1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1858 1918 (chương trình chuẩn) ở trường thpt trên địa bàn thành phố đà nẵng

103 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 1918 (chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Tác giả Hoàng Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Mạnh Hồng
Trường học Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Lịch sử
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc; ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ đất nước.” Nghị quyết của Đảng cho thấy việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong chương trìn

Trang 2

CẢ Ơ

Sau khi thu thập tài liệu và tìm hiểu, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều phía cá nhân, đơn vị, dù gặp một số khó khăn song đến nay, khóa luận của tôi đã hoàn thành

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Nguyễn Mạnh Hồng – người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm đến thầy (cô) giáo trong khoa lịch sử, các cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện

để tôi có đủ nguồn tài liệu tham khảo để thực hiện đề tài Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, động viên từ các bạn trong tập thể 12 SLS trong suốt quá trình làm đề tài Bài khóa luận của tôi được làm trong thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên còn nhiều thiếu sót Tôi hi vọng nhận được nhiều sự đóng góp ý kiến từ phía thầy (cô) và các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cảm ơn

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016 Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Phương Thảo

Trang 3

ỤC ỤC

Ở ẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Bố cục đề tài 6

NỘ DU 8

C ƯƠ 1 CƠ Ở Í UẬ V CƠ Ở ỰC Ễ CỦA V ỆC

DỤ ỆU C A ƯƠ O D Y C C 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Quan niệm về lịch sử địa phương 8

1.1.2 Quan niệm về tài liệu lịch sử địa phương 8

1.1.3 hân loại tài liệu lịch sử địa phương 9

1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử 10 1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở trường

14 1.2.2 ình hình sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 15

C ƯƠ 2 K A ÁC ỆU C A ƯƠ O D Y C C V Ệ A A O N 1858-1918 (C ƯƠ Ì C UẨ ) Ở Ư Ê A B Ố 19

2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam (1858-1918) ở trường THPT 19

2.1.1 ục tiêu bộ môn lịch sử ở trường 19

2.1.2 ội dung cơ bản của lịch Việt am (1858-1918) ở trường 20

Trang 4

2.2 Khai thác tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam

(1858-1918) ở trường THPT thành phố Đà Nẵng 21

Trang 5

2.2.1 ội dung lịch sử à ẵng cần khai thác khi dạy học lịch sử Việt am

(1858-1918) ở trường 21

2.2.2 Khai thác tài liệu lịch sử địa phương về một số sự kiện khi dạy học lịch sử Việt am (1858 - 1918) ở trường thành phố à ẵng 23

C ƯƠ 3 CÁC B Ệ Á DỤ ỆU C A ƯƠ O D Y C C V Ệ A (1858-1918) Ở Ư Ố 45

3.1 Những nguyên tắc khi xác định và tiến hành các biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 -1918 45

3.2 Các biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1858-1918), (qua thực nghiệm sư phạm ở trường THPT thành phố Đà Nẵng) 47

3.2.1 ử dụng tài liệu lịch sử địa phương kết hợp với các loại đồ dùng trực quan 48 3.2.2 ử dụng tài liệu lịch sử địa phương để tạo tình huống có vấn đề 49

3.2.3 ử dụng tài liệu lịch sử địa phương để đặt câu hỏi, đề ra các bài tập nhận thức trong các bài giảng lịch sử Việt am nhằm phát triển tư duy học sinh 49

3.2.4 ử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 50

3.2.5 ử dụng tài liệu trong các hoạt động ngoại khóa 52

3.3 Thực nghiệm sư phạm 57

3.3.1 ục đích, yêu cầu của việc thực nghiệm sư phạm 57

3.3.2 ội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 57

3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 58

KẾ UẬ 60

ỆU A K ẢO 62

Ụ ỤC

Trang 7

Ở ẦU

1 ý do chọn đề tài

Trong chương trình lịch sử ở trường phổ thông, bên cạnh việc trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới, lịch sử đất nước, môn lịch sử trong nhà trường còn cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về lịch sử địa phương

Nó là nguồn kiến thức vô cùng quý giá đối với học sinh Nguồn kiến thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể của lịch sử dân tộc Nó chứng minh cho sự phát triển hợp quy luật của các địa phương trong sự phát triển chung của đất nước Nó ghi lại những thành quả lao động, những chiến công oanh liệt của nhân dân địa phương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với học sinh Bởi nguồn tài liệu lịch sử địa phương góp phần làm cụ thể phong phú và sinh động hơn các sự kiện lịch sử dân tộc, giúp học sinh nhận thức đúng về quá khứ của dân tộc Mặt khác các nguồn lịch sử địa phương sống động, giàu hình ảnh còn gợi dậy những cảm xúc lịch sử cho học sinh Đây chính là cơ sở để giáo dục cho các em, lòng yêu nước, yêu quê hương và tự hào

về quê hương đất nước Từ đó, các em có trách nhiệm công dân, tình yêu quê hương, yêu con người, yêu thiên nhiên nơi mình sinh ra và niềm tự hào về truyền thống và những chiến công hiển hách trên mảnh đất quê hương

Ngoài ra việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc còn có tác dụng đối với việc rèn luyện các kĩ năng nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy và các kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế Đây chính là mục tiêu chung của giáo dục ở phổ thông Vì vậy mà tại Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi bàn về công tác giáo dục đã chỉ rõ, phải “lựa chọn những nội dung có tính cơ bản, hiện đại Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử

Trang 8

dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc; ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền

đồ đất nước.”

Nghị quyết của Đảng cho thấy việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong

chương trình dạy học lịch sử ở phổ thông là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lớn,

nhằm góp phần học về lịch sử dân tộc, thậm chí cả lịch sử thế giới thêm sống động,

cụ thể và thực hơn, tạo nên những xúc cảm thật của HS hoặc thầy giáo trong mỗi

bài học lịch sử

Thành phố Đà Nẵng là một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa

của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, là nơi đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử

trọng đại trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

qua nhiều thế kỉ Vùng đất và con người nơi đây là phần máu thịt của Tổ quốc mà

bao thế hệ đã dày công vun đắp, mãi mãi không một giây phút lãng quên

Tuy nhiên việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN ở các trường phổ

thông hiện nay, mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều

nguyên nhân khác nhau như tài liệu LSĐP sưu tầm, lưu giữ trong các trường phổ

thông nghèo nàn; GV chưa thực sự quan tâm, ít đầu tư thời gian, công sức để sưu

tầm, lựa chọn tài liệu cần thiết để sử dụng Nếu có sử dụng cũng chỉ dừng ở mức độ

minh họa, làm rõ thêm các sự kiện chứ chưa xem đây là nguồn kiến thức cần phải

có trong mỗi bài giảng

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “ ử dụng tài liệu lịch sử địa

phương trong dạy học lịch sử Việt am giai đoạn 1858 – 1918 (Chương trình

chuẩn) ở trường trên địa bàn thành phố à ẵng.”

2 ịch sử nghiên cứu vấn đề

Xuất phát từ việc nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của việc nghiên

cứu vấn đề dạy học LSĐP ở nhà trường phổ thông, cũng như việc sử dụng tài liệu

LSĐP trong dạy học LSVN, các công trình nghiên cứu về LSĐP ngày càng phong phú, đa dạng ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác Các luận án, luận văn được

thực hiện, bài nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, trong các

Trang 9

chuyên khảo Tất cả đã đề cập ít nhiều đến việc dạy học LSĐP và sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT

Vấn đề sử dụng tài liệu nói chung, tài liệu lịch sử nói riêng (trong đó có tài liệu LSĐP) đã được các nhà lý luận dạy học quan tâm: Liên Xô trước đây - từ rất sớm, rất quan tâm đến công tác nghiên cứu LSĐP Trong trường học người ta đã sử dụng tài liệu LSĐP để giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho HS Văn kiện giáo dục đầu tiên của chính quyền Xô viết (năm 1918) đã yêu cầu các trường phổ thông dạy học lịch sử trong giờ nội khoá A A Vaghin trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” đã khẳng định nguồn tài liệu lịch sử chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông Ông cũng cho rằng, việc lĩnh hội tài liệu là điều kiện cần thiết làm cho HS có quan điểm đúng đắn

về lịch sử

Trong giáo trình Lịch sử địa phương của GS Phan Ngọc Liên, PGS Nguyễn Cảnh Minh xuất bản năm 1995; trong cuốn Lịch sử địa phương của GS Phan Ngọc Liên, GS Trương Hữu Quýnh xuất bản năm 1989; giáo trình Lịch sử địa phương của Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Huế đều đã đề cập đến công tác sưu tầm, chỉnh lý, kiểm tra tư liệu, biên soạn công trình LSĐP và hoàn chỉnh các bài giảng LSĐP theo quy định của chương trình

