1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại đặng đình dũng lương sơn hòa bình

67 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng, Phòng Và Trị Bệnh Trên Đàn Lợn Nái Sinh Sản Và Lợn Con Theo Mẹ Tại Trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình
Tác giả Đàm Hồng Anh
Người hướng dẫn TS. La Văn Công
Trường học Đại Học Thái Nguyên - Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1 MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề (8)
      • 1.2.1. Mục đích (8)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
  • Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở thực tập (10)
      • 2.1.1. Điều kiện tự nhiên (10)
      • 2.1.2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại Trại lợn nái Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (11)
    • 2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề (20)
      • 2.2.1. Cơ sở khoa học (20)
      • 2.2.2. Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con và lợn nái đẻ (26)
      • 2.2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước (35)
  • Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32 3.1. Đối tượng (39)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (39)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (39)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (39)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (39)
      • 3.4.2. Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) (40)
      • 3.4.3. Phương pha ́p xác đi ̣nh các chỉ tiêu (42)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (42)
  • Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (43)
    • 4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình (43)
  • qua 3 năm (0)
    • 4.1.1. Cơ cấu đàn lợn của trại qua 3 năm (43)
    • 4.1.2. Số lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng (44)
    • 4.1.3. Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (45)
    • 4.2. Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi của trại (0)
      • 4.2.1. Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (46)
      • 4.2.2. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái của trại (50)
    • 4.3. Thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại (51)
      • 4.3.1. Công tác vệ sinh phòng bệnh (51)
      • 4.3.2. Phòng bệnh bằng vắc xin tại cơ sở thực tập (52)
      • 4.3.3. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi (53)
      • 4.3.4. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn tại trại (54)
    • 4.4. Kết quả thực hiện một số công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở (56)
  • Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (57)
    • 5.1. Kết luận (57)
    • 5.2. Đề nghị (58)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)
  • PHỤ LỤC (63)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ sở thực tập

Trại lợn của ông Đặng Đình Dũng tọa lạc trên một quả đồi, cách xa khu dân cư tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Phía đông giáp với 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm tỉnh Hà Nam Phía tây giáp huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình

Phía nam giáp với huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

Phía Bắc Yên Thuỷ giáp với huyện Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và huyện Mỹ Đức của Hà Nội

Lương Sơn là huyện miền núi với địa hình đặc trưng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi, có xu hướng thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Địa hình nơi đây tương đối phức tạp, bao gồm nhiều đồi núi đá vôi và hệ thống sông, suối phong phú.

Đường giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh lân cận như Ninh Bình và Phú Thọ, cùng với tuyến đường Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hóa.

Khí hậu tại khu vực này là nhiệt đới gió mùa, với mùa đông ngắn, lạnh và ít mưa, trong khi mùa hè dài, nóng và có lượng mưa lớn Đặc biệt, nhờ vào địa hình dốc nhẹ về phía đông và sự thiếu hụt các sông suối, khu vực này gần như không gặp phải tình trạng lũ lụt trong mùa mưa.

2.1.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại Trại lợn nái Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

Trại lợn ông Dũng tọa lạc tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, chuyên gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam Mô hình hoạt động của trại bao gồm việc chủ trại xây dựng cơ sở vật chất và thuê công nhân, trong khi công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và hỗ trợ kỹ thuật Hiện tại, ông Đặng Đình Dũng là chủ trang trại, với sự giám sát của cán bộ kỹ thuật từ Công ty CP Chăn nuôi CP Việt Nam.

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại phụ trách chung, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán phụ trách chuyên môn

+ Nhóm công nhân: 15 công nhân, 8 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn

Trại được tổ chức thành các nhóm như tổ chuồng đẻ và tổ chuồng bầu, với mỗi nhóm có bảng chấm công riêng cho từng công nhân Các tổ trưởng có trách nhiệm quản lý và thúc đẩy tinh thần làm việc của các thành viên, từ đó nâng cao trách nhiệm và phát triển trang trại.

2.1.2.3 Cơ sở vật chất của trại

Trang trại rộng hơn 2 ha, tọa lạc tại khu Thanh Sơn, thị trấn Thanh Hà, với địa hình chủ yếu là núi đá vôi Đường giao thông đã được nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển và vận chuyển hàng hóa Để hỗ trợ phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trang trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật.

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi được bao quanh bởi hàng rào và có cổng vào riêng, đảm bảo an toàn cho đàn gia súc Chuồng trại được thiết kế hợp lý theo hướng chăn nuôi công nghiệp, với hệ thống chuồng nuôi lồng và nền sàn bê tông cho lợn nái và lợn đực, trong khi lợn con được nuôi trên sàn nhựa Ngoài ra, khu vực chăn nuôi còn được trang bị hệ thống vòi nước tự động và máng ăn, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và nước uống cho đàn lợn Tổng cộng, chuồng nuôi được xây dựng để đủ sức chứa cho 1200 nái cơ bản.

+ 6 dãy chuồng nái đẻ: mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 30 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

Trong hệ thống chăn nuôi lợn nái, có 2 dãy chuồng bầu gồm chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng được chia thành 8 dãy, với mỗi dãy chứa 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai Các dãy được sắp xếp theo từng kỳ mang thai khác nhau Dãy 1 của cả hai chuồng được thiết kế đặc biệt cho lợn nái chờ phối, bao gồm khu thử lợn và khu ép lợn, trong khi dãy 2 được trang bị khu thụ tinh nhân tạo cho lợn nái.

+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 30 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh

Hai chuồng cách ly được sử dụng để nuôi lợn hậu bị nhập từ các trại gia công của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam Lợn sẽ được nuôi trong thời gian 3 tháng, trong khoảng thời gian này, chúng sẽ được tiêm vắc xin đầy đủ trước khi chuyển giao thành lợn nái sinh sản.

Hệ thống chuồng nuôi lợn được thiết kế khép kín, bao gồm giàn mát ở đầu chuồng và quạt hút gió ở cuối chuồng, cùng với hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm lợn con, đảm bảo môi trường thoáng mát vào mùa Hè và ấm áp vào mùa Đông Mỗi chuồng đều có máy bơm nước phục vụ việc tắm rửa lợn và vệ sinh hàng ngày, kèm theo hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng lợn đực, có phòng pha chế tinh được trang bị đầy đủ dụng cụ như kính hiển vi, nhiệt kế và tủ lạnh bảo quản tinh Khu vực chăn nuôi được thiết kế với đường đi lại bằng bê tông và chậu nước sát trùng trước cửa ra vào chuồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và di chuyển giữa các dãy chuồng.

Tại cổng vào khu chăn nuôi, đã được xây dựng 5 phòng tắm sát trùng để đảm bảo vệ sinh cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi vào chuồng chăm sóc lợn Ngoài ra, khu vực này còn có 1 kho thuốc, 2 kho cám, 1 phòng ăn và 1 phòng nghỉ trưa dành cho công nhân.

Trại được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết như tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để lưu trữ thuốc, xe chở cám từ kho đến chuồng nuôi, và máy nén khí phun sát trùng di động cho cả khu vực trong và ngoài chuồng.

2.1.2.4 Tình hình sản xuất của trại

Trang trại chuyên sản xuất con giống và chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật, với lợn nái đạt sản lượng trung bình từ 2,40 đến 2,45 lứa mỗi năm Mỗi đàn lợn sơ sinh có khoảng 12,32 con, trong khi số con cai sữa đạt 11,48 con Lợn con được nuôi theo mẹ đến 21 ngày tuổi, và tối đa là 26 ngày trước khi tiến hành cai sữa và chuyển giao đến các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP.

Trong trại có 17 con lợn đực giống, được nuôi để kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh phục vụ thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được lấy từ giống Duroc 100 và Duroc 31 Lợn nái được phối 3 lần và thực hiện luân chuyển giống cũng như lợn đực để đảm bảo hiệu quả sinh sản.

Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

* Đặc điểm sinh lý của lợn con

- Cơ năng điều tiết thân nhiệt

Sau khi lợn con chào đời, thân nhiệt của chúng thường giảm, và mức độ giảm này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng nhận được sau khi sinh, và nhiệt độ môi trường xung quanh.

Theo Trương Lăng (2000), lợn con cần bú sữa đầu trong vòng 2 giờ sau khi sinh để ổn định thân nhiệt trong 8-12 giờ; nếu bú sau 4 giờ, thời gian ổn định sẽ kéo dài đến 18-24 giờ Lợn con rất nhạy cảm với nhiệt độ do chưa thích ứng được với môi trường bên ngoài và khả năng tự điều chỉnh thân nhiệt phát triển chậm trong 2 tuần đầu Mỗi loài gia súc có giới hạn sinh thái về nhiệt độ và độ ẩm, trong đó độ ẩm cao trong chuồng nuôi là bất lợi vì tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và làm giảm nhiệt độ Do đó, việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng nuôi là rất quan trọng để đảm bảo sức khỏe cho lợn con.

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), để giữ ấm cho lợn con mới sinh, cần duy trì nhiệt độ từ 32-35°C trong tuần đầu và 21-27°C cho đến khi cai sữa (3-6 tuần tuổi) Để đảm bảo nhiệt độ lý tưởng, cần có ô úm với diện tích tối thiểu một mét vuông, trong đó có thể sử dụng tấm sưởi điện tự động hoặc bóng đèn hồng ngoại từ 100w đến 250w Ngoài ra, độ ẩm và tốc độ gió cũng là những yếu tố gây stress cho gia súc.

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, với sự phát triển không đồng bộ của các tuyến tiêu hóa và dung tích bộ máy tiêu hóa còn nhỏ Trong thời kỳ bú sữa, các cơ quan này sẽ dần hoàn thiện.

Trong 60 ngày đầu đời, dung tích bộ máy tiêu hóa của lợn con tăng nhanh chóng Cụ thể, dung tích dạ dày của lợn con ở tuổi 10 ngày gấp 3 lần so với lúc mới sinh, và đến 20 ngày tuổi, dung tích này đã gấp 8 lần.

Lợn con ở 60 ngày tuổi có dung tích dạ dày tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh, với dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít Dung tích ruột non cũng tăng đáng kể: gấp 3 lần lúc sơ sinh ở 10 ngày tuổi, gấp 6 lần ở 20 ngày tuổi, và gấp 50 lần ở 60 ngày tuổi (với dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Đối với ruột già, dung tích cũng tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh ở 60 ngày tuổi Sự gia tăng kích thước các cơ quan tiêu hóa này giúp lợn con tích lũy nhiều thức ăn hơn, từ đó nâng cao khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng.

Lợn con có hệ thần kinh chưa hoàn thiện, dẫn đến phản ứng chậm chạp với các yếu tố tác động Sự chưa thành thục này cũng khiến hệ tiêu hóa của chúng dễ mắc bệnh và gặp rối loạn tiêu hóa.

Trong giai đoạn đầu đời, dạ dày lợn con không có axit HCl, điều này giúp lợn con hấp thụ kháng thể từ sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị lúc này không thể phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu Huyết thanh chứa albumin và globulin sẽ được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu, tạo điều kiện cho sự phát triển miễn dịch của lợn con.

Từ 14 - 16 ngày tuổi, lợn con không còn trong trạng thái thiếu axit HCl ở dạ dày Việc cho lợn con ăn sớm giúp thúc đẩy sự phát triển của hệ tiêu hóa, rút ngắn giai đoạn thiếu HCl Khi được bổ sung thức ăn, tế bào dạ dày sẽ tiết HCl tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị, khác với lợn trưởng thành chỉ tiết dịch vị khi có thức ăn vào dạ dày.

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005), lợn con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do trong dịch vị, dẫn đến việc tiết ra axit rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy của dạ dày, hiện tượng này được gọi là hypohydric Sự thiếu hụt HCl tự do khiến men pepsin trong dạ dày không thể tiêu hóa protein trong thức ăn, vì HCl cần thiết để kích hoạt pepsinogen thành pepsin hoạt động, từ đó mới có khả năng tiêu hóa protein.

- Khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể đối với các chất lạ, chủ yếu là mầm bệnh Ở lợn con, mầm bệnh xâm nhập dễ dàng do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh và lượng enzym tiêu hóa cùng HCl tiết ra còn thấp Điều này dẫn đến rối loạn trao đổi chất, khả năng tiêu hóa và hấp thu kém Trong giai đoạn này, mầm bệnh có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây bệnh.

Lợn con mới sinh hầu như không có kháng thể, và lượng kháng thể này tăng nhanh chóng khi chúng bú sữa đầu từ lợn mẹ Do đó, khả năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể mà chúng hấp thu từ sữa đầu.

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), sữa đầu của lợn mẹ chứa hàm lượng protein rất cao, chiếm 18-19% trong những ngày đầu sau khi lợn con chào đời, với γ-globulin chiếm 30-35% Sữa đầu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sức đề kháng cho lợn con, giúp nâng cao khả năng miễn dịch Lợn con hấp thu γ-globulin qua đường ẩm bào, nhưng khả năng hấp thu này giảm nhanh chóng theo thời gian Trong 24 giờ đầu sau khi sinh, nhờ có kháng men antitripsin, lợn con có thể hấp thu γ-globulin hiệu quả, với hàm lượng trong máu đạt 20,3mg/100ml Sau 24 giờ, hàm lượng kháng men giảm và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột hẹp lại, dẫn đến sự hấp thu γ-globulin kém hơn Đến 3 tuần tuổi, hàm lượng γ-globulin trong máu chỉ đạt khoảng 24mg/100ml, trong khi máu của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt, nếu không, chúng sẽ mất khả năng tự tổng hợp kháng thể cho đến 20-25 ngày tuổi, dẫn đến sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao.

Sự hấp thu các phân tử γ-glubin và các tiểu phần khác của sữa mẹ diễn ra qua cơ chế chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào qua các lỗ hẹp, dẫn đến quá trình tiêu hóa ở màng gần như vô khuẩn.

Các tiểu phần protein sữa có mặt trong máu của lợn con không gây nguy hiểm, vì trong giai đoạn này, lợn con chưa hình thành kháng thể và protein này không được coi là kháng nguyên.

- Hệ vi sinh vật đường ruột

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [14] hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm:

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32 3.1 Đối tượng

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình

Nội dung thực hiện

-Tình hình chăn nuôi trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình

- Áp dung quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại trại

- Áp dung biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn tại trại

- Thực hiện một số công tác khác tại cơ sở thực tập.

Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm từ 2015 đến 2017

- Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng

- Tỷ lệ nuôi sống lợn con của trại từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái

- Kết quả thực hiện vệ sinh sát trùng chuồng trại

- Kết quả tiêm vắc xin và thuốc phòng bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Tỷ lệ mắc bệnh của đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi

- Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con

- Kết quả thực hiện một số công tác khác tại trại

3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin)

3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình Để đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại, tiến hành thu thập thông tin từ trại, kết hợp với kết quả điều tra, theo dõi tại thời điểm thực tập

3.4.2.2 Phương pháp áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại

Công tác vệ sinh trong chăn nuôi đóng vai trò quan trọng, giúp gia súc khỏe mạnh, sinh trưởng tốt và giảm chi phí thuốc thú y Nhận thức rõ tầm quan trọng này, trong thời gian thực tập, tôi đã chú trọng thực hiện tốt các công việc vệ sinh để nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Trước khi vào chuồng làm việc, cả công nhân và sinh viên đều phải trải qua quy trình sát trùng và tắm rửa sạch sẽ Họ mặc áo lao động và đi ủng trước khi bắt đầu công việc.

Để duy trì vệ sinh trong chuồng lợn, trước tiên cần cào phân để tránh lợn mẹ nằm đè lên Sau đó, bắt nhốt lợn con vào ô úm và lau sạch sàn nhựa hoặc có thể rắc vôi rồi quét Cuối cùng, rắc vôi ở lối đi giữa, xung quanh chuồng và dưới gầm chuồng để khử trùng và ngăn ngừa mầm bệnh.

+ Thu phân vào bao và quét dọn sạch sẽ quanh chuồng

Chuồng nuôi được vệ sinh sạch sẽ và tiêu độc bằng thuốc sát trùng Ommicide 2 lần mỗi ngày với tỷ lệ 320ml/1000 lít nước Sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái chửa 1 Các tấm đan chuồng sau khi xuất lợn con sẽ được tháo ra và ngâm trong dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày, sau đó cọ sạch và phơi khô Khung chuồng cũng được vệ sinh bằng dung dịch NaOH loãng và xịt lại bằng dung dịch vôi xút Gầm chuồng được khử trùng kỹ lưỡng và rắc vôi bột, sau 1 ngày khô sẽ lắp lại tấm đan và chuyển lợn chờ đẻ từ chuồng nái chửa 2 xuống.

3.4.2.3 Phương pháp xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con hàng ngày, chúng tôi tiến hành theo dõi, quan sát về những biểu hiện của đán lợn thông qua các bước sau:

* Kiểm tra tình trạng ăn uống bằng cách trực tiếp quan sát, theo dõi con vật hàng ngày

- Trạng thái cơ thể bình thường: con vật ăn uống bình thường, vận động nhanh nhẹn

- Trạng thái bệnh lý: ăn uống giảm hoặc bỏ ăn, ủ rũ, long xù, bụng hóp

- Quan sát, cảm nhận bằng tay:

+ Trạng thái bình thường: toàn thân lợn con có màu bình thường

+ Trạng thái bệnh lý: toàn thân đỏ ửng

+ Trạng thái bình thường: phân dạng viên bình thường, không có mùi hôi, mùi tanh

+ Trạng thái bệnh lý: Phần thường loãng hoặc sệt màu trắng hoặc vàng xanh, có mùi hôi tanh

Dựa trên biểu hiện lâm sàng bất thường của lợn con, chúng tôi đã đánh dấu từng con bằng sơn màu đỏ và thực hiện chẩn đoán lâm sàng, ghi lại tuổi, thân nhiệt và triệu chứng Tất cả thông tin này được ghi vào sổ nhật ký thực tập Từ những triệu chứng thu thập được, chúng tôi đã tiến hành điều trị cho lợn nái bị bệnh theo hướng dẫn của kỹ sư phụ trách tại trại.

3.4.3 Phương pha ́ p xác đi ̣nh các chỉ tiêu

- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:

Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%)  số lợn mắc bệnh x 100

Tỷ lệ khỏi (%)  số con khỏi bệnh x 100

- Thời gian điều trị trung bình:

Thời gian điều trị trung bình (ngày) Tổng thời gian điều trị từng con

Tỷ lệ chết (%)  số con chết x 100

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Excel năm 2007.

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

năm

Ngày đăng: 17/05/2021, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bi ̀nh (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t , Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội, Trang 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thi ̣t
Tác giả: Nguyễn Xuân Bi ̀nh
Nhà XB: Nxb Nông nghiê ̣p - Hà Nội
Năm: 2000
2. Trần Thị Dân (2008), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
5. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), Bệnh đường tiêu hóa ở lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hóa ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
6. Nguyễn Bá Hiên (2001), Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, điều trị thử nghiệm, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vi khuẩn đường ruột thường gặp và biến động của chúng ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy nuôi tại vùng ngoại thành Hà Nội, điều trị thử nghiệm
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên
Năm: 2001
7. Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa (2012), “Chẩn đoán hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn con cai sữa bằng kĩ thuật bệnh lý và kĩ thuật RT- PCR”, Tạp chí khoa học Nông Nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn con cai sữa bằng kĩ thuật bệnh lý và kĩ thuật RT- PCR”
Tác giả: Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2012
8. Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bê ̣nh phổ biến ở lợn và biê ̣n pháp phòng tri ̣ , Tập II, Nxb Nông nghiê ̣p, Trang 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bê ̣nh phổ biến ở "lợn và biê ̣n pháp phòng tri ̣
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Đi ̣ch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Trương Lăng (2000), Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn, Nxb Đà Nẵng II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng II
Năm: 2000
10. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
11. Nguyễn Ngọc Nhiên (1997), Bài giảng hội chứng bệnh đường hô hấp do Mycoplasma khởi phát, dùng cho lớp sau đại học thú y, Viện thú y quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng hội chứng bệnh đường hô hấp do Mycoplasma khởi phát
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nhiên
Năm: 1997
12. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2004
13. Nguyễn Văn Thanh (2010), “Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí KHKY thú y, Tập 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, "Tạp chí KHKY thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Năm: 2010
14. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Lan Hương (2004), Giáo trình Vi sinh vật thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Lan Hương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
15. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2005), Giáo trình sinh lý học động vật, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vật
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
17. Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010), Một số bệnh trên heo và cách điều trị, Tập 2, Nxb Khoa học kĩ thuật.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh trên heo và cách điều trị
Tác giả: Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y
Nhà XB: Nxb Khoa học kĩ thuật. II. Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2010
18. Akita E.M and S.Nakai (1993), “Comparison of four purification methols for the production of immunoglobulins from eggs laid by hens immunological methols”, Vet 160(1993), pp.207 - 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of four purification methols for the production of immunoglobulins from eggs laid by hens immunological methols”
Tác giả: Akita E.M and S.Nakai (1993), “Comparison of four purification methols for the production of immunoglobulins from eggs laid by hens immunological methols”, Vet 160
Năm: 1993
19. Bertschinger, H. U. a. F. J. M. (1999), Escherichia coli infection, In Diseases of swine, pp. 431 – 468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia coli infection, In Diseases of swine
Tác giả: Bertschinger, H. U. a. F. J. M
Năm: 1999
21. Glawisching E. Bacher H (1992), The Efficacy of E costat on E. coli infected weaning pigg,12 th IPVS Congress, August Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Efficacy of E costat on E. coli infected weaning pigg,12"th
Tác giả: Glawisching E. Bacher H
Năm: 1992
20. Bilken và cs (1994), Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm