Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới Quan điểm triết học của chủ nghĩa MácLênin về con người. Vận dụng vào việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING – QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU
BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.Quan niệm về con người trong triết học trước Mác 3
1.2.Quan niệm của Mác – Lênin về bản chất con người 6
CHƯƠNG 2: VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC CỦA VIỆT NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI… 8
2.1.Thực trạng việc xây dựng con người Việt Nam trong thời gian qua 8
2.2.Vai trò của nhân tố con người trong công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay 11
2.3.Một số giải pháp cho việc phát triển nguồn nhân lực, việc xây dựng con người Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới 12
C KẾT LUẬN 17
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề con người luôn là trọng tâm và là mục tiêu cao cả nhất của toànnhân loại Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà nghiêncứu phân tích một cách sâu sắc nhất Không những thế trong nhiều đề tàikhoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm đượccác nhà nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý Các lĩnh vực tâm lý học, sinhhọc, y học, triết học, xã hội học, dân tộc học, đạo đức học.v.v Ở mỗingành khoa học, con người lại được tiếp cận và giải quyết theo từngphương pháp khác nhau Tuy nhiên, để nói về việc giải đáp được nhữngvấn đề chung nhất về con người như bản chất, vị thế của con người trongthế giới, ý nghĩa cuộc sống của con người,… đầy đủ và sâu sắc nhất thìchỉ có Triết học
Trước Các Mác, vấn đề con người chưa được giải đáp một cách khoahọc Cho đến khi quan điểm duy vật về lịch sử được hình thành khả năngnhận thức thế giới và cải tạo thế giới của con người mới được các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác khẳng định Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩaMác đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuấtvật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sảnxuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội Đặcbiệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ kinh tế tri thức thì vai tròcủa con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức mới, chứađựng những tri thức mới
Tại Việt Nam, từ Đại hội Đảng lần thứ III cho đến nay, Đảng ta luôn xácđịnh nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là công nghiệphóa - hiện đại hóa đất nước Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và nângcao chất lượng đời sống của nhân dân thì nhiệm vụ hàng đầu cần phải đẩy mạnh
là phát triển nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa Mà muốn làm đượcđiều này thì vấn đề mà chúng ta cần phải đặt lên hàng đầu là phát triển lực lượngsản xuất, nâng cao chất lượng kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến,… trong đóđặc biệt là phát triển nguồn nhân lực Bởi con người là mục tiêu, là động lực chủyếu của sự phát triển kinh tế - xã hội Việc đào tạo con người phát triển toàndiện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, trí tuệ, năng lực sáng tạo, lòngnhân ái, có ý thức cộng đồng là vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết Vì thế
mà tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII, Đảng ta
đã đề ra và thông qua nghị quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàndiện với tư cách là “động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới đồng thời là
Trang 4mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là “con người phát triển cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề con người trong bối cảnh đấtnước hiện nay, nhóm em đã quyết định chọn đề tài “Quan điểm triết họccủa chủ nghĩa Mác-Lênin về con người Vận dụng vào việc xây dựng conngười Việt Nam nhằm đáp ứng cho công cuộc đổi mới” làm đề tài cho bàithảo luận triết học của nhóm mình
Trang 5B PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm
đầu Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đãtiếp cận từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội:
- Khổng Tử cho bản chất con người do “thiên mệnh” chi phối quyết định,đức “nhân”chính là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là người quân
tử
- Mạnh Tử quy tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnhhưởng của phong tục tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu, xa rờicái tốt đẹp Vì vậy, phải thông qua tu dưỡng, rèn luyện để giữ được đạođức của mình Cũng như Khổng Tử, Mạnh Tử cho rằng phải lấy lòngnhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới các giá trị đạođức tốt đẹp
- Triết học Tuân Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác,nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốtđược.Từ đó đi đến kết luận bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tínhngười là Bất Thiện (Pháp gia)
Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão tử thời Xuân Thu, lại tiếp
- Lão Tử, người mở đầu cho trường phái Đạo gia, cho rằng con người sinh
ra từ “Đạo” Do vậy, con người phải sống “vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuầnphát, không hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tự nhiên Quanniệm này biểu hiện tư tưởng duy tâm chủ quan của triết học Đạo gia Cuốicùng đi tới kết luận bản tính Tự Nhiên của con người
Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận khác nhau vềbản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm khácnhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề vềquan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ
Khác với nền triết học Trung Hoa, các nhà tư tưởng của các trườngphái triết
Trang 6học Ấn Độ mà tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận từ giác độ khác,giác độ suy tư về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (Siêuhình học) đối với những vấn đề nhân sinh quan Kết luận về bản tính Vô ngã, Vôthường và tính hướng thiện của con người trên con đường truy tìm sự Giác Ngộ
là một trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo Phật
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết họcphương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề conngười trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trongtriết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duyvật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạptrải qua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đềtriết học về con người vẫn là một đề tài tranh luận chưa chấm dứt Thực tếlịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết học về conngười trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với nền triếthọc phương Đông
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo,nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí.Theo Kitô giáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Conngười về bản chất là kẻ có tội Con người gồm hai phần: thể xác và linhhồn Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì tồn tại vĩnh cửu Linh hồn làgiá trị cao nhất trong con người Vì vậy, phải thường xuyên chăm sócphần linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cửu Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của
tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phảnchiếu lẫn nhau Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ trụ bao la.Protagoras - một nhà ngụy biện cho rằng “con người là thước đo của vũtrụ” Quan niệm của Aristoteles về con người cho rằng chỉ có linh hồn, tưduy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên,con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ Khi đề cao nhà nước, ông xemcon người là “một động vật chính trị” Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đạibước đầu đã có sự phân biệt con người với tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biếtbên ngoài về tồn tại con người
Trang 7Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đếsáng tạo ra Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con ngườiđều do Thượng đế xếp đặt Trí tuệ con người thấp hơn lý trí anh minhsáng suốt của Thượng đế Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sốngnhưng đành bằng lòng với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúcvĩnh cửu là ở thế giới bên kia
Triết học thời kỳ phục hưng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lýtính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Đó là mộttrong những yếu tố quan trọng nhằm giải thoát con người khỏi mọi gôngcuồng chật hẹp mà chủ nghĩa thần học thời trung cổ đã áp đặt cho conngười Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinhhọc và về mặt xã hội thì chưa có trường phái nào đạt được Con ngườimới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ,Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủnghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan,thông qua sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng, con người làhiện thân của “ý niệm tuyệt đối” Bước diễu hành của “ý niệm tuyệt đối”thông qua quá trình tự ý thức của tư tưởng con người đã đưa con ngườitrở về với giá trị tinh thần, giá trị bản thể và cao nhất trong đời sống conngười Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các quyluật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ chế của đời sống tinhthần cá nhân trong mọi hoạt động của con người Mặc dù con người đượcnhận thức từ góc độ duy tâm khách quan, nhưng Hêghen là người khẳngđịnh vai trò chủ thể của con người đối với lịch sử, đồng thời là kết quảcủa sự phát triển lịch sử
Tư tưởng triết học của nhà duy vật Phoiơbắc đã vượt qua những hạnchế trong triết học Hêghen để hy vọng tìm đến bản chất con người mộtcách đích thực Phoiơbắc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất,phi thể xác về bản chất con người trong triết học Hêghen, đồng thời khẳngđịnh con người do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên Con người làkết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên Con người và tự nhiên làthống nhất, không thể tách rời Phoiơbắc đề cao vai trò và trí tuệ của conngười với tính cách là những cá thể người Đó là những con người cá biệt,
đa dạng, phong phú, không ai giống ai Quan điểm này dựa trên nền tảngduy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính, nhằm giải phóng cá nhân con
Trang 8người Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản chất xã hội trong đờisống con người, tách con người khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể Conngười của Phoiơbắc là phi lịch sử, phi giai cấp và trừu tượng