Thông qua nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề LSĐP và đều thống nhất quan điểm cần thiết phải đưa LSĐP vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông cũng như nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT Một số luận án tiến sĩ như “Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12, PTTH” của Hoàng Đình Chiến, năm 1993;

Sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN là vấn đề được nhiều học viên cao học quan tâm làm luận văn, đề tài tốt nghiệp, chẳng hạn, “Sử dụng tài liệu lịch sử Quảng Nam - Đà Nẵng trong dạy học lịch sử Việt Nam (1858 - 1945) ở trường THPT Quảng Nam và Đà Nẵng” của học viên Nguyễn Hữu Giang năm 1999

Nhìn chung, các tác giả đã nêu bật được tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu

Trang 10

Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp, hình thức sử dụng tài liệu LSĐP trong cả nước cũng như ở từng địa phương như Quảng Nam - Đà Nẵng

Tháng 6 năm 2002, Hội Giáo dục Lịch sử thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, kết hợp với Đại học Vinh tổ chức Hội thảo khoa học về vấn đề Nghiên cứu, biện soạn và giảng dạy lịch sử địa phương Trong 474 trang kỷ yếu của hội thảo, các tác giả chủ yếu đi sâu vào những vấn đề chung về nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy LSĐP; việc đổi mới phương pháp giảng dạy LSĐP và một số kết quả nghiên cứu mới về LSĐP

Tóm lại các công trình nghiên cứu trên đã nhấn mạnh việc sử dụng tài liệu lịch

sử địa phương trong dạy học lịch sử và đưa ra các hình thức, biện pháp sử dụng loại tài liệu này Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở lí luận quý giá giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1918 (Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”

3 ối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là tình hình sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam chương trình lớp 11 (Chương trình chuẩn)

ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đi sâu sưu tầm, làm rõ vấn đề lựa chọn sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam chương trình lớp 11 (Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; điều tra thực

tế, tiến hành thực nghiệm sư phạm một bài lịch sử cụ thể ở trường THPT

4 ục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay nói chung và việc sử tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch

sử nói chung

Trang 11

Qua đó, khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong giai đoạn này có tác dụng và lợi ích như thế nào đối với dạy - học lịch sử của giáo viên

và học sinh hiện nay

Ngoài ra còn góp phần cung cấp thêm tư liệu giảng dạy lịch sử lớp 11 chương trình chuẩn phần lịch sử địa phương ở trường THPT

5 guồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 guồn tư liệu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng tài liệu từ các sách chuyên khảo, một số công trình nghiên cứu, các tư liệu liên quan trên các trang Web, cũng như một số tài liệu tham khảo khác

5.2 hương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là lí luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về lịch sử và giáo dục lịch sử trong trường phổ thông

- hương pháp cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Các sách về phương pháp, các khóa luận, các báo cáo về đổi mới phương pháp dạy học, các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu khác có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp tiến hành điều tra: Tiến hành điều tra tình hình sử dụng tài liệu

Trang 12

hiệu quả trong dạy học lịch sử Việt Nam của giáo viên Bên cạnh đó thấy được mức

độ nắm và hiểu bài của học sinh qua bài giảng của giáo viên

- Phát phiếu điều tra cho học sinh nhằm kiểm tra khả năng ghi nhớ các sự kiện lịch sử địa phương cũng như các hiểu biết của các em về lịch địa phương, để từ đó xác định phương pháp và nội dung dạy của giáo viên cho phù hợp với độ tuổi và đặc điểm của bộ môn

- Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm sư phạm theo hướng đặt ra của đề tài ở một số trường phổ thông để đối chiếu với kết quả điều tra, từ đó rút ra kết luận

về việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương ở trường THPT trong việc dạy học lịch

sử Việt Nam

- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng một số phép thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiêm và kiểm định kết quả của hai nhóm : Đối chứng -thực nghiệm

6 óng góp của đề tài

Đề tài hoàn thành sẽ mang lại những đóng góp sau:

- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc

- Phác họa bức tranh về thực tiễn sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT thành phố Đà Nẵng

- Sản phẩm của đề tài là nguồn tư liệu giảng dạy cho giáo viên, tài liệu học tập của học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn lịch sử ở trường THPT

Trang 13

Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học Lịch sử

Chương 2: Khai thác tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1918 (Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Các biện pháp sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1918 (Chương trình chuẩn) ở trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 14

Ộ DU

C ƯƠ 1

CƠ Ở Í UẬ V CƠ Ở ỰC Ễ CỦA V ỆC DỤ

ỆU C A ƯƠ O D Y C C 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về lịch sử địa phương

Để sử dụng tốt tài liệu lịch sử địa phương với mục đích nâng cao hiệu quả bài học lịch sử trước hết chúng ta cần hiểu đúng khái niệm “Địa phương” Có rất nhiều quan niệm về thuật ngữ “địa phương”, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa: Địa phương theo nghĩa cụ thể là đơn vị hành chính dưới cấp trung ương, từ tỉnh, thành phố đến huyện, xã, thôn, làng, buôn, mường… Địa phương hiểu theo nghĩa khái quát trìu tượng là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống như địa giới hành chính, để phân biệt với các vùng đất khác)

1.1.2 Quan niệm về tài liệu lịch sử địa phương

Để hiểu về khái niệm tài liệu lịch sử địa phương chúng ta phải hiểu được khái niệm tài liệu Theo các tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, nhà xuất bản Đà Nẵng (2002) thì tài liệu “là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó” còn trong “Từ điển Hán Việt”, nhà xuất bản thành phố Hồ chí Minh (2003) tác giả Phan Văn Cát định nghĩa: “Tài liệu là vật phẩm cần thiết để xây dựng nên một vật phẩm khác” Khái niệm tài liệu lịch sử địa phương: Tài liệu lịch

sử địa phương phản ánh các mặt khác nhau trong đời sống quá khứ ở các khu vực, vùng miền Tài liệu lịch sử địa phương rất phong phú đa dạng

Trang 15

Trong cuốn “Lịch sử địa phương” các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Văn An cho rằng nguồn sử liệu địa phương gồm có: sử liệu hiện vật hay sử liệu vật chất, sử liệu thành văn hay sử liệu viết, sử liệu dân tộc học, sử liệu ngôn ngữ học, sử liệu truyền miệng Trong các tài liệu kể trên thì tài liệu lịch sử thành văn (hay còn gọi là sử liệu viết) được coi là “nguồn tư liệu lưu trữ vị trí quan trọng hàng đầu trong các nguồn tư liệu lịch sử địa phương” [14, tr.11] Nguồn tài liệu này phong phú, đa dạng, rất thuận lợi cho việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, du lịch, tôn giáo, quân sự… ở địa phương

1.1.3 hân loại tài liệu lịch sử địa phương

Tài liệu lịch sử địa phương gồm có: tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật, tài liệu địa danh học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tài liệu truyền miệng…

Tài liệu thành văn là nguồn tài liệu hết sức phong phú, đa dạng và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong các nguồn tài liệu LSĐP Nguồn tài liệu này giúp chúng

ta nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử cụ thể, phản ánh những nội dung khá toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng, tôn giáo, quân sự… Ở các địa phương gồm địa phương chí, các bài văn bia, minh chuông, gia phả, hồi kí, đinh bạ, địa bạ, các văn bản của Đảng bộ, chính quyền địa phương…

Tài liệu hiện vật bao gồm các di vật khảo cổ, các công trình kiến trúc, nghệ thuật (đình, chùa…) là những bằng chứng khách quan, chân thực về quá khứ

Tài liệu truyền miệng gồm những câu chuyện lịch sử, cổ tích, ca dao, tục ngữ,

hò vè… nếu biết gạt bỏ những yếu tố hoang đường, hư cấu thì nó là nguồn tài liệu lịch sử có giá trị

Tài liệu dân tộc học nghiên cứu đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán các dân tộc, miêu tả cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương Nếu khai thác tốt, tài liệu dân tộc học có thể tìm hiểu được nhiều vấn đề lịch sử

Trang 16

Tài liệu ngôn ngữ học như: địa danh học, phương ngôn… cũng góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu lịch sử địa phương

