2005 (Trang 23)
Bảng 2.3.  Diện tích, năng suất, sản l−ợng cà phê Việt Nam 1980 - 2005  Diện tích: 1.000 ha - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản l−ợng cà phê Việt Nam 1980 - 2005 Diện tích: 1.000 ha (Trang 24)
Bảng 2.4. Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 1990-2005 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 2.4. Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam 1990-2005 (Trang 25)
Bảng 4.1: Tính chất hoá học đất  làm thí nghiệm   (xj Nhâm 1, huyện A L−ới). - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.1 Tính chất hoá học đất làm thí nghiệm (xj Nhâm 1, huyện A L−ới) (Trang 39)
Bảng 4.2: Thành phần,  mức độ phổ biến của bệnh hại cà phê chè tại  huyện Al−ới – Thừa Thiên Huế, năm 2005 - 2006 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.2 Thành phần, mức độ phổ biến của bệnh hại cà phê chè tại huyện Al−ới – Thừa Thiên Huế, năm 2005 - 2006 (Trang 42)
Bảng 4.3: Mức độ bệnh khô cành khô quả và vàng lá trên cà phê chè  Catimor kinh doanh n¨m 2005 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.3 Mức độ bệnh khô cành khô quả và vàng lá trên cà phê chè Catimor kinh doanh n¨m 2005 (Trang 43)
Bảng 4.4: ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ phát sinh  phát triển của bệnh khô cành khô quả và vàng lá (tháng 11 năm 2005) - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.4 ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ phát sinh phát triển của bệnh khô cành khô quả và vàng lá (tháng 11 năm 2005) (Trang 45)
Bảng 4.6: Tỷ lệ, mức độ hại của bệnh lở cổ rễ và vàng lá trên cà phê chè  Catimor kiến thiết cơ bản tại A L−ới năm 2005 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.6 Tỷ lệ, mức độ hại của bệnh lở cổ rễ và vàng lá trên cà phê chè Catimor kiến thiết cơ bản tại A L−ới năm 2005 (Trang 48)
Bảng 4.7: Tỷ lệ và mức bệnh lở cổ rễ hại cà phê chè   tại huyện Al−ới (tháng 8/ 2005) - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.7 Tỷ lệ và mức bệnh lở cổ rễ hại cà phê chè tại huyện Al−ới (tháng 8/ 2005) (Trang 50)
Bảng 4.9: Tỷ lệ và mức độ phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng tại  một số xã trồng cà phê tập trung của huyện A L−ới năm 2005 - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.9 Tỷ lệ và mức độ phát sinh phát triển của bệnh nấm hồng tại một số xã trồng cà phê tập trung của huyện A L−ới năm 2005 (Trang 52)
Bảng 4.10: Diễn biến của bệnh nấm hồng tại huyện A L−ới năm 2005  Mức độ nhiễm bệnh - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.10 Diễn biến của bệnh nấm hồng tại huyện A L−ới năm 2005 Mức độ nhiễm bệnh (Trang 54)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ hại   của bệnh nấm hồng tại AL−ới (tháng 8/2005) - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.12 ảnh hưởng của cây che bóng đến tỷ lệ và mức độ hại của bệnh nấm hồng tại AL−ới (tháng 8/2005) (Trang 57)
Bảng 4.13: Quan hệ giữa giống cà phê và mức độ hại của bệnh nấm hồng  tại xã Nhâm (tháng 9/2005) - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.13 Quan hệ giữa giống cà phê và mức độ hại của bệnh nấm hồng tại xã Nhâm (tháng 9/2005) (Trang 58)
Bảng 4.14: Quan hệ của địa hình và bệnh nấm hồng    trên  cà phê chè Catimor KTCB 2 tại xã Nhâm (tháng 9/2005) - Nghiên cứu thành phần, mức số phổ biến của một số bệnh hại chính,diễn biến bệnh nấm hồng (cornticium salmonicolor berk  & roome)
Bảng 4.14 Quan hệ của địa hình và bệnh nấm hồng trên cà phê chè Catimor KTCB 2 tại xã Nhâm (tháng 9/2005) (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w