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết họctrước Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyênluận hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất conngười Nhìn chung, các quan niệm trên đều xem xét con người một cáchtrừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đốihoá mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống conngười Tuy vậy, một số trường phái triết học vẫn đạt được một số thànhtựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập cácgiá trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do Đó là những tiền đề
có ý nghĩa cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết họcmácxít
1.2 Quan niệm của Mác – Lênin về bản chất con người
1.2.1 Bản chất con người là thực thể sinh học – xã hội
Về phương diện sinh học, con người là một thực thể sinh vật, là sảnphẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội Điều đó có nghĩa là conngười cũng như mọi động vật khác phải tìm thức ăn, nước uống, phải
“đấu tranh sinh tồn” để ăn uống, sinh con đẻ cái, tồn tại và phát triển.Nhưng không được tuyệt đối hóa điều đó Khi xem xét con người, theoquan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, không thể tách rời hai phươngdiện sinh học và xã hội của con người thành những phương diện biệt lập,duy nhất, quyết định phương diện kia
Không chỉ là một thực thể sinh học mà con người còn là một bộ phậncủa thế giới tự nhiên Con người tuân theo các quy luật của giới tự nhiên,các quy luật sinh học như di truyền, tiến hóa sinh học và các quá trìnhsinh học của giới tự nhiên Con người là một bộ phận đặc biệt, quan trọngcủa giới tự nhiên nhưng lại còn có thể biến đổi giới tự nhiên và chính bảnthân mình, dựa trên các quy luật khách quan Đây là điểm khác biệt rấtquan trọng giữa con người và các thực thể sinh học khác Bằng các hoạtđộng thực tiễn, chúng ta thấy rằng con người phải dựa vào giới tự nhiên,gắn bó, hòa hợp với tự nhiên thì mới có thể tồn tại và phát triển Ngoài ra,con người còn là một thực thể xã hội có các hoạt động xã hội, mà trong đóquan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất Nếu các con vật dựa hoàn
Trang 9toàn vào các sản phẩm tự nhiên, dựa vào bản năng thì con người lại sốngbằng sản xuất, bằng việc cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm nhằmthoả mãn nhu cầu của mình
Trong hoạt động con người không chỉ có các quan hệ lẫn nhau trongsản xuất, mà còn có hàng loạt các quan hệ xã hội khác Những quan hệ đóngày càng phát triển phong phú, đa dạng, thể hiện những tác động qua lạigiữa họ với nhau Xã hội, xét đến cùng, là sản phẩm của sự tác động qualại lẫn nhau giữa những con người Hoạt động và giao tiếp của con người
đã sinh ra ý thức người Tư duy, ý thức của con người chỉ có thể phát triểntrong lao động và giao tiếp xã hội với nhau Chính vì vậy, khác với convật, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển trong xã hội loài người.1.2.2 Bản chất con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của lịch sử
Con người vừa là sản phẩm của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hộinhưng đồng thời lại là chủ thể của lịch sử bởi lao động và sáng tạo làthuộc tính xã hội tối cao của con người Con người và động vật đều cólịch sử của mình Lịch sử của con vật không phải do chúng làm ra vàtrong cả quá trình lịch sử đấy diễn ra thì chúng không hề biết và khôngphỉa do ý muốn của chúng Ngươc lại, con người càng cách xa con vậthiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu, thì con người càng tự mình làm
ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu Hoạt động lịch sử đầutiên khiến con người tách ra khỏi con vật là chế tạo ra công cụ lao động,hình thành nên các hoạt động lao động sản xuất Chính từ thời điểm nàycon người tạo nên lịch sử của chính mình “Sáng tạo ra lịch sử” là bảnchất của con người, nhưng con người không thể sáng tạo ra lịch sử mộtcách tùy tiện theo ý muốn của mình mà phải dựa theo những điều kiện doquá khứ hay thế hệ trước để lại trong những hoàn cảnh mới Con ngườimột mặt phải tiếp tục các hoạt động trên các tiền đề, điều kiện cũ của thế
hệ trước để lại, một mặt phải tiến hành các hoạt động mới của mình để cảibiến những điều kiện cũ Lịch sử sản xuất ra con người như thế nào thìtương lai con người cũng sáng tạo ra lịch sử như thế ấy Từ khi con ngườiđược tạo ra tới nay thì con người luôn là sản phẩm của lịch sử, cũng luôn
là chủ thể của lịch sử
Con người tồn tại và phát triển luôn luôn nằm trong một hệ thống môitrường xác định Đó là toàn bộ điều kiện vật chất, tinh thần, có quan hệtrực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống con người và xã hội Một mặt, con
Trang 10người là một bộ phận của giới tự nhiên, thu nhận và sử dụng các nguồnlực của tự nhiên để cải biến chúng sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụngcủa chính mình Mặt khác là một bộ phận của tự nhiên, con người cũngphải tuân theo các quy luật của tự nhiên như cơ học, vật lý, hóa học, đặcbiệt là sinh học,… Về phương diện sinh học, con người như là một vũ trụthu nhỏ, có cấu trúc phức tạp, là một hệ thống mở, biến đổi và phát triểnkhông ngừng, thay đổi và thích nghi nhanh chóng so với các động vậtkhác trước những biến động của môi trường Cơ thể con người vừa tiếpnhận, thích nghi, hòa nhịp với thế giới tự nhiên, nhưng cũng bằng cách đóthay đổi thế giới tự nhiên để thích ứng và biến đổi chính mình.