1.1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử

Việc sử dụng tài liệu lịch sử nói chung, tài liệu lịch sử địa phương nói riêng có

ý nghĩa lớn trong việc hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển năng lực học sinh

Về mặt hình thành kiến thức lịch sử, tài liệu lịch sử địa phương có tác dụng cụ thể hóa những sự kiện của lịch sử dân tộc, góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ, tạo cho học sinh hiểu rõ những biểu tượng chân thực, chính xác về sự kiện, hiện tượng lịch sử với đầy đủ mọi khía cạnh của nó Với biểu tượng sinh động, chính xác, học sinh dễ dàng lĩnh hội được những khái niệm, thuật ngữ phức tạp, những kết luận mang tính khái quát cao khi học lịch sử dân tộc Từ

đó học sinh cũng sẽ hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về lịch sử dân tộc: hiểu được mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, thấy được tính quy luật và tính đặc thù trong sự phát triển đi lên của lịch sử dân tộc

Việc sử dung tài liệu LSĐP trong dạy học lịch sử dân tộc có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Tài liệu LSĐP là phương tiện góp phần làm phong phú thêm sự hiểu biết của học sinh về quê hương Trên cơ sở nhận thức, học sinh có lòng tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, tình cảm biết ơn, kính trọng các bậc tiền nhân, từ đó

có ý thức trách nhiệm đối với quê hương, đất nước

Tài liệu LSĐP góp phần hình thành, bồi dưỡng năng lực của học sinh nhất là năng lực tư duy Trên cơ sở phân tích, so sánh, liên hệ “cái riêng” của lịch sử địa phương, học sinh sẽ tổng hợp và rút ra quy luật phát triển chung của lịch sử dân tộc: thấy được mối liên hệ biện chứng giữa: “cái chung” và “cái riêng”

 Về mặt giáo dưỡng

Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo thì nghị quyết 29 của Đảng có nêu rõ:

Trang 17

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [21; tr.2]

Nhằm giáo dục đạo đức, khắc sâu cho HS về những giá trị truyền thống tốt

đẹp của lịch sử dân tộc và địa phương thì việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học

lịch sử dân tộc là vô cùng quan trọng Tài liệu lịch sử địa phương có tác dụng minh họa, làm rõ hơn về các sự kiện lịch sử dân tộc Đồng thời sử dụng tài liệu lịch sử địa phương còn giáo dục cho các em về truyền thống của quê hương mình Việc minh họa làm rõ thêm các sự kiện lịch sử cho học sinh là rất cần thiết trong quá trình hình thành và phát triển tư duy, trong quá trình tìm kiếm phát hiện và chiếm lĩnh tri thức

cũng như dễ hình dung về sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy

Thứ nhất, việc sử dụng tài liệu địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc góp phần phát triển cho học sinh các năng lực như tri giác, hình dung, tưởng tượng và các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa Thứ hai, việc sử dụng tài liệu địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc góp phần phát triển cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo bộ môn

Thứ ba, việc sử dụng tài liệu địa phương trong dạy học lịch sử dân tộc góp phần phát triển các em các thành phần nhân cách và các năng lực hành động, hoạt động thực tiễn

 Về mặt giáo dục

Trong đời sống xã hội, việc giáo dục thế hệ trẻ thông qua giáo dục lịch sử không chỉ có tác dụng về trí lực mà cả về tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ So với các bộ môn khác, môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho HS

Trang 18

kết quả khả quan trong bước đường đổi mới toàn diện của đất nước Tuy nhiên, do tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường nên phải tăng cường hơn nữa việc giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân cách và bồi dưỡng niềm tin cho các em trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng

Như nghi quyết 29 của Đảng đã chỉ rõ:

Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Để làm được điều đó, GV không chỉ chú trọng cung cấp tài liệu - sự kiện mà phải thông qua sự hiểu biết lịch sử để dạy người Phần lớn HS phổ thông đều sinh

ra, lớn lên và được học tập tại nơi chôn nhau, cắt rốn của mình, ít nhiều có nhu cầu tìm hiểu về những gì đã và đang xảy ra xung quanh mình Ở lứa tuổi này, tình cảm của các em rất gắn bó với những gì gần gũi, thân thiết, do đó:

“Việc đưa chất liệu lịch sử địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc sẽ là

phương tiện làm phong phú sự hiểu biết của HS về quê hương, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương Điều này có vai trò không nhỏ trong giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cho HS, góp phần hình thành lòng yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế vô sản cho thế hệ trẻ” [23, tr 41]

Sử dụng có hiệu quả nguồn tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT còn góp phần

giáo dục truyền thống dân tộc “Mỗi thế hệ đi vào cuộc sống hướng theo sự phát

triển chung của nhân loại và dân tộc, không thể không mang theo mình những giá trị của quá khứ, truyền thống dân tộc” [16; tr 83] Dân tộc Việt Nam từ bao đời nay

có truyền thống yêu nước, anh hùng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, tinh thần nhân ái, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau Khi sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học lịch sử dân tộc, GV cần tạo điều kiện cho HS được tiếp xúc với những tài liệu -

sự kiện liên quan đến mảnh đất, con người cụ thể nơi các em đang sống và học tập Điều đó có tác động to lớn đến tư tưởng, tình cảm của HS, nuôi dưỡng lòng tự hào,

Trang 19

biết ơn và yêu quý hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đây cũng là cội nguồn của lòng yêu nước Từ đó, giúp các em hình thành thái độ đúng đắn và xác định nghĩa

vụ của mình đối với quê hương cũng như đất nước

Sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT góp phần giáo dục cho các em lòng kính yêu quần chúng nhân dân, những người sáng tạo ra lịch sử, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội

 Về mặt phát triển

Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, tài liệu tham khảo nói chung, tài liệu LSĐP nói riêng nếu được sử dụng hợp lý trong dạy học LSVN góp phần rèn luyện kỹ năng, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của các em

Thực tế cho thấy, cũng như việc học các bộ môn khác ở nhà trường phổ thông, học tập lịch sử là một quá trình nhận thức, mỗi cá nhân phải chủ động thực hiện cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn, điều chỉnh của thầy giáo Học tập lịch sử, HS không chỉ dừng ở việc ghi nhớ các sự kiện, điều quan trọng là phải hiểu bản chất sự kiện, quá trình lịch sử, rút ra quy luật, tìm kiếm bài học từ quá khứ phục vụ cho hiện tại Vì vậy, dạy học lịch sử cần phát huy tính tích cực, sáng tạo từ phía HS Quá

trình nhận thức của HS cũng phải tuân theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư

duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn Đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [29, tr 179]

Phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, phát huy tính tích cực học tập cho các em

là điều cần thiết, song vấn đề đặt ra là làm sao để có thể bồi dưỡng lòng say mê, sự hứng thú học tập, nghiên cứu đối với bộ môn Theo tâm lý học, hứng thú thuộc thành phần nhân cách, để có được hứng thú học tập phải bắt đầu từ chú ý Đây là điều kiện bắt buộc của bất kỳ hoạt động nhận thức nào, như chú ý nghe giảng, tập trung vào câu hỏi của thầy, tự suy nghĩ, tự nhận xét câu trả lời của bạn Nếu tập trung sự chú ý vào bài giảng, HS sẽ đạt được sự ngạc nhiên, đồng tình hay phản đối từ đó, sẽ nảy sinh xúc cảm lịch sử, là cơ sở để giáo dục tình cảm Theo I F

Trang 20

động cơ và làm cho hoạt động con người có tính hấp dẫn” [28, tr.28], chỉ có hứng

thú thật sự với công việc, HS mới tích cực, chủ động, sáng tạo trong tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức

Tư duy lịch sử được hình thành trong quá trình học tập lịch sử; nó phù hợp với

sự phát triển của bản thân hiện thực quá khứ Vì vậy, phương pháp lịch sử là biện pháp xem xét sự kiện, hiện tượng lịch sử trong quá trình phát sinh, phát triển, diệt vong; trong sự thống nhất, đa dạng và đầy mâu thuẫn của lịch sử Qua đó, HS nhận

thức rõ mối dây liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Có thể nói rằng: “Tư duy

lịch sử là hoạt động trí tuệ của HS nhằm nhận thức đúng về quá khứ, hiểu rõ hiện tại

và dự đoán sự phát triển hợp quy luật của tương lai” [16, tr.103] Do đó, một mục tiêu

của học tập lịch sử là tìm hiểu những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng hiện tại và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn Vì thế, ngay từ

thời cổ đại các sử gia Roma đã khẳng định “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”

