1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Thảo luận thị trường chứng khoán) phân tích ngành nhựa và doanh nghiệp cụ thể của ngành công ty cổ phần nhựa tiền phong

26 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 745,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện công nghệ hiện đại của ngành nhựa trong nước cóthể bắt nhịp được các ngành kinh tế kĩ thuật như: công nghệ sản xuất vi mạch điện tửbằng nhựa, DVC,CD, chai 4 lớp, chao Pet, Pen, màng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-     -

BÀI THẢO LUẬN

PHÂN TÍCH NGÀNH NHỰA VÀ DOANH NGHIỆP CỤ THỂ CỦA

NGÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA TIỀN PHONG

Bộ môn: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Giáo viên hướng dẫn: LÊ ĐỨC TÔ

Nhóm thực hiện : 06 Lớp học phần : 2105BKSC2311

Trang 2

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

Danh sách thành viên nhóm:

St

t

1 Nguyễn Thị Thu Huyền 18D16002

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH NHỰA VIỆT NAM 2

1.1 Lịch sử hình thành và tình hình sản xuất kinh doanh trong nước của ngành nhựa 2

1.1.1 Lịch sử hình thành ngành nhựa Việt Nam: 2

1.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh trong nước của ngành nhựa: 3

1.2 Tình hình xuất khẩu của ngành nhựa hiện nay: 4

1.3 Các yếu tố tác động tới sự phát triển của ngành nhựa 5

1.3.1 Yếu tố kinh tế 5

1.3.2Yếu tố xã hội 6

1.3.3Yếu tố công nghệ 6

II PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU NGÀNH NHỰA 6

2.1 Các xu hướng của cổ phiếu ngành nhựa trong thời gian qua 6

2.2 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu ngành nhựa 8

2.3 Nhận định lợi thế và rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu ngành nhựa 9

2.3.1 Lợi thế 9

2.3.2 Rủi ro 10

III Phân tích cổ phiếu của CTCP Nhựa Tiền Phong( NTP) 11

3.1 Tổng quan về công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong 11

3.1.1 Lịch sử hình thành 11

3.1.2 Cơ cấu tổ chức 12

3.1.3 Hoạt động kinh doanh của công ty 13

3.2 Phân tích sự biến động cổ phiếu NTP trong giai đoạn 2017-2020 14

3.3 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu NTP giai đoạn 2017 – 2020 18

3.3.1Các yếu tố có thể làm tăng giá cổ phiếu 18

3.3.2Các yếu tố có thể làm giảm giá cổ phiếu 19

3.4 Đưa ra kiến nghị về đầu tư cổ phiếu NTP 19

3.4.1Triển vọng phát triển 19

3.4.2 Rủi ro lợi ích khi đầu tư 20

Kết luận 21

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Ngành nhựa Việt Nam hiện có khoảng 2000 doanh nghiệp với quy mô sản xuất lớn

và nhỏ trong đó có cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hầu hết các doanh nghiệpnhựa Việt Nam đều tập trung ở miền Nam và 95% là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực tư nhân Sản phẩm của doanh nghiệp nhựa Việt Nam chủ yếu tập trung vào nhựa dadụng và nhựa bao bì

Trong những năm qua, các doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất nâng cấp công nghệ đivào quỹ đạo có quy hoạch và định hướng Rất nhiều doanh nghiệp đang định hướng tưduy mạnh dạn đầu tư đón đầu những công nghệ hiện đại, mở rộng nhà xưởng, nâng caonăng lực cạnh tranh và sản xuất Hiện công nghệ hiện đại của ngành nhựa trong nước cóthể bắt nhịp được các ngành kinh tế kĩ thuật như: công nghệ sản xuất vi mạch điện tửbằng nhựa, DVC,CD, chai 4 lớp, chao Pet, Pen, màng ghép phức hợp cao cấp BOPP…Nhiều công nghệ hiện đại cũng được các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư như: Công nghệ

ép phun, Công nghệ đùn thổi, Công nghệ đùn đẩy liên tục,…

Ngoài ra ngành nhựa Việt Nam còn có thể cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩmđặc trưng kĩ thuật cao như ống chịu áp lực cao Một trong những công ty đứng vững trênthị trường hiện nay là công ty cổ phần nhựa Tiền Phong Đó là lí do nhóm chúng emchọn đề tài: Phân tích ngành nhựa và doanh nghiệp cụ thể của ngành Công ty cổ phầnNhựa Tiền Phong

