Để có thể giúp cho học sinh say mê, hứng thú với môn học, thì không chỉ dựa vào những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, mà còn cần sử dụng đến các nguồn tài liệu khác như truyện lịc
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài đã có công trình của các nhà nghiên cứu giáo dục đề cập ở các mức độ khác nhau, cụ thể là:
Về lý luận dạy học lịch sử có rất nhiều công trình đề cập tới, đó là các công trình tiêu biểu về phương pháp dạy học lịch sử nói chung và việc sử dụng tư liệu trong dạy học nói riêng như: Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên
(chủ biên) đã trình bày hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử, cơ sở của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước, chính điều này đã góp phần đánh giá cao phương pháp trực quan là một trong những biện pháp tích cực để đổi mới phương pháp dạy học
Cuốn “Thiết kế bài giảng ở trường Trung học phổ thông” do giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên) giúp giáo viên áp dụng tốt hơn việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử…
Cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” tập I: Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Thị Côi (chủ biên) đã cung cấp một tài liệu để nâng cao chất lượng bộ môn Trong đó trình bày về phương pháp sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, các tranh ảnh, đồ dùng trực quan cho việc dạy, học lịch sử nhằm kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh hay rèn luyện kĩ năng cho học sinh Đây cũng là một công trình phục vụ phần nào đó cho quá trình xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ cho dạy học lịch sử Việt nam ở trường THPT (1945 - 1954) Đai - ri N.G với tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nguồn tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử Ở phạm vi hẹp hơn, có một số công trình luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, hay tiểu luận nghiên cứu về vấn đề sử dụng tư liệu thành văn, đồ dùng trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) là bộ phận của hồ sơ tư liệu đã có các tác giả nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết, “Sử dụng tài liệu thành văn để dạy học lịch sử thế giới (1870 - 1917), ở trường Trung học chuyên ban (Ban KHXH & NV)
Khóa luận tốt nghiệp của Thái Thị Thúy, “Sử dụng tài liệu thành văn trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, ở trường Trung học phổ thông (Ban nâng cao)” Luận văn thạc sĩ của Lê Thu Hà, “Khai thác, sử dụng Microsolf PowerPoint trong dạy học lịch sử (1954 - 1975) ở trường Trung học phổ thông” Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thị Huyền Trang, “Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước đơn giản trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1954), ở trường Trung học phổ thông (SGK thí điểm), Ban KHXH & NV” Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Thị Lê Na,
“Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan quy ước bằng phương tiện kĩ thuật hiện đại để dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954, ở lớp 12 trường Trung học phổ thông (SGK thí điểm – Ban KHXH & NV)”
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu về lí luận và thực tiễn sử dụng các nguồn tư liệu dạy học lịch sử ở trường THPT, đó chỉ là một bộ phận của tư liệu trong dạy học lịch sử Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn) Song, với các kết quả nghiên cứu từ các công trình trên sẽ là cơ sở quan trọng để tôi kế thừa và làm rõ hơn nội dung đề tài của mình.
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chủ yếu của đề tài là nhằm khẳng định tầm quan trọng cũng như vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng nguồn tư liệu để phục vụ việc dạy học ở trường THPT mà cụ thể là phần lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 Đề tài còn làm rõ những mặt thuận lợi và hạn chế trong quá trình xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học để tìm ra biện pháp khắc phục góp phần nâng cao chất lượng bài học, hiệu quả học tập ở trường THPT
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, khóa luận hướng vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu để xác định được khái niệm hồ sơ tư liệu dạy học và phân loại
- Tìm hiểu nội dung lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở lớp 12 (chương trình chuẩn) để sưu tầm tài liệu cho phù hợp
- Tiến hành sưu tầm, chọn lựa các tài liệu phù hợp với nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở lớp 12 (chương trình chuẩn) để xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ cho dạy học
- Đưa ra những nhận xét, đánh giá về kết quả sau khi vận dụng hồ sơ tư liệu đó vào việc dạy học tại trường THPT
- Qua đó, đề xuất một số biện pháp sư phạm để sử dụng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử.
ối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở lớp 12 ở trường THPT (chương trình chuẩn).
Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Khóa luận tập trung đi sâu làm rõ việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954
- Về không gian: Đề tài được tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT trên địa bàn TP Đà Nẵng.
hương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Nghiên cứu lý thuyết thông qua việc đọc và nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học, giáo dục lịch sử, các công trình về đổi mới về phương pháp dạy học, các tài liệu tin học và các tài liệu tham khảo khác
+ Điều tra thực tế với nhiều hình thức khác nhau như: dự giờ, quan sát, gặp gỡ và trao đổi với giáo viên và học sinh về các vấn đề nghiên cứu… Từ đó, rút ra kết luận chính xác và khoa học về việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT hiện nay
+ Tiến hành điều tra thực nghiệm ở một số trường THPT, so sánh, đối chiếu để từ đó rút ra kết luận, khái quát
+ Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số phép thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm và kiểm định kết quả của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm trong quá trình điều tra.
óng góp của đề tài
Việc hoàn thành khóa luận sẽ có những đóng góp cụ thể sau:
- Việc xây dựng hồ sơ tư liệu trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 -
1954 sẽ là nguồn tư liệu cho giáo viên tham khảo khi dạy học phần này
- Đề ra một số nguyên tắc chung và các biện pháp sư phạm cần thiết để sử dụng hồ sơ tư liệu vào phục vụ dạy học
- Đồng thời đề tài này thành công sẽ cung cấp và bổ sung thêm vào nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tập của học sinh, sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này.
Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài gồm ba chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ giảng dạy Lịch sử ở trường THPT
Chương 2 : Hệ thống tư liệu được sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn)
Chương 3: Phương pháp sử dụng tư liệu trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở trường THPT (chương trình chuẩn)
Ơ Ở Ý UẬ V Ự Ễ Ủ V Ệ XÂY DỰ Ồ Ơ Ƣ ỆU Ụ VỤ Ả D Y Ử Ở ƢỜ
ơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm v hồ sơ tư liệu dạy học Lịch sử
Khoa học lịch sử khác các ngành khoa học khác ở chỗ nền tảng của các sự kiện khoa học của nó được xây dựng, kiến lập qua các tư liệu lịch sử nói chung và đối với các công trình nghiên cứu như một cơ thể sống thì sự kiện lịch sử là các tế bào cấu tạo nên, mà những tế bào đó là các tư liệu lịch sử Do đó, không có tư liệu lịch sử thì không có khoa học tư liệu lịch sử “Tư liệu lịch sử tồn tại cho khoa học lịch sử và ngược lại, khoa học lịch sử không thể thiếu nó” [17; tr.269] Bất cứ một vấn đề nào đó mà khoa học lịch sử đặt ra, có được giải quyết hay không phụ thuộc hoàn toàn vào một điều kiện tiên quyết là có tư liệu lịch sử của vấn đề ấy hay không
Khi đã có tư liệu thì việc giải quyết vấn đề lại phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của các nguồn tư liệu, vào trình độ chuyên môn, vào quan điểm và phương pháp nghiên cứu, khai thác tư liệu của nhà sử học Như vậy, có thế coi tư liệu lịch sử là khâu trung gian nối liền giữa nhà sử học với các công trình nghiên cứu lịch sử Vì vậy, khi nhấn mạnh vai trò đặc biệt của tư liệu lịch sử đối với khoa học lịch sử nói chung và các công trình nghiên cứu lịch sử nói riêng, ta cần nhớ rằng quan điểm và phương pháp nghiên cứu rất quan trọng Trên cùng một tập hợp tư liệu, nhưng nếu quan điểm hoặc phương pháp nghiên cứu khác nhau thì kết quả cũng không giống nhau
Vậy tư liệu lịch sử là gì? Việc xác định khái niệm tư liệu lịch sử là một trong những vấn đề đầu tiên và quan trọng bậc nhất Nó giúp chung ta không bị nhầm lẫn giữa tư liệu lịch sử với sách báo lịch sử, có thể dẫn tới sự sao chép lại những chân lý đã được phát hiện hoặc những sai lầm cũ, đồng thời lại giúp ta không bỏ sót nhiều nguồn sử liệu quan trọng có thể được sử dụng để nghiên cứu lịch sử Nhưng việc xác định khái niệm này rất khó khăn, phức tạp Nó phụ thuộc vào quan điểm của từng người, từng thời kỳ khác nhau, Vì thế đã có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về tư liệu lịch sử Đã có thời kì người ta coi “tư liệu lịch sử” chỉ là những tài liệu chữ viết, nhưng sau đó, một số khác lại quá mở rộng khái niệm, coi “tư liệu lịch sử là tất cả những gì còn lại của cuộc sống đã qua” Có người lại coi “tư liệu lịch sử” như một phạm trù triết học, biểu hiện đặc tính phản ánh của hiện vật và vì thế có thể được sử dụng để thu nhận tri thức về một hiện vật khác v.v…
Tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện tư liệu, vì thế nó cũng mang những đặc điểm riêng biệt giống như các sự kiện tư liệu Tư liệu lịch sử cũng là những sản phẩm của hoạt động của con người; nó xuất hiện như một hiện tượng xã hội, nhằm phục vụ cho một mục đích, một nhu cầu nào đó của xã hội đương thời và tồn tại như những di tích, dấu vết của hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã qua Từ đó, ta có thể hiểu tư liệu lịch sử là những di tích của quá khứ, xuất hiện như sản phẩm của quan hệ xã hội nhất định, mang trong mình nó những dấu vết của quan hệ ấy, phản ánh trực tiếp và trừu tượng hóa một mặt hoạt động nào đấy của con người
Qua đó, có thể hiểu rằng, hồ sơ tư liệu dạy học lịch sử là tập hợp toàn bộ các nguồn tư liệu lịch sử được phân theo bài, theo giai đoạn hay sự kiện nào đó nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy bộ môn Lịch sử tại các trường trung học Hồ sơ tư liệu này được giáo viên giảng dạy bộ môn trực tiếp lập ra nhằm phục vụ cho công việc dạy học của mình
Những nguồn tư liệu hết sức phong phú, đa dạng, song đã có một thời, một số nhà sử học lại chỉ thừa nhận nguồn sử liệu thành văn Ngày nay bất cứ một nhà nghiên cứu lịch sử cũng hiểu rằng không thể chỉ căn cứ vào một nguồn sử liệu này ngày càng được mở rộng “Tùy theo nội dung phản ánh và tính chất của dữ liệu, người ta thường chia tư liệu lịch sử thành 7 nhóm sau: 1/tư liệu thành văn; 2/tư liệu vật chất; 3/tư liệu truyền miệng dân gian; 4/tư liệu ngôn ngữ; 5/tư liệu dân tộc học; 6/tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và 7/ tư liệu băng ghi âm” [17; tr.271]
Theo nghĩa rộng, tư liệu thành văn được hiểu là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin Nguồn tư liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các nguồn sử liệu, với khối lượng lớn và hết sức đa dạng, nên đã có nhà nghiên cứu thử phân loại tư liệu thành văn thành những nhóm hoặc loại khác nhau: có loại mang tính chất văn học như sử biên niên, hồi ký…, có lại mang tính chất khế ước, chế định như các loại văn tự, luật pháp v.v… Song mọi sự phân loại chỉ có tính chất tương đối vì nguồn sử liệu này được viết ra không hoàn toàn theo những khuôn khổ nhất định cho mọi giai đoạn lịch sử Dù có được phân loại theo nhiều cách khác nhau thì nguồn sử liệu thành văn, nhìn một cách tổng thể, cũng có ưu điểm nổi bật là chúng phản ánh tương đối toàn diện và chi tiết các sự kiện, nhất là về đời sống chính trị, xã hội Mặt khác, nguồn sử liệu này cũng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các quy luật hình thành xác minh, phê phán Vì vậy, nguồn sử liệu này lại ngày càng đặc biệt quan trọng
Nguồn sử liệu vật chất cũng hết sức phong phú, đa dạng Có thể nói, ở đâu có con người sinh sống thì ở đó có dấu tích vật chất để lại Hơn thế nữa, nguồn sử liệu vật chất lại có những mặt ưu việt, hơn hẳn các nguồn sử liệu khác ở chỗ: là những nguồn sử liệu chủ yếu trong thời kỳ chưa có chữ viết và phản ảnh một cách khá trung thực và khách quan một mặt nào đấy của cuộc sống, khi đã có tài liệu thành văn thì nguồn sử liệu vật chất có thể bổ sung hoặc kiểm tra các tài liệu thành văn Tuy nhiên, nguồn sử liệu vật chất có nhược điểm lớn: đó là những tư liệu “câm”, bản thân nó không nói lên được nếu nhà nghiên cứu không có những phương pháp đã biết để “khai thác” chúng Trong học tập và nghiên cứu cần sử dụng nhiều nguồn sử liệu khác nhau nhằm bổ sung cho tư liệu chính xác hơn, đầy đủ hơn Có những giai đoạn lịch sử chưa có chữ viết thì phải sử dụng nguồn sử liệu truyền miệng dân gian, tư liệu vật chất cho có giá trị kiểm tra các tài liệu chữ viết xem đã chính xác đầy đủ chưa, đúng hay không đúng ở mức độ nào… Chính vì vậy, việc sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong nghiên cứu và học tập là rất quan trọng