Tài liệu LSĐP, nếu được sử dụng tốt trong dạy học LSDT giai đoạn 1918), giúp HS hiểu được mối liên hệ giữa lịch sử quá khứ với hiện tại và tương lai

(1858-và rút ra những bài học cho ngày nay Việc rút kinh nghiệm từ quá khứ không chỉ dừng ở việc đề cập đến sự thành công của lịch sử mà cả những sai lầm, thất bại nhằm phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng giai đoạn hiện tại

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vấn đề sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Vấn đề sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã được quan tâm ngay từ sau Cách mạng tháng Tám Trong chương trình lịch sử do

Bộ Giáo dục của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành (có hiệu lực từ năm 1948), vấn đề LSĐP đã được đề cập, nhưng do hoàn cảnh đất nước đang trong giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp nên nội dung bộ môn Lịch sử được thay đổi theo hướng rút bớt phần “lịch sử cổ, kim, đông, tây” mà tăng cường việc dạy học lịch sử cách mạng Việt Nam Như vậy, vấn đề LSĐP tuy có đặt ra nhưng không được đưa vào bài học lịch sử nội khóa mà chỉ thực hiện trong các hoạt động ngoại khóa

Trang 21

Tháng 7 - 1950, đề án cải cách giáo dục được Hội đồng Chính phủ thông qua

và bắt đầu áp dụng từ năm học 1950 - 1951 Đến năm 1953, chương trình có sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, nên trong chương trình của hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm không có tiết dành riêng cho việc dạy học LSĐP Tuy vậy, chương trình có nhấn mạnh việc GV phải tìm hiểu tài liệu LSĐP để bổ sung cho khóa trình LSDT hoặc liên hệ kiến thức lịch sử đân tộc đang học với thực tế địa phương Sau cuộc cải cách giáo dục lần thứ 2 (1956) và các lần sửa chữa, bổ sung từ sau năm học 1960 - 1961, vấn đề sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT càng được chú trọng Từ năm học 1978 - 1979, các tiết LSĐP được quy định cụ thể trong chương trình lịch sử ở cấp III: tiết 49 ở lớp 9 và tiết 23 ở lớp 10

Theo phân phối chương trình môn Lịch sử của Vụ giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành năm 1992, ở bậc THPT, có 2 tiết LSĐP: tiết 32 ở lớp

10 và tiết 32 ở lớp 11 Theo chương trình mới môn Lịch sử ở cấp THPT, ban hành kèm theo quyết định số 47/2002/QĐ - BGD&ĐT ngày 19 - 11 - 1992 của Bộ truởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, LSĐP được dạy 6 tiết trong chương trình: 2 tiết ở lớp 10, 2 tiết ở lớp 11, 2 tiết ở lớp 12 Như vậy, chúng ta có thể thấy vấn đề sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học lịch sử ngày càng được nâng tầm và chú trọng

1.2.2 ình hình sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Qua điều tra khảo sát ở các trường THPT Thanh Khê, THPT Thái Phiên chúng tôi thấy:

Về phía học sinh, chúng tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra gần

160 học sinh lớp 11 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là: THPT Thanh Khê và THPT Thái Phiên năm học 2015-2016 với mục đích như sau:

Kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh về sự hỗ trợ của tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam

Trang 22

Kiểm tra xem mức độ ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử của học sinh khi sử dụng tài liệu lịch sử địa phương vào dạy học lịch sử

Từ đó, kiểm tra mức độ hứng thú và hiểu bài của học sinh khi được học lịch sử

có sử dụng tài liệu lịch sử địa phương

Thông qua điều tra trên, chúng tôi thấy rõ được thực trạng việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương hiện nay ở các trường THPT trong nhận thức của các em học sinh lớp 11 Tầm quan trọng của việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương, mức độ nhận thức hứng thú, yêu thích học lịch sử khi giáo viên sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử

Kết quả điều tra cho thấy:

Ở vấn đề thứ nhất, thì có tới 65% (104/160) các em đều chọn đáp án là LSĐP

hỗ trợ rất tốt cho LSDT, còn lại thì các em chọn tốt, nhưng vẫn còn tỉ lệ 3.75% (6/160) các em chọn là không hỗ trợ gì Qua đó thì chúng ta thấy rằng vẫn còn một

số em chưa nhận thức được mức độ hỗ trợ của LSĐP

Ở vấn đề thứ hai, về ghi nhớ các sự kiện, thì đại đa số các em còn nhầm lẫn hoặc chưa nhớ, vẫn còn chọn bừa như ở câu hỏi về sự kiện nhân dân Đà Nẵng chống lại liên quân Pháp – Tây Ban Nha được nhắc đến trong bài nào thì đa số các

em vẫn còn trả lời sai hoặc nhầm lẫn giữa các đáp án, chỉ có hơn 50 % (89/160) là các em trả lời đúng câu hỏi này Chứng tỏ các em vẫn chưa nhớ hoặc chưa hứng thú với môn học này lắm

Ở vấn đè thứ 3, thái độ và hứng thú của các em trong học tập môn này là gì thì

đa số các em chưa tỏ ra hứng thú lắm, có những bạn thì thờ ơ, hoặc trả lời cho xong thì chiếm gần 50% những câu hỏi liên quan đến LSĐP mà GV đưa ra

Về phía giáo viên: chúng tôi cũng xây dựng 11 câu hỏi trắc nghiệm, để thăm

dò ý kiến của 15 giáo viên theo nội dung sau:

Tìm hiểu quan điểm của giáo viên về sự cần thiết và tác dụng của tài liệu lịch

sử địa phương trong dạy học lịch sử

Trang 23

Tìm hiểu về tình hình sử dụng tài liệu lịch sử địa phương của giáo viên trong dạy học lịch sử Việt Nam như thế nào? Thầy cô đã sử dụng tài liệu lịch sử địa phương với hình thức nào là chủ yếu?

Thăm dò ý kiến của giáo viên về những khó khăn khi sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam

Thông qua việc điều tra thực nghiệm, xử lí và tổng hợp các phiếu điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học lịch

sử Việt Nam là rất cần thiết, giúp HS khắc sâu thêm kiến thức về những sự kiện của lịch sử dân tộc

Kết quả điều tra cho thấy, đa số các GV đều cho rằng LSĐP hỗ trợ rất tốt cho LSDT chiếm 60%, còn một vài người thì chọn tốt Chứng tỏ GV đã thấy được tầm quan trọng và sự hỗ trợ của LSĐP đối với lịch sử dân tộc

Ở vấn đề thứ hai, thì đa số GV đều sử dụng tài liệu LSĐP trong các bài giảng nội khóa mà chủ yếu là sử dụng tài liệu thành văn chiếm 12/15 (80%) còn các tài liệu khác thì sử dụng rất ít chỉ chiếm 20% Vì vậy, GV cần phải đa dạng hơn các tài liệu trong các tiết dạy để tăng thêm sự hứng thú của HS

Ở vấn đề thứ ba, khó khăn mà GV mắc phải trong khi sử dụng tài liệu LSĐP thì đa số các GV đều chọn do thời gian và phương pháp giảng dạy chiếm hơn 60% (10/16) Vì vậy, phải có các biện pháp để giúp người Gv hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Như vậy để khắc phục tình trạng dạy và học lịch sử như hiện nay cần có sự đổi mới phương pháp dạy học, trong đó phải chú trọng đến việc sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy học, không chỉ đối với học sinh mà còn đối với giáo viên Mọi hình thức đổi mới phương pháp dạy học đều nhằm mục tiêu giúp học sinh không chỉ “biết” lịch sử mà còn phải “hiểu” lịch sử, và hơn thế nữa là giúp các em yêu thích, hứng thú khi học môn lịch sử

Trang 25

“Mục tiêu của giáo dục là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể

chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [2, tr 5]

CT giáo dục cấp THPT hiện hành ngoài mục tiêu củng cố và phát huy kết quả

của giáo dục THCS, còn giúp HS “có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và

hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân” Mục tiêu CT mới còn cụ thể hóa định hướng giáo dục: giúp học sinh hình

thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền

và nghĩa vụ đối với Tổ quốc…; có khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, cónhững hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và

sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân… Đây chính là điểm mới quan trọng

so với mục tiêu GD cấp THPT hiện hành

Từ đó, các môn học ở bậc phổ thông, cần xác định mục tiêu của mình để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục chung Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là:

“ nhằm giúp cho HS có những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và

lịch sử thế giới; góp phần hình thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu

Trang 26

quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [1, tr.5]

Để đạt được mục tiêu ấy, nội dung phần LSVN 1858-1918, là những sự kiện lịch

sử tiêu biểu, phác họa các bước phát triển chủ yếu của LSDT qua các thời kỳ Trong học tập, HS cần nắm được mối liên hệ giữa LSĐP, LSDT và lịch sử thế giới; nhận thức vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử; nêu rõ nguyên nhân và động lực tạo ra các chuyển biến lịch sử, quy luật vận động của lịch sử Qua đó, mà hình thành cho HS những kỹ năng học tập cần thiết như biết xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ không gian, thời gian; biết cách làm việc với SGK, các nguồn sử liệu (trong đó có tài liệu LSĐP); phát triển các thao tác tư duy cần thiết đối với việc học tập lịch sử như: so sánh, tổng hợp, phân tích, vận dụng kiến thức để đặt vấn đề, để vận dụng kiến thức đã học vào thực tế đời sống và tiếp thu kiến thức mới Mặt khác, thông qua việc dạy học khóa trình lịch sử nói trên, GV bồi dưỡng cho HS tình cảm, tư tưởng, thái độ đúng đắn, như tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, biết trân trọng quá khứ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Để dạy học LSVN ở THPT có hiệu quả, GV không chỉ nhận thức được mục tiêu,

mà còn nắm vững nội dung cơ bản của SGK, các hình thức, phương tiện và phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa nhận thức của HS

2.1.2 ội dung cơ bản của lịch Việt am (1858-1918) ở trường

Phần LSVN (1858-1918) trong SGK lịch sử lớp 11, gồm 02 chương với 6 bài

và một bài lịch sử địa phương Cụ thể:

Chương I: Việt Nam từ sau năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX

Chương II: Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918)

Nội dung cơ bản trong giai đoạn lịch sử này là: Nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn lâm vào khủng hoảng, tạo điều kiện cho thực dân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng tấn công nước ta, địa điểm mà chúng chọn đầu tiên là Đà

Trang 27

Nẵng Trên khắp các mặt trận Đà Nẵng, Nam Kỳ, Trung Kỳ quá trình tổ chức chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ Sau gần 30 năm tiến hành xâm lược (1858-1884), cùng với quá trình đầu hàng, nhượng bộ của triều đình phong kiến nhà Nguyễn thì thực dân Pháp chính thức hoàn thành xâm lược nước ta Dưới ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp, hưởng ứng “Chiếu Cần Vương” nổ ra rầm rộ

từ năm 1858 đến hết thế kỉ XIX, tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại

Nội dung của phần này cũng đề cập đến sự chuyển biến của xã hội Việt Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, sự ra đời và phát triển của trào lưu giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản Sự khởi đầu của một khuynh hướng cứu nước mới gắn liền với hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm

Trang 28

Thứ nhất, các sự kiện lịch sử Đà Nẵng quan trọng, có ý nghĩa, trở thành sự

kiện của lịch sử dân tộc, được đề cập đến trong nội dung sách giáo khoa

Chúng ta dễ dàng nhận thấy, nội dung SGK dẫu có hoặc không đề cập đến sự kiện ở Đà Nẵng, nhưng nhiều sự kiện lớn diễn ra trên mảnh đất này đã trở thành sự kiện lớn của LSDT Chúng tôi đi sâu phân tích một số vấn đề tiêu biểu:

Khi nói về liên quân Pháp – Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam, chiến sự ở Đà Nẵng năm 1858 Đây là một sự kiện quan trọng vì mảnh đất Đà Nẵng là mảnh đất đầu tiên của cả nước mà TDP đặt chân xâm lược nước ta Khi dạy học đến sự kiện này thì giáo viên phải giải thích được vì sao mà TDP lại chọn Đà Nẵng là nới xâm lược đầu tiên, cũng như cuộc đấu tranh chống lại TDP của nhân dân Đà Nẵng diễn

ra như thế nào

Đây là những sự kiện lịch sử diễn ra ở Đà Nẵng nhưng là vấn đề chung của LSDT Do đó, sử dụng tài liệu LSĐP khi dạy vấn đề trên cho HS THPT một cách phù hợp không chỉ giúp HS nâng cao kiến thức mà còn bồi dưỡng cho các em tinh thần yêu nước, tự hào với truyền thống quê hương và góp phần phát triển tối đa khả năng tư duy, năng lực nhận thức độc lập cho HS

Thứ hai, những sự kiện lịch sử địa phương chưa trở thành sự kiện được ghi trong sách giáo khoa lịch sử nhưng có ý nghĩa lớn đối với việc học tập của HS, cần được nhắc đến trong quá trình dạy học

Thứ ba, những sự kiện, di tích lịch sử Đà Nẵng tuy không nêu trong sách giáo khoa lịch sử dân tộc nhưng góp phần tạo được biểu tượng về những sự kiện, quá trình lịch sử chung của cả nước

Số lượng loại sự kiện di tích lịch sử này rất nhiều, nhưng cần sưu tầm, sử dụng phù hợp với yêu cầu, khuôn khổ một bài giảng LSDT, nhằm liên hệ thực tế và có ý nghĩa giáo dục đối với HS Chúng tôi chỉ dẫn ra một vài ví dụ

Tóm lại, GV có thể khai thác nhiều sự kiện, nhân vật LSĐP trong dạy học LSDT Tùy thuộc vào sự tác động, tầm ảnh hưởng của sự kiện LSĐP đối với LSDT

Trang 29

để GV lựa chọn tài liệu, suy nghĩ cách sử dụng hợp lý trong dạy học Có như thế, tài liệu LSĐP mới góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vấn đề này

sẽ được trình bày ở mục sau

2.2.2 Khai thác tài liệu lịch sử địa phương về một số sự kiện khi dạy học lịch

sự kiện chỉ được nhắc đến; có những sự kiện không được đề cập trong SGK, song khi dạy học, GV phải nhắc đến

Trong khóa trình LSVN 1858 - 1918, có rất nhiều sự kiện lớn của LSDT có liên quan đến Đà Nẵng được nhắc đến trong chương trình và SGK như: chiến sự ở

Đà Nẵng năm 1858, phong trào Nghĩa hội của Nguyễn Duy Hiệu ở Quảng Nam, phong trào Duy Tân đầu thế kỉ XX và phong trào chống thuế năm 1908, cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân

Để có nguồn tài liệu LSĐP hợp lý, phát huy tác dụng trong dạy học, cần phải định tiêu chí khi lựa chọn tài liệu đó là:

Việc lựa chọn tài liệu phải tuân thủ các nguyên tắc về tính Đảng, tính khoa học GV cần phải đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Muốn vậy cần phải làm rõ xuất xứ tài liệu, thái độ chính trị của tác giả, phải đảm bảo độ tin cậy về mặt khoa học

- Phải xử lý mối quan hệ giữa phương pháp lịch sử, phương pháp lô gích khi lựa chọn các sự kiện để vừa cụ thể hoá các sự kiện hiện tượng lịch sử, vừa giúp hiểu được bản chất lịch sử

Trang 30

- Phải sử dụng các tài liệu LSĐP phù hợp với nội dung, yêu cầu của chương trình, SGK Khi lựa chọn tài liệu phải căn cứ vào nội dung SGK, phải suy nghĩ xem tài liệu đó sử dụng trong dạy học sự kiện LSVN nào, sử dụng trong giờ học nội khoá hay ngoại khoá, thậm chí là sử dụng cho bài nội khoá trên lớp hay tại thực địa

- Phải đảm bảo yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đối với HS Nghĩa

là, tài liệu khi đưa vào bài giảng phải giúp HS đi từ biết đến hiểu và hiểu sâu sắc hơn các sự kiện lịch sử trong SGK, góp phần giáo dục cho HS những đức tính gì, có phát triển được tư duy HS,

- Phải đảm bảo được tính vừa sức, cần chú ý mặt bằng trình độ HS, chú ý đặc trưng riêng của vùng, miền, phải suy nghĩ tài liệu LSĐP đưa vào giảng dạy ở thành thị khác gì với dạy ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa, tránh tình trạng "quá tải"

- Khi lựa chọn phải luôn chú ý mối quan hệ giữa LSĐP với LSVN,

B i 19: Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (Từ năm

1858 đến trước năm 1873)

rong mục 3, phần (Chiến sự ở à ẵng năm 1858)

Về việc TDP chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của mình thì GV có thể sử dụng lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược từ năm 1858 - 1884 để giải thích và dựa vào vị trí địa lý của

Đà Nẵng thì có tài liệu :

- Là cửa biển rất tốt giúp chúng phát huy tối đa sức mạnh hải quân, đội quân

xâm lược chủ yếu

- Đà Nẵng chỉ cách kinh thành Huế chừng 100km về phía Nam Theo sự tính

toán của chúng, sau khi chiếm được Đà Nẵng phát huy chiến quả nhanh chóng tiến quân ra Huế, chỉ cần chiếm được Huế là có thể đè bẹp được ý chí của đối phương

Trang 31

- Có lực lượng giáo dân làm nội ứng Theo suy nghĩ của họ, mỗi giáo dân ở

đây đã là một con ngựa thành Troa Năm 1856, từ Việt Nam trở về, trong cuộc tiếp kiến với Napôlêông III, giám mucjPellerin đã đoán chắc rằng “những người công giáo Việt Nam sẽ nổi lên hàng loạt khi người Pháp tới và sẽ đi theo những người giải phóng họ để trong một ít ngày kết thúc cuộc hành binh” [9, tr28-29]

Trước hành động xâm lược của TDP, thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn ra rất anh dũng và có sự chuẩn bị chu đáo Đặc biệt đó là việc xây dựng hệ thống phòng thủ tại cửa biển Đà Nẵng GV có thể sử dụng lược đồ hệ thống phòng thủ ở Đà Nẵng kết hợp với việc vận dụng những kiến thức LSĐP để làm rõ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta

- Bên cạnh sự đấu tranh của quân dân ta thì ở mặt trận Đà Nẵng, nhân dân tổ chức đắp đập xây dựng các phòng tuyến kiên cố tại cửa biển Đà Nẵng để chống giặc

- GV kết hợp vừa giảng giải, vừa chỉ lược đồ để HS thấy rõ cách bố phòng của

ta tại cửa biển Đà Nẵng

- Bên hữu ngạn sông Hàn, về tận phía Bắc bán đảo Tiên Sa, trên đỉnh núi Sơn Trà có đồn Trấn Dương, dưới chân núi về phía Tây, dải đất núi khá bằng phẳng nhô ra vùng vịnh ở mũi Mỏ Diều có pháo đài Phòng Hải, hơi chất về phía Bắc ở đây còn có bảo thứ nhất, kế tiếp phía Nam có bảo thứ hai, thứ ba, thứ tư Và phía Nam là thành An Hải, kế cận thành còn hệ thống đồn của các làng An Hải, Mỹ Thị, Hóa Khê, Phước Trường,…

- Bên tả ngạn sông Hàn, từ đỉnh Hải Vân có Hải Vân quan, tiến về phía Đông Nam gần chân đèo có đồn Chân Sảng, pháo đài Định Hải, xuống dưới chân đèo có tấn Câu Đê và dọc đường thiên lí có thất trạm Trung tâm thành phố Đà Nẵng có thành Điện Hải đối diện với thành An Hải, sau lưng thành Điện Hải là các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên… như là hệ thống các vệ tinh của thành Điện Hải

Trang 32

- Giữa hai bờ tả ngạn là lòng sông Hàn, một hệ thống tàu thuyền lớn nhỏ được trang bị đầy đủ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, neo đậu theo từng điểm từ cửa tấn Đà Nẵng đến hệ thống các đồn dọc theo hai bên bờ tả, hữu sông Hàn [10, tr.20]

Ngoài ra GV cần phải trình bày cho HS biết về Đà Nẵng những ngày đầu kháng chiến chống TDP

Mờ sáng ngày 1 - 9 - 1858, TDP cho người gửu tối hậu thư tới quan trấn thủ

Đà Nẵng, đòi quân ta đầu hàng và nộp toàn bộ vũ khí Không đợi đến hết thời gian như đã hẹn trong tối hậu thư, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã bắn phá vào các vị trí đặt đại bác và các hải đài của ta ở phía Tây Nam bán đảo sơn Trà, tàu chiến của giặc thả neo ở cửa sông, pháo kích trức tiếp vào đồn Nại Hiên Đông và An Hải và Điện Hải Đến khoảng 10 giờ sáng, quân Pháp đổ bộ chiếm đồn Nại Hiên Đông và

11 trượng 2 thước, hào sâu 7 thước, có 2 cửa, cửa chính nhìn xuống sông Hàn, cửa phụ ở phía Nam, 1 kỳ đài, 30 ụ súng lớn Thành được xây bằng gạch, do kỹ sư Olivier Puymanuel người Pháp, thiết kế, theo kiểu Vauban, thành hình vuông có bốn góc lồi, được bao bọc bởi hai lớp tường, giữa có hào sâu, muốn vào thành phải

đi qua chiếc cầu bằng gạch bắc ngang qua hào

Thành An Hải được xây dựng bằng gạch trên một khu đất rộng ở An Đồn, phía hữu ngạn con sông Hàn, đối diện cùng với Thành Điện Hải để cùng với Điện Hải hợp lực chống giữ mặt biển Thành An Hải có quy mô nhỏ hơn thành Điện Hải,

có chu vi 40 trượng 2 thước (165m), cao 1 trượng 1 thước (4,5m ), chung quanh cũng có hào sâu 4m bao bọc Thành có hai cửa, một kì đài, 22 ụ đại bác cỡ lớn Đại

Trang 33

bác mũi quay về hướng Hàn và vịnh Đà Nẵng để phòng tàu nước ngoài đột nhập [9, tr50]

Các pháo đài của ta bắn trả quyết liệt nhưng không hiệu quả Lực lượng đồn trú ở các đồn tiền tiêu phải tháo lui sau khi bị tiêu hao nặng nề Đến chiều ngày 1-9-

1858, các đồn của ta ở hữu ngạn (phía Đông) đã bị hạ

Ngày 2 - 9 - 1858, quân Pháp tiếp tục tâp trung hỏa lực đánh chiếm thành Điện Hải, căn cứ chủ yếu của Đà Nẵng Sau khi chiếm được thành, chúng phá hủy kho tàng, vũ khí rồi xuống tàu quay về căn cứ ở Tiên Sa

Sau khi nhận được tin quân Pháp gây hấn ở Đà Nẵng, triều đình đã điều quân tiếp viện và ứng cứu, Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam Quân dân Đà Nẵng được huy động vào việc đắp chiến lũy, lập phòng tuyến với các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên, Nghi Xuân và thành Điện Hải… ngăn chặn quân Pháp tiến sâu vào nội địa Nhân dân được lện làm

“vườn không nhà trống” để quân Pháp không tuyển mộ được binh lính và không có người cung cấp lương thực, thực phẩm

Trong phần này thì GV có thể giới thiệu thêm về Nguyễn Tri Phương và phòng tuyến Liên Trì và pháo đài Phòng Hải

Nguyễn Tri Phương (1800-1873) có tên thật là Nguyễn Văn Chương, tự là Hàm Chương, hiệu Đường Xuyên Ông là một vị quan nổi tiếng đầu thời Nguyễn Ông là vị quan phụng sự qua ba triều vua, trong đó, thời gian đương chức của ông dưới triều Tự Đức là lâu nhất Trong quan niệm của vua Tự Đức, Nguyễn Tri Phương là một bề tôi trung thành, một võ tướng trí dũng song toàn và là một thanh quan “liêm bình cần cán" Chính vì thế, ông luôn nhận được sự tín nhiệm cao và được giao nhiều trọng trách Nguyễn Tri Phương đã góp phần giúp vua Tự Đức ổn định vùng Nam Kì, tiễu trừ giặc cướp ở phía bắc và đặc biệt là gây cho thực dân Pháp nhiều khó khăn trong những ngày đầu xâm lược nước ta tại Đà Nẵng [9, tr.170] Phòng tuyến Liên Trì gồm một hệ thống đồn, luỹ dài 3km dọc hữu ngạn và tả

Trang 34

cho nhanh chóng, kịp thời Sau khi đồn Liên Trì được xây vào tháng 1/1859, Thống chế Nguyễn Tri Phương cho đắp một luỹ cát từ ngoài bãi biển vòng vào bao quanh các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián cho đến sát thành Điện Hải Lại chia vùng chiến sự ra làm các khu đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, Liên Trì để đưa quân đến đóng và “chia đặt lầu canh đồn gác để tiếp ứng cho được nhanh chóng” Ông cho đào những hố sâu kiểu chữ “Phẩm” bên ngoài lũy, dưới cắm đầy chông tre nhọn, đậy bằng vĩ tre, phủ đất và trồng cỏ ngụy trang, chia đặt phục binh sẵn sàng vọt lên đánh địch bất cứ lúc nào khi chúng dám tiến quân Lại dùng xích sắt chống dòng sông Hàn, cho lấp sông Vĩnh Điện để thế nước dồn chảy về cửa Đại nhằm ngăn không cho tàu thuyền sam bản của địch tiến sâu vào bên trong nội địa [9, tr 198] Pháo đài Phòng Hải hình tròn, có đường kính 9 trượng, 2 tầng Tầng trên đặt

8 cỗ súng đồng quá sơn, tầng dưới đặt 19 cỗ súng ngang hồng y Trong pháo đài có kho thuốc súng, trại lính và kho lương thực Như thế pháo đài Phòng Hải hợp lực lượng với pháo đài An Hải, Điện Hải đã bao quát được toàn bộ mặt vịnh Đà Nẵng [19, tr.44]

Bên cạnh vai trò quan trò quan trọng của Nguyễn Tri Phương trong công cuộc kháng chiến của nhân dân ta thì Ông Ích Khiêm cũng có vai trò vô cùng to lớn GV vận dụng kiến thức đàm thoại thêm về Ông Ích Khiêm

Ông Ích Khiêm hiệu là Mục Chí, quê ở làng Phong Lệ, huyện Hào Vang, thành phố Đà Nẵng Ông thông minh chăm học, tính tình cương nghị, hoạt bát Khi TDP xâm lược nước ta, Tự Đức xuống chiếu triệu hồi về kinh Ông được phong chức rồi cầm quân cùng với Nguyễn Tri Phương xây đồn, đắp lũy, đánh lui quân Pháp ở Hải Vân, bảo vệ Đà Nẵng [9, tr.132]

Trong kháng chiến chống Pháp thì ông còn nghĩ ra những cách đánh rất hay, sáng tạo

Khi mà giặc Pháp phá vỡ các đồn bốt như Thị Nại, Liên Trì, băng qua sông Hàn, nhập vào sông Cẩm Lệ để vào đất liền Để cầm chân giặc Ông Ích Khiêm đã cho quân đánh giặc bằng đuốc, tức là lấy vỏ dừa khô đổ dầu rái, dầu chai vào thả

Trang 35

đốt trôi trên sông, quân Pháp trong đồn tưởng quân ta tấn công nên xả súng bắn, chờ chúng hết đạn quân ta nhảy vào đánh giáp lá cà

Còn khi giặc vào đất liền thì nhân dân Đà Nẵng lại nghĩ ra cách đánh khác là trận mù u, tức là dùng trái mù u rải trên đường mà chúng sẽ đi qua Khi quân Pháp đến, quân ta giả vờ thua rồi bỏ chạy, chúng hăng hái đuổi theo giậm phải trái mù u tròn như viên bi nên bị ngả ngửa súng bay khỏi tay, quân dân ta vây lại đánh chúng [12, tr 280 - 281]

Ngay khi pháp tấn công Đà Nẵng, các quan lại quê ở Quảng Nam đang công

cán khắp miền đất nước như Phạm Phú Thứ đang làm việc trong nội các đã cùng cậu là Phạm Hữu Nghị dâng sớ xin cho các quan lại, thân sĩ, binh lính quê ở Quảng Nam đanh ở kinh đô về tỉnh lập đội nghĩa dũng chống giặc, song vua Tự Đức không chuẩn y vì cho rằng chưa cần thiết [60]

Nhân dân trực tiếp tham gia chiến đấu ở mặt trận Đà Nẵng còn lưu lại tên tuổi

cụ thể như đội Năm đội Bảy ở làng Thanh Khê chỉ huy nghĩa quân phục kích tại cấm Hòa An tiêu diệt bọn Việt gian tiếp tế cho Pháp Sau đó họ dùng thuyền bơi ra đồn Am Bà trên bán đảo Sơn Trà phục kích và giết được một tên sĩ quan Pháp.[tr.61]

Về phía liên quân Pháp - Tây Ban Nha, sau hơn 5 tháng bị giam chân tại chỗ, lực lượng bị hao mòn, thiếu lương thực, thuốc men và bệnh tật gia tăng , kế hoạch

“đánh nhanh, thắng nhanh” đã bước đầu thất bại Tháng 2 - 1859, phần lớn quân số của địch chuyển vào Gia Định, chỉ có một lực lượng nhỏ còn chiếm giữ bán đảo Sơn Trà

Cuộc chiến đấu chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha tại Đà Nẵng kéo dài trên một năm rưỡi (từ ngày 1 - 9 - 1858 đến ngày 23 - 3 - 1860), là cuộc chiến giữa một bên được trang bị vũ khí hiện đại vượt trội, với một bên vũ khí thô sơ lạc hậu nhưng kiên cường bám từng tấc đất để ghìm chân giặc và cuối cùng kẻ xâm lăng phải rút khởi Đà Nẵng Do vậy, cuộc chiến diễn ra rất khốc liệt, tổn thất rất là lớn GV có

Trang 36

Theo số liệu từ các nghĩa trũng thì có khoảng 5300 người tham gia chống Pháp đã hi sinh Từ các nguồn sử liệu cho ta biết riêng lực lượng tăng cường cho mặt trận Đà Nẵng là 5500 người, gồm 2000 cấm binh từ Huế, 2000 biền binh từ Nam Ngãi, 500 binh lính từ Bình Định, 1000 nghĩa quân từ Tiên Phước do đốc học huyện Hà Đông chiêu mộ tham gia Ngoài ra còn có binh lính tại chỗ của hai đồn An Hải và Điện Hải, nghĩa binh của Ông Ích Khiêm làng Phong Lệ, của Lâm Hữu Chánh làng Cẩm Toại (chưa rõ số lượng là bao nhiêu) Nếu làm một so sánh đơn giản giữa những hài cốt hiện có tại các nghĩa trủng với số lượng binh lính tăng cường (5300/5500) cũng có thể hình dung được sự tổn thất của ta là rất lớn [9, tr25]

Vì vậy từ trước cho đến nay, nhân dân Đà Nẵng luôn tôn vinh những chiến sĩ

vô danh đã hi sinh vì đất nươc trong sự kiện năm 1859 - 1860, cho nên khi nói đến

sự kiện này thì GV cần nói đến công lao của những người đã hi sinh trong trận đánh này cho HS để các em thêm trân trọng và biết ơn các nghĩa tử đã hi sinh đó

B i 21: Phong tr o yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ XIX

Phần I, mục 1 (Cuộc phản công quân Pháp của phái chủ chiến tại Kinh

th nh Huế v sự bùng nổ của phong tr o Cần Vương)

Trong quá trình hưởng ứng chiếu Cần Vương để giúp vua cứu nước, thì Quảng Nam - Đà Nẵng cũng đã đóng góp một phần công sức Đó là trong kế hoạch chống Pháp, Quảng Nam đã được chuẩn bị về mặt vật chất và nhân sự, sơn phòng Dương Yên được tu sửa, tích trữ binh lương khí giới và vàng bạc để khi khởi sự có thể đóng vai trò trung tâm kháng chiến cho các tỉnh phía Nam kinh đô Huế Sơn phòng

là hệ thống cứ điểm quân sự được nhà Nguyễn thiết lập dọc theo dải Trường Sơn, từ Thanh Hóa, Nghệ An vào đến Bình Định Về sơn phòng Quảng Nam thì:

Theo Đại Nam nhất thống chí, sơn phòng Quảng Nam “ban đầu đặt ở thủ sở

xã Tà Mi, cách huyện lỵ Hà Đông (Tam Kỳ) 75 dặm, đầu đời Gia Long đặt một viên thủ ngữ, năm Minh Mạng thứ 9 thêm chức hiệp thủ, năm Minh Mạng thứ 18 (1837)

Trang 37

đắp bảo ở xã Đại An, chu vi 80 trượng, cao 5 thước” Đến thời Tự Đức, sơn phòng dời

về Dương Yên (cũng gọi là Dương Hòa, theo tên xã) và được xây dựng kiên cố hơn

Mặc dù thời gian tồn tại không lâu, nhưng sơn phòng Dương Yên là căn cứ của phong trào Cần Vương được thành lập sớm nhất ở các tỉnh phía nam của đèo Hải Vân và đã để lại một dấu ấn đẹp, sâu đậm trong phong trào chống Pháp ở cuối thế kỷ XIX

Phần I, mục 2 (Các giai đoạn phát triển của phong tr o Cần Vương)

Ngày 13 - 7 - 1885, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến Hưởng ứng lời kêu gọi đó thì đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa nổ ra trong thời gian này, mà ở Quảng Nam thì có phong trào Nghĩa hội (9 - 1885) chống TDP của Nguyễn Duy Hiệu đã làm sang chói tinh thần yêu nước và bất khuất của người dân xứ Quảng Một trong những chiến thắng quan trọng của Nghĩa hội là trận tấn công vào đội quân xây dựng con đường chiến lược từ Huế qua đèo Hải Vân tới

Trang 38

mở nhanh con đường chiến lược Huế - Đà Nẵng, mà đặc biệt là đoạn đường qua đèo Hải Vân

Từ con đường xuyên sơn nhỏ hẹp đủ cho người khiêng cáng và cho ngựa đi (route muletière) phải phát quang, bạt đá làm thành con đường xe ôtô có thể đi được (route carrossable), ngoài phương tiện và kỹ thuật của công binh còn phải huy động hàng 500-600 dân phu của phủ Thừa Thiên và hai huyện Diên Phước, Hòa Vang thuộc tỉnh Quảng Nam

Đội công binh làm nhiệm vụ khảo sát gồm cả thảy 10 người, do đại úy Besson cầm đầu, trong đó có một thông ngôn người Việt, đến đóng tại làng Nam Chơn (cũng gọi là Chơn Sảng) nằm ở phía nam chân đèo Hải Vân, thuộc huyện Hòa Vang

Vào lúc nửa đêm 28 - 2 rạng ngày 1 - 3 - 1886, lực lượng nghĩa quân đã bất ngờ bao vây và tấn công vào hai căn nhà có đội công binh trú đóng, dùng giáo mác tiêu diệt toàn bộ, cắt lấy thủ cấp của đại úy Besson, phóng hỏa thiêu rụi, rồi rút lui

an toàn Do nằm giữa nơi rừng hoang vắng, cho nên đến ngày hôm sau (2 - 3 - 1886) quân Pháp mới đến được hiện trường để thu nhặt các xác chết dưới sự yểm trợ của pháo hạm Pluvier đậu ở Vũng Thùng, đồng thời một tàu chiến khác chở một đơn vị lính tập đến mở cuộc truy lùng nghĩa quân Nhưng tất cả chỉ hoài công vô ích

Ngày 8 - 3 - 1886, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp đóng ở Trung Kỳ phải nuốt hận ra bản “nhật lệnh” gọi là để báo tang

Do sự chênh lệch quá lớn về quân số và vũ khí, sau một số trận chiến đấu, nghĩa quân không cản nổi bước tiến của giặc Nhận thấy bước suy vong của Nghĩa hội là không thể tránh khỏi, Nguyễn Duy Hiệu bàn định với phụ tá Phan Bá Phiến:

Nguyễn Duy Hiệu đã bàn với Phan Bá Phiến, “Hai ta là vai chủ chốt của nghĩa quân trong ba tỉnh này Nay gặp tình thế không còn hoạt động được nữa, cũng đến chết là hết Nhưng nếu hai ta cùng chết thì cũng chẳng ích gì cho đại sự Vậy ông cứ chết trước, còn ta sẽ tìm cách phân tán nghĩa quân rồi tìm cách tự để cho giặc bắt Giặc tất sẽ tra khảo, tôi sẽ nhân đó liệu bề che giấu tổ chức Một mình

Trang 39

tôi chết không đáng tiếc chi, tổ chức ta còn, có ngày chí ta phải thành tựu và như vậy chúng ta như không bao giờ chết cả” [25; tr.91]

Phan Bá Phiến đồng ý uống thuốc độc tuẫn tiết (21 - 1 - 1887) Nguyễn Duy Hiệu căn dặn tùy tùng và binh sĩ trở về quê giấu chí chờ thời, đốt tất cả giấy tờ sổ sách rồi trở về quê chịu tang mẹ

Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887) bị bắt và bị bọn Viện Cơ Mật xử chém

Sáng ngày rằm tháng 8 năm Đinh Hợi (1 - 10 - 1887), tức một ngày sau khi Đồng Khánh phê duyệt bản án tử hình, lãnh tụ Nghĩa hội Nguyễn Duy Hiệu ung dung ra pháp trường với nụ cười trên môi Ông đã để lại hai bài thơ tuyệt mệnh Câu cuối của bài thơ tuyệt mệnh thứ hai của Nguyễn Duy Hiệu “Ký ngữ phù trầm tư thế giả? Hưu tương thành bại luận anh hùng”, sau này được Huỳnh Thúc Kháng dịch:

Chìm nổi trên đời ai đó tá?

Chớ đem thành bại luận anh hùng!

Cái chết đầy tính chất bi tráng của hai thủ lĩnh Nghĩa hội Quảng Nam là Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến đã khép lại một phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân, tuy ngắn ngủi, nhưng không kém phần sôi động, oanh liệt

Qua đó thì GV phải khắc sâu cho HS biết về tinh thần yêu nước, dũng cảm khoong chịu khuất phục trước kẻ thù của những người lãnh đạo phong trào này

Bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất (1914)

Mục 2, Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách

Cuối thế kỷ 19, phong trào Cần vương thất bại Cuộc khởi nghĩa Võ Trứ - Trần Cao Vân (1898) tại Phú Yên cho thấy sự bế tắc của đường lối giải phóng dân tộc trong hệ ý thức quân chủ (thường gọi là phong kiến) Ngọn cờ quân chủ không còn khả năng tập hợp quần chúng, một bộ phận vua quan đã can tâm làm tay sai cho

Trang 40

Duy Tân của nhóm Tân Chính (Trung Quốc) đã tác động lên tinh thần yêu nước của một số sĩ phu tiến độ Họ tiếp nhận tư tưởng tư sản dân quyền của cách mạng Pháp

1789 như là một luồng gió mới, qua Tân thư, đầy triển vọng, hứa hẹn một con đường cứu nước vớii 2 mục tiểu dân tộc, xem nó là tiền đề để xây dựng xã hội dân chủ thì Phan Châu Trinh với đường lối hoạt động công khai muốn giác ngộ quần chúng với tư tưởng dân quyền, đánh đổ tư tưởng quân chủ đã ăn sâu vào trong quần chúng nhân dân hàng nghìn năm xem như một bước khởi đầu để “khai dân trí chấn dân khí” để thực hiện cuối cùng mục tiểu dân tộc Điều đáng tự hào, là cả hải xu hướng yêu nước đó đều chọn Quảng Nam làm đại bản doanh và vì thế chẳng có gì

lạ Phong trào kháng thuế Trung kỳ 1908, dấy động 10 tỉnh miền Trung từ Phú Yên đến Thanh Hóa cũng bắt đầu được phát động từ Đại Lộc Quảng Nam

Phong trào Duy Tân là một trong những phong trào thể hiện được tư tưởng cứu nước mới của các bậc tiền như Phan Châu Trinh và hai đồng chí thân thiết là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng

Năm 1904, Duy Tân Hội được thành lập ở Nam Thanh Sơn trang của Tiểu La

ở Thăng Bình, Quảng Nam chẳng những cung cấp địa bàn đứng chân mà còn cung cấp hào phóng về mặt nhận sự cho Duy Tân Hội Tiểu La Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển, Châu Thượng Băn, Trần Quý Cáp, Thái Duy Phiên (Thái Phiên)

Ở phong trào này thì GV giới thiệu về một số người lãnh đạo của phong trào

như Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh

Trần Quý Cáp (1870 – 1908) hô hào dân quyền, bài trừ khoa cử, đem nội dung tân thư mới vào trong việc giảng dạy Thư ông biểu lộ lòng căm phẫn bọn thực dân cướp nước và khinh ghét bọn quan lại tay sai phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của dân Trong nhiều năm, nhiều người nghiên cứu lầm tưởng ông ở trong phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh, nhưng người bạn chí thiết của ông, Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định vai trò của ông trong Duy Tân Hội trên mộ chí viết năm 1738 Cùng với Trần Quý Cáp, Đỗ Đăng Tuyển (1858 - 1911) là người phụ trách tài chính cho Duy Tân Hội Khi phong trào chống thuế nổ ra, các lãnh tụ của cả hai phái bị bắt bị đày Côn Đảo, thì Đỗ Đăng Tuyển là người lãnh đạo Duy Tân Hội ở phía

Ngày đăng: 17/05/2021, 00:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm