Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)Quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp giao thông đường bộ Việt Nam (Luận án tiến sĩ file word)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 10
Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 10
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về bản chất và vai trò của bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp
Trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu thế kỷ XVIII-XIX, vấn đề an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) chưa được giới quản trị doanh nghiệp coi trọng, mà họ xem người lao động chỉ là một phần chi phí cần tiết kiệm Để tăng lợi nhuận, các doanh nghiệp đã giảm lương và kéo dài giờ làm việc, đồng thời cắt giảm các biện pháp đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động Một số nhà kinh tế như Johl Stuatmin biện minh cho việc này bằng quy luật sắt về tiền lương, cho rằng lương cao sẽ làm công nhân lười biếng, nhưng các nhà khoa học theo trào lưu xã hội chủ nghĩa đã phản đối quan điểm này và tố cáo sự bóc lột của nhà tư bản Ph.Ănghen đã mô tả điều kiện làm việc tồi tệ của người lao động trong tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh".
Trước sự phản kháng của xã hội đối với chế độ bóc lột công nhân của nhà tư bản, cả giới quản trị doanh nghiệp và nhà nước tư sản đã phải thay đổi chính sách đối với người lao động, nhượng bộ một số yêu cầu của công đoàn về cải cách tiền lương và điều kiện lao động Nhà nước tư sản đã ban hành các quy định về thời gian làm việc, điều kiện lao động và mức lương tối thiểu, đồng thời thành lập thanh tra lao động để giám sát việc tuân thủ pháp luật lao động Đến thập kỷ 50-60 của thế kỷ XX, sau khi Tổ chức lao động thế giới (ILO) ra đời, các yêu cầu về an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe tại nơi làm việc trở nên được quan tâm hơn Sự gia tăng phong trào công đoàn và nhận thức của giới quản trị doanh nghiệp về lợi ích của hệ thống an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đã thúc đẩy việc xây dựng chính sách bảo đảm ATVSLĐ một cách chủ động ILO đã tích cực tuyên truyền để thay đổi quan điểm về tầm quan trọng của ATVSLĐ, và vào năm 2001, ILO xuất bản cuốn "Guidelines on Occupational Safety and Health Management Systems - ILO-OSH 2001" nhằm hỗ trợ các quốc gia quản lý và nâng cao chất lượng thực hiện ATVSLĐ Mục tiêu của hệ thống quản lý ATVSLĐ là bảo vệ người lao động khỏi rủi ro, giảm thiểu tai nạn lao động và tăng năng suất lao động.
Vào tháng 5 năm 2003, Hội nghị Lao động Quốc tế đã thông qua Chiến lược toàn cầu về An toàn và Sức khỏe Lao động (ATVSLĐ), nhấn mạnh "Văn hóa an toàn lao động" và coi việc đảm bảo ATVSLĐ là một quyền cơ bản của con người ILO khuyến nghị các biện pháp bảo vệ người lao động mang tính phòng ngừa, đồng thời đề xuất phương pháp tiếp cận hệ thống ATVSLĐ với ba chủ thể chính: người sử dụng lao động, cơ quan nhà nước quản lý ATVSLĐ và người lao động Bốn khía cạnh quan trọng trong việc thực hiện các giải pháp này bao gồm chính trị, kỹ thuật, văn hóa và quản lý.
Năm 2006, ILO đã thông qua Công ước số 87, yêu cầu các nước thành viên xây dựng và vận hành hệ thống an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) nhằm ngăn chặn tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) Công ước này khuyến khích việc phát triển Chương trình quốc gia về ATVSLĐ với sự tham gia của các tổ chức đại diện cho người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), đồng thời xem xét cải tiến các biện pháp đảm bảo ATVSLĐ trong doanh nghiệp ILO nhấn mạnh rằng các chính phủ cần áp dụng các nguyên tắc như đánh giá rủi ro, ngăn chặn nguy cơ TNLĐ và BNN, cũng như xây dựng văn hóa an toàn và sức khỏe thông qua thông tin, tư vấn và huấn luyện cho NLĐ.
Từ Hội nghị Lao động Quốc tế năm 2003, ILO đã tổ chức nhiều diễn đàn và đưa ra khuyến nghị về ATVSLĐ trong doanh nghiệp Tại Hội nghị lần thứ 8 năm 2008, "Tuyên bố Seoul về an toàn và sức khỏe trong lao động" đã nêu rõ yêu cầu và thách thức mới trong lĩnh vực ATVSLĐ, nhấn mạnh trách nhiệm của toàn xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa Tuyên bố này cũng phản ánh sự phát triển mới trong nhận thức về tầm quan trọng của ATVSLĐ đối với phát triển kinh tế - xã hội và đề xuất cách tiếp cận toàn diện, hệ thống trong việc đảm bảo ATVSLĐ tại doanh nghiệp.
1.1.2 C c công trình nghiên cứu về hệ thống quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động
Với sự hỗ trợ, khuyến khích và tài trợ của ILO, nhiều công trình nghiên cứu đã được hoàn thành Trong cuốn "Guidelines on Occupational
Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp quốc gia phải bao gồm pháp luật, thỏa ước tập thể và các văn kiện liên quan đến ATVSLĐ Cần có các cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động ATVSLĐ theo quy định của pháp luật Hệ thống thanh tra phải được xây dựng để đảm bảo thi hành pháp luật về ATVSLĐ Chính phủ cần thúc đẩy sự hợp tác giữa quản lý, công nhân và đại diện của họ, coi đây là yếu tố quan trọng trong các biện pháp phòng ngừa tại nơi làm việc Tùy theo điều kiện, hệ thống phải có Hội đồng tư vấn 3 bên, dịch vụ thông tin và huấn luyện về ATVSLĐ, cơ quan nghiên cứu, cơ chế thu thập và phân tích dữ liệu TNLĐ và BNN, cũng như hợp tác với hệ thống an sinh xã hội để cải thiện an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tại các doanh nghiệp nhỏ và khu vực kinh tế không chính thức.
Hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ) cần được thực hiện thông qua các Chương trình Quốc gia nhằm thúc đẩy văn hóa an toàn và vệ sinh, tập trung vào tính phòng ngừa Mục tiêu là loại bỏ hoặc giảm thiểu các rủi ro trong môi trường làm việc.
Liên tục cải thiện Chính sách Tổ chức
Hành động để cải thiện
Kiểm toán là quá trình lập kế hoạch và triển khai để đánh giá các nguy cơ và rủi ro liên quan đến bệnh nghề nghiệp (BNN); đồng thời xây dựng chính sách phòng ngừa cho các nạn nhân của tai nạn lao động (TNLĐ) và BNN Các chương trình an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) quốc gia cần được phát triển và đánh giá dựa trên phân tích thực trạng ATVSLĐ, nhằm đạt được các mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể và các chỉ số đánh giá sự tiến bộ, kết hợp với các chương trình và kế hoạch quốc gia khác.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra Khuyến nghị số 97 nhằm thúc đẩy hoạt động an toàn và sức khỏe lao động (ATVSLĐ) Khuyến nghị này nhấn mạnh rằng việc thông qua Chính sách quốc gia về ATVSLĐ cần được liên kết với nội dung phần II của Công ước số 55 về ATVSLĐ Để xây dựng hệ thống quốc gia về ATVSLĐ, cần tuân theo hướng dẫn của ILO được nêu trong tài liệu "Hệ thống quản lý ATVSLĐ" (ILO -OSH MS).
Khuyến nghị 97 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng Hồ sơ quốc gia về An toàn và Vệ sinh Lao động (ATVSLĐ) để cập nhật thường xuyên thông tin liên quan đến hoạt động bảo đảm ATVSLĐ ở cấp quốc gia.
Hệ thống quản lý ATVSLĐ trong các tổ chức sản xuất theo khuyến cáo của ILO được xây dựng dựa trên chu trình Deming, bao gồm các bước: Hoạch định, Triển khai thực hiện, Kiểm tra, Giám sát và Hành động (Plan, Do, Check, Act) Các chuyên gia nhấn mạnh rằng việc áp dụng hệ thống này cần phải được cải tiến liên tục để phù hợp với từng đơn vị sản xuất cụ thể.
Hình 1.1: Mô hình hệ thống ILO-OSH 2001
Nguồn: ILO (2001), Guidelines on occupational health and safety management system ILO - OHS 2001.
1.1.3 C c công trình nghiên cứu về tr ch nhiệm quản lý của nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động Để đảm bảo tính khả thi cho các khuyến cáo, ILO đã kiến nghị áp dụng nguyên tắc đồng thuận và nhấn mạnh vai trò của tổ chức 3 bên: Tổ chức đại diện cho Chính phủ - Tổ chức đại diện cho giới chủ (NSDLĐ) - Tổ chức đại diện cho NLĐ, trong đó vai trò của Chính phủ là người đề ra khuôn khổ pháp luật đồng thời là người giám sát, hỗ trợ, khuyến khích NSDLĐ và NLĐ tích cực, tự giác thực hiện những biện pháp đảm bảo ATVSLĐ.
Quan điểm của ILO về hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ) nhấn mạnh rằng chính phủ cần thiết lập các yêu cầu về ATVSLĐ trong luật pháp và ban hành quy định liên quan Người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải tuân thủ các quy định này và tạo điều kiện cho việc thiết lập hệ thống quản lý ATVSLĐ tại đơn vị Đồng thời, người lao động (NLĐ) có quyền tham gia vào hệ thống quản lý ATVSLĐ thông qua các tổ chức công đoàn.
Khuyến nghị 97 nhấn mạnh rằng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) cần xây dựng chính sách quốc gia và hướng dẫn thực hiện cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đề xuất rằng nhà nước cần thiết lập quy định ràng buộc trách nhiệm cho NSDLĐ trong việc thực hiện các biện pháp bảo đảm ATVSLĐ, bao gồm năm khâu quan trọng trong hệ thống quản lý.
Chính sách An toàn và Vệ sinh Lao động (ATVSLĐ) yêu cầu người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải chủ động chỉ đạo và cam kết thực hiện các biện pháp ATVSLĐ tại doanh nghiệp Điều này nhằm bảo vệ an toàn và sức khỏe cho tất cả thành viên trong doanh nghiệp thông qua việc phòng ngừa tai nạn, bệnh tật và các sự cố lao động NSDLĐ cần đảm bảo được cung cấp tư vấn, thông tin và đào tạo liên quan đến ATVSLĐ, đồng thời bố trí thời gian và nguồn lực cần thiết cho hệ thống quản lý ATVSLĐ trong doanh nghiệp.
Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 26
1.2.1 C c công trình nghiên cứu về bản chất và vai trò của bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp Ở Việt Nam, trước khi có Luật An toàn, vệ sinh lao động, vấn đề ATVSLĐ được đề cập trong chủ đề chung là BHLĐ (bao gồm cả nội dung phòng chống cháy nổ) Chính vì thế, trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các tác giả gộp chung vấn đề bản chất và vai trò của ATVSLĐ trong bản chất và vai trò của BHLĐ Một số thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực này là: Công trình "Kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động trong xây dựng" do nhóm tác giả Nguyễn Bá Dũng, Nguyễn Đình Thám, Lê Văn Tin biên soạn, NXB Khoa học và kỹ thuật, H 200 cho rằng, "Mục đích của công tác BHLĐ là thông qua các biện pháp khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, độc hại, tạo điều kiện lao động thuận lợi cho NLĐ, để ngăn ngừa TNLĐ, bảo vệ sức khỏe, góp ph n bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động" [8, tr 8] Nhóm tác giả này cũng đề cao ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội, nhân đạo sâu sắc của công tác BHLĐ khi cho rằng, "BHLĐ tốt là góp ph n vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa" [8, tr 9].
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn An Lương trong tác phẩm "Bảo hộ lao động" (xuất bản năm 2020) đã nhấn mạnh rằng bảo hiểm lao động, hay an toàn và vệ sinh lao động, là các hoạt động đồng bộ liên quan đến pháp luật, tổ chức, quản lý, kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ Mục tiêu của những hoạt động này là cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nhằm bảo vệ tính mạng và sức khỏe của người lao động.
Để giải quyết vấn đề an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), cần có sự tham gia của bốn bên: nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức xã hội và người lao động, theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Các giải pháp đảm bảo ATVSLĐ cần được phối hợp đồng bộ trên bốn khía cạnh: pháp luật, kỹ thuật, tổ chức quản lý và kinh tế - xã hội.
Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) không chỉ giúp người lao động (NLĐ) làm việc trong môi trường an toàn, loại trừ các yếu tố gây hại cho sức khỏe và tính mạng, mà còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp (DN) bằng cách giảm chi phí bồi thường tai nạn lao động và chi phí tuyển dụng mới Điều này góp phần nâng cao hiệu suất hoạt động của DN và bảo vệ lực lượng sản xuất quan trọng của đất nước Công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) không chỉ bảo vệ sức khỏe và tính mạng của NLĐ, mà còn đảm bảo cho họ có việc làm, thu nhập, và hạnh phúc cho bản thân và gia đình, thể hiện hệ quả xã hội và nhân đạo sâu sắc, phù hợp với chiến lược phát triển con người của Đảng.
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về hệ thống quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động
Công trình nghiên cứu của Nguyễn An Lương nhằm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và quản lý an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu này góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe người lao động trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Lê Vân Trình và Phạm Quốc Quân (2004) đã đồng tình với hệ thống ATVSLĐ gồm 5 yếu tố do ILO khuyến nghị Để triển khai hiệu quả hệ thống ATVSLĐ tại các doanh nghiệp Việt Nam, cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn quy phạm dưới luật hàng năm và 5 năm Các tác giả cũng đề xuất phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống nhằm nâng cao tiêu chuẩn BNN ở Việt Nam.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã hợp tác với ILO để phát hành cuốn Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động (AT, VSLĐ) vào năm 2011 Tài liệu này tổng hợp các nghiên cứu khoa học của ILO và các chuyên gia hàng đầu về ATVSLĐ, đưa ra khuyến nghị cho hệ thống ATVSLĐ tại Việt Nam Các yếu tố chính được đề cập bao gồm chính sách, tổ chức, hoạch định và thực hiện, đánh giá, cùng với hành động cải tiến để hoàn thiện quản lý ATVSLĐ.
Hình 1.7: Hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động ILO-OSH 2001
Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý ATVSLĐ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào hệ thống ATVSLĐ từ cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp Cơ quan nhà nước cần thiết lập khung pháp lý và chính sách hỗ trợ cụ thể, trong khi người sử dụng lao động phải triển khai các biện pháp bảo vệ an toàn và phòng tránh bệnh nghề nghiệp cho người lao động ngay trong quy trình sản xuất Điều này không chỉ đảm bảo an toàn lao động mà còn khuyến khích sự tham gia tích cực của người lao động trong các hoạt động quản lý ATVSLĐ.
Bài viết của Lê Bạch Hồng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường công tác an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại các cơ sở ngoài quốc doanh ở Việt Nam, đồng thời đề cập đến những khía cạnh đặc thù của đất nước trong việc thiết lập hệ thống ATVSLĐ.
Việc xây dựng các quy định pháp lý bắt buộc cho các cơ sở sản xuất ngoài nhà nước thiết lập hệ thống an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là rất cần thiết.
1.2.3 C c công trình nghiên cứu về tr ch nhiệm quản lý của nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động
Công trình "Bảo hộ lao động" của PGS.TS Nguyễn An Lương đã chỉ ra 8 nhiệm vụ quan trọng mà nhà nước cần thực hiện trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) Đầu tiên, cần ban hành văn bản pháp luật để quản lý và điều hành thống nhất hoạt động bảo hộ lao động Thứ hai, xây dựng chiến lược, chương trình quốc gia và kế hoạch thực hiện ATVSLĐ Thứ ba, huy động nguồn lực cho ATVSLĐ Thứ tư, tổ chức bộ máy và bố trí cán bộ quản lý nhà nước về ATVSLĐ Tiếp theo, tuyên truyền và giáo dục về ATVSLĐ là rất cần thiết Cũng không thể thiếu việc kiểm tra và thanh tra ATVSLĐ Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho các tổ chức quần chúng tham gia phong trào ATVSLĐ Cuối cùng, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ATVSLĐ cũng là một nhiệm vụ quan trọng.
Công trình "Đổi mới công tác An toàn - vệ sinh lao động để hội nhập và phát triển bền vững" của tác giả Hà Tất Thắng nhấn mạnh cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước về ATVSLĐ, đồng thời tăng cường hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc phổ biến và hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật liên quan Đặc biệt, cần cải thiện điều kiện lao động tại các doanh nghiệp, yêu cầu các chủ doanh nghiệp chú trọng xây dựng phương án đảm bảo ATVSLĐ và phòng chống cháy nổ Ngoài ra, cần củng cố cơ sở điều dưỡng cho người lao động nhằm phòng ngừa bệnh nghề nghiệp và tăng cường sức khỏe Cuối cùng, việc thực hiện nghiêm các biện pháp xử phạt vi phạm ATVSLĐ và phát huy mạng lưới thông tin hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác ATVSLĐ.
Công trình của Hà Tất Thắng về quản lý nhà nước (QLNN) về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) trong các doanh nghiệp khai thác đá xây dựng ở Việt Nam đã chỉ ra thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN Các giải pháp bao gồm đổi mới mô hình và tổ chức quản lý ATVSLĐ, nâng cao chất lượng quy hoạch và kế hoạch phát triển doanh nghiệp gắn liền với ATVSLĐ, cũng như sửa đổi và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật liên quan Bên cạnh đó, cần đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của ATVSLĐ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát Việc đổi mới công nghệ, thiết bị, phương pháp quản lý và áp dụng quy trình đánh giá rủi ro cũng được nhấn mạnh, nhằm phát triển văn hóa an toàn trong doanh nghiệp thông qua các quy định, chính sách của nhà nước và tăng cường hợp tác quốc tế.
Nguyễn Thu Hằng (20/7) đã trình bày luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước bằng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam tại Học viện Hành chính Quốc gia Nghiên cứu tổng hợp các thành quả của nhiều tác giả trong và ngoài nước về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), đồng thời phân tích thực trạng quản lý nhà nước theo Luật ATVSLĐ tại Việt Nam Tác giả chỉ ra một số hạn chế và đề xuất các giải pháp như: điều chỉnh các văn bản pháp luật về ATVSLĐ cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, cải tiến tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chú trọng vai trò của Hội đồng ATVSLĐ, tăng cường kiểm tra thực hiện quy định pháp luật tại doanh nghiệp, và xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ.
Bùi Sỹ Lợi trong bài viết "Kiến nghị hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động từ kinh nghiệm quốc tế" đã đề xuất rằng mô hình quản lý và huấn luyện ATVSLĐ cần được xã hội hóa để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người lao động dễ dàng tiếp cận dịch vụ huấn luyện Tài liệu huấn luyện cần được quản lý thống nhất, dựa trên nghiên cứu và ý kiến của các tổ chức khoa học và chuyên gia Kinh phí cho phòng ngừa tai nạn lao động nên được trích từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động Ngoài ra, kiểm tra chất lượng và an toàn các thiết bị và phương tiện bảo vệ cá nhân là hoạt động bắt buộc, nhằm đảm bảo chất lượng trước khi đưa ra thị trường và trong quá trình sử dụng Cuối cùng, cần áp dụng cách tiếp cận dựa vào rủi ro để nâng cao mức độ ATVSLĐ, đặc biệt trong các lĩnh vực có nguy cơ cao, với các mục tiêu và biện pháp cụ thể được xác định rõ ràng.
Khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề được lựa chọn nghiên cứu trong luận án 34
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH
NGHIỆP GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
2.1.1 Khái niệm an toàn, vệ sinh lao động
Trước đây, ATVSLĐ được xem như một phần của bảo hộ lao động trong lĩnh vực tổ chức khoa học lao động Gần đây, do sự gia tăng tầm quan trọng của ATVSLĐ và sự tách biệt kỹ thuật trong phòng chống cháy nổ, nhiều quốc gia đã xây dựng luật riêng cho ATVSLĐ, tách biệt khỏi bộ luật lao động.
An toàn, vệ sinh lao động (Tiếng Anh là Occupational safety and health
An toàn và sức khỏe nghề nghiệp (OSH) đề cập đến trách nhiệm của người sử dụng lao động, cơ quan nhà nước và người lao động trong việc tổ chức và quản lý điều kiện làm việc Mục tiêu là phòng tránh tai nạn lao động (TNLĐ) và giảm thiểu tác hại từ các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp (BNN) Thuật ngữ này bao gồm hai khía cạnh chính: an toàn lao động (ATLĐ) và vệ sinh lao động (VSLĐ), cùng với các chính sách khám chữa bệnh và bồi thường cho người lao động khi gặp sự cố.
Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động (2015) của Việt Nam, an toàn lao động (ATLĐ) là các biện pháp nhằm ngăn chặn tác động của yếu tố nguy hiểm đến tính mạng con người, đảm bảo không xảy ra thương tật hay tử vong trong quá trình làm việc Trong khi đó, vệ sinh lao động (VSLĐ) tập trung vào việc phòng ngừa các yếu tố có hại gây bệnh tật và suy giảm sức khỏe Cả hai khái niệm này đều hướng đến việc bảo vệ người lao động khỏi các tác hại có thể xảy ra trong quá trình lao động, mặc dù chúng khác nhau về mục tiêu cụ thể.