Như vậy, là để phân loại tổng hợp toàn bộ các nguồn tư liệu của lịch sử Việt Nam chúng ta cần phải áp dụng nhiều đặc trưng khác nhau Tuy nhiên bất cứ một sự phân loại chung nào cũng không thể bao gồm hết được tính đặc thù của các nhóm sử liệu riêng biệt Vì vậy việc phân loại theo phạm vi từng nguồn tư liệu vẫn có vai trò riêng của nó Đặc biệt là khi các nhóm tư liệu riêng biệt có khối lượng lớn thì sự phân loại cụ thể, chi tiết trong mỗi nhóm là hết sức cần thiết
Dù là phân loại tổng quát hay chỉ trong phạm vi của một loại hình sử liệu thì chúng ta vẫ phải xuất phát từ những nguyên tắc phương pháp luận và những phương pháp chung Phải có quan điểm tính Đảng, quan điểm tổng hợp, toàn diện; phải nắm vững nguyên tắc lịch sử - lô gíc; phải nắm vững yêu cầu của phương pháp hệ thống khi phân lọai sử liệu Mỗi thời kỳ lịch sử đều có một loại sử liệu đặc trưng cho nó, chúng ta không nên tuyệt đối hóa một nguồn tư liệu nào và không thể đưa ra một khung phân loại cố định, cụ thể chung cho mọi nguồn tư liệu của lịch sử việt Nam Trong khi quan tâm đến xu hướng sử dụng sử liệu, chúng ta cũng cần đảm bảo cho các nguồn tư liệu sau khi phân loại có khản năng phản ánh được đầy đủ về sự phát triển chung của lịch sử dân tộc cũng như của bản thân trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử liệu mà các nhà sử học đã tích lũy được Như vậy việc phân loại các nguồn tư liệu không thể tách rời khỏi quy luật chung của sự phát triển khoa học lịch sử của dân tộc ta
Trong phạm vi của đề tài này, tôi tập trung vào sử dụng ba nguồn tư liệu chính:
Tư liệu thành văn, tư liệu từ nguồn internet và đồ dùng trực quan
Theo nghĩa rộng, tư liệu thành văn được hiểu là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã xảy ra được ghi lại bằng chữ viết qua các kênh thông tin khác nhau Nguồn tư liệu này chiếm khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm vị trí chủ yếu trong các nguồn sử liệu
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông có thể sử dụng các loại tài liệu thành văn sau đây:
- Tư liệu của Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh Đây là loại tư liệu lí luận có ý nghĩa làm cơ sở phương pháp luận cho việc lựa chọn các đơn vị tri thức lịch sử cần hình thành cho học sinh Vì vậy, không nên sử dụng đoạn trích quá dài, mà chỉ ngắn gọn, súc tích, nhưng đảm bảo trọn ý, đồng thời giáo viên phải giải thích đoạn trích khi cần thiết để giúp học sinh hiểu sâu sắc Mặt khác, không máy móc, áp đặt mà phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể, không nên sử dụng loại tư liệu này quá nhiều, vì nếu không khéo léo sẽ biến bài học lịch sử thành bài giảng lí luận khô khan
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta
Những văn kiện này vừa có tính lí luận vừa mang tính thực tiễn cao Bởi vì nó vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta
Vì vậy lựa chọn và sử dụng loại văn kiện này sẽ góp phần nâng cao tính thuyết phục của bài học
- Các công trình nghiên cứu đã xuất bản như giáo trình, hồi ký, sách chuyên khảo về các vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật, quan hệ quốc tế… Đây là loại tư liệu thành văn chủ yếu và nhiều nhất Nó chứa đựng một lượng thông tin phong phú và đa dạng về tất cả các mặt của đời sống xã hội Loại tư liệu này được trình bày hệ thống và đã được các tác giả lựa chọn công phu Nó không chỉ góp phần làm sáng tỏ thêm những kiến thức được trình bày trong sách giáo khoa mà còn có thể bổ sung những kiến thức cần thiết
Do tính phong phú và đa dạng của chúng nên cần chọn lọc thật kỹ, đặc biệt là đối với những tư liệu nước ngoài Ở đây, cần lưu ý không chỉ về tính chính xác của các thông tin được đưa ra trong tư liệu mà còn cả những quan điểm khoa học, quan điểm chính trị Những tư liệu được lựa chọn phải tương đối thống nhất trong giới nghiên cứu và phù hợp với trình độ học sinh
Vai trò của hồ sơ tư liệu trong việc dạy học lịch sử ở trường THPT
Nhiệm vụ hàng đầu của bộ môn Lịch sử là cung cấp dần dần cho học sinh từ tuổi nhi đồng đến tuổi thanh niên một vốn hiểu biết cơ bản, phổ thông vững chắc về sự phát triển của lịch sử loài người và lịch sử dân tộc, làm cơ sở để rút ra những kết luận khoa học về các quy luật phát triển của xã hội, những bài học kinh nghiệm lịch sử bổ ích giúp cho học sinh nhận thức được một cách rõ ràng về xã hội loài người từ lúc xuất hiện cho tới ngày nay Việc giáo dục này phải trải qua một thời gian, phải kết hợp chặt chẽ giữa nắm vững kiến thức lịch sử và hoạt động thực tiễn
Xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học không chỉ giúp người thầy có thể truyền tải đầy đủ kiến thức cho học sinh mà còn phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng nội dung, thiết kế bài giảng và hình thức thể hiện Có như vậy mới trang bị cho học sinh không những kiến thức mà còn là những lí tưởng cách mạng hay những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Từ đó tạo ra cho học sinh năng lực tư duy độc lập đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cao “Giảng dạy lịch sử không phải là chỉ truyền thụ cho học sinh những điều nằm trong hồ sơ lưu trữ của nhân loại, nằm cứng đờ trong các ngăn kéo đầy bụi bặm của lịch sử như một đóa hoa khô không hương nằm ép giữa các trang của một tập bách thảo úa vàng” [29; tr.123], mà cần phải dựng lại quá khứ thành một bức tranh sinh động để phục vụ người sống không chỉ hiện tại mà còn cả tương lai Có vậy học sinh mới có thể đi từ sự kiện, hiện tượng lịch sử để rút ra bản chất của vấn đề và những bài học kinh nghiệm thiết thực cho bản thân Đối với giáo viên (GV), việc xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học gồm nhiều thao tác, qua đó sẽ nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, mặt khác sẽ nhanh chóng nắm bắt mức độ tiếp thu bài của học sinh (HS), từ đó có sự điều chỉnh trong phương pháp dạy học Trong bài giảng sẽ có sử dụng thêm nhiều đoạn miêu tả, tường thuật hay những hình ảnh, âm thanh được truyền tải đến HS một cách nhanh chóng, chính xác, khoa học và sinh động
Với những GV có biên soạn hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học sẽ góp phần bồi dưỡng, làm sâu sắc, phong phú, toàn diện tri thức lịch sử cho HS Thông qua bài giảng của GV, những văn bản, hình ảnh lịch sử sinh động, sẽ cuốn hút HS vào bài, giúp các em lĩnh hội kiến thức nhiều hơn, dễ dàng và chủ động hơn
Thiết kế bài giảng dựa trên hồ sơ tư liệu mình đã xây dựng với những kiến thức, hình ảnh và tư liệu lịch sử sinh động sẽ có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của HS Nếu như HS chỉ được đọc từ sách giáo khoa (SGK) thì sẽ không gây xúc động cho các em bằng việc trực tiếp nghe GV tường thuật, miêu tả lại một cách tường tận hay trực tiếp xem những hình ảnh thật trên màn ảnh lớn và có sự thuyết minh của GV Bởi vì “Lời nói của giáo viên dù có sinh động giàu hình tượng và chi tiết đến đâu cũng không thể đem lại cho các em hình ảnh thật cụ thể, chính xác về hiện thực lịch sử” [26; tr.40] Từ đó sẽ bộc lộ mọi tâm tư, tình cảm, thái độ yêu ghét ở các em Đó là nét đặc trưng giáo dục của bộ môn
Với hồ sơ tư liệu lịch sử đa dạng, phong phú các nguồn tư liệu sẽ giúp GV chủ động cung cấp cho HS những thông tin lịch sử dưới nhiều hình thức làm cho bài học thêm sinh động, hấp dẫn và gây hứng thú học tập bộ môn cho HS Cũng thông qua việc quan sát kênh hình (nghe - nhìn), HS sẽ phát triển trí nhớ, trí tưởng tượng, trên cơ sở đó có khả năng phân tích so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử và rút ra nhận xét… Quan trọng hơn là với việc sử dụng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học, GV ngày càng giúp
HS thêm say mê, hứng thú trong học tập, khắc phục quan niệm rằng Lịch sử là môn học thuộc bài, khô khan và khó nhớ
Như vậy, việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 - 1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn) là một phần tất yếu trong việc nâng cao trình độ nhận thức lịch sử cho học sinh, góp phần khôi phục lại hình ảnh quá khứ một cách chân thật Từ đó, phân tích, khái quát, giải thích các hiện tượng lịch sử, nêu quy luật rút ra bài học lịch sử góp phần bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, hoàn thiện nhân cách và phát triển tư duy Trên cơ sở đó phát huy được khả năng vận dụng kiến thức lịch sử vào cuộc sống của các em sau này, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn và mục tiêu đào tạo của giáo dục Việt Nam.
ơ sở thực tiễn
Sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử có ý nghĩa lớn, nhưng thực tế, việc thực hiện như thế nào? Kết quả ra sao? còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của nhà trường, trình độ, lòng say mê nghề nghiệp của giáo viên, thái độ và phương pháp học tập của học sinh Để nắm được tình hình, có được nhận xét, đánh giá khách quan về nhận thức của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng hồ sơ tư liệu vào việc giảng dạy lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông, tôi đã tiến hành điều tra giáo viên dạy lịch sử và học sinh lớp 12 của hai trường Trung học phổ thông Thái Phiên và Thanh Khê thuộc địa bàn thành phố (TP.) Đà Nẵng
1.3.1 Mục đích, đối tượng đi u tra
- Mục đích: Điều tra thực tế để nắm rõ tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn), để từ đó lựa chọn tài liệu, đề xuất phương pháp sử dụng hợp lý
- Đối tượng điều tra: Giáo viên lịch sử và học sinh lớp 12, trường THPT Thái
Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với giáo viên và học sinh, sau đó phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến (Phụ lục 3-4)
- Đối với giáo viên: Tôi đưa ra một số câu hỏi trắc nghiệm khách quan để khảo sát tìm hiểu xem trong quá trình giảng dạy giáo viên đã chú ý đến việc sử dụng hồ sơ tư liệu hay chưa Nguyên nhân phải sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học? Tác dụng của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học? Hiệu quả của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng
- Đối với học sinh: Tôi đưa ra một số câu hỏi để học sinh phản ánh tình hình học tập môn lịch sử, tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
Qua thực tế điều tra cũng như trao đổi với 10 giáo viên về việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử là một điều mà lâu nay các giáo viên mong muốn hướng tới Hầu hết giáo viên nhận thức được mức độ cần thiết phải sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng Đa số giáo viên cũng nhận thức được rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc sử dụng hồ sơ tư liệu
Về tình hình sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945
- 1954 hiện nay ở trường Trung học phổ thông, có 2 giáo viên (20%) trả lời thường xuyên sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ giảng dạy lịch sử của mình Có 6 giáo viên (60%) thì thỉnh thoảng mới sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy Và có 2 giáo viên (20%) thì không hề sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy
Về nguyên nhân khiến giáo viên chưa quan tâm đến việc phải xây dựng hồ sơ tư liệu phục vụ dạy học lịch sử thì có 7 giáo viên (70%) tự nhận xét là do giáo viên chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học Có 2 giáo viên (20%) cho rằng phương tiện, thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn, lạc hậu nên không đáp ứng việc xây dựng hồ sơ tư liệu của giáo viên Và một giáo viên (10%) thì chưa quen với phương pháp dạy học tích cực nên chưa quan tâm đến việc xây dựng hồ sơ tư liệu
Tuy nhiên 100% giáo viên đều đồng ý rằng lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 -
1954 cần phải xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ dạy học ở trường THPT là cần thiết
Về phương pháp sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử dân tộc, có 2 giáo viên (20%) sử dụng tư liệu bằng phương pháp thuyết trình kết hợp nêu vấn đề để tái tạo kiến thức lịch sử, giải thích một sự kiện lịch sử Có 5 giáo viên (50%) sử dụng hồ sơ tư liệu bằng cách sử dụng câu hỏi, bài tập nhận thức để rút ra nguyên nhân, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm và 2 giáo viên (20%) sử dụng đồ dùng trực quan, một giáo viên (10%) sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để nâng cao năng lực tư duy, sự hứng thú trong học tập lịch sử cho học sinh