1.2.3 Bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội
Trong sinh hoạt xã hội, khi hoạt động ở những điều kiện lịch sử nhấtđịnh con người có quan hệ với nhau để tồn tại và phát triển Bản chất củacon người luôn được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực,
cụ thể trong những điều kiện lịch sử cụ thể Các quan hệ xã hội tạo nênbản chất của con người, nhưng không phải sự kết hợp giản đơn hoặc làtổng cộng chúng lại với nhau mà là sự tổng hòa chúng; mỗi quan hệ xãhội có vị trí, vai trò khác nhau, tác động qua lại, không tách rời nhau Cácquan hệ xã hội có nhiều loại: quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệvật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên hoặcngẫu nhiên, bản chất hoặc hiện tượng, quan hệ kinh tế, quan hệ phi kinhtế,… Tất cả các quan hệ đó đều góp phần hình thành lên bản chất conngười Các quan hệ xã hội thay đổi thì ít hay nhiều, sớm hay muộn thì bảnchất con người cũng thay đổi theo Trong các quan hệ xã hội cụ thể, xácđịnh thì con người mới có thể bộc lộ được bản chất thực sự của mình, vàcũng trong những quan hệ xã hội đó thì bản chất con người mới được pháttriển Các quan hệ xã hội khi đã hình thành có vai trò chi phối và quyếtđịnh các phương diện khác của đời sống con người khiến cho con ngườikhông còn thuần túy là một động vật mà là một động vật xã hội
Trang 11CHƯƠNG 2: VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC CỦA VIỆT
NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CHO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
2.1 Thực trạng việc xây dựng con người Việt Nam trong thời gian qua
Con người có vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốcgia, dân tộc Báo cáo phát triển con người (HDR), công bố lần đầu tiênnăm 1990 trong Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) nêu rõ:
“Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Vàmục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phépcon người được hưởng cuộc sống dài lâu, mạnh khỏe và sáng tạo” Theo
đó, quan điểm về phát triển con người chính là lấy con người làm trungtâm của sự phát triển Để phát triển con người, cần phải đầu tư vào giáodục, y tế, kỹ năng,… để con người có thể làm việc một cách sáng tạo và
có năng suất cao nhất; cần phải bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế mà conngười tạo ra được phân phối rộng rãi và công bằng; cần phải hướng vàoviệc tạo cho con người có cơ hội tham gia vào mọi hoạt động của đờisống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…
Mục tiêu của sự phát triển không chỉ dừng lại ở phát triển xã hội màchính là phát triển con người, là đảm bảo cho con người phát huy khảnăng sáng tạo, hưởng một cuộc sống khỏe mạnh, học hành và trường thọ,được hưởng các quyền tự do chính trị, quyền con người và cá nhân trongmột môi trường đảm bảo Đây là quan điểm phát triển con người phù hợpvới tư tưởng của Các Mác về phát triển con người toàn diện Trong hànhtrình xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dânchủ và giàu mạnh, con người được phát triển toàn diện, Hồ Chí Minh vàĐảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểmcủa triết học Mác về con người và giải phóng con người trong hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênintrong bối cảnh mới Luôn xác định rõ giải phóng con người là để pháttriển con người Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đãnhìn nhận con người trong hệ giá trị của sự phát triển nhân cách; đã khẳngđịnh Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là mục tiêu hàng đầu của đấu tranhcách mạng, là hệ giá trị vĩnh cửu cho sự phát triển của xã hội Việt Nam vàtrong triết lý hành động của mình, Người luôn coi độc lập là tiền đề, tự do
là then chốt, hạnh phúc là đích đến thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa lịch sửtrong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc