TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở thực tập
Trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang tọa lạc tại thôn Đồng Tâm, xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Đây là một cơ sở thuộc Công ty CP Dinh Dưỡng Hải Thịnh, do ông Lê Văn Hải đảm nhiệm vị trí tổng giám đốc.
Hiệp Hòa là huyện thuộc tỉnh Bắc Giang, nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, do đó nơi đây chịu ảnh hưởng chung của điều kiện khí hậu đặc trưng của vùng.
Hiệp Hòa là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng, với độ nghiêng từ tây bắc xuống đông nam Khu vực này có đồi núi và gò thấp ở phía bắc, trong khi vùng đồng bằng tập trung chủ yếu ở phía đông nam và giữa huyện Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 20.110 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67% (13.479 ha), đất lâm nghiệp chiếm 0,9% (190,3 ha), và đất chưa sử dụng chiếm 8,2% (1.653,2 ha) Đất đai ở Hiệp Hòa đa dạng và thích hợp cho nhiều loại cây trồng, bao gồm lương thực, thực phẩm và công nghiệp.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là
23 0 C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39 0 C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là
12 0 C Có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.650 mm, với hai mùa mưa rõ rệt Mùa mưa diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 70% - 80% tổng lượng mưa cả năm, trong khi mùa khô chỉ đóng góp khoảng 20% - 30%.
+ Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình năm là 83% ( tháng 10) và độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%
+ Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm
Trang trại có tổng diện tích 6000m , trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả
Khu chăn nuôi lợn được thiết kế với chuồng trại cho hơn 300 nái sinh sản, bao gồm các giống lợn chính như Landrace và Yorkshire, được nhập khẩu từ nước ngoài.
Trại lợn được tổ chức thành hai khu vực chính: khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành bao gồm văn phòng làm việc, khu tiếp khách cho quản lý và nơi sinh hoạt của công nhân Trong khi đó, khu sản xuất có 2 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng cai sữa và 10 ô chuồng thịt nhỏ Ngoài ra, trại còn có các công trình hỗ trợ chăn nuôi như kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng và kho chứa vật liệu.
Hệ thống chuồng nuôi được thiết kế khép kín và tự động hoàn toàn, với trang thiết bị hiện đại được nhập khẩu từ nước ngoài Mỗi chuồng được trang bị giàn mát ở đầu và hệ thống quạt thông gió ở cuối, đảm bảo điều kiện sống tối ưu cho vật nuôi.
Phòng pha tinh được trang bị các dụng cụ hiện đại như ống đựng tinh, nhiệt kế kính hiển vi, nồi hấp và tủ bảo quản tinh sau khi pha chế, cùng với nhiều dụng cụ khác, nhằm phục vụ hiệu quả cho quá trình pha chế tinh.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng và khu vực đều được đổ bê tông và trang bị hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý chặt chẽ, yêu cầu mọi công nhân và khách tham quan phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng, và đi qua hệ thống sát trùng trước khi vào chuồng.
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm
- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả tạo môi trường thông thoáng
Cơ cấu tổ chức của trang trại bao gồm:
- 01 Quản lý trại: Trực tiếp quản lý các công việc của trại
- 01: Kỹ thuật trại: Phụ trách các kỹ thuật trên đàn lợn của trại
- 08: Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn
- 01: Bảo vệ: Chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Trại nuôi được tổ chức thành các chuồng chuyên biệt như chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng hậu bị, chuồng cai sữa và chuồng thịt Đội ngũ công nhân thực hiện công việc hàng ngày tại mỗi chuồng một cách nghiêm túc và tuân thủ đúng quy định của trại.
