Thống kê các bài học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN có thể vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong hoạt động cơ bản .... Trần Thanh Sơn, Đoàn Hữu Nhật An biên d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3
THEO CHƯƠNG TRÌNH VNEN
Thuộc nhóm ngành: Giáo dục (GD)
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Phan Lâm Quyên
Đà Nẵng, năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Ở nước ngoài 2
2.2 Ở Việt Nam 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
5.1 Đối tượng nghiên cứu 4
5.2 Khách thể nghiên cứu 4
5.3 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 4
7.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 5
7.3 Phương pháp quan sát sư phạm 5
7.4 Phương pháp thống kê, tính toán 5
7.5 Phương pháp điều tra Anket 5
7.6 Phương pháp thực nghiệm 5
8 Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài 7
1.1.1 Mô hình trường học mới VNEN 7
1.1.1.1 Giới thiệu về mô hình trường học mới VNEN 7
1.1.1.2 Đặc điểm của mô hình trường học mới VNEN 8
1.1.1.3 Cách tổ chức lớp học của mô hình trường học mới VNEN 10
1.1.1.4 Cấu trúc bài học 11
1.1.2 Phương pháp “Bàn tay nặn bột” 12
1.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học 12
1.1.2.2 Khái niệm phương pháp “Bàn tay nặn bột” 13
1.1.2.3 Đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột” 14
1.1.2.4 Nguyên tắc cơ bản của phương pháp “Bàn tay nặn bột” 15
1.1.2.5 Vai trò của phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn học Tự nhiên và xã hội ở tiểu học 17
1.1.3 Khả năng vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội theo chương trình VNEN 19
1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 21
1.1.4.1 Về nhận thức 21
1.1.4.2 Về nhân cách 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Tổng quan môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 25
1.2.1.1 Mục tiêu môn học 25
1.2.1.2 Nội dung chương trình 26
1.2.2 Thực trạng vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 27
1.2.2.1 Mục đích điều tra 27
1.2.2.2 Đối tượng điều tra 27
1.2.2.3 Nội dung điều tra 27
1.2.2.4 Phương pháp điều tra 28
1.2.2.5 Kết quả điều tra thực trạng 28
Trang 31.2.2.6 Đánh giá chung kết quả điều tra thực trạng 35
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN Ở MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH VNEN 37
2.1 Hệ thống các bài học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN có thể vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” 37
2.1.1 Cơ sở lựa chọn 37
2.1.1.1 Dựa vào mục tiêu của bài học 37
2.1.1.2 Dựa vào nội dung bài học 37
2.1.1.3 Dựa vào điều kiện cơ sở vật chất và khả năng chuẩn bị của giáo viên 38
2.1.2 Thống kê các bài học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN có thể vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong hoạt động cơ bản 38
2.2 Quy trình vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong trong hoạt động cơ bản ở môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 39
2.2.1 Sơ đồ quy trình tổng quát 39
2.2.2 Quy trình cụ thể 41
2.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị 41
2.2.2.2 Giai đoạn tổ chức HS học tập theo PPBTNB 42
2.2.2.3 Giai đoạn nhận xét, đánh giá 45
2.2.2.4 Giai đoạn rút kinh nghiệm 46
2.2.3 Một số lưu ý khi vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 46
2.2.3.1 Lưu ý với giáo viên 46
2.2.3.2 Lưu ý với học sinh 49
2.2.3.3 Lưu ý về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 49
2.3 Thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 50
2.3.1 Yêu cầu khi thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học 50
2.3.1.1 Đảm bảo tuân thủ mục tiêu, nội dung bài học của Tài liệu Hướng dẫn học Tự nhiên và xã hội lớp 3 50
2.3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 50
2.3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 51
2.3.2 Các bước thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN 51
2.3.2.1 Bước chuẩn bị 51
2.3.2.2 Bước thiết kế 52
2.3.2.3 Bước kiểm tra và hoàn thiện 54
2.3.3 Các Điều chỉnh Hướng dẫn học cụ thể 55
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
3.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.2 Nội dung thực nghiệm 61
3.3 Tổ chức thực nghiệm 61
3.3.1 Xác định thời gian thực nghiệm 61
3.3.2 Chọn cơ sở và đối tượng thực nghiệm 61
3.3.3 Chọn bài thực nghiệm và thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học và Bài kiểm tra.61 3.3.4 Hỏi ý kiến chuyên gia 62
3.3.5 Tiến hành thực nghiệm 62
3.3.6 Tiêu chí kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 62
3.3.6.1 Kết quả nhận thức của học sinh 62
3.3.6.2 Mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học 63
3.3.6.3 Hứng thú của học sinh trong giờ học 63
3.3.6.4 Một số năng lực học môn Tự nhiên và xã hội của HS 63
Trang 43.4 Kết quả thực nghiệm 65
3.4.1 Kết quả nhận thức của học sinh 65
3.4.2 Mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học 67
3.4.3 Hứng thú của học sinh trong giờ học 68
3.4.4 Một số năng lực học môn Tự nhiên và xã hội của HS 70
3.4.4.1 Năng lực quan sát 71
3.4.4.2 Năng lực diễn đạt 72
3.4.4.3 Năng lực đánh giá 73
3.4.5 Nhận định của giáo viên về tính khả thi của Điều chỉnh Hướng dẫn học Tự nhiên và xã hội lớp 3 vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” 73
3.4.6 Đánh giá chung kết quả thực nghiệm 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Các đề xuất 81
2.1 Đối với GV 81
2.2 Đối với công tác quản lí chỉ đạo chuyên môn 81
2.3 Đối với các trường sư phạm 81
3 Kiến nghị 81
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1: Các PPDH GV thường sử dụng khi dạy học môn TN&XH lớp 3
2 Bảng 1.2: Mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3
5 Bảng 1.5: Sự hiểu biết về việc thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học TN&XH 35
6 Bảng 2.1: Bảng thống kê các bài học môn TN&XH lớp 3 theo chương
11 Bảng 3.5: Kết quả về nguyên nhân không tạo được hứng thú học tập với
13 Bảng 3.7: So sánh việc tổ chức cho HS học tập theo PPBTNB so với học
14 Bảng 3.8: Khả năng ghi nhớ kiến thức và sự phát triển về NL của HS của
16 Bảng 3.10: Khả năng tăng sự hứng thú trong học tập môn TN&XH lớp 3
17 Bảng 3.11: Tính khả thi của vận dụng PPBTNB trong hoạt động cơ bản ở
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Hình 1.1: Sơ đồ hội đồng tự quản do HS tự tổ chức và thực hiện 11
2 Hình 1.2: Logo cho bài soạn hoạt động giáo dục VNEN 13
3 Biểu đồ 1.1: Các PPDH GV thường sử dụng khi dạy học môn
4 Biểu đồ 1.2: Mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn
5 Biểu đồ 1.3: Cách thức GV tổ chức hoạt động học tập cho HS 32
6 Biểu đồ 1.4: Kết quả sự hiểu biết của GV về PPBTNB 33
7 Biểu đồ 1.5: Sự hiểu biết về việc thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học
8 Biểu đồ 3.1: Kết quả nhận thức của HS ở lớp TN 67
9 Biểu đồ 3.2: Kết quả nhận thức của HS ở lớp ĐC 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển nên tất yếu sẽ đòi hỏi người lao động phải trau dồi kiến thức và năng lực để phù hợp với yêu cầu của xã hội Chính điều này đã tạo động lực đòi hỏi sự thay đổi của nền giáo dục Việt Nam, mà quan trọng nhất là đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Giáo dục ở bậc tiểu học cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Mô hình trường học mới VNEN nằm trong dự án đổi mới nền giáo dục Việt Nam, là bước đầu trong việc thay đổi hệ thống giáo dục Việt Nam Chương trình VNEN chủ yếu tác động vào việc thay đổi cách thức tổ chức lớp học, thay đổi quá trình giáo dục hiện đại nhằm hình thành, hoàn thiện và phát triển kiến thức, kĩ năng và kích thích sự hứng thú học tập của HS
Trong chương trình học tập ở bậc tiểu học theo chương trình VNEN, bên cạnh môn Toán và môn Tiếng Việt thì môn TN&XH đóng một vai trò vô cùng quan trọng Môn TN&XH lớp 3 là môn học làm cơ sở nền tảng, giúp HS có những kiến thức, NL học tập cần thiết để học tập môn Khoa học ở lớp 4, 5 và các môn Khoa học tự nhiên ở cấp Trung học cơ sở Môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN là sự tiếp nối các kiến thức về TN&XH ở các lớp dưới, tiếp tục hình thành cho HS hệ thống kiến thức cơ bản về chủ đề Con người và sức khỏe; về các chủ đề Tự nhiên và các chủ đề Xã hội Những vấn đề này tuy gần gũi nhưng nội dung lại mang tính trừu tượng, đòi hỏi người
GV khi dạy phải sử dụng PPDH hợp lí để có thể cung cấp tri thức và tạo dựng niềm tin khoa học ở HS
Một trong những PPDH hay và có thể đáp ứng được mục tiêu của môn TN&XH cũng như thích hợp với chương trình VNEN đó là PPBTNB Đây là một trong những PPDH tích cực, đáp ứng được mục tiêu đổi mới trong dạy học hiện nay Phương pháp này thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức TN&XH ở bậc tiểu học, khi HS đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, tự nhiên,
xã hội Trong những năm gần đây, phương pháp này đã được tìm hiểu và đưa vào áp dụng trong dạy học môn Tự nhiên xã hội cũng như môn Khoa học ở mô hình trường học truyền thống Tuy nhiên, đến nay, việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn
Trang 9TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN vẫn chưa được chú trọng
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN”
2 Lịch sử nghiên cứu
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Giải Nobel Vật lí năm 1992) Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, PPBTNB đã có nhiều nghiên cứu, cụ thể:
2.1 Ở nước ngoài
- Tháng 01/2000, cuốn sách Bàn tay nặn bột - Khoa học trong trường tiểu học
của giáo sư Georger Charpak (Đinh Ngọc Lân dịch) đã được xuất bản Đây là cuốn sách đầu tiên về PPBTNB tại Việt Nam Cuốn sách trình bày phương pháp tổ chức; các bước tiến hành, các lưu ý trong quá trình dạy PPBTNB trong môn Khoa học nói chung mà chưa đi sâu vào vận dụng PPBTNB trong dạy học ở Việt Nam [2]
- Tác giả GS Elisabeth Plé, GV Isabelle Vasseur, TS Trần Thanh Sơn, Đoàn
Hữu Nhật An (biên dịch), trong “Tài liệu tập huấn: Thí điểm các mô-đun dạy học
Khoa học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” vận dụng trong mô hình trường học mới”, đã đề cập đến vấn đề thiết kế các mô-đun dạy học môn Khoa học theo PPBTNB
trong chương trình VNEN[10] Tuy nhiên, tài liệu chỉ trình bày vấn đề thuộc phạm trù
lí luận và đưa ra những ví dụ về mô-đun dạy học Khoa học vận dụng PPBTNB ở Pháp,
mà chưa đi sâu vào tìm hiểu bộ môn TN&XH ở trường tiểu học Việt Nam nói chung
và môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN nói riêng
2.2 Ở Việt Nam
- Trong cuốn sách “Dạy học ở tiểu học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”,
PGS.TS Nguyễn Thị Thấn và ThS Nguyễn Thị Thanh Hương đã đưa ra nhiều vấn đề
lí thuyết cũng như thực tiễn về PPBTNB, cụ thể như: Lí luận cơ bản về PPBTNB (lịch
sử ra đời, khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của PPBTNB ); Vai trò của PPBTNB trong dạy học các môn học về TN&XH ở tiểu học; Ngoài ra, tác giả đã đưa ra một số giáo án minh họa tiến trình dạy học theo PPBTNB [12]
- Trong Kỉ yếu Hội nghị sinh viên Nghiên cứu khoa học các trường Đại học sư
phạm toàn quốc lần thứ VII năm 2014 - tập 1, TS Phạm Quang Tiệp và sinh viên Đàm
Trang 10Thị Quỳnh Mai đã đề cập đến vấn đề vận dụng PPBTNB trong dạy học môn Khoa học theo mô hình trường học mới VNEN trong bài báo “Vận dụng PPBTNB trong dạy học môn Khoa học theo mô hình trường học mới VNEN” [15]
- Trong tài liệu “Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn Khoa
học ở Tiểu học và Trung học cơ sở”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển cùng các đồng nghiệp
của mình đã giới thiệu cụ thể sự ra đời và phát triển của phương pháp BTNB ở trên thế giới và ở Việt Nam; tác giả cũng đề cập đến những lí luận cơ bản về PPBTNB và các
kĩ thuật dạy học và rèn luyện kĩ năng cho HS trong PPBTNB [5]
- Tác giả Đỗ Thị Nga đã nghiên cứu một số đề tài như: “Bàn tay nặn bột – một
phương pháp dạy học mang tính tích hợp cao”; “Thiết kế tài liệu hướng dẫn dạy học
Tự nhiên - xã hội ở tiểu học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột”… Trong đó, tác giả
đưa ra cơ sở lí luận của PPBTNB, những ưu điểm của phương pháp và trình bày quy trình để thiết kế tài liệu dạy học TN&XH ở tiểu học bằng PPBTNB [6],[7]
- Trong tài liệu “Tập huấn cho sinh viên ngành GDTH về vận dụng phương
pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn TN&XH”, tác giả Trần Mỹ Phụng,
Trần Thị Mỹ Trang đã trình bày rõ ràng về các vấn đề lí luận của PPBTNB như: khái niệm, yêu cầu, lịch sử ra đời… của PPBTNB [9]
Tuy nhiên, nhìn chung, các tài liệu trên vẫn chưa nghiên cứu về việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Như vậy, từ các tài liệu đã nghiên cứu, tác giả nhận thấy những tài liệu trên đã tập trung trình bày các vấn đề vận dụng PPBTNB trong dạy học TN&XH Tuy nhiên, đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc vận dụng PPBTNB vào dạy học TN&XH theo chương trình VNEN Chính vì thế, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn vận dụng PPBTNB và nội dung các bài học
ở môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN Trên cơ sở đó, thiết kế một số Điều chỉnh Hướng dẫn học môn TN&XH lớp 3 vận dụng PPBTNB vào Hoạt động cơ bản của bài học
Trang 114 Giả thuyết khoa học
Nếu GV có sự hiểu biết về PPBTNB và có khả năng vận dụng PPBTNB để dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN một cách phù hợp thì sẽ hình thành
và phát triển kiến thức, kĩ năng cho HS cũng như tạo dựng niềm tin khoa học, kích thích sự hứng thú học tập ở các em, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn TN&XH lớp 3
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
5.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2015 đến tháng 4/2016
- Không gian nghiên cứu:
o GV của 3 trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng (Trường Tiểu học Hòa Phú - huyện Hòa Vang; trường Tiểu học Trần Văn Dư - quận Cẩm Lệ; trường Tiểu học Số 1 Hòa Nhơn - huyện Hòa Vang)
o HS của trường Tiểu học Số 1 Hòa Nhơn - huyện Hòa Vang
- Nội dung nghiên cứu: môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về chương trình VNEN, môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN; đặc điểm tâm sinh lý của HSTH
- Nghiên cứu thực trạng việc vận dụng PPBTNB trong dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
- Đưa ra quy trình vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN và thiết kế các Điều chỉnh Hướng dẫn học môn TN&XH lớp 3 vận dụng PPBTNB
- Thực nghiệm sư phạm
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tác giả tham khảo một số tài liệu, sách, báo, các đề tài nghiên cứu khoa học…
Trang 12có nội dung liên quan đến PPBTNB, chương trình VNEN và môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
7.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Tác giả sử dụng phương pháp trò chuyện (phỏng vấn) để trao đổi với GV đã hoặc đang đảm nhận nhiệm vụ dạy học môn TN&XH lớp 3 ở một số trường tiểu học
áp dụng chương trình VNEN trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Qua đó, tác giả có thể hiểu được điều kiện cụ thể của trường để tiến hành thiết kế Điều chỉnh Hướng dẫn học phù hợp với trình độ, nhận thức của HS, điều kiện giảng dạy của GV và điều kiện cơ
sở vật chất của nhà trường
7.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Đây là phương pháp quan trọng giúp tác giả quan sát biểu hiện của HS lớp TN
ở các giờ học, các hoạt động học tập trong giờ học TN&XH theo chương trình VNEN
có áp dụng PPBTNB và biểu hiện của HS lớp ĐC ở giờ học theo chương trình VNEN
để tìm hiểu về mức độ hứng thú, tích cực của các em Từ đó tác giả hoàn thiện Điều chỉnh Hướng dẫn học phù hợp với trình độ, nhận thức của HS
7.4 Phương pháp thống kê, tính toán
- Thông qua việc thống kê, tính toán, xử lí số liệu thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến, tác giả nhận xét thực trạng việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
- Sau khi tổng hợp, xử lí số liệu các phiếu điều tra và các bài kiểm tra HS, tác giả tiến hành so sánh kết quả về nhận thức, về mức độ tích cực, sự hứng thú của HS ở lớp TN so với lớp ĐC để đưa ra nhận xét về mức độ hiệu quả của việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
7.5 Phương pháp điều tra Anket
Thiết kế các phiếu điều tra bằng Anket để thu thập dữ liệu từ GV và HS về đề tài nghiên cứu
7.6 Phương pháp thực nghiệm
Đề xuất phương án TN sư phạm về việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN ở trường Tiểu học Số 1 Hòa Nhơn
Trang 138 Cấu trúc đề tài
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc đề tài
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong hoạt động cơ bản ở môn
Tự nhiên và xã hội lớp 3 theo chương trình VNEN
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Đề xuất
3 Kiến nghị
Trang 14NỘI DUNG
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Mô hình trường học mới VNEN
1.1.1.1 Giới thiệu về mô hình trường học mới VNEN
Dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (Dự án VNEN, Viet Nam Escuela Nueva) là một dự án về sư phạm nhằm thiết kế và nhân rộng một kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam
Mô hình trường học mới khởi nguồn từ Côlômbia từ những năm 1995-2000 để dạy học trong những lớp ghép ở vùng miền núi khó khăn, theo nguyên tắc lấy HS làm trung tâm Mô hình này vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy – học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lí lớp học,
cơ sở vật chất phục vụ cho dạy – học… Mô hình trường học mới tập trung vào PPDH lấy HS làm trung tâm, chú trọng phát triển NL tự học NL làm việc nhóm của HS GV
từ vị trí người truyền thụ kiến thức trở thành người hướng dẫn, tổ chức và hỗ trợ các
em trong quá trình học tập, tìm tòi tri thức Về bản chất, sự đổi mới sư phạm trong mô hình trường học mới được thể hiện ở các từ “Tự giác”, “Tự chủ”, “Tự học”, “Tự đánh giá” và thực hiện được 10 bước học tập
Điểm nổi bật của mô hình này là sự đổi mới về các hoạt động sư phạm Một trong số đó là sự đổi mới về cách thức tổ chức lớp học Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học là “Hội đồng tự quản HS”, các “ban” trong lớp, do HS tự nguyện xung phong hay được các bạn đề cử Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt động của
“Hội đồng tự quản HS”, các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ, giám sát của GV, phụ huynh và sự tích cực, tính trách nhiệm của HS “Hội đồng tự quản HS” là một biện pháp giúp HS được phát huy quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục HS có điều kiện hiểu rõ quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động
Trang 151.1.1.2 Đặc điểm của mô hình trường học mới VNEN
- Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều vì lợi ích của HS, do HS thực
hiện Đặc trưng của Mô hình trường học mới là “TỰ”:
Học sinh: Tự giác, tự quản; tự học, tự đánh giá; tự tin, tự trọng
Giáo viên: Tự chủ; tự bồi dưỡng
Nhà trường: Tự nguyện
- Mô hình VNEN có các tài liệu Hướng dẫn các hoạt động giáo dục: Tổ chức dạy học; tổ chức các hoạt động giáo dục Đạo đức, Thể chất, Nghệ thuật và Kĩ năng sống cho HS
Hoạt động dạy học
Đổi mới căn bản của Mô hình trường học mới là:
- Chuyển hoạt động giáo dục của nhà trường thành hoạt động tự giáo dục của HS Nói cách khác, hoạt động giáo dục của nhà trường sẽ được thực hiện thông qua hoạt động tổ chức hướng dẫn HS tự giáo dục
- Chuyển hoạt động dạy của GV thành hoạt động tự học của HS
- Chuyển hoạt động quản lí lớp của GV thành hoạt động tự quản trong nhóm học tập của HS Hoạt động tự quản của HS được chú trọng phát triển HS được tự chủ, có trách nhiệm với hoạt động học tập của mình; được phát huy NL giao tiếp và lãnh đạo; phát triển các giá trị cá nhân
- HS từ làm việc với GV thành làm việc với Tài liệu Hướng dẫn học và tương tác với bạn
Trang 16thay mặt GV điều hành các thành viên trong nhóm: tự giác, tích cực hoạt động, tự quản, tự học, tự tìm tòi, khám phá phát hiện kiến thức theo hướng dẫn của Tài liệu Hướng dẫn học Mọi thành viên trong nhóm phải tự nghiên cứu tài liệu, tự học, chia sẻ với bạn, báo cáo với nhóm kết quả học tập Các thành viên trong nhóm trao đổi, thống nhất và báo cáo kết quả học tập với GV
Tuy GV không phải soạn bài nhưng phải nghiên cứu kĩ bài học, hiểu rõ quá trình hình thành kiến thức để tổ chức lớp học, chuẩn bị đồ dùng dạy học, điều chỉnh nội dung, yêu cầu bài học cho phù hợp với đối tượng và dự kiến các tình huống khó khăn mà HS dễ mắc phải trong quá trình hình thành kiến thức để có những giải pháp hợp lí, kịp thời
Hoạt động của GV
- GV chọn vị trí thích hợp để quan sát được hoạt động của tất cả các nhóm, các
HS trong lớp GV chỉ đến hỗ trợ khi HS có nhu cầu giúp đỡ hoặc khi GV cần kiểm tra việc học của một HS, hoặc một nhóm
- Thông qua quan sát, kiểm tra, GV đánh giá sự chuyên cần, tích cực của mỗi HS; đánh giá hoạt động của từng nhóm và vai trò điều hành của mỗi nhóm trưởng
- GV là người hỗ trợ, khuyến khích mọi cố gắng, nỗ lực, sáng kiến và những tiến
bộ dù nhỏ nhất của HS GV có nhiệm vụ phát hiện những HS chưa tích cực, HS gặp khó khăn trong quá trình học; kiểm tra, hỗ trợ kịp thời những HS yếu để giúp các em hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Chốt lại những vấn đề cơ bản của bài học
- Đánh giá hoạt động học của các cá nhân, các nhóm và cả lớp
- Tạo cơ hội để mỗi HS, mỗi nhóm tự đánh giá tiến trình học tập của mình
Hoạt động của HS
- HS được học theo khả năng, tốc độ riêng của mình; tự quản, tự giác và hợp tác
để chiếm lĩnh kiến thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV
- Kiến thức học trong trường học luôn được gắn kết, liên hệ chặt chẽ với đời sống hàng ngày của HS
Đánh giá HS
- GV đánh giá HS thông qua việc quan sát: GV quan sát tinh thần, thái độ học
tập, tính tự giác, tích cực tham gia hoạt động nhóm; tính hợp tác, thực hiện điều hành của nhóm trưởng; kết quả thực hiện các hoạt động trong bài, đối chiếu với mục tiêu bài
Trang 17học; ghi chép của HS
- HS tự đánh giá: bản thân HS tự đánh giá việc hoàn thành từng hoạt động
trong bài học; kết quả đạt được sau mỗi hoạt động, sau bài học; việc hoàn thành mục
tiêu bài học của mình
- Đánh giá của nhóm: nhóm sẽ đánh giá các thành viên qua các mặt: tinh thần,
thái độ; sự tương tác với bạn bè; thời gian và chất lượng hoàn thành hoạt động học; kết quả các hoạt động học tập
- Cộng đồng đánh giá: cộng đồng đánh giá qua các biểu hiện: có thường xuyên
trò chuyện với cha mẹ việc học ở trường; có thực hiện chăm sóc cây cối, vật nuôi, sức khỏe bản thân và người thân trong gia đình; sự tự tin trong trao đổi, trò chuyện, giao tiếp; khả năng diễn đạt, đối thoại, tương tác; sự chuyên cần trong học tập, tiến bộ trong học tập
- Công cụ đánh giá bao gồm: sự quan sát, theo dõi của GV; phiếu đánh giá tiến
độ học tập; bản tổng hợp ý kiến đánh giá của GV, HS, nhóm, cha mẹ HS và cộng đồng…
1.1.1.3 Cách tổ chức lớp học của mô hình trường học mới VNEN
Hình 1.1 Sơ đồ hội đồng tự quản do HS tự tổ chức và thực hiện
Trong lớp học VNEN, bàn ghế không xếp theo kiểu truyền thống mà được bố trí la ̣i để HS ngồi theo nhóm, phù hợp với sự tương tác giữa các ba ̣n trong nhóm và
GV Khác với trước đây (ban cán sự lớp do GV chỉ định), trong mô hình trường ho ̣c mới, ban cán sự lớp được đổi mới thành Hô ̣i đồng tự quản Hô ̣i đồng tự quản được thành lâ ̣p là vì HS, do HS tự ứng cử, đề cử, bầu cho ̣n
HỘI ĐỒNG TỰ QUẢN HỌC SINH CHỦ TI ̣CH HỘI ĐỒNG TỰ QUẢN PHÓ CT HĐTQ PHÓ CT HĐTQ
BAN
HỌC
TẬP
BAN THƯ VIỆN
BAN QUYỀN LỢI HS
BAN ĐỐI NGOẠI
BAN SỨC KHỎE VỆ SINH
BAN VĂN NGHỆ
TDTT
Trang 181.1.1.4 Cấu trúc bài học
Mô hình VNEN giữ nguyên nội dung, chuẩn kiến thức, kĩ năng và kế hoạch dạy học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Như vậy nội dung, yêu cầu và thời lượng học các môn không thay đổi Bài học mô hình VNEN được cấu trúc theo một đơn vị kiến thức hoàn chỉnh, nhằm giải quyết trọn vẹn, liên tục một đơn vị kiến thức: hình thành, củng cố, vận dụng, ứng dụng kiến thức vào thực tế
Mô hình VNEN biên soạn SGK (Toán,Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử
và Địa lí) thành Tài liệu Hướng dẫn học (Toán, Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch
sử và Địa lí) cho HS Như vậy Tài liệu Hướng dẫn học Toán, Tiếng Việt, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí là tài liệu học của HS và tài liệu dạy của GV
Thông thường, một bài học môn Toán, TN&XH, Khoa học, Lịch sử và Địa lí học trong hai tiết, bài học môn Tiếng Việt học trong ba tiết, các bài kiểm tra bố trí một tiết Với bài học bố trí hai tiết, tiết một thường hoàn thành Hoạt động cơ bản và đã đáp ứng cơ bản mục tiêu của bài học Tuy nhiên không bắt buộc GV phải thực hiện máy móc theo yêu cầu này GV có toàn bộ quyền bố trí thời gian để HS đạt được mục tiêu bài học, nắm được bài
Mỗi bài học được thiết kế khoảng từ 12 đến 15 hoạt động với các nội dung chính sau:
- Mục tiêu bài học
- Hoạt động cơ bản: Phần hoạt động cơ bản giúp HS học qua việc trải nghiệm,
làm thực tế, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức mới với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp từ GV
- Hoạt động thực hành: Phần hoạt động thực hành thể hiện các hoạt thực hành
của HS nhằm củng cố, rèn luyện, phát triển các kiến thức, kĩ năng vừa học
- Hoạt động ứng dụng: Phần hoạt động ứng dụng khuyến khích HS bước đầu
biết vận dụng kiến thức trong thực tế cuộc sống Nhấn mạnh sự quan tâm, hỗ trợ HS học tập từ phía gia đình và cộng đồng Khuyến khích HS mở rộng vốn kiến thức qua các nguồn thông tin khác nhau (từ gia đình, cộng đồng thôn xóm, làng bản, )
Bắt đầu của mỗi hoạt động đều có một hình vẽ (logo) cùng với những “lệnh” thực hiện để HS dễ dàng nhận ra yêu cầu và các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động học tập (học cá nhân, theo cặp, nhóm nhỏ hoặc toàn lớp) Trong thiết kế bài học, trước mỗi hoạt động đều có các logo chỉ dẫn HS nhìn logo biết hoạt động đó thực hiện cá
Trang 19nhân, hay nhóm đôi, nhóm lớn hoặc chung cả lớp GV nên hiểu logo hướng dẫn chỉ có tác dụng định hướng cho các nhóm HS hoạt động, không máy móc mà có thể điều chỉnh để hoạt động học của HS đạt hiệu quả
Hình 1.2 Logo cho bài soạn hoạt động giáo dục VNEN
1.1.2 Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
1.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy, phương pháp
là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định
Từ khái niệm trên ta thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm: mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được)
Trên cơ sở khái niệm phương pháp, người ta thiết kế khái niệm PPDH Đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về khái niệm PPDH, như:
Theo I.Ia.Leene: “PP dạy học là hệ thống những hành động có mục đích của
GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức, thực hành của HS, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn” [11, tr.46]
L.D Dverep cho rằng: “PP dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy
Trang 20và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của GV” [11, tr 46]
Iu.K.Babanxki lại đưa ra quan điểm: “PP dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [11, tr46]
Như vậy, có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm PPDH chính là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau giữa GV và HS nhằm đạt được mục đích dạy học
Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng: PPDH là hệ thống những hành động
có chủ đích, theo một trình tự nhất định của GV, tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành cho HS nhằm đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung dạy học; chính như vậy mà HS đạt được mục tiêu bài học
1.1.2.2 Khái niệm phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Phương pháp "Bàn tay nặn bột”, tiếng Pháp là La main à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là PPDH khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi -
nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn Khoa học tự nhiên [9, tr.1]
Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak (Người Pháp, đạt giải Nobel Vật lí năm 1992) PPBTNB đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nước có trên thế giới
Ở nước ta, Đề án phương pháp “Bàn tay nặn bột” giai đoạn 2011-2015 được
Bộ GD&ĐT triển khai thử nghiệm từ năm 2011 và chính thức triển khai trong các trương phổ thông từ năm học 2013-2014 Đây là PPDH hiện đại, có nhiều ưu điểm trong việc kích thích tính tò mò, ham muốn khám phá, say mê khoa học, rèn luyện kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ nói và viết cho HS
Theo PPBTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra, để từ đó hình thành kiến thức cho mình Nói cách khác, PPBTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc đáo, sáng tạo của HS, hình thành cho các
Trang 21em phương pháp học tập đúng đắn Phương pháp này đặt HS vào vị trí của một nhà khoa học, các em có thể tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức thông qua việc độc lập tiến hành các thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận trong các nhóm dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của GV
Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, GV đề ra các tình huống xuất phát, những thách thức, câu hỏi mà HS phải vượt qua Đồng thời, GV là người định hướng các hoạt động, hợp lí hóa kiến thức ở khâu cuối giúp các em chiếm lĩnh dần những khái niệm và tiến trình khoa học; diễn đạt đúng và chính xác những ý tưởng của mình
Tóm lại: Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một PPDH tích cực dựa trên hoạt động tìm tòi – nghiên cứu của HS dưới sự giúp đỡ, tổ chức, hướng dẫn của GV; từ đó giúp các em hình thành kiến thức mới và củng cố niềm tin vào khoa học
1.1.2.3 Đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Theo [2], [8] mục tiêu hàng đầu của phương pháp là giúp HS tiếp cận dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt, trong nói và viết Xuất phát từ mục tiêu đó mà PPBTNB bao gồm các đặc điểm:
- Dạy học dựa trên tìm tòi, khám phá PPBTNB đưa ra một tiến trình ưu tiên
cho việc thiết kế tri thức bằng hoạt động tìm tòi, khám phá, thí nghiệm và thảo luận Phương pháp này đặt HS vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học Các em tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc tiến hành các thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của GV HS học tập nhờ hành động Các em học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn Bạn bè trao đổi, quan niệm
về một vấn đề khoa học nào đó với nhau và được kiểm tra (sự đúng sai) bằng cách tiến hành làm các thí nghiệm
- Coi trọng việc xác định biểu tượng (quan niệm) ban đầu của HS Trong
PPBTNB, HS được thoải mái đưa ra quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng Đó là những hiểu biết ban đầu của HS Những hiểu biết này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc
có thể sai, đôi khi là ngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ Biểu tượng ban đầu không phải là kiến thức cũ, kiến thức đã được học mà là quan niệm của HS về sự vật, hiện tượng sắp học Biểu tượng ban đầu thường là chướng ngại vật trong quá trình nhận thức của HS và cần phải được “phá bỏ” bằng quá
Trang 22trình thực hiện thực nghiệm Quá trình thực hiện thực nghiệm phải được chính HS làm, tự HS rút ra kết luận, đối chiếu với quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng hay sai Khi đó, kiến thức mới được hình thành ở HS
- Kết hợp hình thành kiến thức khoa học với việc phát triển ngôn ngữ cho
HS PPBTNB trong dạy học TN&XH ở tiểu học không chỉ chú trọng việc hình thành
kiến thức khoa học, rèn kĩ năng tư duy logic mà còn quan tâm phát triển ngôn ngữ cho
HS (nói, đọc, viết) đồng thời thông qua đó rèn luyện cho các em các kĩ năng tư duy logic các vấn đề khoa học đặt ra Với PPBTNB, HS được học khoa học thông qua một chuỗi các hoạt đông như bộc lộ suy nghĩ ban đầu, đặt ra các câu hỏi, đề xuất các giả thuyết, tiến hành các thí nghiệm trên cơ sở tương tác giữa cá nhân HS – HS, HS – nhóm và nhóm – nhóm
Trước sự kích thích từ tình huống xuất phát ở đầu bài học, HS ý thức được vấn
đề, nhận ra các mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề và xuất hiện nhu cầu giải quyết các mâu thuẫn ấy HS bắt đầu trải qua các giai đoạn của quá trình tư duy như xác định vấn
đề, trình bày vấn đề, huy động vốn tri thức cũ đã có, huy động các kinh nghiệm của bản thân, sàng lọc, hình thành giả thuyết và kiểm tra giả thuyết cũng như việc sử dụng các thao tác tư duy như phân tích – tổng hợp, so sánh, trừu tượng và khái quát hóa… Trong quá trình khám phá tri thức, các vấn đề mới, kiến thức mới nảy sinh liên tục, cuốn hút các em tiếp tục hoạt động khám phá, làm cho khả năng tư duy của HS ngày càng phát triển
Trong quá trình kiến thức khoa học được hình thành, HS cũng được rèn luyện
và phát triển ngôn ngữ HS được trao đổi, đưa ra các lí lẽ và lập luận để bảo vệ ý kiến của mình trong quá trình tiến hành hoạt động Bằng lời nói và bằng cách viết trong vở/phiếu thực nghiệm, HS có thể chia sẻ ý kiến, đối chiếu quan điểm, dự đoán kết quả
và khẳng định những kiến thức thu được sau hoạt động Từ đó, khả năng sử dụng ngôn ngữ của HS được rèn luyện và phát triển
1.1.2.4 Nguyên tắc cơ bản của phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Nguyên tắc về tiến trình sư phạm
- HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với
đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những sự vật đó Sự vật ở đây bao
Trang 23gồm những sự vật có thể quan sát, cầm, nắm, cảm nhận được (như lá cây, thân cây, hạt, nước, )
- Trong quá trình tìm hiểu, HS lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà chỉ
những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên Nguyên tắc này khẳng định vai
trò qua trọng của việc làm nhóm Chỉ từ việc thảo luận, trao đổi, trình bày quan điểm, lắng nghe những ý kiến và phương án trái chiều, đưa ra những lập luận để thuyết phục các bạn tin vào phương án và nhận định của mình, HS có cái nhìn đa chiều cũng như
có nhiều cách tiếp cận, tìm tòi để khám phá tri thức mới
- Những hoạt động do GV đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này khiến chất lượng học tập được
nâng cao và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn Mức độ nhận thức của HS được
hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Chính vì vậy, những hoạt động do GV đề xuất cho HS cần được tuân theo quy luật này để nâng cao dần mức độ học tập của HS
Những đối tượng tham gia
- Các gia đình và/hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của
lớp học Nguyên tắc này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối kết
hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục HS
- GV có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung về những môđun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc
Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học GV là người chịu trách nhiệm giáo dục
và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách Từ sự cần thiết phải có nguồn
thông tin, các tư liệu giúp đỡ cho GV được đặt ra cấp thiết GV cần được quan tâm giúp đỡ và hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị các tiết học Internet và các trang web là một kênh hỗ trợ quan trọng cho GV, nơi mà GV có thể trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm với nhau, đề xuất những vấn đề vướng mắc, các câu hỏi cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu để được giải đáp và giúp GV thực hiện tốt kế hoạch dạy học của
mình
Trang 241.1.2.5 Vai trò của phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn học Tự nhiên và xã hội ở tiểu học
"Bàn tay nặn bột" là PPDH có nhiều ưu điểm, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của HS Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống Cụ thể:
PPDH đặc trưng và mang lại chất lượng dạy học khoa học cao nhất đó là các phương pháp thực hành, thí nghiệm Đặc trưng của PPBTNB cũng là hoạt động thực hành, thí nghiệm và quan sát Với PPBTNB, các em được thực hành, thí nghiệm và quan sát trong tất cả các tiết học Điều này không chỉ giúp các em lĩnh hội và nắm bắt các kiến thức về khoa học mà còn giúp các em hình hành NL quan sát, NL thí nghiệm…
- PPBTNB giúp hình thành và hoàn thiện một số NL học môn TN&XH cho
HS Ngoài việc hình thành NL thí nghiệm-thực hành thì PPBTNB còn giúp hình thành
và phát triển ở HS các NL như:
+ NL quan sát: Khi học tập theo PPBTNB, HS được quan sát sự vật,
hiện tượng một cách thường xuyên và quan sát một cách tỉ mỉ, chính xác, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, rèn luyện thói quen ghi lại những gì các em quan sát được, đồng thời làm xuất hiện nhu cầu giải thích hiện tượng PPBTNB giúp
HS tránh tình trạng chỉ tri giác sự vật, hiện tượng ở các đặc tính bên ngoài như: kích thước, hình dáng, màu sắc và quan tâm đến các chi tiết riêng lẻ
+ NL diễn đạt: NL diễn đạt có thể hiểu là NL diễn đạt của HS qua ngôn
ngữ nói và viết, sử dụng ngôn ngữ khoa học, kèm theo sự vững vàng trong lập luận Theo PPBTNB, HS luôn có cơ hội nói ra những hiểu biết, những phát hiện mới của mình trước tập thể để chia sẻ, thảo luận Các em thường sử dụng ngôn ngữ đời thường để diễn đạt Chính những lúc này, việc giúp đỡ các em trình bày bằng ngôn ngữ khoa học là rất cần thiết, đặc biệt là lúc HS "bí từ" Bởi vì, trong những lúc đó, không những các em tích lũy thêm vốn từ khoa học do người khác đem lại mà còn nhanh chóng thiết kế được mối quan hệ sâu sắc giữa thuật ngữ khoa học và ý nghĩa của nó (vì lúc đó đã có sẵn hình ảnh về sự vật, hiện tượng) Mặt khác, bên cạnh phát triển ngôn ngữ khoa học, HS cũng được rèn luyện cách trình bày, lập luận như: dùng từ, đặt câu, diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và
Trang 25có tính thuyết phục người nghe Ngoài ra, việc tự mình nghiên cứu và tìm cách diễn giải các kết quả thí nghiệm của mình giúp HS học cách sử dụng những loại hình khác nhau của ngôn ngữ như: viết, diễn đạt nói, minh họa bằng hình vẽ, biểu đồ Điều này làm cho khả năng sử dụng và tư duy ngôn ngữ khoa học của các em phát triển, đồng thời, giúp các em rèn luyện cách trình bày, lập luận của mình
+ NL đánh giá: PPBTNB kích thích HS phải hoạt động, phải nói ra suy
nghĩ của mình, đưa ra những lập luận để bảo vệ giả thuyết của bản thân Đồng thời, các em phải biết lắng nghe ý kiến của bạn, đưa ra nhận định của bản thân về những ý kiến đó HSTH có tâm lý dễ tin, bị ảnh hưởng bởi số đông nên các em thường chưa có chủ kiến của riêng mình Việc học tập theo PPBTNB giúp HS dần chủ động, tự tin vào bản thân và dần biết cách đánh giá ý kiến của bản thân, của các bạn trong nhóm, trong lớp… là đúng hay sai mà không a dua, hùa theo số đông Điều này cho phép HS thể hiện được quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá,
giải thích của bản thân và phát triển NL đánh giá ở các em
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS PPBTNB
bước đầu đặt HS vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học, các em có thể tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc độc lập tiến hành các thí nghiệm, trao đổi, thảo luận trong các nhóm dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn của GV HS học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động, học tập tiến bộ dần bằng cách
tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, học tập bằng hỏi đáp với bạn, bằng cách trình bày quan điểm của mình, đối lập với các quan điểm của bạn về các kết quả TN để kiểm tra
sự đúng đắn của nó Do đó, phát huy NL của từng cá nhân HS, biết huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm của các em để giải quyết các nhiệm vụ học tập Với tư cách là chủ thể của những hoạt động, tính sáng tạo trong học tập của HS cũng được phát huy
- Phát triển trí tưởng tượng PPBTNB là một trong những con đường làm cho
trí tưởng tượng của HS phát triển thông qua việc tập cho các em tưởng tượng dựa trên
sự mô tả của ngôn ngữ, thiết kế nên biểu tượng mà không cần phải có sự vật thật đặt trước mắt (lúc các em đưa ra những hiểu biết ban đầu về sự vật, hiện tượng), nâng tưởng tượng của HS từ chỗ dựa vào trực quan cụ thể lên tưởng tượng dựa vào ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ Đặc biệt trong quá trình thao tác với các vật liệu thí nghiệm, hình ảnh sự vật, hiện tượng được thể hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn hơn Sự sắp xếp
Trang 26các hiện tượng khá chặt chẽ, đồng thời các em có khả năng gọt giũa những biểu tượng
cũ và sử dụng chúng để tạo biểu tượng mới, đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và kích thích sự sáng tạo không ngừng ở các em
- Phát triển tư duy Khi học tập theo PPBTNB, HS phải làm việc trí óc rất lớn
Trước sự kích thích của tình huống, các em ý thức được vấn đề, thấy được sự mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề, từ đó xuất hiện nhu cầu giải quyết Do vậy, các em không thể không trải qua các giai đoạn của quá trình tư duy (xác định và biểu đạt vấn
đề, huy động vốn tri thức, kinh nghiệm, sàng lọc, hình thành giả thuyết và kiểm tra giả thuyết) cũng như việc sử dụng các thao tác tư duy (phân tích- tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa) PPBTNB khiến tư duy sáng tạo của HS phát triển thông qua việc để cho các em tự đề xuất phương án kiểm tra giả thuyết và tiến hành kiểm tra giả thuyết (cùng một giả thuyết nhưng các em đề xuất nhiều phương án giải quyết khác nhau), sự sáng tạo của HS cũng được thể hiện trong việc tự chế tạo ra các đồ dùng thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết Khi vấn đề này được giải quyết thì những vấn đề khác lại nảy sinh cuốn hút trẻ tiếp tục hoạt động khám phá… Chính vì vậy làm cho khả năng tư duy của HS ngày càng phát triển
1.1.3 Khả năng vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội theo chương trình VNEN
Môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN là sự tiếp nối các kiến thức về TN&XH ở các lớp dưới, tiếp tục hình thành cho HS hệ thống kiến thức cơ bản về Con người và sức khỏe (như hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết nước tiểu… cũng như cách vệ sinh phòng bệnh của các hệ cơ quan); về các chủ đề Tự nhiên (các đặc điểm bên ngoài của động vật và thực vật; Trái Đất, Mặt Trăng trong hệ Mặt Trời…) và các chủ đề Xã hội (Các thế hệ trong gia đình; an toàn khi ở nhà và ở trường; ) Khác với những môn học như Toán 3, Tiếng Việt 3,… đối tượng học tập của môn TN&XH 3 chính là những sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ giữa chúng trong môi trường xung quanh Đây đều là những đối tượng học tập cụ thể, gần gũi với HS Các em đã được tiếp xúc với chúng từ trong cuộc sống hàng ngày, vậy nên, các em có nhiều kinh nghiệm và vốn sống để tham gia vào bài học
Đặc điểm nổi bật của chương trình VNEN là chuyển hoạt động giáo dục của nhà trường thành hoạt động tự giáo dục của HS; chuyển hoạt động dạy của GV thành
Trang 27hoạt động tự học của HS; chuyển hoạt động quản lí lớp của GV thành hoạt động tự quản trong nhóm học tập của HS Chương trình VNEN không chỉ chú trọng hình thành
và trau dồi vốn kiến thức cho HS mà còn tạo lập và rèn luyện ở các em những NL như
NL giao tiếp, NL tự học, NL làm việc nhóm, NL quan sát, NL thí nghiệm HS được học theo khả năng, tốc độ riêng của mình; tự quản, tự giác và hợp tác để chiếm lĩnh kiến thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, GV chỉ là người hỗ trợ các em và khuyến khích mọi cố gắng, nỗ lực, sáng kiến và những tiến bộ dù nhỏ nhất của HS Mỗi bài học được thiết kế khoảng từ 12 đến 15 hoạt động với các nội dung chính sau: Mục tiêu bài học, hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng Trong
đó, phần hoạt động cơ bản giúp HS học qua trải nghiệm, học qua việc làm thực tế, học qua tìm tòi, khám phá, phát hiện với sự hỗ trợ, giúp đỡ thích hợp từ GV
Từ đặc điểm của môn TN&XH lớp 3 cũng như đặc điểm của chương trình VNEN ta nhận thấy có nhiều điểm tương đồng với PPBTNB Đích đến của PPBTNB
là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu thích say mê khoa học của HS từ những vốn sống và hiểu biết của các em về môi trường và thế giới xung quanh Đây cũng là đặc điểm nổi bật của môn TN&XH theo chương trình VNEN
Bên cạnh đó, theo PPBTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra, để từ đó hình thành kiến thức cho mình Nói cách khác, PPBTNB đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc đáo, sáng tạo của HS, hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn
Quá trình học tập theo PPBTNB của HS được tổ chức theo hình thức nhóm học tập để các em hình thành thói quen lắng nghe, tiếp nhận, bình luận, đánh giá về những
ý kiến của các bạn, ngoài ra tạo cho các em thái độ tự tin trong giao tiếp, có những lập luận để bảo vệ ý kiến của bản thân Đây cũng là những mục tiêu mà chương trình VNEN hướng đến
Mặc khác, học tập theo PPBTNB không đòi hỏi phòng thí nghiệm hay những
bộ dụng cụ thí nghiệm phức tạp, đặc điểm này rất phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của các trường tiểu học hiện nay Phương tiện dạy học được sử dụng trong tiết học vận dụng PPBTNB sẽ chỉ là những vật thật (lá cây, rễ cây, hoa, quả,…), tranh ảnh (về các
cơ quan trong cơ thể: Cơ quan tuần hoàn, cơ quan hô hấp…) hay những mô hình thuộc
bộ dụng cụ dạy học ở trường tiểu học (mô hình trái đất, bề mặt trên trái đất, )
Trang 28Từ những phân tích về đặc điểm môn học TN&XH lớp 3, đặc điểm của chương trình VNEN cũng như đặc điểm của PPBTNB nêu trên, ta có thể nhận ra được việc vận dụng PPBTNB vào dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN có tính khả thi rất cao PPBTNB không những phát huy được triệt để thế mạnh về đặc điểm môn học TN&XH lớp 3 mà còn giúp hoàn thiện mục tiêu hình thành kiến thức và NL cho HS mà chương trình VNEN hướng đến
Tóm lại: Việc áp dụng PPBTNB trong dạy học môn TN&XH lớp 3 theo
chương trình VNEN là hoàn toàn phù hợp và khả thi về tất cả các mặt: về đối tượng
HS, về đặc điểm chương trình TN&XH lớp 3, về đặc điểm và mục tiêu của chương trình VNEN, về hoàn cảnh và tình hình điều kiện cơ sở vật chất ở tất cả các trường tiểu học trên mọi vùng miền ở đất nước ta PPBTNB được áp dụng hợp lí nhất là ở hoạt động cơ bản trong các bài học ở môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học
1.1.4.1 Về nhận thức
Tri giác
Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định Do đó, HS phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, lẫn lộn, thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Ở đầu bậc tiểu học, trẻ chưa có khả năng điều khiển tri giác của mình, chưa có khả năng xem xét đối tượng một cách tỉ
mỉ và chi tiết, tri giác ở thời điểm này thường gắn với hành động trực quan Đến cuối bậc tiểu học, HS đã nắm được kĩ thuật tri giác, học cách nghe, cách nhìn, phân biệt được những dấu hiệu chủ yếu và quan trọng của sự vật, tri giác dần mang tính có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm bài tập từ dễ đến khó…)
Chú ý
Với những trẻ ở đầu tiểu học, sự chú ý có chủ định còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định, HS thường chú ý khi có động cơ gần Lúc này, trẻ chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng, Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong
Trang 29quá trình học tập
Giai đoạn cuối tiểu học, trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Giai đoạn này, trẻ buộc phải theo dõi các đối tượng, phải nắm lấy những hiểu biết mà tại thời điểm đó trẻ hoàn toàn không thích thú Dần dần trẻ học được cách điều khiển, chuyển và duy trì chú ý một cách bền vững đến những đối tượng cần thiết chứ không phải là những đối tượng có sự hấp dẫn bề ngoài Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Trí nhớ
Ở HSTH, loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của HS tương đối chiếm ưu thế
Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay thiết kế dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của HS, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí tình cảm hay hứng thú của HS
Tưởng tượng
Tưởng tượng của HSTH đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ
có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng phong phú Tuy nhiên, tưởng tượng của HS vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
- Ở giai đoạn đầu (lớp 1, 2, 3): Đặc điểm chung của trí tưởng tượng của
HS ở giai đoạn này là hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản và dễ thay đổi HS đã có khả năng tái tạo gần đúng đối tượng thực nhưng các chi tiết, các sự kiện còn nghèo nàn (trẻ hay bỏ sót nhiều chi tiết), các hình ảnh được cấu trúc thường ở dạng tĩnh Trẻ hình dung các trạng thái đầu và cuối của đối tượng đang vận động
Trang 30- Ở giai đoạn sau (lớp 4, 5): Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện,
từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Ở giai đoạn này, tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, trẻ đã bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của HS trong giai đoạn này bị chi phối mạnh
mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những sự vật, hiện tượng đều gắn liền với những rung động tình cảm của HS Trong quá trình tưởng tượng số lượng các chi tiết, các sự kiện được tái tạo tăng lên đáng kể HS đã có thể hình dung được khá đầy đủ các trạng thái trung gian của cả quá trình vận động của đối tượng, dù chúng được bộc lộ trực tiếp hay ngầm ẩn
Tính chủ định trong tưởng tượng đã tăng lên cơ bản Điều này được thể hiện qua việc trẻ đã tái tạo lại cho mình các hình ảnh tùy theo tính chất bài dạy của GV và của từng môn học Đồng thời, HS đã biết huy động trí tưởng tượng tái tạo vào việc sáng tạo ra các ý tưởng, các hình ảnh – tức là dựa vào tưởng tượng tái tạo để phát triển tưởng tượng sáng tạo
Tư duy
Theo Tâm lí học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác Sở dĩ có nhận định như vậy là bởi trẻ trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học tư duy chủ yếu trong diễn ra trong trường hành động: tức những hành động trên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan) Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích,
so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong Trong giai đoạn 1 (từ 6 – 7 tuổi) thì tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế, cụ thể:
+ HS chủ yếu học bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc những hình ảnh trực quan
+ Những khái quát của HS về sự vật hiện tượng ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào những dấu hiệu cụ thể nằm trên bề mặt của đối tượng hoặc những dấu hiệu thuộc
về công dụng và chức năng
+ Tư duy còn chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố tổng thể
+ Tư duy phân tích bằng đầu đã hình thành nhưng còn yếu
Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số HS lớp 3 và lớp 4, HS đã chuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh từ bên ngoài thành các thao tác trí
Trang 31óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đối tượng thực, chưa thoát lí khỏi chúng Đó là các thao tác cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển là HS đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng Ở giai đoạn 2 (từ 8 –
12 tuổi) này, tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế, cụ thể:
+ HS nắm được các mối quan hệ của khái niệm
+ Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng tính toán, không gian, thời gian,… được hình thành và phát triển mạnh
1.1.4.2 Về nhân cách
Tính cách
Tính cách của HS được hình thành từ rất sớm ở thời kì trước tuổi đến trường Ở giai đoạn này, mỗi em có một nét tính cách riêng Tuy nhiên, những nét tính cách này của HS mới được hình thành, chưa ổn định và có thể thay đổi dưới tác dụng giáo dục của gia đình và nhà trường
Ở lứa tuổi này, chúng ta dễ nhận thấy được tính xung động trong hành vi của
HS (khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong hoặc bên ngoài) Do vậy hành vi của HS dễ có tính tự phát
Phần lớn HSTH có nhiều nét tính cách tốt như: giàu lòng vị tha, tính ham hiểu biết, tính hồn nhiên, tính chân thực, lòng thương người,… Các em hồn nhiên trong mối quan hệ với người lớn, với thầy cô giáo, bạn bè Vì hồn nhiên nên HS rất cả tin vào sách vở, tin vào người lớn, tin vào khả năng của bản thân
Tính hay bắt chước cũng là một nét tính cách quan trọng của HS ở lứa tuổi này
HS thích bắt chước các hành vi, cử chỉ,… của thầy cô giáo, gia đình, mọi người xung quanh hay các nhân vật trong phim ảnh,… Cho nên cần xem tính bắt chước như một điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục HS bằng những tấm gương tích cực, cụ thể nhưng cũng cần chú ý điểm tiêu cực của của tính bắt chước
Xúc cảm - tình cảm
Tình cảm của HSTH mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi (tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã "người lớn" hơn
Trang 32rất nhiều)
Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của HSTH luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: ở HS có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học, khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ
Chính vì thế, việc giáo dục tình cảm cho HSTH cần ở nhà giáo dục sự khéo léo,
tế nhị khi tác động đến HS; nên dẫn dắt HS đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho HS thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,
Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ
Nhìn chung việc hình thành nhân cách của HSTH mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của HS lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô
tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của HS lúc này còn mang tính tiềm
ẩn, những NL, tố chất của HS còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của HS còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với HSTH còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của HS sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình
- Biết mối quan hệ họ hàng nội ngoại Biết phòng tránh cháy khi ở nhà
- Biết được những hoạt động chủ yếu của nhà trường và giữ an toàn khi ở trường
- Biết tên một số cơ sở hành chính, văn hóa, y tế, giáo dục… và một số hoạt
Trang 33động thông tin liên lạc, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại ở tỉnh nơi HS ở
- Biết một số quy tắc đối với người đi xe đạp Biết được cuộc sống trước kia và hiện nay ở địa phương và biết giữ vệ sinh môi trường
- Biết được sự đa dạng phong phú của thực vật và động vật; chức năng của rễ,
lá, hoa, quả đối với đời sống của cây và lợi ích đối với con người; lợi ích hoặc tác hại của một số động vật đối với đời sống con người
- Biết vai trò của mặt trời đối với Trái Đất và đời sống con người Vị trí và sự chuyển động của Trái Đất trong hệ thống mặt trời, sự chuyển động của Mặt Trăng quay quanh Trái Đất Hình dạng, đặc điểm, bề mặt Trái Đất, biết ngày, đêm, năm, tháng và các mùa
Kĩ năng
- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội
Thái độ
- Ham hiểu biết khoa học
- Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình, cộng đồng
- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương
1.2.1.2 Nội dung chương trình
Hướng dẫn học TNXH 3 được biên soạn theo nội dung chương trình của môn TNXH lớp 3 Những nội dung đó là:
Chủ đề: Con người và sức khoẻ
- Cơ quan hô hấp (nhận biết trên sơ đồ; tập thở sâu; thở không khí trong sạch; phòng một số bệnh lây qua đường hô hấp)
- Cơ quan tuần hoàn (nhận biết trên sơ đồ; hoạt động lao động và tập thể dục thể thao vừa sức)
- Cơ quan bài tiết nước tiểu (nhận biết trên sơ đồ; giữ vệ sinh)
- Cơ quan thần kinh (nhận biết trên sơ đồ; ngủ, nghỉ ngơi và học tập, làm việc điều độ)
Chủ đề: Xã hội
- Gia đình: Mối quan hệ họ hàng nội, ngoại (cô dì, chú bác, cậu và các anh chị
Trang 34em họ); Quan hệ giữa sự tăng số người trong gia đình và số người trong cộng đồng;
An toàn khi ở nhà (phòng cháy khi đun, nấu)
- Trường học: Một số hoạt động chính ở nhà trường tiểu học, vai trò của GV và
HS trong các hoạt động đó; An toàn khi ở trường (không chơi các trò chơi nguy hiểm)
- Tỉnh hoặc thành phố nơi đang sống: Một số cơ sở hành chính, giáo dục, y tế, kinh tế ; Làng quê và đô thị; Giữ vệ sinh nơi công cộng; An toàn giao thông (quy tắc
1.2.2.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra của tác giả khi thực hiện đề tài này là 39 GV đã hoặc đang dạy môn TN&XH lớp 3 tại ba trường tiểu học ở địa bàn thành phố Đà Nẵng, gồm:
+ 09 GV của trường Tiểu học Hòa Phú
+ 18 GV của trường Tiểu học Trần Văn Dư
+ 12 GV của trường Tiểu học Số 1 Hòa Nhơn
1.2.2.3 Nội dung điều tra
Tác giả tiến hành điều tra một số vấn đề sau:
Trang 35- Các PPDH GV thường hay sử dụng trong môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
- Mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
- Cách thức GV tổ chức hoạt động học tập cho HS
- Sự hiểu biết của GV về PPBTNB
- Các thuận lợi và khó khăn của GV khi sử dụng PPBTNB
1.2.2.4 Phương pháp điều tra
Phương pháp An – két (phiếu điều tra): các nội dung điều tra được thể hiện dưới dạng câu hỏi đóng và câu hỏi mở trong phiếu điều tra
Phương pháp xử lí thống kê: tác giả phát ra 39 phiếu của GV và thu lại 33 phiếu Những số liệu thu được từ phiếu điều tra được xử lí bằng phương pháp thống kê toán học, qua đó nhận xét khái quát về thực tế sử dụng PPBTNB trong dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
1.2.2.5 Kết quả điều tra thực trạng
Về các PPDH thường được sử dụng trong môn TN&XH theo chương trình VNEN
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng các PPDH của GV trong môn TN&XH 3 theo chương trình VNEN, tác giả đã đưa ra câu hỏi 1: “Các PPDH nào thầy (cô) thường sử dụng trong dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN?” Sau quá trình điều tra, tác giả thu được kết quả sau:
Bảng 1.1: Các PPDH GV thường sử dụng khi dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Trang 36Biểu đồ 1.1: Các PPDH GV thường sử dụng khi dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Qua số liệu trên, kết hợp với việc trao đổi cùng GV đã hoặc đang đảm nhận dạy học môn TN&XH, tác giả nhận thấy PPDH chiếm tỉ lệ cao nhất là những phương pháp đặc trưng của dạy học môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN, đó là: phương pháp làm việc nhóm (100%), phương pháp quan sát (90,9%), phương pháp thí nghiệm (84,8%) và phương pháp thực hành (72,7%) Đây cũng là những phương pháp đặc trưng, nổi trội khi tác giả nghiên cứu tài liệu Hướng dẫn học TN&XH lớp 3 Hoạt động cơ bản trong một bài TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN là hoạt động quan sát, thí nghiệm và thực hành nên phương pháp quan sát, phương pháp thí nghiệm và phương pháp thực hành trở thành những phương pháp chính được GV sử dụng Ngoài
ra, do đặc trưng mô hình VNEN nên phương pháp làm việc nhóm là phương pháp luôn luôn được sử dụng ở các tiết học
Bên cạnh đó, phương pháp đàm thoại và phương pháp điều tra có xu hướng giảm mạnh (phương pháp đàm thoại chiếm 42,4% còn phương pháp điều tra chiếm 45,5%); phương pháp đóng vai (18,2%) và phương pháp động não (27,3%) chiếm tỉ lệ chưa cao
Tuy nhiên, điều này chứng tỏ việc đổi mới PPDH trong tiểu học nói chung và môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN nói riêng đang từng bước được tiến hành Việc áp dụng tài liệu Hướng dẫn học TN&XH lớp 3 cũng như cách tổ chức lớp
Phương pháp điều tra
Phương pháp quan sát
Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp đóng vai
Phương pháp thực hành
Phương pháp động não
Trang 37học theo chương trình VNEN đã giúp GV dần thích ứng với PPDH tích cực, xu hướng cải cách giáo dục, giúp HS chủ động hơn trong chiếm lĩnh tri thức Những e ngại trong việc vận dụng các PPDH tích cực cũng đang dần xóa bỏ
Về mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Để tìm hiểu thực trạng mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3, tác giả đã đưa ra câu hỏi thứ 2: “Các thầy (cô) sử dụng các hình thức dạy học dưới đây ở mức độ nào?” Qua điều tra, tác giả thu được kết quả sau:
Bảng 1.2: Mức độ sử dụng các hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Biểu đồ 1.2: Mức độ sử dụng hình thức dạy học trong môn TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN
Từ bảng kết quả trên, tác giả nhận thấy hình thức dạy học theo nhóm được sử dụng thường xuyên nhất (100%) Các hình thức dạy học cá nhân và dạy học cả lớp chỉ được sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng (dạy học cá nhân chiếm 93,9% và dạy học cả lớp chiếm tỉ lệ 75,8%) Theo trao đổi với GV, các thầy (cô) thường sử dụng và tuân thủ tài liệu Hướng dẫn học nên hình thức dạy học phổ biến là hình thức dạy học theo nhóm, trong bài nếu có hoạt động cả lớp hay hoạt động cá nhân thì các thầy (cô) mới sử dụng
STT Các hình thức tổ
chức dạy học
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Tỉ lệ (%)
93,9 75,8
0
30,3
0 0 0
69,7
0 20 40 60 80 100 120 Dạy học cá nhân
Dạy học cả lớp Dạy học theo nhóm
Dạy học ngoài lớp
Không bao giờ Thỉnh thoảng Thường xuyên
Trang 38 Về cách thức GV tổ chức hoạt động học tập cho HS
Để tìm hiểu cách thức GV hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức khi dạy học môn TN&XH lớp 3, tác giả đã đặt câu hỏi thứ 3 “Thầy (cô) thường tổ chức hoạt động học tập của HS trong giờ TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN theo cách thức nào?”
Bảng 1.3: Cách thức GV tổ chức hoạt động học tập cho HS
2 Cho các em làm việc nhóm theo Tài liệu Hướng dẫn
học để các em hình thành tri thức 25 75,7
3 Kích thích hứng thú cho HS, sau đó tổ chức cho HS
4 Để HS làm việc với Tài liệu Hướng dẫn học, từ đó
5 Giảng giải, cung cấp kiến thức bài học cho HS, sau
đó cho HS nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các em nhớ 0 0
6 Mô phỏng thí nghiệm trong Tài liệu Hướng dẫn học 0 0
Biểu đồ 1.3: Cách thức GV tổ chức hoạt động học tập cho HS
Số liệu thống kê cho thấy GV đã có ý thức dành nhiều thời gian cho hoạt động nhóm với Tài liệu Hướng dẫn học (75,7%) nhằm giúp các em có được nhiều cơ hội để nghiên cứu, tìm tòi kiến thức GV cũng rèn luyện cho HS khả năng làm việc với Tài
em hình thành tri thức.
Kích thích hứng thú cho HS, sau
đó tổ chức cho HS tự tìm tòi khám phá kiến thức.
Để HS làm việc với Tài liệu Hướng dẫn học, từ
đó HS rút ra kiến thức cho bài học.
Giảng giải, cung cấp kiến thức bài học cho HS, sau đó cho
HS nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các em nhớ.
Mô phỏng thí nghiệm trong Tài liệu Hướng dẫn học.
Trang 39liệu Hướng dẫn học để tự các em tìm tòi kiến thức (18,2%) Điều đó cho thấy những
sự thay đổi trong cách tổ chức dạy học cũng như truyền đạt kiến thức của chương trình TN&XH theo chương trình VNEN so với chương trình truyền thống: GV để HS chủ động hơn trong việc khám phá kiến thức, GV chỉ là người hướng dẫn Điều này là một thuận lợi lớn khi áp dụng PPBTNB vào dạy học chương trình TN&XH lớp 3 theo chương trình VNEN, vì HS đã có sự chủ động trong việc tìm tòi và khám phá tri thức, không còn thụ động ngồi nghe GV truyền đạt tri thức như trước đây
Về hiểu biết của GV về PPBTNB
Tác giả đã đưa ra câu hỏi: “Thầy (cô) đã biết đến PPBTNB chưa?” nhằm đánh giá hiểu biết của GV về phương pháp học tập tích cực này Tác giả thu được kết quả như sau:
Bảng 1.4: Kết quả sự hiểu biết của GV về PPBTNB
Đã biết đến PPBTNB nhưng chưa sử dụng bao giờ 20 60,6
Biểu đồ 1.4: Kết quả sự hiểu biết của GV về PPBTNB
Nhìn vào bảng số liệu, có thể thấy rằng, các GV đã biết đến PPBTNB (60,6%
GV đã biết và 39,4% GV đã từng sử dụng phương pháp này trong dạy học) Theo trao đổi thì phần lớn các GV biết đến phương pháp này thông qua tập huấn hay các chuyên
0
60,6 39,4
Không biết đến PPBTNB
Đã biết đến PPBTNB nhưng chưa sử dụng bao giờ
Đã sử dụng PPBTNB
Trang 40đề nhà trường tổ chức Điều này chứng tỏ các GV cũng đã phần nào nắm được nội dung của PPBTNB Đây cũng là một trong những thuận lợi của đề tài nghiên cứu
Nhằm tìm hiểu thêm về sự hiểu biết của GV về PPBTNB, tác giả đã đặt ra câu hỏi số 5 “Nếu đã biết về phương pháp này, thầy (cô) hãy vui lòng cung cấp một vài hiểu biết của mình về PPBTNB (khái niệm, quy trình, tác dụng, khó khăn, thuận lợi khi sử dụng phương pháp này)?”
Qua phân tích kết quả điều tra, tác giả rút ra được kết luận sau:
- Về khái niệm: Nhìn chung đa số các GV đều nắm được khái niệm
PPBTNB Các GV đều nắm được đây là một PPDH tích cực mà HS là người chủ động của HS tìm tòi, khám phá tri thức dưới sự giúp đỡ, tổ chức, hướng dẫn của GV; từ đó giúp các em hình thành kiến thức mới và củng cố niềm tin vào khoa học
- Về quy trình dạy theo PPBTNB: Tất cả GV từng sử dụng PPBTNB đều
nắm rõ được quy trình tiến hành khi áp dụng PPBTNB Điều này cho thấy các GV
đã quan tâm đến việc áp dụng PPBTNB vào việc dạy học thực tế chứ không chỉ dừng ở mức độ tìm hiểu để biết
- Về tác dụng: Đa số các GV đều nắm được tác dụng của PPBTNB là phát
huy tính tích cực của HS, khắc sâu mở rộng kiến thức, rèn luyện các kĩ năng cho các em, củng cố niềm tin khoa học và tạo dựng sự tự tin vào bản thân ở HS
- Về thuận lợi:
Lớp học được tổ chức theo mô hình VNEN nên hoạt động nhóm của HS
rất linh hoạt, tự giác và có tổ chức
HS tìm kiếm tri thức bằng cách tự học dựa trên việc nghiên cứu Tài liệu
Hướng dẫn học nên hầu hết HS đều chủ động học tập, chủ động tìm tòi khám phá
Tiết học ở chương trình VNEN có thể kéo dài hơn so với tiết học ở mô
hình nhà trường truyền thống
Đồ dùng dạy học gắn liền với thực tế, dễ tìm (như lá cây, rễ cây, hoa…)
Điều kiện HS ở vùng ngoại thành, vùng núi nên có nhiều hiểu biết về
động, thực vật…
Có thể sử dụng tên bài để làm câu hỏi cho phần tình huống xuất phát (“lá
cây có đặc điểm gì?”, “thân cây có đặc điểm gì?”)