Việc sử dụng hồ sơ tư liệu nhằm góp phần nâng cao chất lượng bài học, hiệu quả học tập ở trường THPT được 7 giáo viên (70%) đồng ý Ngoài ra, một giáo viên (10%) cho rằng kiến thức lịch sử phong phú, đa dạng nên cần phải thống kê, biên tập lại theo từng nội dung, từng giai đoạn để phù hợp với bài học, và cần có hồ sơ tư liệu để phục vụ việc dạy học từng bài Và có 2 giáo viên (20%) cho rằng xây dựng hồ sơ tư liệu để giáo viên có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng bộ môn
Như vậy, các giáo viên ở trường Trung học phổ thông đều nhận thấy được tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong giờ dạy học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 nói riêng Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp, từng giáo viên mà việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử chưa được tiến hành một cách rộng rãi, với những phương pháp phù hợp để đưa lại hiệu quả cao
Qua điều tra 240 học sinh lớp 12, cho thấy:
Khi hỏi học sinh có hứng thú học môn lịch sử không, có 26 học sinh (8,9%) trả lời là không, có 110 học sinh (45,8%) trả lời là bình thường, số học sinh này cho rằng kiến thức Lịch sử trừu tượng, khô khan, quá nhiều sự kiện, giáo viên giảng bài không hấp dẫn, sinh động; trang thiết bị dạy học môn lịch sử không đầy đủ; việc ghi nhớ các sự kiện lịch sử còn khó khăn nên học không có hiệu quả, trong số này cho rằng học lịch sử chỉ để được tốt nghiệp, thi đại học Có 110 học sinh (45,8%) trả lời là có hứng thú học lịch sử và 32 học sinh (13,3%) trả lời là rất hứng thú, đặc biệt là lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 Số học sinh này cho rằng học lịch sử rất quan trọng, nó giúp cho em hiểu hơn về lịch sử dân tộc và thế giới, đặc biệt là các em rất thích học lịch sử dân tộc Học lịch sử dân tộc giúp các em biết được những trang sử hào hùng của dân tộc, biết đến công lao của cha ông, qua đó thấy được truyền thống yêu nước và ý thức dân tộc Học lịch sử sẽ giúp các em yêu dân tộc Việt Nam hơn như Bác Hồ đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Khi hỏi học sinh là trong dạy học thì giáo viên có sử dụng hồ sơ tư liệu không, hơn 90% học sinh trả lời có, nhưng thỉnh thoảng và tùy thuộc vào nội dung bài học lịch sử Các em cũng cho rằng, việc giáo viên sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học làm cho các em cảm thấy có hứng thú học tập hơn, nhớ sâu hơn các sự kiện, nâng cao hiệu quả bài học hơn
Khi hỏi, việc sử dụng hồ sơ tư liệu có làm tăng sự hứng thú của các em đối với môn lịch sử không thì 100% đều trả lời có Và mức độ nắm bài của các em khi được học bằng các bài giảng có kết hợp sử dụng tư liệu là 100%, trong đó 71,4% là nắm rất chắc và 26,6% thì nắm tương đôi
Như vậy, qua công tác điều tra và xử lí số liệu, chúng tôi đã rút ra một số kết luận khái quát sau:
- Một là, việc sử dụng hồ sơ tư liệu trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường Trung học phổ thông đã có nhiều giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng của nó, song thực hiện yêu cầu này trong thực tiễn dạy học hiệu quả vẫn chưa cao, từ đó chưa phát huy được tính tích cực học tập của học sinh Khi điều tra, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân cơ bản thuộc về cả người dạy lẫn người học Về phía người dạy chưa thực sự đổi mới về phương pháp dạy học, nhất là chưa sử dụng hồ sơ tư liệu có hiệu quả Về phía người học chưa thật sự hứng thú học tập lịch sử, đặc biệt chưa biết cách chủ động tiếp nhận kiến thức lịch sử
- Hai là, để khắc phục được tình trạng đó cần phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Trong quá trình đổi mới đó việc sử dụng hồ sơ tư liệu có một ý nghĩa quan trọng vì nó góp phần thay đổi về chất của quá trình dạy học lịch sử
ội dung chương trình chính lịch sử Việt am giai đoạn 1945 - 1954
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Đây là thời kì lịch sử mà nhân dân ta phải đương đầu với những thách thức cực kì nghiêm trọng Sau Cách mạng tháng Tám, nào là thù trong, giặc ngoài hùa với nhau để phá hoại chính quyền cách mạng còn non trẻ, giặc đói, giặc dốt khiến nước ta ngày càng khó khăn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta lần lượt vượt qua những khó khăn, thử thách
Về kinh tế - tài chính, trong kháng chiến, nhân dân ta vừa ra sức phá hoại kinh tế địch, đánh bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng, vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế của ta, làm cho nền kinh tế của ta có khả năng tự cấp, tự túc
Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách về kinh tế - tài chính nhằm phát triển sản xuất, huy động sự đóng góp của nhân dân cho kháng chiến, phục vụ đời sống Đồng thời, Chính phủ còn lo bồi dưỡng sức dân như: phát triển kinh tế nông nghiệp, giảm tô, giảm tức đi đến cải cách ruộng đất, phát triển công nghiệp vừa phục vụ dân sinh, vừa phục vụ quốc phòng
Về văn hóa - giáo dục, y tế: Tiếp tục mở rộng phong trào “Bình dân học vụ”, xóa mù chữ, mở rộng phong trào “Bổ túc văn hóa”, nâng cao trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân Mở trường phổ thông các cấp ở vùng tự do, các căn cứ kháng chiến cho con em lao động Tiến hành cải cách giáo dục (1950) để đào tạo các thế hệ đi theo đường lối giáo dục của Đảng Đẩy mạnh công tác phòng bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Về chính trị, Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chủ trương mềm dẻo về sách lược nhưng giữ vững nguyên tắc chiến lược để chống thù trong giặc ngoài đưa đất nước ta vượt qua tình thế khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”
Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (19/12/1946), quân dân ta chủ động tiến công Pháp ở thủ đô Hà Nội và các đô thị khác ở phía Bắc (từ Đà Nẵng trở ra) nhằm tiêu hao sinh lực địch, giam chân địch, phá tan âm mưu “đánh úp” của chúng, chuyển đất nước sang thời chiến, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài, toàn dân, toàn diện
Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của ta giành thắng lợi Trong những năm 1948 - 1949, ta phân tán phần lớn bộ đội chủ lực chính quy thành những “đại đội độc lập” đi sâu vào vùng địch tạm chiếm, giúp địa phương xây dựng cơ sở kháng chiến, tổ chức lực lượng vũ trang với ba thứ quân, phát động chiến tranh du kích, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta
Từ đầu năm 1950, Chính phủ ta lần lượt được Chính phủ các nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta kháng chiến, tiếp sau Trung Quốc (18/1/1950), Liên Xô (31/1/1950) là các nước dân chủ nhân dân khác
Chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của quân dân ta giành được thắng lợi
Sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950, quân ta mở liên tiếp những đợt tiến công vào quân địch ở chiến trường rừng núi, cả các chiến trường trung du và đồng bằng nhằm phá tan âm mưu đẩy mạnh chiến tranh của thực dân Pháp, sự can thiệp của
Mĩ, giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ
Tháng 2 - 1951, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai đã hoàn thiện đường lối kháng chiến và đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
Tháng 3 - 1951, Mặt trận Liên Việt ra đời trên cơ sở sát nhập hai tổ chức Mặt trận Việt Minh và Hội quốc dân Việt Nam đã làm cho khối đoàn kết dân tộc được tăng cường
Nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp ngày 13/3/1951, thành lập liên minh Việt - Miên - Lào Chúng ta còn tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp
Thắng lợi lớn nhất là chiến cuộc Đông - Xuân năm 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (từ 13/3/1954 đến 7/5/1954) đã giành được thắng lợi hoàn toàn Chiến thắng quyết định này đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có đế quốc Mĩ giúp sức
Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với sự ủng hộ của nhân dân thế giới đã buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương
Từ những nội dung chính về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1945 - 1954 nêu trên giúp tôi có thể tiến hành xây dựng hồ sơ tư liệu để phục vụ công tác dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
2.2 guyên tắc khi lựa chọn tƣ liệu phục vụ dạy học ịch sử Việt am giai đoạn
Như vậy, một cơ sở tư liệu đầy đủ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các tư liệu mà phải là một tập hợp tư liệu, có thể cho ta: