Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 101.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những
Trang 1Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Thị Mạc Dung
Trang 2Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 101.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
2.1 Những yếu tố tác động đến bảo vệ tài nguyên nước 322.2 Chủ trương của Đảng về bảo vệ tài nguyên nước 412.3 Đảng chỉ đạo bảo vệ tài nguyên nước 54
Chương 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH BẢO VỆ TÀI
3.1 Những yếu tố mới tác động đến đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước 703.2 Chủ trương của Đảng về đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước 793.3 Đảng chỉ đạo đẩy mạnh bảo vệ tài nguyên nước 91
4.1 Nhận xét Đảng lãnh đạo bảo vệ tài nguyên nước (2001 - 2010) 1134.2 Một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ tài
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 3Số TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
01 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW
03 Bảo vệ tài nguyên nước BVTNN
05 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
08 Tài nguyên, môi trường TN, MT
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là yếu tố cần thiết cho sự sốngcủa con người và muôn loài, đồng thời là tư liệu sản xuất không thể thay thếđối với nhiều ngành kinh tế quốc dân và là một thành phần cơ bản tạo nênmôi trường sống Song, nước là nguồn tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương
Trên phạm vi toàn cầu, TNN đang chịu những áp lực ngày càng nặng
nề do nhu cầu sử dụng nước tăng rất nhanh, cùng với việc khai thác và sửdụng quá mức TNN, lại thiếu các biện pháp phòng chống ô nhiễm nguồnnước và ứng phó với BĐKH Bởi vậy, nhân loại đang đứng trước nguy cơ suythoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước Đây là một vấn đề xuyên suốt kết nốichặt chẽ với tất cả mọi lĩnh vực ưu tiên cần hợp tác giải quyết trên cấp độ toàncầu, nhằm bảo vệ và PTBV nguồn nước cả về số lượng và chất lượng trướcnhững áp lực khai thác, sử dụng TNN do tăng trưởng kinh tế và BĐKH
Ở Việt Nam, TNN cũng đang đứng trước những thách thức to lớn Sựsuy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước đã và đang trở thành những vấn đềcấp bách, mang tính thời sự như: Tình trạng cạn kiệt, ô nhiễm nước mặt đangdiễn ra phổ biến khắp các sông, suối, ao, hồ trên cả nước; nguồn nước ngầm
bị khai thác một cách bừa bãi; ô nhiễm và xâm nhập mặn nghiêm trọng ở cácvùng đồng bằng ven biển; tỷ lệ thất thoát nước trong sản xuất, phân phối vàtiêu dùng ở mức cao; nguồn nước ngọt bị suy kiệt đã gây nhiều khó khăn chocuộc sống của con người và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự PTBV của đấtnước Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước đã có nhận thức và các chủtrương, chính sách ngày càng đầy đủ để giải quyết vấn đề BVTNN Tuynhiên, trước sức ép về phát triển KT - XH và việc tổ chức triển khai BVTNN
ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực còn nhiều hạn chế, nên những vấn đề vềTNN vẫn diễn biến rất phức tạp
Trang 5Bên cạnh đó, giải quyết những vấn về TNN không chỉ dừng lại ở lĩnhvực TN, MT có mối quan hệ biện chứng với sự phát triển KT - XH của đấtnước mà còn mang tính chính trị, có liên quan chặt chẽ đến vấn đề chủ quyền,
an ninh quốc gia Mặc dù, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm giải quyết nhữngvấn đề về quốc phòng, an ninh quốc gia Tuy vậy, những vấn đề về TNN có liênquan đến quốc phòng, an ninh quốc gia diễn biến ngày càng phức tạp, như: Việckhai thác, sử dụng nguồn nước trên dòng sông Mê Kông của các quốc gia ởthượng nguồn; vấn đề biển đảo và việc bảo vệ chủ quyền biển đảo trong đó có bảo
vệ chủ quyền TNN biển; hay các thế lực thù địch lợi dụng việc BVTNN để thựchiện âm mưu chống phá cách mạng, gây mất ổn định về chính trị, xã hội
Thực tiễn trên đặt ra, phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống,chuyên sâu về Đảng lãnh đạo đối với lĩnh vực TN, MT, trong đó có BVTNN.Đây là nội dung rất mới, có nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi cần phải được nghiêncứu một cách khách quan, khoa học như: Nhận thức và chủ trương của Đảng
về BVTNN? Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực TNN? Nhận xét và đúcrút những kinh nghiệm chủ yếu có thể tham khảo, vận dụng trong thực tiễnBVTNN ở Việt Nam hiện nay? Trong giới hạn nghiên cứu và hiểu biết củanghiên cứu sinh, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu mộtcách hệ thống và khoa học để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng về BVTNN
Do đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ tài nguyên nước từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận án tiến sĩ Lịch
sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về BVTNN từnăm 2001 đến năm 2010; trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm có thể thamkhảo, vận dụng vào thực tiễn BVTNN ở Việt Nam hiện nay
Trang 62.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án;Luận giải những yếu tố tác động đến BVTNN ở Việt Nam trongnhững năm 2001 - 2010;
Phân tích làm rõ chủ trương, chính sách của Đảng về BVTNN và quátrình chỉ đạo thực hiện BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010 qua hai giai đoạn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với BVTNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động đến BVTNN;
sự lãnh đạo của Đảng về BVTNN trên hai phương diện hoạch định chủtrương và sự chỉ đạo thực hiện; kết quả việc thực hiện chỉ đạo của Đảng; nhậnxét về sự lãnh đạo của Đảng và đúc kết những kinh nghiệm lịch sử
Tuy nhiên, BVTNN là vấn đề lớn, bao gồm tất cả các nguồn nước mặt,nước ngầm, nước mưa, nước biển thuộc lãnh thổ Việt Nam phải được bảo vệkhông bị suy kiệt, phải được khai thác và sử dụng hợp lý, phải bảo vệ khảnăng phát triển TNN và giảm thiểu các tác hại do nước gây ra Luận án chủyếu tập trung nghiên cứu về bảo vệ nguồn nước ngọt (bao gồm nước mặt vànước ngầm) phục vụ sinh hoạt và phát triển KT - XH mà chủ yếu là bảo vệchất lượng nguồn nước và khai thác, sử dụng hợp lý TNN
Trang 7Trên phương diện hoạch định chủ trương, Đảng chưa ban hành nghịquyết chuyên đề về BVTNN, nên những quan điểm, chủ trương của Đảng vềBVTNN được nghiên cứu, khai thác từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng vềbảo vệ TN, MT Trên phương diện chỉ đạo tổ chức thực hiện, sự chỉ đạo củaĐảng được thể hiện thông qua vai trò của Nhà nước, Chính phủ, các Bộ,ngành trực tiếp hoạch định chính sách, ban hành pháp luật và sự phối hợphành động với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội,các cơ quan chức năng và các địa phương.
Về thời gian: Giới hạn trong 10 năm (2001 - 2010) Đây là giai đoạn thể
hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến BVTNN, TNN được nâng tầm
chiến lược quốc gia Điều đó biểu hiện: Luật Tài nguyên nước có hiệu lực; các
cơ quan quan lý nhà nước về TNN được thành lập và từng bước kiện toàn; Chiếnlược quốc gia về TNN được phê duyệt Tuy nhiên, để bảo đảm tính hệ thống vàđạt được mục đích nghiên cứu, luận án có đề cập đến một số vấn đề liên quanđến khoảng thời gian trước và sau 10 năm trên
Về không gian: Ở Việt Nam.
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử, phương pháplôgic và sự kết hợp của hai phương pháp đó; đồng thời, còn sử dụng một sốphương pháp khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh … Các phươngpháp được sử dụng phù hợp với yêu cầu của từng nội dung luận án
Trang 85 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài luận án
Luận án được nghiên cứu thành công bước đầu làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và thực tiễn về BVTNN; góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảngđối với lĩnh vực bảo vệ TN, MT nói chung và BVTNN nói riêng
Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận án có giá trị tham khảo, vậndụng vào thực tiễn BVTNN cũng như bảo vệ TN, MT nói chung hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo chocông tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và các môn học có liênquan đến lĩnh vực TN, MT trong các trường cao đẳng, đại học, học viện
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đãcông bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận án được kết cấu gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Do tầm quan trọng của lĩnh vực TN, MT nói chung và BVTNN nóiriêng, vấn đề TN, MT đã và đang trở thành chủ đề lớn được nhiều nhà khoahọc, nhà quản lý, các cơ quan chức năng quan tâm nghiên cứu Trong thờigian qua đã có nhiều công trình được công bố của các tác giả, tập thể tác giảtrong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án Từ các phương diệnnghiên cứu khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau, các công trình đề cậpkhá sâu sắc và toàn diện đến nhiều khía cạnh của vấn đề bảo vệ TN, MT cũngnhư BVTNN, có thể khái quát và phân thành các nhóm công trình nghiên cứuchủ yếu sau:
1.1.1 Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc, tổ chức tạiRio de Janeiro (Braxin) năm 1992, quyết định lấy ngày 22 tháng 3 hằng năm
là ngày Nước Thế giới Kể từ đó, nhiều công trình nghiên cứu về TNN trênthế giới được triển khai và công bố Các công trình nghiên cứu từ rất nhiềukhía cạnh của TNN thế giới như: Đặc điểm TNN trên trái đất; sự phân bố và
sử dụng nước trên toàn cầu; đến những dự báo về nhu cầu sử dụng nước trongtương lai; cùng những cảnh báo các yếu tố tác động đến TNN thế giới, làmsuy giảm, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước Các nhà khoa học đã chuẩn bịnhững kịch bản về nước trên thế giới cho nửa đầu thế kỷ XXI, phân tích kịchbản để đưa ra một bức tranh toàn cầu về nước, qua đó rung hồi chuông báođộng về tình trạng suy kiệt nguồn nước thế giới, kêu gọi các tổ chức quốc tế,chính phủ các quốc gia và toàn thể nhân loại cùng chung tay hành độngBVTNN toàn cầu
Trang 10Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Trung tâm Nghiên cứu
hệ thống môi trường, Đại học Kassel, nước Đức, World Water in 2025 Global modelling scenarios for the World Commission on Water for the 21 st
-Century [166] (tạm dịch: Nước thế giới năm 2025 - Các viễn cảnh mô hình toàn cầu cho Ủy ban Thế giới về Nước cho thế kỷ 21), đã chỉ ra sự tương phản
lớn về tình hình TNN giữa các nước công nghiệp phát triển và đang pháttriển Ở các nước công nghiệp phát triển, nước thải công nghiệp được kiểmsoát chặt chẽ nên thường được xử lý trước khi xả thải ra môi trường; ngànhcông nghiệp tái chế nguồn nước thải phát triển khá mạnh và hoạt động hiệuquả; đồng thời, họ thực hiện rất nghiêm ngặt các quy trình trong sử dụng TNN
để không gây hậu quả tiêu cực tác động đến môi trường và TNN Còn ở cácnước đang phát triển, nước thải thường không được xử lý trước khi xả thải ramôi trường, việc tái chế nguồn nước thải không được coi trọng, cùng với việc
sử dụng lãng phí nguồn nước, là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái nhanhchóng cả về chất lượng và số lượng nước cho người sử dụng và chính quốc gia
đó, đã làm gia tăng áp lực lên TNN toàn cầu
Nhóm tác giả đã chỉ ra những xu hướng sử dụng nước bền vững vànhững giải pháp, nhằm cải thiện về hiệu quả sử dụng nước Tuy nhiên, nhữnggiải pháp nhằm cải thiện về hiệu quả sử dụng nguồn nước, không đủ để tránhtiếp diễn tình trạng thiếu nước nghiêm trọng xảy ra ở nhiều lưu vực sông trênthế giới Vậy nên, các quốc gia còn cần phải thay đổi cấu trúc cơ bản trongphát triển kinh tế, nhằm giảm nhu cầu nước cần thiết trong chăn nuôi, trồngtrọt hay trong công nghiệp Từ những kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đãđưa ra những kịch bản về tình hình nghiêm trọng của TNN đang diễn ra,những nguy cơ thiếu nước có thể xảy ra trên phạm vi toàn thế giới và thậmchí gây ra một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nguồn nước trên toàn cầu
Ở một công trình khác, nhóm tác giả của bài viết “Future long-termchanges in global water resources driven by socio-economic and climaticchanges” [167] (tạm dịch: “Những thay đổi lâu dài trong tương lai về nguồn
Trang 11tài nguyên nước toàn cầu do những thay đổi về kinh tế - xã hội và khí hậu
thay đổi”), đăng trên Journal of Hydrological Sciences (Tạp chí Khoa học Thủy văn), đã sử dụng một mô hình nước toàn cầu, để phân tích các tác động
của thay đổi khí hậu và KT - XH đến TNN và cho thấy sự căng thẳng về nướctrên toàn cầu trong tương lai Bài viết đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạngthiếu nước, không chỉ có tác động của sự thay đổi khí hậu và dân số, mà còn
có sự ảnh hưởng của thu nhập, sản xuất điện và hiệu quả sử dụng nước Trong
đó, nguyên nhân chính của việc tăng căng thẳng về nước, là sự gia tăng củalượng nước sử dụng, do những thay đổi trong thu nhập quốc dân
Từ những phân tích và so sánh tác động của thay đổi trong thu nhập,hiệu quả sử dụng nước, sản xuất điện và KT - XH đối với sự căng thẳng nướctoàn cầu trong tương lai Những nghiên cứu của công trình cho thấy áp lựcngày càng lớn đối với TNN trên phạm vị toàn thế giới; nguồn nước ngày càng
bị suy thoái và cạn kiệt; các dòng chảy ở nhiều lưu vực sông bị hư hại và thayđổi; lưu vực sông có thể thường xuyên có dòng chảy thấp ngày càng gia tăng
so với tổng diện tích lưu vực sông trên toàn cầu
Từ một góc độ tiếp cận khác, tác giả Odeh Al Jayyousi với bài viết
“Water as a Human Right: Towards Civil Society Globalization” [173] (tạm
dịch: “Nước như một Quyền con người: Hướng tới Toàn cầu hoá Xã hội Dân sự”), đăng trên International Journal of Water Resources Development (Tạp chí Quốc tế Phát triển Tài nguyên nước), đã nghiên cứu nước với tư cách là
một quyền con người, với cách tiếp cận này, tác giả đã mang lại cách nhìnmới về PTBV khi lập luận mở rộng khái niệm từ góc độ nhân quyền
Tác giả luận giải nước là một quyền của con người Trong Mục tiêuPhát triển Thiên niên kỷ (MDGs), các mục tiêu về giải quyết đói nghèo, sứckhỏe, giới tính, giáo dục và tính bền vững môi trường có liên kết với nhau vàmôi trường bền vững là nền tảng cho các mục tiêu khác, tất cả các mục tiêu nàyrất quan trọng cho cách tiếp cận quyền con người đối với nước và môi trường.Qua mối liên kết đó, tác giả chứng minh một điều hiển nhiên rằng, tất cả các
Trang 12quyền con người không thể tách rời mối quan hệ của chúng với nhau Thiếunước và vệ sinh môi trường rõ ràng có ảnh hưởng đến việc thụ hưởng cácquyền con người khác như: quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc sứckhỏe, quyền được làm việc,… Việc công nhận nước là một quyền của conngười tạo ra ý thức chính trị để giải quyết các vấn đề về nước và BVMT, giảmnghèo, nâng cao sức khỏe của con người, giải quyết vấn đề việc làm… bằngcách thiết lập một quan hệ đối tác giữa quyền con người và các tổ chức, cộngđồng ngành nước nói riêng và ngành TN, MT nói chung ở mỗi quốc gia vàtrên toàn thế giới.
Năng lượng là ưu tiên thứ hai sau nước và trong kế hoạch thực hiệntoàn cầu, các nguồn năng lượng tái tạo phải được tăng lên đáng kể, để sảnxuất năng lượng, nước có vai trò rất quan trọng Trong bài “Water demandsfor bioenergy production” [177] (tạm dịch: “Nhu cầu nước cho sản xuất năng
lượng sinh học” đăng trên Water Resources Development (Tạp chí Phát triển Tài nguyên nước), tác giả cho rằng áp lực ngày càng chuyển các nguồn năng
lượng tái tạo leo thang Trên cơ sở thực trạng TNN và những áp lực ngày cànglớn của nhu cầu phát triển năng lượng tác động đến TNN, bài viết đã tập trungđánh giá các nhu cầu nước cho sản xuất năng lượng sinh học hiện tại và tươnglai nhằm cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, các nhàhoạch định chính sách về BVTNN Theo tác giả, thủy điện được tạo ra từnăng lượng tiềm năng của nước chảy và các hệ sinh thái cũng bị thay đổi đáng
kể trong quá trình này; sản xuất năng lượng sinh học cũng ràng buộc rất nhiềuvới nước; sự phát triển của các nhà máy sử dụng cho sản xuất năng lượng đòihỏi một lượng nước rất lớn Tác giả đã đưa ra ví dụ, để sản xuất 1kg chất khôcủa gỗ, mía, hạt hoặc một số loại cây trồng khác cho mục đích sản xuất nănglượng sinh học đòi hỏi thường sử dụng khoảng 200kg nước Theo đó, tác giảcho rằng, đây là chủ đề cần được nghiên cứu chi tiết, kỹ lưỡng nhằm xác địnhtiềm năng tăng trưởng sản xuất năng lượng sinh học của từng khu vực địa lý đểquản lý, sử dụng và khai thác có hiệu quả nguồn TNN trên thế giới
Trang 13Khi bàn về lưu vực sông, bài viết “Water Resource Models in theMekong Basin: A Review” [174] (tạm dịch: “Các mô hình tài nguyên nước ở
lưu vực Mê Kông: Đánh giá”), đăng trên Water Resources Management (Tạp chí Quản lý Tài nguyên nước), đã đánh giá mô hình TNN ở lưu vực sông Mê
Kông Nhóm tác giả cho rằng, mô hình TNN đang đóng một vai trò ngày càngquan trọng trong các cuộc tranh luận, với những nỗ lực đáng kể trong việc xâydựng nền tảng mô hình tích hợp để mô tả các tác động thủy văn, sinh thái, KT
- XH đến phát triển TNN ở lưu vực sông Mê Kông Qua đó, các quốc gia lưuvực sông Mê Kông phải có những đầu tư nghiên cứu một cách toàn diện đểxác định được một hệ thống giải pháp tối ưu cho mô hình quản lý tổng hợpTNN ở lưu vực sông Mê Kông hiệu quả và bảo đảm phát triển TNN ở lưu vựcsông Mê Kông bền vững
Bài viết “Downstream Hydrological Impacts of Hydropower Development
in the Upper Mekong Basin” [176] (tạm dịch: “Các tác động của việc pháttriển thủy điện ở thượng lưu sông Mê Kông vào thủy văn khu vực hạ lưu”),
đăng trên Water Resources Management (Tạp chí Quản lý Tài nguyên nước)
được nhóm tác giả nghiên cứu, tiếp cận từ sự phát triển năng lượng Đó là sựphát triển thủy điện của các quốc gia trên lưu vực sông Mê Kông đã có tácđộng và ảnh hưởng đến thủy văn hạ lưu, trong đó Việt Nam là quốc gia phảinhận ảnh hưởng nặng nề nhất Lưu vực sông Mê Kông ở Đông Nam Á đangtrải qua sự phát triển thủy điện với quy mô rộng lớn Các đập, thác quy hoạchthủy điện ở thượng lưu đã, đang và sẽ tiếp tục được xây dựng, có tác động rấtlớn đến toàn bộ lưu vực sông ở hạ lưu Nhóm tác giả chỉ ra lo ngại về nhữnghậu quả của sự phát triển cho các hệ sinh thái, sinh kế và an ninh lương thựctrong khu vực Trong đó, bài viết tập trung đánh giá ảnh hưởng của các đợt xả
lũ về hạ lưu và những thay đổi thủy văn mùa khô do các đập thủy điện đã ảnhhưởng, tác động tới tất cả các trạm thủy văn hạ lưu và khẳng định chế độ thủyvăn của sông Mê Kông đã bị thay đổi đáng kể, cần phải duy trì dòng chảy trêndòng chính của sông Mê Kông trên cơ sở các chế độ dòng chảy tự nhiên
Trang 14Những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới vềTNN đã được công bố nhằm cung cấp những luận cứ khoa học quan trọng đểgiải quyết “bài toán” về vấn đề ô nhiễm, suy giảm, cạn kiệt nguồn TNN toàncầu Đồng thời, các nhà khoa học cũng đã đưa ra những cảnh báo về nguy cơ
ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước trên thế giới và kêu gọi sự chung tay, hợp táccủa tất cả các quốc gia trên thế giới để ngăn chặn và đẩy lùi sự suy giảm, cạnkiệt TNN toàn cầu
1.1.2 Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
* Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học ở Việt Nam đã cónhững quan tâm nghiên cứu đến lĩnh vực TN, MT và việc bảo vệ TN, MTtrong quá trình phát triển KT - XH để hướng đến sự PTBV Nhiều công trìnhnghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng cung cấp những luận cứ khoa học về
TN, MT, bảo vệ TN, MT và PTBV đã được công bố
Cuốn sách Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững của tác giả
Lưu Đức Hải và Nguyễn Ngọc Sinh [92], đã hệ thống khái quát lý thuyết PTBV
và luận giải những vấn đề cơ bản về quản lý môi trường cho sự PTBV Trên cơ
sở lý thuyết chung về PTBV, nhóm tác giả đã dành nửa dung lượng còn lại (từtr.183 - 335) của cuốn sách để trình bày những vấn đề về quản lý môi trường cho
sự PTBV như: Khái niệm, mục tiêu, phương pháp, nguyên tắc, nội dung, đánhgiá, quy hoạch môi trường, các công cụ pháp luật, công cụ kinh tế trong quản lýmôi trường cho sự PTBV Nhóm tác giả cũng đã đề cập đến quan điểm của Đảng
về BVMT trong Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị, ngày 25/6/1998 “Vềtăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước” (tr.180, 181) Tuy nhiên, nhóm tác giả mới chỉ dừng lại ở chỗnêu mục tiêu, quan điểm và các giải pháp chính của Chỉ thị số 36 để luận giảicho vấn đề nghiên cứu của công trình mà chưa đi vào phân tích, luận giải chủtrương của Đảng về BVMT
Trang 15Cuốn sách Tài nguyên Môi trường và Phát triển bền vững của tác giả Lê
Huy Bá cùng nhóm cộng sự [4], đã cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản và khoahọc về tài nguyên môi trường và PTBV Tiếp cận từ phương diện Môi trườnghọc, các tác giả đã dành hai chương đầu để khái quát những vấn đề chung về tàinguyên môi trường và PTBV Từ chương 3 đến chương 10, nhóm tác giả đã tậptrung luận giải vấn đề tài nguyên môi trường theo phân loại và đưa ra nhữnggiải pháp nhằm sử dụng, PTBV các loại tài nguyên: Đất, nước, không khí, nănglượng, biển, rừng, đa dạng sinh học và khoáng sản Hành vi ứng xử với môitrường, sự gia tăng dân số, chính sách kinh tế BVMT và giới hạn của tàinguyên môi trường, cùng với cách thức quản lý chúng được các tác giả trìnhbày trong ba chương còn lại (chương 11,12,13) Đặc biệt, trong chương 4, vớidung lượng hơn bốn mươi trang sách (từ tr.115 - 155), nhóm tác giả đã trìnhbày khái quát những vấn đề chung về tài nguyên môi trường nước và PTBVnhư: Đặc tính, vai trò, sự phân bố TNN trên thế giới và Việt Nam, nhu cầu sửdụng nước và tính khan hiếm của nước, đồng thời nêu ra một số biện pháp cụthể để BVTNN như: Bảo vệ lớp phủ thực vật; xây dựng các hồ và bể chứanước; quản lý chặt chẽ lượng nước sử dụng; tăng cường lượng nước tái sửdụng, tránh gây ô nhiễm nguồn nước và xử lý nước thải tốt hơn; tận dụng nướcngọt; tận dụng khả năng tự làm sạch của môi trường nước
Tác giả Phạm Ngọc Đăng với cuốn sách Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp [88], đã khẳng định, quản lý môi trường là một trong tám giải
pháp quan trọng nhằm đạt được mục tiêu BVMT mà Đảng đã đề ra Tác giả đãchỉ rõ, quản lý môi trường phải nhằm mục đích ngăn ngừa ô nhiễm, kiểm soát ônhiễm, chữa trị ô nhiễm - phục hồi môi trường và tiến tới xây dựng các đô thịsinh thái, nền sản xuất công nghiệp sạch hơn, góp phần phát triển KT - XH bềnvững, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Tác giả đã khẳngđịnh rằng, muốn quản lý môi trường có hiệu quả và đạt được mục đích trên thìtrước tiên phải xây dựng hoàn chỉnh hệ thống tổ chức quản lý môi trường từtrung ương đến các địa phương, cơ sở sản xuất Cơ quan quản lý môi trường
Trang 16phải phối hợp tốt với các cơ quan quản lý đô thị và khu công nghiệp có liênquan Quản lý môi trường phải dựa trên nền tảng pháp luật, quy định về tiêuchuẩn môi trường quốc gia và áp dụng các phương cách quản lý tiên tiến, phùhợp Mặc dù, tác giả khẳng định quản lý môi trường là một trong tám giải phápquan trọng nhằm đạt được mục tiêu BVMT mà Đảng đã đề ra, song nội dungcuốn sách chưa đề cập đến chủ trương của Đảng về BVMT, BVTNN thông quacác chỉ thị, nghị quyết cũng như các văn kiện của Đảng.
Cuốn sách Quản lý tài nguyên và môi trường của tác giả Nguyễn Ngọc
Dung [68], cũng đã dành chương 1 để trình bày khái quát những vấn đề chung
về TN, MT và PTBV như: Các khái niệm về TN, MT, PTBV và nêu nhữngthách thức đối với TN, MT toàn cầu cũng như ở Việt Nam Công trình nghiêncứu của tác giả chủ yếu tập trung vào các nội dung quản lý tài nguyên và môitrường vật lý về: Nước, không khí, đất Tác giả đã trình bày các chính sách,pháp luật của Nhà nước, hoạt động của các địa phương và công tác xã hội hóa
về quản lý TN, MT nước, không khí và đất Trong đó, tác giả đã dành mộtphần trong nội dung chính để trình bày về quản lý TN, MT nước, nhưng domục đích nghiên cứu mà cuốn sách chưa đề cập đến chủ trương của Đảng vềBVMT cũng như BVTNN
Cuốn sách Hiện đại hóa xã hội và sinh thái do tác giả Lương Việt
Hải và I.K.Lixiev đồng chủ biên [94] là công trình tập hợp các bài nghiêncứu của một số chuyên gia hai nước Việt Nam và Nga với nội dung phongphú Các bài viết trong cuốn sách đã tập trung phân tích mối quan hệ biệnchứng giữa hiện đại hóa xã hội và sinh thái, phân tích một số bài học kinhnghiệm của Nga và Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa xã hội và đềxuất một số giải pháp giải quyết các mối quan hệ giữa tiến trình hiện đạihóa xã hội và bảo vệ môi trường sống, góp phần đẩy nhanh tiến trình hiệnđại hóa xã hội và nâng cao văn hóa sinh thái trong quá trình hiện đại hóa
xã hội ở mỗi nước
Trang 17Tiếp cận theo phương thức liên ngành, tích hợp kiến thức, tác giả
Trương Quang Học với cuốn sách Việt Nam: Thiên nhiên, Môi trường và Phát triển bền vững [95], đã cung cấp những kiến thức toàn diện và cơ bản nhất về
thiên nhiên và môi trường trong PTBV của Việt Nam Trong mỗi vấn đề cụthể của mỗi chương, tác giả đã trình bày khái quát vấn đề đó trên phạm vi thếgiới, sau đó phân tích riêng ở Việt Nam Cuốn sách có một chương trình bày
về TNN, trong đó tác giả dành 2 trang (124, 125) để đánh giá kết quả thựchiện lĩnh vực ưu tiên “Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững TNN”
trong Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam và nêu định
hướng bảo vệ và sử dụng hợp lý TNN
Nhóm tác giả Ngô Thắng Lợi, Vũ Thành Hưởng của cuốn sách chuyên
khảo Phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu [112] đã cung cấp kiến thức toàn diện về cơ
sở lý luận và kinh nghiệm của một số nước về PTBV Qua đó, đề xuất quanđiểm, nội hàm và tiêu chí đánh giá PTBV của Việt Nam, đó là sự phát triểnphải dựa trên ba trụ cột bền vững: Kinh tế - Xã hội - Môi trường Cùng với việcđưa ra được quan niệm về PTBV, công trình nghiên cứu của nhóm tác giả đãnghiên cứu đánh giá thực trạng PTBV của Việt Nam và những vấn đề cấp báchđặt ra Đáng chú ý, nhóm tác giả đã dành 6 trang (từ tr.144 - 149) trong cuốnsách đề cập đến chủ trương của Đảng về BVMT cho sự PTBV Tuy nhiên,nhóm tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khái quát quá trình hoàn thiện quan điểmcủa Đảng về PTBV trong quá trình công nghiệp hóa mà chưa đi sâu phân tích,đánh giá chủ trương của Đảng về BVMT cho sự PTBV của đất nước
Luận án tiến sĩ Phát triển năng lực giáo dục bảo vệ môi trường cho sinh viên sư phạm ngành giáo dục tiểu học của tác giả Nguyễn Như An [1], tiếp cận
từ phương diện giáo dục Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn vềphát triển năng lực giáo dục BVMT cho sinh viên sư phạm, ngành giáo dục tiểuhọc Tác giả cho rằng, giáo viên tiểu học là lực lượng quan trọng góp phần nâng
Trang 18cao trình độ nhận thức về BVMT cho những thế hệ tương lai của đất nước, bởivậy phát triển năng lực cho sinh viên ngành giáo dục tiểu học là một giải pháphữu hiệu nhằm thực hiện chủ trương của Đảng về nâng cao nhận thức về BVMT
và xã hội hóa công tác BVMT
Luận án tiến sĩ Vai trò của Nhà nước đối với việc bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Thị Thanh Hà [90], nhìn từ góc độ triết học, luận án đã
làm rõ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộngsản Việt Nam về vai trò của Nhà nước trong BVMT Đánh giá thực trạng vai tròcủa Nhà nước trong BVMT, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng làm cơ sở để đềxuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước Việt Nam đốivới việc BVMT trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Luận án tiến sĩ Vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn
Thị Khương [107], đã làm rõ được những vấn đề đặt ra về nâng cao vai trò củaNhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT sinh thái ở ViệtNam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH; đồng thời, đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm nâng cao vai trò của quản lý nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởngkinh tế với BVMT sinh thái thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay
Tác giả Đỗ Trọng Hưng với luận án tiến sĩ Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay [100], đã tiếp
cận từ phương diện triết học để phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về kếthợp tăng trưởng kinh tế với BVMT tự nhiên Trên cơ sở đó, tác giả tập trungphân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp tăng trưởng kinh
tế với BVMT ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và đề xuất những quan điểm, giải phápnhằm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với BVMT ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ Tác giả có đề cập đến một số chỉ thị, nghị quyết của Đảng về BVMT để
Trang 19phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của luận án, nhưng mới dừng lại ở việc khẳngđịnh sự quan tâm chỉ đạo của Đảng về BVMT được thể hiện qua các kỳ đại hội(từ Đại hội VI đến Đại hội XI) mà chưa đi vào phân tích, luận giải chủ trương và
sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác BVMT
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc với bài viết “Quản lý nhà nước về môitrường ở Nhật Bản và những gợi ý cho Việt Nam” [117] đã khái quát thànhcác bài học kinh nghiệm mà người Nhật Bản đã sử dụng rất hiệu quả trongquản lý môi trường để có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước về môitrường ở Việt Nam Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý khi vận dụng kinh nghiệmcủa Nhật Bản trong quản lý ô nhiễm môi trường cần phải linh hoạt, xét cả ởcách thức, quy mô và lộ trình thực thi các giải pháp cho phù hợp với văn hóa,tình cảm con người Việt Nam và thực tiễn phát triển của đất nước
Trên phương diện pháp luật, tác giả Trương Thu Trang với bài viết
“Pháp luật bảo vệ môi trường: Kinh nghiệm một số nước châu Á và bài họcđối với Việt Nam” [153] đã nghiên cứu pháp luật BVMT từ kinh nghiệm một
số nước châu Á Tác giả tập trung phân tích nội dung các biện pháp xử lý hình
sự, hành chính và dân sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trườngcủa Singapore và một số biện pháp, chính sách BVMT của Trung Quốc, lấy
đó làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bài viết “Kinh nghiệm quản lý ô nhiễm môi trường trong phát triển sảnxuất công nghiệp của Nhật Bản” của tác giả Nguyễn Mậu Dũng [69], lại nghiêncứu giới hạn trong phạm vi sản xuất công nghiệp Trên cơ sở nghiên cứu ônhiễm môi trường và kết quả đạt được trong giải quyết ô nhiễm môi trường củaNhật Bản, tác giả đã đúc rút sáu kinh nghiệm quản lý ô nhiễm môi trường trongphát triển sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản Từ những kinh nghiệm của NhậtBản, tác giả cho rằng, Việt Nam “nên triển khai sớm các biện pháp quản lý ônhiễm môi trường càng sớm càng tốt, nếu không vấn đề khắc phục hậu quả do ônhiễm môi trường gây ra sẽ rất khó khăn và rất tốn kém” [69, tr.48]
Trang 20Nghiên cứu tiếp cận từ góc độ các chính sách đối với vấn đề môitrường, tác giả Trần Thị Duyên có bài viết “Các giải pháp chính sách của ĐàiLoan đối với các vấn đề môi trường” [70] Bài viết đã tập trung nghiên cứu,phân tích những chính sách của chính quyền Đài Loan đối với các vấn đề vềmôi trường như: Chính sách BVMT không khí và tầng ozone, bảo vệ chấtlượng nước, BVMT đất, chính sách kiểm soát tiếng ồn, giảm thiểu và tái chếrác thải, gia tăng các hoạt động giáo dục về BVMT, nhằm cải thiện môitrường sống cho nhân dân Trên cơ sở phân tích những chính sách đó, tác giảrút ra nhận xét Những nhận xét đó cũng là những gợi ý cho Việt Nam thamkhảo trong công tác BVMT
Tác giả Lê Quốc Lý với bài viết “Tiêu chí và giải pháp cơ bản pháttriển bền vững ở nước ta” [113], đã luận giải PTBV là phải đạt được: Tăngtrưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội trong môi trường sống xanh, sạch,đẹp Trong đó, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, tiến bộ và công bằng xãhội cùng với môi trường sống xanh, sạch, đẹp là điều kiện đủ để bảo đảm chotăng trưởng kinh tế cao và duy trì được thành quả của tăng trưởng kinh tế vìmục tiêu con người Đồng thời, tác giả đã đưa ra những chỉ tiêu đánh giáPTBV và đề xuất các giải pháp chủ yếu, thiết thực và các giải pháp đó cần nỗlực thực hiện nhằm phát triển đất nước theo hướng bền vững
Nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tác giả Lê Xuân
Tú có bài viết “Vấn đề bảo vệ môi trường theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIIcủa Đảng” [157] Bài viết nêu tầm quan trọng của vấn đề BVMT và khẳng địnhĐảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến vấn đề BVMT thể hiện trongviệc luôn tuân thủ những quy định quốc tế về BVMT và kịp thời đề ra nhữngchủ trương, chính sách, chiến lược quốc gia về BVMT Bài viết đã nêu nội dungBVMT trong Nghị quyết Đại hội XII, đánh giá khái quát những thành tựu, hạnchế về BVMT và nêu phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp BVMT mà Đại hộiXII đề ra Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất ba giải pháp cụ thể nhằm đưa Nghịquyết Đại hội XII của Đảng về BVMT vào thực tiễn cuộc sống
Trang 21Ngoài những công trình khoa học nói trên còn có nhiều công trìnhkhác bàn về vấn đề bảo vệ TN, MT và PTBV, các nhà nghiên cứu đã phácthảo bức tranh khá toàn diện vấn đề TN, MT, PTBV và việc BVMT cho sựPTBV ở Việt Nam Trong đó, một số công trình cũng đã đề cập đến chỉ thị,nghị quyết, văn kiện của Đảng về BVMT và khẳng định sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước Việt Nam đối với lĩnh vực TN, MT.
* Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ tài nguyên nước
Nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của TNN đối với sự sốngcùng với quá trình phát triển, trong những năm gần đây, các nhà khoa họcViệt Nam đã dành nhiều thời gian, tâm sức để nghiên cứu về lĩnh vực TNN,với nhiều công trình được công bố, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo
vệ, sử dụng TNN ở Việt Nam
Tiếp cận từ phương diện khoa học kỹ thuật, tác giả Trịnh Xuân Lai với
cuốn sách Xử lý nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp [109], đã làm rõ cơ
sở khoa học và thực tiễn trong việc xử lý nước và cấp nước cho sinh hoạt vàcông nghiệp; đồng thời, đề xuất việc sử dụng công nghệ để tiết kiệm nướctrong sinh hoạt cũng như công nghiệp Những nội dung được trình bày trongcuốn sách đã cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà chuyên môn, cácnhà quản lý tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn xử
lý nước cấp cho sinh hoạt và công nghiệp nhằm góp phần thiết thực và hiệuquả trong quản lý và BVTNN
Tiếp cận từ góc độ khoa học tự nhiên, tác giả Nguyễn Thanh Sơn với
cuốn sách Đánh giá tài nguyên nước Việt Nam [131], đã cung cấp những kiến
thức cơ bản về một số khái niệm liên quan và các phương pháp thu thập, tínhtoán để đánh giá TNN Việt Nam; đồng thời, tác giả cũng cung cấp những kiếnthức cơ bản về bảo vệ và phát triển các dạng TNN ở Việt Nam Tác giả chorằng, do tác động của con người đã làm thay đổi chất lượng nguồn nước Đểđánh giá chất lượng nước dựa trên kết quả: Đánh giá nhu cầu dùng nước;đánh giá chất lượng của nguồn nước sử dụng; đánh giá và dự báo mức độ
Trang 22nhiễm bẩn nguồn nước; các biện pháp để hạn chế và đi đến ngoại trừ tìnhtrạng ô nhiễm nguồn nước Những nội dung được trình bày trong cuốn sáchgiúp các nhà chuyên môn trong việc đánh giá TNN Việt Nam để có phươnghướng cụ thể trong việc bảo vệ, sử dụng và khai thác hợp lý TNN
Tác giả Trần Đức Hạ và nhóm cộng sự với cuốn sách Bảo vệ và quản lý tài nguyên nước [91] đã trình bày những vấn đề chung về nguồn nước, sự hình
thành, tuần hoàn và phân bổ nước trong tự nhiên; luận giải quá trình ô nhiễm
và tự làm sạch nguồn nước, vấn đề ô nhiễm và bảo vệ nguồn nước ngầm; nêucác mô hình chất lượng nước và các biện pháp kỹ thuật bảo vệ nguồn nước;trình bày những vấn đề kỹ thuật và thực tiễn quan trắc môi trường nước, quản
lý TNN nhằm sử dụng hiệu quả và phát triển TNN Việt Nam
Cuốn sách Nước và con người của tác giả Ngô Trọng Thuận và Vũ Văn
Tuấn [148] được trình bày thành năm chương Chương một của cuốn sáchcung cấp những kiến thức cơ bản về nước trong tự nhiên trên thế giới và ởViệt Nam, trong đó nhóm tác giả đã luận giải về nhu cầu sử dụng nước trêntoàn cầu và những áp lực đến TNN ở Việt Nam Chương hai và chương ba,cuốn sách đã phân tích vai trò của nước trong đời sống con người và các nhân
tố ảnh hưởng đến TNN, trong đó có những tác động không nhỏ của con ngườinhư: Đô thị hóa, chặt phá rừng, canh tác nông nghiệp, xây dựng hồ chứa.Chương bốn cuốn sách đã trình bày các dạng thiên tai có liên quan đến nướcnhư: Bão, áp thấp nhiệt đới, mưa, dông, lũ lụt, hạn hán, sóng thần… và nêucác biện pháp hữu hiệu của thế giới và biện pháp cho Việt Nam nhằm giảmthiểu những hậu quả do thiên tai gây ra cho con người Chương năm của cuốnsách, nhóm tác giả đã trình bày những giải pháp mang tính chiến lược để quản
lý hiệu quả TNN ở Việt Nam
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường với cuốn sách Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam [161] đã cung cấp những kiến thức cơ bản về
BĐKH; thực trạng BĐKH toàn cầu và ở Việt Nam; xây dựng các kịch bảnBĐKH cho Việt Nam; phân tích những tác động của BĐKH đến các ngành, lĩnh
Trang 23vực và các khu vực địa lý - khí hậu ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp chiến lượcứng phó với BĐKH ở Việt Nam Đặc biệt, cuốn sách đã khẳng định BĐKH làmột vấn đề phức tạp và có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó,cuốn sách đã trình bày những tác động của BĐKH đến TNN ở Việt Nam Nộidung được trình bày trong cuốn sách giúp cho các nhà nghiên cứu tham khảo vàcác nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý có cơ sở khoa học để đề xuấtnhững chính sách, giải pháp chủ động ứng phó với BĐKH nhằm giảm thiểunhững tác động của BĐKH đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực TNN.
Cuốn sách Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước Việt Nam của nhóm tác giả Trần Thanh Xuân, Trần Thục, Hoàng Minh Tuyển
[163] đã khẳng định, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởngcủa BĐKH nghiêm trọng nhất, trong đó lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọngcủa BĐKH là TNN Cuốn sách đã cung cấp những kiến thức cơ bản về TNN,bao gồm nước mưa, nước mặt, nước dưới đất; đồng thời, phân tích những tácđộng của BĐKH đến TNN và đề xuất những biện pháp thích ứng với BĐKHtrong lĩnh vực TNN ở Việt Nam
Cuốn sách Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước và ngập lụt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của tác giả Trần Hồng Thái (chủ
biên) và nhóm cộng sự [134], đã cung cấp hệ thống kiến thức khoa học gópphần phổ biến, nâng cao nhận thức về ảnh hưởng của BĐKH đến một số khíacạnh về TNN và ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long Cuốn sách đã đánh giáđược tổng quan lưu vực sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long, trên cơ
sở đó xác định các kịch bản BĐKH và đánh giá ảnh hưởng của nó đến TNN;đồng thời, đề xuất các biện pháp thích ứng với BĐKH trong khai thác và sửdụng hợp lý TNN ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Nguyễn Hà Anh với cuốn sách Bảo vệ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước [2] đã cung cấp những kiến thức cơ bản nhằm góp phần bảo vệ, sử
dụng tiết kiệm và hiệu quả TNN ở Việt Nam Tác giả đã trình bày những kiến
Trang 24thức chung về TNN và phân tích những tác động, ảnh hưởng đối với TNN, môitrường nước là do hoạt động sống, hoạt động kinh tế của con người gây nên.Trên cơ sở đó, tác giả đã luận giải sự cần thiết phải bảo vệ, khai thác và sử dụngTNN hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ, sửdụng tiết kiệm TNN, trong đó nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của các tổ chức,các cá nhân đối với việc BVTNN.
Tiếp cận theo hướng quản lý tổng hợp TNN, trong đó có quản lý TNN
theo lưu vực sông, tác giả Trần Thanh Xuân có cuốn sách Mạng lưới và tài nguyên nước sông Việt Nam - Những biến đổi và thách thức [165] Cuốn sách
đã giới thiệu khái quát về mạng lưới sông, suối trên lãnh thổ Việt Nam vàcung cấp những thông tin về lượng nước mà mạng lưới đó chuyên chở hàngnăm để phục vụ cho các hoạt động kinh tế và hoạt động dân sinh Trên cơ sởnghiên cứu, đánh giá tổng hợp, tác giả đã phân tích những biến đổi trong điềukiện tự nhiên và những tác động của con người đến TNN sông, suối và chỉ ranhững thách thức về TNN mà Việt Nam phải đối mặt
Luận án tiến sĩ Xác lập cơ sở khoa học về tài nguyên và môi trường nước phục vụ định hướng phát triển bền vững một số làng nghề tỉnh Bắc Ninh
của tác giả Phạm Thị Tố Oanh [121] Luận án đã khái quát hệ thống điều kiện
tự nhiên, KT - XH và một số vấn đề môi trường chính khu vực một số làngnghề ở Bắc Ninh, ứng dụng bài toán tối ưu phục vụ việc sử dụng hợp lý TNN
và định hướng PTBV khu vực làng nghề Bắc Ninh; đồng thời, đưa ra các giảipháp nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường nước cho sự PTBV một số làngnghề ở tỉnh Bắc Ninh
Luận án tiến sĩ Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước phục vụ phát triển bền vững lưu vực sông Hương của tác giả Nguyễn Hoàng Sơn [130]
đã hệ thống hóa các yếu tố địa chất, địa chất thủy văn, khí tượng thủy văn… ởlưu vực sông Hương Luận án nghiên cứu và khảo sát cả về chất và lượng nướclưu vực sông Hương, đánh giá tiềm năng các nguồn nước và dự báo nguồn
Trang 25nước đến lưu vực sông Hương, đánh giá hiện trạng môi trường nước và dự báonhu cầu sử dụng TNN thuộc lưu vực sông Hương Từ những kết quả nghiêncứu được, tác giả Nguyễn Hoàng Sơn đã đề xuất các giải pháp nhằm phục vụthiết thực cho sự PTBV lưu vực sông Hương.
Tiếp cận từ phương diện văn hóa dân tộc, qua nghiên cứu, tìm hiểunhững nét văn hóa và kinh nghiệm sống của người Mường, tác giả Mai VănTùng có bài viết “Nguồn tài nguyên nước trong tri thức người Mường”[158].Bài viết cho rằng, người Mường đã sớm nhận thức được tầm quan trọng củanước đối với cuộc sống, nên ngay từ khi chọn đất lập làng, họ đã đặt tiêu chíhàng đầu là phải có nguồn nước thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất Nhữngquy ước về bảo vệ nguồn nước ở các làng của người Mường rất hiệu quả,không những trên phương diện vệ sinh nguồn nước sinh hoạt mà còn sử dụnghiệu quả trong sản xuất, trở thành những kinh nghiệm quý báu trong việc bảo
vệ các nguồn nước của người Mường, cũng như đối với vấn đề BVTNN ởViệt Nam hiện nay
Tác giả Đinh Thị Như Trang với bài viết “Sử dụng tiết kiệm tài nguyênnước ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” [152], đãkhẳng định, nước là một trong những yếu tố trọng yếu đảm bảo sự tồn tại vàphát triển của con người Tác giả đã chỉ ra thực trạng khá phổ biến ở ViệtNam là cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng các nguồn nước, cùng với việc sửdụng lãng phí nước và tỷ lệ thất thoát nước sinh hoạt ở mức cao Từ việcnghiên cứu các giải pháp phát triển và sử dụng tiết kiệm nguồn nước ngọt củacác quốc gia khan hiếm nước ngọt như Singapore, Israel, Úc, tác giả rút ramột số bài học kinh nghiệm cho việc thực hành tiết kiệm nước ở Việt Nam
Tác giả Lê Duy Thắng và Trần Thị Kim Dung với bài viết “Bất ổn về
an ninh nguồn nước sông Mê Kông và tác động của nó đối với khu vực”[138] Bài viết đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự bất ổn an ninh nguồn nướcsông Mê Kông là do sự khác biệt trong chia sẻ lợi ích quốc gia, tình trạngkhai thác và sử dụng nguồn nước sông Mê Kông và các cơ chế hợp tác không
Trang 26hiệu quả, mà đặc biệt là việc xây dựng và đưa vào vận hành các đập thủy điệntrên dòng chính và các nhánh sông đang là nguy cơ lớn, đe dọa nghiêm trọngđến an ninh nguồn nước của dòng sông Bài viết đã phân tích những tác động
từ tình trạng bất ổn an ninh nguồn nước, đến hệ sinh thái của dòng sông Cácquốc gia có liên quan, nhất là Việt Nam đang và sẽ phải chịu tác động kép củaBĐKH và của sự bất ổn an ninh nguồn nước Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đãđưa ra một số gợi ý chính sách nhằm bảo đảm vấn đề an ninh nguồn nướcdòng sông Mê Kông đối với Việt Nam
1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các công trình đã công bố có liênquan đến đề tài luận án, cho thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực TN, MT rất phong phú
và đa dạng, được tiếp cận và nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhaunhằm tìm ra hướng giải quyết góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ
TN, MT cũng như BVTNN trong quá trình phát triển đất nước Đây là nhữngtài liệu tham khảo rất bổ ích và quan trọng cho việc nghiên cứu những vấn đềliên quan đến BVTNN;
Thứ hai, các công trình đã trình bày trong tổng quan đều thống nhất
khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc bảo vệ TN, MT, đặc biệt làBVTNN đối với sự phát triển KT - XH Vai trò quan trọng của nước đã đượcHội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững (năm 2002) xếp nướcđứng ở vị trí cao nhất trong số 5 ưu tiên để phát triển bền vững; đồng thời,TNN được xếp đứng thứ 2 sau tài nguyên con người Ở Việt Nam, bảo vệ TN,
MT đã được Đảng, Nhà nước quan tâm thể hiện thông qua những chủ trương,chính sách nhằm thực hiện tốt việc bảo vệ TN, MT và chủ động ứng phó vớiBĐKH trong quá trình phát triển KT - XH cho sự PTBV của đất nước Nhờ
Trang 27đó, nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ TN, MT đã đạt được,các điều kiện cơ bản, thiết yếu làm tiền đề (hệ thống cơ chế, chính sách, phápluật được hoàn thiện một bước; hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về TN,
MT được tăng cường; xã hội hóa BVMT được quan tâm và đẩy mạnh; hợp tácquốc tế về BVMT, quản lý tài nguyên được thiết lập), tạo thế và lực cho việcbảo vệ TN, MT trong thời gian tới Với vị trí, vai trò quan trọng của nước đãđược khẳng định qua các công trình đã công bố, giúp tác giả luận án hiểu rõhơn về tính cấp thiết của đề tài luận án mà mình đã lựa chọn nghiên cứu và cóthể kế thừa trong quá trình triển khai thực hiện luận án;
Thứ ba, một số công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu những vấn đề
có ý nghĩa cơ sở lý luận và thực tiễn của lĩnh vực TN, MT và PTBV như: Vấn đề
về ô nhiễm môi trường, suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và sự ảnh hưởng của ônhiễm môi trường đến sức khỏe con người; sự phát triển kinh tế và những vấn đềđặt ra đối với lĩnh vực TN, MT, lĩnh vực TNN; mối quan hệ giữa con người với tựnhiên và trách nhiệm của con người đối với việc BVMT và bảo vệ tài nguyênthiên nhiên, BVTNN; những giải pháp chủ yếu trong BVMT và BVTNN Qua đó,giúp tác giả luận án nhận biết một cách khái quát về vấn đề ô nhiễm môi trường,suy kiệt tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay, từ đó có thể kế thừa để luậngiải cho sự cần thiết phải BVTNN “cốt lõi” cho sự PTBV của đất nước;
Thứ tư, nhiều công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu những vấn đề
có ý nghĩa cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý, bảo vệ, phát triểnnguồn nước và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả TNN như: Vấn đề về ô nhiễmnguồn nước và sự ảnh của ô nhiễm nguồn nước đến sức khỏe con người; sựphát triển kinh tế và những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý và BVTNN;
sự tác động của con người đến TNN và trách nhiệm của con người đối vớiviệc bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này; vấn đề bảo vệ và sử dụng nguồnTNN như thế nào cho hiệu quả và bền vững; vấn đề sử dụng tiết kiệm TNN
và tái sử dụng nguồn nước thải - Con người trong quá trình này là các cộngđồng cư dân, các Chính phủ, từng quốc gia và khu vực, toàn cầu và các cơ
Trang 28quan quản lý với các chính sách và thiết chế cần thiết Bên cạnh đó, một sốcông trình khoa học nói trên đã vẽ lên bức tranh toàn cảnh của TNN thế giới
và Việt Nam trong hiện tại và tương lai; một số công trình đã luận giải hiệntrạng TNN ở Việt Nam và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của hiện trạng đó
và đề xuất được những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượngcông tác quản lý, BVTNN bền vững, nhưng cũng là những giải pháp mangtính chuyên môn đối với Nhà nước Những nội dung trên sẽ giúp cho tác giảluận án có cái nhìn tổng thể và toàn diện về TNN, về mối quan hệ giữa pháttriển KT - XH với BVTNN và những thách thức nghiêm trọng đối với TNNtrong hiện tại và tương lai Trên cơ sở đó, tác giả có thể kế thừa để luận giảitính cấp bách phải BVTNN và phân tích, đánh giá việc tổ chức thực hiệnBVTNN ở Việt Nam được triển khai trong luận án;
Thứ năm, qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình khoa học đã công bố
có liên quan đến đề tài luận án, một số công trình đã dành một phần nhỏ đềcập đến chỉ thị, nghị quyết của Đảng về BVMT, song do giới hạn bởi phạm vi
và mục đích nghiên cứu của các công trình mà các tác giả chưa đi vào nghiêncứu chuyên sâu, có hệ thống để phân tích, luận giải quan điểm, chủ trươngcủa Đảng về BVMT ở Việt Nam, nhất là BVTNN Mặc dù vậy, các công trình
đó cũng đã cung cấp những phương pháp, cách tiếp cận khoa học để tác giả cóthể kế thừa trong nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện luận án từ phương diện khoahọc Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Như vậy, đã có các công trình tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả
về lý luận và thực tiễn về BVMT, BVTNN theo hướng bền vững Những côngtrình nêu trên thực sự là nguồn tài liệu ban đầu quý giá, giúp cho nghiên cứusinh kế thừa thực hiện nghiên cứu đề tài luận án của mình
1.2.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu
có liên quan đến đề tài luận án, các công trình trên chưa đề cập đến các vấn đề
sau: Một là, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về
Trang 29chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với BVTNN Hai là, chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá, nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng về
BVTNN và rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn Ba là,
cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính toàn diện, sâu sắc,
hệ thống về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo BVTNN cho một giai đoạnnhất định, đặc biệt là những năm đầu của thế kỷ XXI Do đó, đây vẫn là
“khoảng trống” để tác giả luận án đi sâu nghiên cứu và làm rõ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ tài nguyên nước từ năm 2001 đến năm 2010 mà không
trùng lắp với các công trình đã công bố
Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
Một là, những yếu tố tác động đến BVTNN (2001 - 2010);
Hai là, quá trình nhận thức, hoạch định chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực
hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về BVTNN (2001 - 2010);
Ba là, đánh giá, nhận xét ưu điểm, hạn chế Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010, chỉ rõ nguyên nhân của những
ưu điểm, hạn chế đó; rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào giai đoạnmới để BVTNN đạt hiệu quả hơn Qua đó, góp phần tổng kết hoạt động lãnhđạo của Đảng trên lĩnh vực bảo vệ TN, MT, trong đó có BVTNN
Trang 30Kết luận chương 1
Luận án đã tổng quan có chọn lọc các công trình nghiên cứu của cácchuyên gia trong lĩnh vực TN, MT, đặc biệt là TNN trên thế giới và Việt Nam.Các công trình nghiên cứu trên tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau, vớinhững kết quả nghiên cứu phong phú và đa dạng, có giá trị khoa học và ýnghĩa thực tiễn cao, cung cấp những tư liệu tham khảo có giá trị và gợi ý cách
tiếp cận khoa học cho tác giả khi thực hiện đề tài luận án Qua đó mà đề tài
luận án, cùng với các công trình nghiên cứu trước đó, tạo thành quá trình pháttriển liên tục cho khoa học
Lĩnh vực TN, MT đã được quan tâm, nghiên cứu nhưng chủ yếu tiếpcận từ góc độ chuyên môn đo đạc, quan trắc, phân tích, đánh giá hiện trạngmôi trường, hiện trạng chất lượng và số lượng nguồn nước, mà rất ít nghiêncứu tiếp cận từ phương diện khoa học Lịch sử Đảng để làm rõ quá trình hoạchđịnh chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với việc bảo vệ TN, MTtrong đó có BVTNN
Trên cơ sở phân tích nội dung của các công trình đã được công bố, tácgiả đã làm rõ kết quả chủ yếu của các công trình đó, đồng thời chỉ ra nhữngvấn đề cơ bản mà luận án phải giải quyết, cụ thể là: Cần làm rõ những yếu tốtác động đến BVTNN (2001 - 2010); làm rõ quá trình nhận thức, hoạch định chủtrương và chỉ đạo tổ chức thực hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về BVTNN(2001 - 2010); đánh giá, nhận xét ưu điểm, hạn chế Đảng Cộng sản Việt Namlãnh đạo BVTNN từ năm 2001 đến năm 2010, chỉ rõ nguyên nhân của những
ưu điểm, hạn chế đó và rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào giaiđoạn mới để BVTNN đạt hiệu quả hơn Qua đó, góp phần tổng kết hoạt độnglãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực bảo vệ TN, MT, trong đó có BVTNN
Trang 31Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC (2001 - 2005) 2.1 Những yếu tố tác động đến bảo vệ tài nguyên nước
2.1.1 Vị trí, vai trò của nước và đặc điểm tài nguyên nước Việt Nam
* Quan niệm về “Tài nguyên nước” và “Bảo vệ tài nguyên nước”
Để lý giải và vận dụng đúng khái niệm “Tài nguyên nước” và “Bảo vệ tài nguyên nước” trong nghiên cứu đề tài luận án, tác giả điểm qua một số quan
niệm của các nhà khoa học để thống nhất quan niệm được dùng trong luận án
Tài nguyên nước
Theo quan điểm của tác giả Trương Quang Học, “Tài nguyên nước là tất
cả các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mụcđích khác nhau, cho sinh hoạt, cho các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dândụng, giải trí và môi trường” [95, tr.102] Với cách tiếp cận này có thể hiểu,TNN là tất các nguồn nước bao gồm cả nước mặt, nước ngầm, nước mưa vànước biển mà con người sử dụng cho các mục đích khác nhau, bảo đảm cho sựsống và các hoạt động, sinh hoạt khác của con người
Ở cách tiếp cận khác, tác giả Lê Huy Bá cho rằng: “Nước là một dạngTài nguyên thiên nhiên, vừa là thành phần Môi trường và cũng là một Môitrường thành phần Ở đâu có nước thì ở đó xuất hiện sự sống và chính bảnthân nước có thể đáp ứng cho các nhu cầu của cuộc sống” [4, tr.115] Theoquan niệm này, TNN thuộc tài nguyên thiên nhiên, nó được tạo thành trongsuốt quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên, cuộc sống sinh vật và conngười cũng như bất kỳ loại tài nguyên nào khác, nó có các quá trình hìnhthành, tồn tại và chuyển hóa, nó phục vụ cho các nhu cầu phát triển KT - XHcủa con người; đồng thời, TNN vừa là thành phần của môi trường vừa là môitrường thành phần, tham gia vào các quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, dulịch, sức khỏe, sinh thái và môi trường
Trang 32Mục 1, điều 2 của Luật Tài nguyên nước năm 2012 khẳng định: “Tài
nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biểnthuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [129]
Trên cơ sở quan điểm của các nhà khoa học và của Luật Tài nguyên nước, có thể khái quát nội hàm của khái niệm TNN gồm: (1) Nói đến TNN là
nói đến một dạng tài nguyên thiên nhiên, được tạo thành trong suốt quá trìnhhình thành và phát triển của tự nhiên; (2) Tài nguyên nước Việt Nam được cấuthành từ các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnhthổ Việt Nam; (3) Tài nguyên nước với tính cách là một nguyên liệu bảo đảmcho các hoạt động của con người; (4) Tài nguyên nước có ảnh hưởng đến cuộcsống của con người và chịu sự chi phối của con người
Xuất phát từ đối tượng, mục đích nghiên cứu của luận án, TNN được
tác giả đề cập đến trong luận án bao gồm cả số lượng nước, chất lượng nước,
cơ cấu nguồn nước và vị trí, vai trò của nước Nghĩa là, Tài nguyên nước là tài nguyên thiên nhiên, bao gồm tất cả các nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được sử dụng vào những mục đích khác nhau cho phát triển KT -
XH, bảo đảm cho sự sống và các hoạt động sinh hoạt khác của con người
Tuy TNN thuộc loại tài nguyên có khả năng tái tạo nhưng không phải lànguồn tài nguyên vô hạn, thậm chí nếu con người không hành xử đúng vớiTNN thì nó sẽ chuyển hóa thành tài nguyên không có khả năng tái tạo, dầnsuy thoái và cạn kiệt, đe dọa đến sự sống của mọi sinh vật trên trái đất, trong
đó có con người
Bảo vệ tài nguyên nước
Tại mục 8, điều 3 của Luật Tài nguyên nước năm 1998 đã giải thích:
"Bảo vệ tài nguyên nước" là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệtnguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tàinguyên nước [126]
Trang 33Theo đó, mục tiêu của BVTNN là bảo đảm an toàn cả về số lượng và chấtlượng nguồn nước, nâng cao khả năng phát triển bền vững TNN, nhằm bảo đảm
về cung - cầu trong việc khai thác và khả năng đáp ứng của TNN Cụ thể, bảođảm được sự lưu thông dòng chảy tự nhiên; ngăn ngừa và xử lý triệt để các nguồnnước thải theo tiêu chuẩn môi trường trước khi xả thải ra môi trường, phục hồiđược nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt; bảo đảm phát triển nguồn thủy sinh; bảođảm đủ nguồn nước sạch, an toàn phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuấtnông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản,phát triển dịch vụ, du lịch, chữa bệnh, BVMT và các hoạt động khác
Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020 cũng xác định
rõ mục tiêu: Bảo vệ, khai thác hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên nướcquốc gia trên cơ sở quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên nước nhằm đápứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, anninh và BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; chủ độngphòng, chống, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại do nước gây ra; từng bướchình thành ngành kinh tế nước nhiều thành phần phù hợp với nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu quả hợp tác, bảo đảm hàihoà lợi ích giữa các nước có chung nguồn nước với Việt Nam [143, tr.3]
Trên cơ sở các mục tiêu đã được xác định và dưới góc độ nghiên cứu
của đề tài luận án, theo tác giả, BVTNN là các công việc, các hoạt động, các biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; giữ cho TNN bảo đảm an toàn, trong sạch; phòng ngừa hạn chế các tác động xấu đối với TNN, ứng phó sự cố môi trường, ứng phó với BĐKH tác động đến TNN; khắc phục
ô nhiễm, suy thoái nguồn nước, đồng thời, phục hồi và cải thiện TNN; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNN; bảo vệ khả năng phát triển TNN.
Như vậy, BVTNN không phải là giữ nguyên không khai thác mà tráilại, mọi công việc, mọi hoạt động BVTNN phải hướng vào việc bảo vệ cácnguồn nước không bị ô nhiễm, hướng vào việc khai thác và sử dụng hợp lý,
Trang 34hiệu quả các nguồn nước nhằm tạo điều kiện cần thiết cho phục hồi, tái tạoTNN, đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH Do đó, BVTNN, một mặt, phảitìm ra những hướng phát triển KT - XH phù hợp, không gây những tác độngxấu đến TNN; mặt khác, phải tìm cách ngăn chặn những hậu quả xấu mà quátrình phát triển KT - XH gây ra cho TNN.
* Vị trí, vai trò của nước
Nước là nguồn gốc của sự sống Nước trong thiên nhiên có vai trò to lớn,
hơi nước trong khí quyển cùng một số “khí nhà kính” đã quyết định thế cân bằngnhiệt của trái đất Trong quá trình hình thành địa chất của trái đất, nước là yếu tốtạo thành bề mặt của trái đất Nước là một thành phần cơ bản của thiên nhiên, làchất tham gia thường xuyên vào các quá trình sinh hoá trong cơ thể sống, phầnlớn các phản ứng hoá học có liên quan đến sự trao đổi chất trong cơ thể sống đều
có dung môi là nước Nhờ có tính chất này mà nước đã trở thành tác nhân khôngthể thiếu được với sự sống, hình thành và duy trì sự sống
Nước bảo đảm cho sự phát triển KT - XH, cho sự phát triển bền vững.
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và được sử dụng vào nhiềumục đích khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển KT - XH TNNkhông chỉ có giá trị về cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn lànguồn năng lượng sạch, nguồn vật liệu của rất nhiều ngành công nghiệp, cơ sởthiên nhiên của các ngành thuỷ sản, giao thông, du lịch, giải trí, điều dưỡng, làyếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái, quyết địnhchất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người
Nước phục vụ cho sinh hoạt, sức khoẻ và vệ sinh Nước là thành phần
thiết yếu đối với sức khoẻ con người và sự thịnh vượng Nước là động lực cho
sự phát triển bền vững của nhân loại Việc cung cấp nước cho con người đóngvai trò hết sức quan trọng, bảo đảm duy trì và cải thiện sức khoẻ, giảm nguy
cơ mắc các loại bệnh tật Nguồn nước không bảo đảm vệ sinh chính là môitrường thuận lợi cho sự lan truyền các căn bệnh truyền nhiễm và phát triển
Trang 35các đại dịch Vì vậy, bảo đảm cung cấp nước sạch đầy đủ cho nhu cầu sinhhoạt của con người có vai trò hết sức quan trọng trong công tác chăm lo sứckhoẻ cộng đồng, bảo đảm cho sự phát triển xã hội bền vững
Nước có vai trò to lớn trong BVMT Một đặc điểm hết sức quý giá của
nước là khả năng tự làm sạch do nước luôn luôn luân chuyển, đồng thời, nhờ cácloại động thực vật trong nước làm phân huỷ các chất hữu cơ Ngoài ra, nước còn
có thể làm sạch cả môi trường khi nó đi qua Tuy nhiên, khi lượng chất thải gianhập quá lớn, vượt mức chịu tải của nguồn nước thì nước trở nên bị ô nhiễm,không còn khả năng tự làm sạch và không thể sử dụng cho các nhu cầu KT - XH
Có thể nói, nước đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống cũngnhư phát triển KT - XH Nếu thiếu nước, khí hậu sẽ thay đổi, cuộc sống củacon người cũng thay đổi theo hướng khó khăn hơn Việc quản lý, bảo vệ và sửdụng nước không hợp lý sẽ gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế và hủyhoại môi trường sống của con người
* Đặc điểm tài nguyên nước Việt Nam
Mặc dù lượng nước trên trái đất rất khổng lồ, bao phủ hơn 70% bề mặttrái đất là đại dương chứa nước mặn chiếm hơn 97% tổng lượng nước, nướcngọt chiếm khoảng 2,5% tổng lượng nước, song lượng nước ngọt cho phépcon người sử dụng được chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé, có 0,6% tổng lượngnước (gồm cả nước mặt và nước ngầm)
Việt Nam là một quốc gia thiếu nước Theo tiêu chí đánh giá của Hiệp hội Tài
nguyên nước Quốc tế (IWRA), quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu ngườidưới 4000m³/người/năm là quốc gia thiếu nước Xét theo tiêu chí đó, Việt Nam tínhtheo đầu người, với nguồn nước nội địa, lượng nước chỉ đạt 3600m³/người/năm,thuộc quốc gia thiếu nước Thiếu nước ngọt đã và đang xảy ra ở nhiều nơi, nhất làvùng núi cao phía Bắc và vùng đồng bằng ven biển Nguy cơ này sẽ trở nên trầmtrọng hơn theo thời gian khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng
Trang 36Sự phân bố TNN không đồng đều trên toàn lãnh thổ theo không gian và thời gian Theo không gian, sự phân bố TNN không đồng đều giữa các địa
phương, các vùng miền là do địa hình, khí hậu và cấu trúc địa tầng khác nhau tạonên: Ở miền núi cao, đón gió ẩm là nơi có lượng mưa lớn, còn ở những sườnnúi, thung lũng khuất gió là nơi có lượng mưa ít; sự phân bổ dòng chảy phụthuộc vào lượng mưa lớn thì dòng chảy lớn và ngược lại; trữ lượng nước ngầmdồi dào nhất ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam
Bộ, khá nhiều ở Tây Nguyên và ít hơn ở vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và duyênhải Nam Trung Bộ Theo thời gian, sự phân bố không đều lượng nước trong nămtheo hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, tạo nên sự khác nhau về lượngnước, về thời gian xuất hiện giữa các vùng trong cả nước, mùa khô kéo dài vàkhắc nghiệt làm cho nhiều địa phương rơi vào tình trạng hạn hán và thiếu nước
Tài nguyên nước ở Việt Nam ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững Xét về
số lượng, Việt Nam là quốc gia có nguồn nước mặt phụ thuộc chủ yếu vào cácdòng sông quốc tế (hơn 60% lượng nước mặt từ ngoài lãnh thổ chảy vào), khi cácquốc gia ở thượng nguồn khai thác nước sông ngày càng nhiều sẽ ảnh hưởng tớitính ổn định của nguồn nước mặt ở Việt Nam; bên cạnh đó, nguồn nước ngầmkhông phải là tài nguyên vô tận cũng đang bị khai thác, sử dụng không hợp lý, sốgiếng khoan gia tăng theo cấp số nhân trên phạm vi cả nước, thiếu sự kiểm soát.Xét về chất lượng, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ phát triển KT -
XH không đi đôi với thực hiện tốt bảo vệ TN, MT đã gây ra những ảnh hưởng tiêucực tới TNN ở Việt Nam Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng tăng cả
về mức độ và quy mô Nguồn nước ngầm ở nhiều đô thị, khu công nghiệp, làngnghề,… bị ô nhiễm do các chất hữu cơ khó phân hủy và hàm lượng vi khuẩn cao
Việt Nam có nhiều thiên tai gắn liền với nước Việt Nam có tổng diện
tích là 331.000km² thì có đến 75% diện tích là đồi núi và tập trung chủ yếu ởmiền Bắc, Tây Nguyên và khu vực miền Trung, còn lại là đồng bằng phù sa và
Trang 37châu thổ Địa hình miền núi tạo ra tiềm năng đáng kể về thuỷ điện và dự trữnước Tuy nhiên, đó cũng là nguyên nhân gây lũ, lũ quét, sạt lở, xói mòn đất.
Lũ, úng là hiện tượng xảy ra thường xuyên gây thiệt hại lớn cho nền kinh tếquốc dân, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
2.1.2 Thực trạng bảo vệ tài nguyên nước ở Việt Nam trước năm 2001
Trước năm 1975 ở Việt Nam, TNN được coi là vô tận, việc khai thác, sửdụng các nguồn nước chủ yếu tự phát theo nhu cầu sinh hoạt và sản xuất củangười dân, mà không quan tâm đến vấn đề ô nhiễm và suy kiệt nguồn nước
Giai đoạn 1975 - 1985, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, công cuộc xây dựng đất nước chủ yếu tập trung cho phát triển kinh tế vàkhắc phục hậu quả chiến tranh, vì thế chủ trương của Đảng và chính sách củaNhà nước tập trung cho phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Mặc
dù vậy, vấn đề TN, MT giai đoạn này cũng bắt đầu được đề cập đến, nhận thức
về TNN đã khác so với trước năm 1975, nước được xem là loại tài nguyên hữuhạn, có thể bị ô nhiễm và cạn kiệt nếu không được bảo vệ Theo đó, hoạt độngnghiên cứu khoa học phục vụ bảo vệ TN, MT được triển khai, các nhà khoa họccũng đã dành thời gian quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực TNN, cụ thể là nghiêncứu điều tra về TNN nhưng mới chỉ đi theo hướng kiểm kê về số lượng và bướcđầu có đánh giá về chất lượng các nguồn nước Ngoài lĩnh vực hoạt động nghiêncứu khoa học, BVTNN giai đoạn này chưa có những hoạt động cụ thể, cũng nhưchưa có sự vào cuộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân
Từ năm 1986, Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, nhằm địnhhướng lại nền kinh tế Việt Nam Cùng với đó, vấn đề bảo vệ TN, MT cũng đượcĐảng và Nhà nước quan tâm Nhận thức và chủ trương của Đảng về bảo vệ TN,
MT từng bước được hình thành, vấn đề BVTNN cũng được nhìn nhận chungtrong lĩnh vực TN, MT Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, KT - XH đã đạtđược những thành tựu đáng kể, đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng KT - XH
Trang 38Ngược với đó, lĩnh vực TN, MT lại có những vấn đề nảy sinh phức tạp đòi hỏicần có sự quan tâm đúng mức Đảng và Nhà nước đã nhận thấy tính cấp thiếtcủa việc BVMT, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhànước đối với lĩnh vực TN, MT Bởi vậy, tháng 6-1998, Bộ Chính trị ban hànhChỉ thị số 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiêncủa Đảng về bảo vệ TN, MT Nghị quyết đã chỉ rõ tình trạng TNN của quốcgia đang phải đối mặt với sự suy giảm cả về số lượng cũng như chất lượng:
“Nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng bị ô nhiễm và cạn kiệt, vùngbiển đã bắt đầu bị ô nhiễm” [84, tr.224] Để giải quyết những vấn đề đặt ra đốivới TNN của quốc gia, Đảng chủ trương: “Tăng cường các biện pháp quản lýtổng hợp nguồn nước theo lưu vực sông, khẩn trương nghiên cứu các phương ánđối phó với nguy cơ thiếu nước trong những năm tới” [84, 229]
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành chính sách,pháp luật về BVMT, BVTNN Tháng 6/1991, Chính phủ đã thông qua Kếhoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 - 2000 Ðây là vănbản có tính chiến lược đầu tiên đề cập đến tất cả các lĩnh vực môi trường và
sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Tiếp đó, các văn bản
pháp luật về BVMT, BVTNN đã được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường (1993); Luật Tài nguyên nước (1998) Đây là cơ sở pháp lý để tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách nhằm thực thi hiệu quả côngtác quản lý, BVTNN của quốc gia
Mặc dù, vấn đề BVTNN đã được đề cập đến trong Nghị quyết của Đảng,
Quốc hội đã ban hành Luật Tài nguyên nước (1998), nhưng trên thực tế các
công việc, các hoạt động để phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảođảm an toàn nguồn nước còn mờ nhạt, chưa có sự vào cuộc của cả hệ thốngchính trị và toàn xã hội cùng những hoạt động cụ thể, tích cực để phòng, chống
Trang 39cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước Chưa có hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
về TNN từ trung ương đến cơ sở (xã, phường), việc quản lý về TNN còn chồngchéo giữa các Bộ, ngành nên chưa có những giải pháp mang tính đồng bộ vànhững hoạt động cụ thể nhằm ngăn chặn những tác động xấu đến TNN cũngnhư khắc phục triệt để sự cố môi trường nước; thiếu chế tài để quản lý khaithác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm TNN cũng như bảo vệ khả năng phát triểnTNN Đó cũng là những hạn chế của việc BVTNN trước năm 2001
Bên cạnh đó, chính sự phát triển KT - XH của đất nước trong giai đoạnnày đã và đang tiếp tục đặt ra cho lĩnh vực TNN nhiều vấn đề cần giải quyết,trong đó nghiêm trọng nhất là vấn đề thiếu nước và ô nhiễm môi trường nước.Quá trình tích nước cho các hồ chứa ở thượng lưu để sử dụng phát điện làmcho TNN trên các lưu vực sông suy giảm nghiêm trọng về số lượng Việc pháttriển mạnh mẽ đô thị và các khu công nghiệp nhưng không có biện pháp quản
lý chặt chẽ và xử lý triệt để các chất thải, nước thải theo tiêu chuẩn cũng làm
ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng tăng cả về mức độ và quy mô Nạn khaithác, đốt rừng bừa bãi gây sói mòn, làm cho nguồn nước dần cạn kiệt
Xét từ một phương diện khác, các nước công nghiệp phát triển có xu hướng
chuyển công nghệ lạc hậu, ô nhiễm vào các nước kém phát triển và đang pháttriển và chuyển các lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm môi trường, tiêu tốn nguồnnước như sản xuất bột ngọt, sản xuất mía đường, sản xuất xi măng Việt Namkhông phải là quốc gia ngoại lệ Cùng với đó là lợi ích quốc gia, cục bộ, trên cácdòng sông lớn, các quốc gia ở thượng nguồn đã đắp đập trữ nước, làm thủy điện,khai thác cát gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển KT - XH, an ninh, quốcphòng của các quốc gia thuộc hạ lưu Điển hình như, Trung Quốc đã khai thác cátphục vụ công nghiệp, xây hàng loạt hồ trữ nước, xây dựng nhiều nhà máy thủyđiện trên dòng sông Mê Kông gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh nguồnnước ở hạ lưu
Trang 40Thực trạng trên đặt ra những thách thức to lớn về nguy cơ cạn kiệt, ônhiễm nguồn nước dẫn đến khan hiếm nước ở Việt Nam Tài nguyên nướckhông phải là vô tận Bảo vệ và sử dụng hợp lý TNN sẽ góp phần thực hiệncác mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, xã hội và BVMT cho sự PTBV.Bởi vậy, Việt Nam cần có nhận thức đúng và toàn diện các vấn đề có liênquan đến TNN, từ đó có những chủ trương, chính sách, quyết định đúng đắn,kịp thời và khôn khéo nhằm bảo vệ và PTBV nguồn TNN của quốc gia
2.2 Chủ trương của Đảng về bảo vệ tài nguyên nước
Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển nhảy vọt của khoa học - côngnghệ, cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế có tácđộng sâu sắc đến sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, tạo nên những
cơ hội lớn cho các nước đang phát triển, vươn lên để cải thiện vị thế củamình, trong đó có Việt Nam Song, những vấn đề về BĐKH, ô nhiễm môitrường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên sẽ tiếp tục là những thách thức nghiêmtrọng nhất mà nhân loại phải đối mặt Cùng với các nước trên thế giới, ViệtNam là một trong những quốc gia chịu tác động lớn của BĐKH, cũng đangphải đối mặt với rất nhiều vấn đề về TN, MT
Thực tiễn quá trình phát triển KT - XH của đất nước, đặc biệt trong quátrình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩachiến lược của việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái,đặc biệt là BVTNN Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước có nhận thức đúng vềvấn đề TN, MT, sự cần thiết phải bảo vệ TN, MT và dần đưa vấn đề bảo vệ TN,
MT về đúng vị trí quan trọng trong mối quan hệ với phát triển KT - XH để pháttriển đất nước theo hướng bền vững Điều này được thể hiện ngày càng rõ trongcác văn kiện, nghị quyết của Đảng; thể hiện trong các chiến lược, chính sách,pháp luật của Nhà nước Những chủ trương, định hướng, chiến lược của Đảng
và Nhà nước ngày càng rõ ràng hơn về bảo vệ TN, MT, cũng như bảo vệ nguồnTNN của quốc gia, nhằm phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảođảm an ninh an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển TNN