Tổng quan về đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Đặ c đ i ể m sinh lý, sinh d ụ c c ủ a l ợ n nái
* Sự thành thục về tính:
Gia súc khi phát triển đến một giai đoạn nhất định sẽ biểu hiện tính dục, với con đực có khả năng sinh ra tinh trùng và con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Theo Hoàng Toàn Thắng và cộng sự (2006), thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản Tại giai đoạn này, các bộ phận sinh dục như buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và sẵn sàng cho hoạt động sinh sản Đồng thời, các bộ phận sinh dục phụ bên ngoài cũng xuất hiện, dẫn đến phản xạ về tính và hiện tượng động dục Thời điểm thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc nuôi dưỡng.
Các giống khác nhau có thời gian thành thục khác nhau; những giống thuần hóa sớm thường đạt độ thành thục nhanh hơn so với những giống thuần hóa muộn Bên cạnh đó, các giống có kích thước nhỏ cũng thường thành thục sớm hơn so với các giống có kích thước lớn.
Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội như Ỉ và Móng Cái rất sớm, chỉ từ 4 - 5 tháng khi đạt khối lượng 20 - 25kg Trong khi đó, lợn nái lai F1 có tuổi động dục muộn hơn, bắt đầu từ 6 tháng với khối lượng cơ thể 50 - 55kg Đối với lợn ngoại, tuổi động dục còn muộn hơn, từ 6 - 7 tháng khi đạt khối lượng 60 - 80kg Tuổi động dục lần đầu có thể khác nhau tùy thuộc vào giống, điều kiện chăm sóc và quản lý Cụ thể, lợn Ỉ và Móng Cái có tuổi động dục vào khoảng 4 - 5 tháng (121 - 158 ngày tuổi), trong khi các giống lợn ngoại như Yorkshire và Landrace bắt đầu động dục muộn hơn, từ 7 - 8 tháng tuổi.
+ Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của lợn nái Những con lợn được nuôi dưỡng bằng khẩu phần thức ăn đầy đủ và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng sẽ đạt được độ thành thục sinh dục sớm hơn so với những con lợn được cho ăn khẩu phần có giá trị dinh dưỡng thấp.
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Lợn được nuôi dưỡng tốt thường đạt tuổi thành thục sớm hơn, trung bình là 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng 80 kg, trong khi lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém có thể chậm hơn, đạt thành thục ở 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu hụt làm chậm sự phát triển này do tác động tiêu cực lên tuyến yên và hormone sinh dục, trong khi dinh dưỡng thừa cũng gây hại bằng cách tích tụ mỡ quanh buồng trứng, làm giảm chức năng sinh sản và ảnh hưởng đến nồng độ hormone oestrogen và progesterone, từ đó cản trở sự thành thục.
Khí hậu và nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc Cụ thể, những giống lợn sống ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường đạt độ thành thục sớm hơn so với các giống lợn ở vùng khí hậu ôn đới và hàn đới.
Sự kích thích từ con đực có ảnh hưởng lớn đến sự thành thục của lợn nái hậu bị Việc để lợn đực đã thành thục gần ô chuồng của lợn nái hậu bị sẽ giúp tăng tốc độ thành thục của chúng Theo nghiên cứu của McIntosh G B (1996), nếu lợn nái hậu bị được tiếp xúc với lợn đực 2 lần mỗi ngày, mỗi lần từ 15 đến 20 phút, thì có đến 83% lợn cái nặng hơn 90 kg sẽ động dục.
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục của lợn nái Theo nghiên cứu của Dwane và cộng sự (1992), lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn vào mùa hè so với mùa thu - đông do nhiệt độ cao trong chuồng nuôi Những con được chăn thả tự do thành thục sớm hơn từ 14 đến 17 ngày so với những con nuôi nhốt Mùa đông, thời gian chiếu sáng ngắn hơn làm chậm tuổi thành thục Cần lưu ý rằng tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, vì vậy nên cho gia súc phối giống khi đạt khối lượng nhất định tùy theo giống Tuy nhiên, không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ và chưa tích tụ đủ dinh dưỡng Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), để đạt hiệu quả sinh sản tốt, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu tiên trước khi phối giống.
+ Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính thường đến sớm hơn so với tuổi thành thục về thể vóc, điều này có nghĩa là sau khi con vật đạt tuổi thành thục về tính, nó vẫn tiếp tục phát triển về thể chất Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), không nên cho phối giống trong lần động dục đầu tiên vì lúc này cơ thể lợn chưa hoàn thiện, chưa tích tụ đủ dinh dưỡng cho thai kỳ, và trứng chưa chín hoàn toàn Để đạt hiệu quả sinh sản tốt và duy trì sức khỏe cho con cái lâu dài, nên bỏ qua 1-2 chu kỳ động dục đầu tiên trước khi tiến hành phối giống.
* Sự thành thục về thể vóc:
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hùng và cộng sự (2003), tuổi thành thục về thể vóc là giai đoạn mà lợn đạt sự phát triển ngoại hình và thể chất ổn định, thường diễn ra chậm hơn so với tuổi thành thục về tính, được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu Trong giai đoạn này, nếu cho lợn giao phối ngay, có thể dẫn đến việc lợn mẹ thụ thai nhưng không đảm bảo cho sự phát triển tốt của bào thai, ảnh hưởng đến chất lượng con và năng suất sinh sản sau này Do đó, không nên cho phối giống quá sớm; lợn cái nội nên được cho phối khi đạt 7-8 tháng tuổi và khối lượng 40-50 kg, trong khi lợn ngoại nên được phối khi đạt 8-9 tháng tuổi và khối lượng 100 kg.
110 kg mới nên cho phối
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp diễn ra khi cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh, không có bào thai và bệnh lý Trong buồng trứng, noãn bao phát triển, trưởng thành và thải trứng Quá trình thải trứng đi kèm với nhiều biến đổi về hình thái và chức năng của cơ quan sinh dục Những biến đổi này lặp đi lặp lại theo chu kỳ, tạo nên chu kỳ động dục.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thiện và cộng sự (1993), chu kỳ sinh sản của lợn nái thường kéo dài từ 19 đến 21 ngày Thời gian động dục của lợn nội khoảng 3 - 4 ngày, trong khi lợn lai và lợn ngoại kéo dài từ 4 - 5 ngày Chu kỳ này được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực, giai đoạn chịu đực và giai đoạn sau chịu đực.
Trước khi lợn nái chịu đực, chúng thường phát ra tiếng kêu rít và có hiện tượng xung huyết ở âm hộ, nhưng chưa được cho phối Thời gian rụng trứng của lợn ngoại và lợn nái lai dao động từ 35 đến 40 giờ, trong khi đó lợn nội có thời gian rụng trứng từ 25 đến 30 giờ.
Trong giai đoạn chịu đực, lợn sẽ có những biểu hiện như kém ăn, đứng yên khi bị ấn vào lưng gần mông, âm hộ có dấu hiệu giảm độ sưng và có nước nhờn chảy ra, dính và đục Lợn cũng sẽ đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, và nếu lợn được phối giống trong thời gian này, khả năng thụ thai sẽ cao Đối với lợn nội, thời gian chịu đực thường ngắn hơn, khoảng 28 - 30 giờ.
+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
- Thời điểm phối giống thích hợp
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thiện và cộng sự (1993), trứng rụng tồn tại trong tử cung từ 2 đến 3 giờ, trong khi tinh trùng có thể sống trong âm đạo lợn cái từ 30 đến 48 giờ Thời điểm phối giống tối ưu cho lợn nái ngoại và lợn nái lai là vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 sau khi bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội, thời điểm thích hợp là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ngắn hơn Việc lựa chọn thời điểm phối giống ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đậu thai và chất lượng con Phối giống sớm hoặc muộn đều dẫn đến kết quả kém, vì vậy nên thực hiện nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu.