Trang 6

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÀNH NHỰA VIỆT NAM1.1 Lịch sử hình thành và tình hình sản xuất kinh doanh trong nước của ngành nhựa

1.1.1 Lịch sử hình thành ngành nhựa Việt Nam:

Giai đoạn 1960 – 1980:

Đây là giai đoạn hình thành của ngành nhựa Việt Nam với việc dây chuyền sản xuấtnhựa PVC đầu tiên được Trung Quốc hỗ trợ xây dựng tại nhà máy hóa chất Việt Trì vàonăm 1959 Nguyên liệu nhựa PVC trong giai đoạn này được sử dụng chủ yếu để phục vụtrong ngành công nghiệp quốc phòng Nhà máy hóa chất Việt Trì tiếp tục sản xuất PVCcho đến năm 1976 thì dây chuyền PVC phải ngừng hoạt động do công nghệ lạc hậu và hưhỏng nặng

Giai đoạn 1980 – 1990:

Trong thập thiên 90, ngành nhựa Việt Nam vẫn chưa phát triển, sản xuất chủ yếu làlắp ráp và phần lớn các sản phẩm nhựa trong giai đoạn này đều phụ thuộc vào nhập khẩu.Sản phẩm nhựa sản xuất trong giai đoạn này hầu hết chỉ là những sản phẩm với thiết kếđơn giản và ít đa dạng về hình thức, mẫu mã

Giai đoạn 1990 – 1999:

Những năm từ 1990 – 1999 là giai đoạn phát triển nhanh chóng của ngành nhựa ViệtNam với chính sách đổi mới của nhà nước Năng lực sản xuất nguyên liệu nhựa trongnước giai đoạn này cũng được cải thiện đáng kể với sự xuất hiện của liên doanh hóa dầulớn là TPC Vina (Liên doanh giữa CTCP Nhựa và Hóa chất Thái Lan TPC, Tập đoànHóa chất Việt Nam Vinachem và CTCP Nhựa Việt Nam) Trong giai đoạn này nguyênliệu nhựa sản xuất của Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào nguyên liệu PVC

Giai đoạn 2000 – 2007:

Đây là giai đoạn ngành nhựa phát triển nhanh với tăng trưởng sản lượng bình quânkhoảng 13,5% Sản lượng nguyên liệu nhựa cũng được cải thiện đáng kể với sự xuất hiệncủa liên doanh thứ hai Nhựa và Hóa chất Phú Mỹ (liên doanh giữa Petronas Malaysia vàtỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) năm 2002 Trong giai đoạn này, các sản phẩm của ngành nhựacũng đa dạng hơn về mẫu mã cũng như chất lượng cũng được cải thiện đáng kể

Giai đoạn 2007 – nay:

Trang 7

Đây là giai đoạn tiếp tục phát triển nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm

2007 Ngành nhựa phát triển mạnh, đa dạng hóa sản phẩm của mình trong cả bốn mảngsản phẩm là nhựa bao bì, nhựa dân dụng, nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật Việc duy trìchính sách mở cửa khiến dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam nhiều hơn tạo điều kiện pháttriển các ngành công nghiệp chế biến, thực phẩm, đồ uống tạo động lực giúp mảng nhựabao bì phát triển mạnh mẽ

1.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh trong nước của ngành nhựa:

Ở Việt Nam, so với các ngành công nghiệp lâu đời khác (như cơ khí, điện - điện tử,hoá chất, dệt may…) ngành công nghiệp nhựa còn khá mới Tuy nhiên, trong những nămgần đây, ngành Nhựa Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, với mức tăng hàng năm từ16% - 18%/năm (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăngtrưởng đạt gần 100% Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là mộtngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó xuất phát từthị trường rộng, tiềm năng phát triển còn lớn, bởi ngành Nhựa Việt Nam mới chỉ ở bướcđầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được phát huy sử dụng trong tất cảcác lĩnh vực của đời sống

Theo thống kê của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), hiện nay ngành Nhựa gần 4.000doanh nghiệp (DN), phần lớn trong số đó là DN tư nhân (chiếm 99,8% tổng số DN thamgia hoạt động trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam)

Khảo sát thị trường trong nước cho thấy, sản phẩm nhựa do các DN Việt Nam sảnxuất đã có mặt ở hầu hết các ngành và được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khácnhau Trong lĩnh vực tiêu dùng, sản phẩm từ nhựa được sử dụng làm bao bì đóng gói cácloại, các vật dụng bằng nhựa dùng trong gia đình, văn phòng phẩm, đồ chơi…

Trong các ngành kinh tế khác, các sản phẩm từ nhựa được sử dụng ngày càng phổbiến; đặc biệt, trong một số lĩnh vực nhựa còn trở thành một nguyên liệu thay thế cho cácnguyên liệu truyền thống như xây dựng, điện - điện tử… Nhìn chung, sản phẩm nhựa nộiđịa có sức cạnh tranh tương đối tốt với các công ty nước ngoài tại Việt Nam, cũng nhưcác mặt hàng nhựa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Những DN nhựa nội địa đã, đangđẩy mạnh đầu tư công nghệ, nhà xưởng, liên kết cùng các công ty nước ngoài để tậptrung đầu tư sản phẩm cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Những sản phẩmđòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô và máy vi tính cũng đã đượccác DN nhựa Tiền Phong, Phương Đông, Tân Tiến, Bình Minh sản xuất thành công

Trang 8

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặpnhiều khó khăn do dịch bệnh COVID - 19 tác động đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng,sản xuất kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề gặp khó khăn, trong đó có ngành côngnghiệp nhựa, nhưng năm 2020 ngành nhựa vẫn duy trì khá tốt được hoạt động sản xuất,kinh doanh và tăng trường

1.2 Tình hình xuất khẩu của ngành nhựa hiện nay:

Sản phẩm nhựa của Việt Nam, không chỉ được sử dụng rộng rãi tới các ngõ ngáchcủa đời sống, phục vụ cho nhiều ngành sản xuất công nghiệp, trong đó có cả nhữngngành công nghệ cao, mà còn xuất khẩu đi 150 thị trường trên thế giới

Số liệu của Hiệp hội Nhựa Việt Nam công bố, cho thấy, năm 2020, xuất khẩu sảnphẩm nhựa của Việt Nam ra thế giới đạt 3,654 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2019, đưatổng doanh thu toàn ngành nhựa Việt Nam lên đạt mức 22,18 tỷ USD, tăng 10,8% so vớinăm 2019 Ở chiều ngược lại, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu vào Việt Nam trong năm

2020 đạt khoảng 6,61 triệu tấn, trị giá gần 8,4 tỷ USD, tăng 3,3% về lượng, nhưng giảm6,9% về trị giá so với năm 2019

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhựa trong bối cảnh khó khăn đã cho thấy, các sảnphẩm nhựa của Việt Nam đang được nhiều nước trên thế giới sử dụng, khẳng định vị tríquan trọng của ngành sản xuất nhựa trong tổng thể lĩnh vực sản xuất công nghiệp nóichung Tại thị trường nước ngoài, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã được đánh giá là cókhả năng cạnh tranh cao do công nghệ sản xuất một bộ phận lớn đã tiếp cận với trình độhiện đại của thế giới Sản phẩm nhựa của Việt Nam đã được tiêu thụ ở cả những thịtrường có nền công nghiệp phát triển và khó tính trên thế giới như Nhật Bản, EU, Mỹ Thị trường xuất khẩu chính của sản phẩm nhựa của Việt Nam vào năm 2018 là Nhật Bản

và Mỹ Ngoài ra, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nhựa trên thị trường Liên minh châu Âucũng được đánh giá cao, đặc biệt là nhu cầu về ống nhựa khi DN Việt Nam có khả năngthâm nhập tốt và đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu

Điều đáng chú ý là trên thị trường này, sản phẩm nhựa Việt Nam không bị áp thuếchống bán phá giá như các nước châu Á khác (thuế trung bình từ 8 - 30%) Do đó, đây sẽ

là điều kiện thuận lợi để DN nhựa Việt Nam tiếp tục tăng kim ngạch xuất khẩu trong thờigian tới Một số thị trường mới được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển sản phẩmnhựa Việt Nam như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Đông Âu, châu Phi…

Trang 9

1.3 Các yếu tố tác động tới sự phát triển của ngành nhựa

1.3.1 Yếu tố kinh tế

Đặc thù nổi bật của ngành Nhựa Việt Nam là phải nhập khẩu đến 85 – 90% nguyênliệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm Trong khi đó, giá nhaaphkhẩu của các chủng loại nguyên liệu Nhựa luôn có sự biến động theo sự biến động củagiá dầu trên thế giới, tạo sức ép lớn đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp NhựaViệt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của các sản phẩm Nhựa Việt Nam trên thị trường nộiđịa cũng như trên thị trường xuất khẩu, do giá nguyên liệu chiếm đến 75 – 80% giá thànhcủa sản phẩm Không chủ động được nguyên liệu đầu vào là một hạn chế lớn đối vớingành Nhựa Việt Nam Do đó, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp Nếu tỷ giá tăng lên thì chi phí đầu vào của doanhnghiệp cũng sẽ tăng theo, trong khi giá bán sản phẩm lại không thể điều chỉnh tăng tươngứng Các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể xoay sở kịp với sự tăng giảm thất thườngcủa giá đầu vào, đồng thời cũng không thể điều chỉnh ngay lập tức giá bán sản phẩm khichi phí đầu vào tăng lên vì mục tiêu duy trì chữ tín với khách hàng Đây là một nhiệm vụrất lớn mà Việt Nam cần phải giải quyết trong thời gian tới để có thể hạ giá thành sảnphẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa xuất khẩu Quá trình này kéo dài lâu vàdoanh nghiệp không có các biện pháp khắc phục như dự trữ trước nguyên liệu, sử dụngcác nghiệp vụ quyền chọn của ngân hàng thì sẽ phải chịu những ảnh hưởng lớn đến giáthành sản xuất cũng như lợi nhuận, làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.Một nhân tố kinh tế nữa cũng có ảnh hưởng đến ngành nhựa là lãi suất Để thực hiệnsản xuất, ngoài vốn tự có và vốn huy động qua các hình thức phát hành chứng khoán, cácdoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhựa nói riêng đều phải sử dụng đến nguồn vốntín dụng của ngân hàng Tuy nhiên việc vay vốn của ngân hàng không hoàn toàn dễ dàngcho các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp nhỏ Trong khi đó, đến 95% doanhnghiệp nhựa Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân Vì vậy,việc huy động vốn để mở rộng sản xuất hoặc nhập khẩu nguyên liệu để thực hiện các đơnhàng với những doanh nghiệp này không hề đơn giản Mặt khác, khi nền kinh tế xảy ralạm phát cao, Nhà nước buộc phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tănglãi suất cho vay thì các doanh nghiệp lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồnvốn của ngân hàng Do đó, nhân tố lãi suất cũng có tác động không nhỏ đến hoạt độngcủa các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngành Nhựa nói riêng

Trang 10

1.3.2Yếu tố xã hội

Nhựa ngày càng chứng tỏ được vai trò to lớn trong cuộc sống hàng ngày cũng nhưtrong các ngành kinh tế Các sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng nhiều hơntrong tiêu dùng hàng ngày cũng như làm nguyên liệu cho các ngành khác Cuộc sốngcàng phát triển, thu nhập càng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với chất lượng,mẫu mã của sản phẩm nhựa cũng tăng lên, kể cả các sản phẩm cao cấp Không giống nhưmặt hàng dệt may, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam lại thích thị trường nội địa hơn thịtrường xuất khẩu Nguyên nhân là do giá bán sản phẩm nhựa trong nước thường cao, do

đó bán sản phẩm trong nước có thể thu được lợi nhuận cao hơn xuất khẩu Vì vậy, sảnphẩm nhựa Việt Nam đã quen thuộc và được người dân cũng như các doanh nghiệp ViệtNam tin dùng, như sản phẩm nhựa của công ty Nhựa Thiếu niên Tiền Phong, Nhựa BìnhMinh, bao bì Nhựa Tân Tiến… Đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Namtrong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị phân tại thị trường nội địa

1.3.3Yếu tố công nghệ

Nhân tố công nghệ có một tác động to lớn đến sự phát triển của ngành nhựa Khoahọc công nghệ phát triển đã giúp cho nhựa trở thành nguyên liệu thay thế cho các sảnphẩm truyền thống như gỗ, kim loại,… Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại đang góp phầntạo ra những sản phẩm nhựa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu thẩm

mỹ cũng như sự an toàn trong sử dụng cho người tiêu dùng Các doanh nghiệp nhựa ViệtNam được đánh giá là có khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu do công nghệ đã đáp ứngđược yêu cầu của thế giới

Tuy nhiên, việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị đối với ngành Nhựa hiện nayvẫn đang là một trở ngại lớn do hầu hết các thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất củangành, như máy in, máy ghép, máy thổi,… đều phải nhập khẩu Nếu ngành cơ khí củaViệt Nam có thể phát huy tốt vai trò hỗ trợ thì ngành Nhựa sẽ có khả năng tiếp cận đượcvới công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, qua đó tăng hiệu quả hoạt động và doanh thucủa ngành

II PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU NGÀNH NHỰA

2.1 Các xu hướng của cổ phiếu ngành nhựa trong thời gian qua

Ngành nhựa Việt Nam đã trải qua một năm 2018 khó khăn, dưới các tác động tiêucực từ chi phí nguyên liệu tăng, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang, cạnh tranh

Trang 11

khốc liệt,…tất cả ít nhiều gây ra lo ngại và kéo cổ phiếu nhựa đi xuống Ở phân khúcnhựa xây dựng, cổ phiếu BMP của Nhựa Bình Minh, NTP của Nhựa Tiền Phong giảm30% trong năm 2018 Có thời điểm, giá BMP đã giảm gần một nửa,… Mặc dù vậy, đánhgiá của giới phân tích về cổ phiếu nhựa vấn tích cực.

Sau giai đoạn cạnh tranh khốc liệt 2018 – 2019, ngành nhựa trong năm 2020 đónnhận không ít yếu tố thuận lợi, nhất là diễn biến giá nguyên liệu đầu vào giảm Tác độngcủa dịch bệnh Covid – 19 đã khiến bức tranh kết quả kinh doanh của các doanh nghiệpniêm yết không mấy tươi sáng trong nửa đầu năm 2020 Trong bối cảnh hiện tại, nhómngành nhựa được giới chuyên môn đánh giá cao Theo đó, cổ phiếu ngành nhựa cũng cónhiều triển vọng trong giai đoạn hiện nay sau một thời gian giảm chung theo đà giảm củathị trường, khi giá nguyên liệu và dầu đang ở mức thấp kỷ lục nhiều năm Hạt nhựa là chếphẩm dầu mỏ nên có độ tương quan cao với giá, vì thế giá dầu trong năm 2020, đặc biệt

là tháng 4 giảm nhiều, giúp các doanh nghiệp sản xuất nhựa hưởng lợi Ngoài ra, ViệtNam cũng dần chủ động gia tăng sản xuất nguyên liệu nhựa nguyên sinh, giảm phụ thuộcnhập khẩu

Tháng 8/2020, thị trường bước vào vùng trũng thông tin khi mùa báo cáo kinh doanhquý II và bán niên trôi qua, trong khi phải đối mặt với làn sóng lây nhiễm Covid – 19 thứhai, gây áp lực lên tăng trưởng kinh tế Trong bối cảnh vĩ mô không chắc chắn, dòng tiềntrên thị trường chứng khoán đã dịch chuyển vào các nhóm ngành được coi là có tiềm lựctài chính, hoạt động kinh doanh ổn định và chính sách cổ tức hấp dẫn, trong đó có ngànhnhựa

Bên cạnh đó, ngành Nhựa là một trong những ngành có được hưởng lợi khi giá dầuliên tục giảm sâu trong suốt thời gian qua Từ đầu tháng 3/2020 đến nay, giá dầu WTI(West Texas Intermediate) thương xuyên duy trì dưới mức 40 USD/thùng Giá hạt nhựanhờ đó cũng giảm theo Thực tế, trong bối cảnh khó khăn về thị trường do tác động củađại dịch Covid – 19 nhiều doanh nghiệp ngành nhựa vẫn duy trì được kết quả kinh doanhtăng trưởng nhờ chủ động trong hoạt động sản xuất Tuy nhiên, kể từ tháng 5/2020, cácnền kinh tế dần mở cửa trở lại, trong khi nhiều quốc gia xuất khẩu dầu mỏ thực hiện cắtgiảm sản lượng khai thác, còn số giàn khoan dầu đá phiến của Mỹ liên tục giảm, nên giádầu có diễn biến tăng Mặc dù giá dầu hồi phục nhưng so với cùng kỳ năm trước vẫnđang ở vùng giá thấp hơn Theo đó, giá nguyên liệu nhựa vẫn ở vùng thấp tiếp tục là yếu

Trang 12

tố hỗ trợ các doanh nghiệp trong ngành Ngoài yếu tố này, nhóm cổ phiếu nhựa hấp dẫnnhờ tình hình tài chính nhìn chung lành mạnh và chính sách cổ tức tiền mặt ở mức cao.

=> Như vậy, các doanh nghiệp nhựa hoạt động kinh doanh ổn định, tình hình tàichính lành mạnh và cổ tức cao đã thu hút các nhà đầu tư

2.2 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu ngành nhựa

 Lãi suất

Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền mà họvay từ một người cho vay Lãi suất tác động đến giá cổ phiếu doanh nghiệp: Lãi suất tănglàm tăng chi phí vay đối với DN Chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì nó sẽ hạthấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh toán cổ tức Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếuthường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyểnhướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao Hơn nữa, lãi suấttăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiềnnhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, lãisuất tăng sẽ dẫn đến giá cổ phiếu giảm Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho DN

vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu thường tăng lên Vì vậy, lãi suất ảnh hưởng khôngnhỏ đến các ngành trong nền kinh tế kể cả ngành nhựa

 Tỷ giá

Trao đổi giữa hai tiền tệ hay là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổicho một đồng tiền khác Đặc biệt đối với các doanh nghiệp ngành nhựa luôn phải nhậpkhẩu các nguyên liệu đầu vào vì vậy tỷ giá ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.Trường hợp doanh nghiệp đi vay thì biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến chi phí vay củadoanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận => giá cổ phiếu bị ảnh hưởng

 Chính sách tài khóa, tiền tệ

Khi áp dụng chính sách tài khóa, tiền tệ mở rộng khi đó nhà nước sẽ áp dụng cáccông cụ như thuế, lãi suất…để khuyến khích nền kinh tế, thị trường khi đó các doanhnghiệp ngành nhựa cũng sẽ bị ảnh hưởng làm doanh thu, lợi nhuận tăng lên =>>giá cổphiếu tăng

Khi áp dụng Chính sách tài khóa thắt chặc=>>Hạn chế nền kinh tế, thị trường=>>doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp ngành nhựa bị giảm =>>giá cổ phiếu giảm

 Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 13

Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành nhựa là yếu tố quan trọng quyết địnhđến việc giá cổ phiếu tăng hay giảm Nếu doanh nghiệp nào làm ăn tốt và đạt mức lợinhuận cao thì giá cổ phiếu sẽ tăng mạnh Ngược lại, nếu kết quả kinh doanh “tụt dốc” thìgiá cổ phiếu sẽ giảm do doanh nghiệp đó không giành được lòng tin của nhà đầu tư.Các nhà đầu tư chuyên nghiệp rất quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệpkhi đánh giá cổ phiếu Vì họ cho rằng đây là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổphiếu khá mạnh Ngoài ra, nếu giá cổ phiếu tăng do doanh nghiệp làm ăn tốt thì sự tăngtrưởng đó sẽ bền vững hơn.

 Thông tin gây nhiễu và tâm lý của nhà đầu tư

Ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ở trên, thông tin gây nhiễu cũng làmột yếu tố cần được xét đến Đặc biệt hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới

“đầy rẫy” thông tin do sự phát triển của Internet Những dự đoán từ chuyên gia, các phântích báo cáo tài chính hay bất cứ thông tin nào liên quan cũng có thể tác động tới giá cổphiếu của ngành nhựa

Trên thị trường chứng khoán hầu hết là những nhà đầu tư không chuyên và rất “nhạycảm” với các thông tin Đôi khi, một thông tin tiêu cực nào đó về doanh nghiệp dù chưađược xác thực cũng có thể khiến giá cổ phiếu giảm mạnh do nhà đầu tư e ngại và bántháo cổ phiếu

2.3 Nhận định lợi thế và rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu ngành nhựa

2.3.1 Lợi thế

Sản lượng nhựa sản xuất năm 2019 đạt 8,9 triệu tấn, tăng trưởng 7,2% so với năm

2018 Theo báo cáo của tổ chức Business Monitor International (BMI) mặc dù bước vàogiai đoạn chững lại nhưng ngành nhựa Việt Nam vẫn duy trì sản lượng với đà tăngtrưởng trung bình 6,5% trong giai đoạn 2019-2022

Cũng theo BMI, trong giai đoạn 2019-2022, xây dựng nhà ở và xây dựng hạ tầngnước được dự báo sẽ tăng trưởng lần lượt 6,7% và 7,3% tạo động lực tăng trưởng chomảng nhựa xây dựng

Ngoài ra, các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia gần đây đều bao gồm cácđối tác quan trọng với ngành nhựa Việt Nam về nguyên liệu nhập khẩu và sản phẩm xuấtkhẩu Đặc biệt khi EVFTA có hiệu lực sẽ giúp cơ hội xuất khẩu của doanh nghiệp trongnước được mở rộng và thúc đẩy tăng trưởng

Ngày đăng: 17/05/2021, 12:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w