2.2.2 Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề quy trình nuôi d ưỡ ng và ch ă m sóc l ợ n nái đẻ và l ợ n nái nuôi con
2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Các nghiên c ứ u trong n ướ c` Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2002), bệnh viêm tử cung ở lợn mẹ có thể do vi khuẩn Streptococcus và Colibacilus lây nhiễm qua cuống rốn của lợn con, thường xảy ra trong các trường hợp đẻ khó, sát nhau, sảy thai, hoặc do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát, dẫn đến các ổ viêm nhiễm trong tử cung và âm đạo.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], cho biết: ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Theo Phạm Hữu Doanh và cộng sự (2003), trước khi lợn nái sinh con, cần thực hiện các bước như xoa vú và tắm cho nái Ngay sau khi lợn con ra đời, nên cho con bú trong vòng 1 giờ và cắt răng nanh của lợn con Để giảm sưng và sốt, có thể chườm nước đá vào bầu vú Ngoài ra, cần tiêm kháng sinh Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất xung quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm, nên pha loãng liều thuốc với 20ml nước cất và tiêm quanh các vú viêm trong 3 ngày liên tục.
Viêm tử cung là một bệnh lý phổ biến ở gia súc cái sau khi sinh, gây rối loạn sinh sản và có thể dẫn đến mất khả năng sinh sản (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) Trong quá trình mang thai, lợn cần nhiều chất dinh dưỡng, nhưng nếu ít vận động hoặc mắc các bệnh truyền nhiễm như Leptospirosis và Brucellosis, sức khỏe của lợn nái sẽ suy giảm, dẫn đến sảy thai, đẻ non và thai chết lưu, từ đó gia tăng nguy cơ viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004).
Bệnh viêm tử cung ở nái chủ yếu do thiếu dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố và nhiễm trùng sau sinh Những yếu tố này là cơ sở để đề ra phương pháp phòng ngừa viêm tử cung Vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus có thể xâm nhập do lợn con có răng nanh làm xây xát vú mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng phát triển Ngoài ra, tình trạng lợn nái nhiều sữa nhưng con bú không hết dẫn đến ứ đọng sữa, tạo môi trường thuận lợi cho vi trùng gây viêm vú Khi lợn nái cho con bú chỉ một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá mức cũng có thể dẫn đến viêm.
2.3.2 Tình hình nghiên c ứ u ngoài n ướ c
Ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ với sự đầu tư vào cải tạo chất lượng giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất Tuy nhiên, bệnh viêm đường sinh dục vẫn là một vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết, ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn nái sinh sản Mặc dù nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp giúp hạn chế bệnh này, tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao trong đàn lợn nái.
Bệnh viêm tử cung và các bệnh lý đường tiết niệu có mối liên hệ chặt chẽ, với việc vi khuẩn trong nước tiểu có khả năng phát triển trong âm đạo, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng ngược lên tử cung.
Theo nghiên cứu của Xobko A.L và cộng sự (1987), nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung chủ yếu là do tổn thương tử cung và hiện tượng sát nhau Bệnh này có thể phát triển do sự thiếu hụt dinh dưỡng và việc đưa vào đường sinh dục các chất kích thích đẻ, dẫn đến việc phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhầy trong bộ máy sinh dục Ngoài ra, nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu cũng là một nguyên nhân, thường xảy ra khi vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan khác kèm theo bại huyết, điều này có thể giải thích cho trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã mắc viêm tử cung.
Theo Bilkeil (1994) [27], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc sinh do nhiễm khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương; Urban
(1883) [30] cho biết: E.coli, Streptococcus spp và Staphylococcus aureus là nguyên nhân gây bệnh
Theo kiểm tra vi thể tại xứ Brơ-ta-nhơ, miền Tây Bắc nước Pháp, có 26% lợn nái mắc bệnh viêm tử cung, và 2% có dấu hiệu thoái hóa mô nội mạc tử cung với cấu trúc sợi Fibrine Nghiên cứu của Pierre Brouillt và Bernarrd Faroult (2003) cho thấy điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là rất quan trọng để kiểm soát bệnh này Việc điều trị cần được thực hiện sớm và hiệu quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà còn cần xem xét các chỉ tiêu chăn nuôi và kết quả từ 30 phòng thí nghiệm Hiểu biết về các phương pháp điều trị, đặc biệt là dược lực học và dược động học, giúp nâng cao hiệu quả điều trị.
Nghiên cứu của A.V Trekaxova (1983) đã chỉ ra rằng việc điều trị viêm vú cho lợn nái hiệu quả hơn khi áp dụng phương pháp kết hợp, bao gồm việc sử dụng Novocain để phong bế và điều trị bằng kháng sinh Cụ thể, tác giả đã tiêm dung dịch Novocain 0,5% với liều lượng từ 30 - 40ml vào mỗi túi vú, sâu từ 8 - 10cm vào mỗi thuỳ vú bị bệnh Ngoài ra, dung dịch Novocain còn được bổ sung từ 100 - 200 ngàn đơn vị nhằm tăng cường hiệu quả điều trị.
Penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Tại trại lợn giống cao sản huyện Hiệp Hòa- tỉnh Bắc Giang
- Thời gian từ 18/11/2016 đến ngày 18/5/2017.
Nôi dung
+ Hỗ trợ công tác chăn nuôi tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang + Nuôi dưỡng chăm sóc lợn tại trại
+ Thực hiện quy trình chăn nuôi tại trại
+ Thực hiện phòng và điều trị bệnh trên tổng đàn lợn tại trại.
Các chỉ tiêu và phương pháp tiến hành
3.4.1 Các ch ỉ tiêu theo dõi
- Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn giống cao sản Hiệp Hòa Bắc Giang trong 3 năm (2015-2017)
- Cơ cấu của đàn nái sinh sản tại trại
- Tình hình sinh sản của lợn nái tại trại
- Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái sinh sản
- Chẩn đoán và điều trị một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái
3.4.2 Ph ươ ng pháp th ự c hi ệ n
3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chúng tôi tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại trang trại
3.4.2.2 Quy trình vệ sinh chuồng trại hàng ngày
Vệ sinh sát trùng chuồng trại đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, bao gồm vệ sinh môi trường xung quanh, đất, nước và chuồng trại Để nâng cao chất lượng và năng suất đàn lợn, tôi đã tích cực tham gia công tác vệ sinh cùng với cán bộ kỹ sư và công nhân tại trại theo lịch trình đã được đề ra.
Trước khi vào chuồng làm việc, các kỹ sư, công nhân và sinh viên đều phải thực hiện quy trình an toàn bao gồm việc đi ủng, mặc đồ bảo hộ và đi qua hố sát trùng.
- Việc đầu tiên vào chuồng là cào phân tránh lợn mẹ nằm đè lên phân
- Cho lợn ăn, vệ sinh máng ăn sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn
- Hàng ngày chúng em tiến hành thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa các dãy chuồng
Để đảm bảo vệ sinh chuồng trại, cần định kỳ phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun thuốc diệt muỗi, quét mạng nhện và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng.
Trước khi lợn đẻ, khoảng một tuần, cần tắm rửa sạch sẽ cho lợn và chuyển chúng sang chuồng đẻ Sau khi lợn mẹ rời đi, chuồng cũ sẽ được xịt rửa và phun sát trùng để chuẩn bị đón lợn mẹ cai sữa.
Sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển sang chuồng nái chửa Sau khi lợn con được xuất bán, cần tháo dỡ các tấm đan chuồng và ngâm trong bể sát trùng với dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, sau đó cọ sạch và phơi khô Ô chuồng và khung chuồng cũng phải được cọ sạch bằng dung dịch NaOH loãng khoảng 5%, và gầm chuồng cần được tiêu độc khử trùng kỹ lưỡng Sau khi mọi thứ đã khô, lắp lại các tấm đan và cho lợn chờ đẻ vào chuồng.
Khi có dịch bệnh xảy ra công tác vệ sinh thú y được tiến hành nhanh chóng hơn, thường xuyên và triệt để hơn bao giờ hết
Chuồng nuôi được tiêu độc bằng thuốc sát trùng IOD MAR 5% hoặc IOD- sát trùng vào cuối buổi sáng hoặc cuối buổi chiều hàng ngày, pha với tỷ lệ 1: 200
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái chửa Chuồng đẻ
Chủ nhật Rắc vôi Rắc vôi
Phun sát trùng + rắc vôi
Thứ 3 Phun sát trùng+rắc vôi Rắc vôi Phun sát trùng
Trùng Rắc vôi Rắc vôi Phun sát
Thứ 6 Xả gầm Xả gầm
Thứ 7 Tổng vệ sinh chuồng
Tổng vệ sinh khu chăn nuôi
Để phòng bệnh hiệu quả, tất cả gia súc đều được tiêm vắc xin một cách nghiêm ngặt và tuân thủ quy trình đúng kỹ thuật Việc tiêm vắc xin cho lợn được thực hiện khi chúng ở trạng thái khỏe mạnh, không mắc bệnh, nhằm đảm bảo tạo ra miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn.
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại
TT Loại lợn Loại vắc xin
Giả dại và LMLM 2 Tuần 4
Chuẩn bị phối giống Tuần 9
Dịch tả 2 10 tuần sau khi phối
LMLM 2 12 tuần sau khi phối
Tai xanh, Giả dại, Tẩy
2 Tiêm định kỳ 4 tháng một lần
Giả dại, LMLM, Tai xanh
2 Tiêm định kỳ 4 tháng một lần
Dịch tả 2 Tiêm định kỳ 6 tháng một lần
(Số liệu do phòng kỹ thuật cung cấp năm 2016) Chú thích: LMLM: Lở mồm long móng Parvovirus: Vắc xin khô thai
3.4.2.4 Công tác thực hiện các thủ thuật trên đàn lợn con tại trại
Chuẩn bị lồng úm: Chuẩn bị bao khâu lồng úm, bao khâu lồng úm phải được nhúng nước sát trùng, giặt sạch, phơi khô, sau đó khâu lồng úm
Chuẩn bị cho lợn mẹ đẻ là rất quan trọng, bao gồm việc vệ sinh âm hộ và mông sạch sẽ, làm sạch sàn chuồng, chuẩn bị thảm lót và lồng úm cho lợn con Ngoài ra, cần chuẩn bị bóng điện để giữ ấm cho lợn con và các dụng cụ hỗ trợ đỡ đẻ như vải màn hoặc vải mềm sạch, cồn iod để sát trùng, kéo để cắt dây rốn, và chỉ để buộc dây rốn.
- Một tay cầm chắc lợn, một tay dùng khăn khô lau sạch dịch nhờn ở mồm, mũi và toàn thân cho lợn để lợn hô hấp thuận lợi
Cắt rốn là quy trình thắt dây rốn cách cuống rốn 3 cm, sau đó sử dụng kéo để cắt phần bên ngoài nút thắt khoảng 1,5 cm Để đảm bảo vệ sinh, cần sát trùng dây rốn và vùng cuống rốn bằng cồn iod.
- Cho lợn con vào lồng úm tº = 33 - 35ºC
- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn con ra bú
- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết, lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú
Không can thiệp khi quá trình đẻ của lợn nái diễn ra bình thường, chỉ can thiệp khi lợn mẹ rặn đẻ lâu và khó khăn
* Kĩ thuật can thiệp lợn đẻ khó
Một số biểu hiện lợn đẻ khó:
Khi lợn đã vỡ nước ối nhưng không có dấu hiệu rặn đẻ, có thể lợn mẹ đang gặp vấn đề Nếu lợn rặn đẻ liên tục với bụng căng lên và đuôi cong, điều này cho thấy lợn con đã đến cổ tử cung nhưng không thể ra ngoài do trọng lượng quá lớn hoặc ngôi thai bị ngược.
+ Mắt của lợn mẹ trở nên rất đỏ do quá trình rặn đẻ liên tục
+ Lợn mẹ trở nên kiệt sức: thở nhanh, yếu ớt do qúa trình rặn đẻ nhiều nên kiệt sức
Cách can thiệp lợn đẻ khó:
+ Dùng nước sát trùng vệ sinh âm hộ và mông lợn Sát trùng tay, bôi gen bôi trơn
+ Đưa tay vào trong tử cung, nắm lấy lợn con, đưa lợn con ra ngoài
- Sử dụng thuốc cho lợn đẻ
Với lợn đẻ bình thường không phải tiêm oxytoxin
Lợn lứa từ 5 đến 6 trở lên có thể tiêm oxytoxin tùy theo trường hợp Nếu lợn mẹ gặp khó khăn trong quá trình đẻ, kiệt sức hoặc rặn kém và đã sinh được từ 5 con trở lên, việc tiêm oxytoxin là cho phép.
Lợn hậu bị sức khỏe yếu, lợn sức khỏe yếu, lợn già tiêm tùy trường hợp Liều lượng: 2 ml/con
* Thao tác mài nanh, bấm đuôi: lợn con sau khi đẻ khoảng nửa ngày hoặc một ngày thì được mài nanh, bấm đuôi
* Tiêm chế phẩm Sắt 20% và nhỏ cầu trùng: lợn con 3 ngày tuổi sẽ được tiêm chế phẩm Sắt 20% với liều lượng 2 ml/con và được nhỏ cầu trùng
* Bấm tai, thiến: khi lợn con được 5 ngày tuổi thì tiến hành bấm tai đối với lợn cái và thiến đối với lợn đực
- Bấm tai: lợn con được bấm tai theo quy định riêng của trại
Trước khi tiến hành thiến lợn đực, cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông, khăn vải sạch, xi-lanh tiêm và thuốc kháng sinh.
Người thiến ngồi trên ghế cao, kẹp lợn con giữa hai đùi với đầu lợn hướng xuống Sử dụng một tay để nặn cho dịch hoàn nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt ở giữa mỗi bên dịch hoàn Sau đó, dùng tay nặn dịch hoàn ra ngoài, lấy panh kẹp để giật dịch hoàn ra, và lau sạch vùng dịch hoàn bằng khăn sạch trước khi bôi cồn vào vị trí thiến Cuối cùng, tiêm cho lợn con 1 ml Castosal và 0,5 ml Duphamox.
3.4.2.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản, lợn con tại trại
Trong quá trình thực tập tại trang trại, tôi đã tích cực tham gia vào việc chăm sóc nái chửa và nái đẻ, cũng như hỗ trợ quá trình đỡ đẻ và chăm sóc lợn con theo mẹ cho đến khi cai sữa Tôi trực tiếp thực hiện các công việc vệ sinh, chăm sóc và theo dõi sức khỏe đàn lợn Quy trình chăm sóc nái chửa, nái chờ đẻ, nái đẻ và lợn con được thực hiện theo đúng các bước quy định, đảm bảo hiệu quả và sức khỏe cho đàn lợn.
* Quy trình chăm sóc nái chửa
Lợn nái chửa thường được nuôi trong chuồng bầu, và việc kiểm tra hàng ngày là rất quan trọng để phát hiện lợn phối không đạt, lợn bị sảy thai, hoặc lợn mang thai giả Cần duy trì vệ sinh chuồng trại, dọn dẹp phân để lợn không nằm đè lên phân, cung cấp thức ăn và rửa máng thường xuyên Ngoài ra, cần phun thuốc sát trùng hàng ngày và xịt gầm chuồng Cuối giờ chiều, phân phải được chở ra khu xử lý Lợn nái chửa nên được cho ăn loại cám 520 và 521 của công ty CP dinh dưỡng Hải Thịnh để đảm bảo sức khỏe.
* Quy trình chăm sóc nái đẻ (nái nuôi con)