1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn tập làm văn

89 63 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn tập làm văn
Tác giả Trần Trương Thi
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Kim Cúc
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lên lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn như: miêu tả đồ vật, cây cối,

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

-

Đề tài:

RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CON VẬT

CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA

PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

Đà Nẵng, tháng 5/2016

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trần Thị Kim Cúc Sinh viên thực hiện : Trần Trương Thi

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài chưa từng được ai công bố trong bất

kì công trình nào khác

Người thực hiện

TRẦN TRƯƠNG THI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn dạy học Tập làm văn ở Tiểu học, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn” Để có được kết quả này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân phải kể đến vai

trò to lớn của người đã hướng dẫn đề tài này cho tôi - giảng viên ThS Trần Thị Kim Cúc Bên cạnh đó, BCN khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo và học

sinh trường Tiểu học Trần Văn Dư, Nguyễn Như Hạnh và Nguyễn Văn Trỗi cùng các bạn sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học đã không ngừng tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này Với tấm lòng chân thành nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến: Giảng viên ThS Trần Thị Kim Cúc, BCN khoa Giáo dục Tiểu học cùng quý thầy cô giáo và các bạn trong khoa Giáo dục Tiểu học

Là một sinh viên bước đầu làm quen với nghiên cứu đề tài khoa học, do kiến thức còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ, nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được những đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để kiến thức của tôi trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Sau cùng, tôi xin kính chúc quý Thầy Cô trong Khoa Giáo dục Tiểu học thật dồi dào sức khỏe và đầy niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình

Người thực hiện

TRẦN TRƯƠNG THI

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3.Mục đích nghiên cứu 4

4.Đối tượng nghiên cứu 4

5.Giả thuyết khoa học 4

6.Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

7.Phương pháp nghiên cứu 5

8.Cấu trúc đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 7

1.1 Một số vấn đề chung về văn miêu tả 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.1.1 Văn miêu tả 7

1.1.1.2 Văn miêu tả con vật 8

1.1.2Đặc điểm 9

1.1.2.1.Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết 9

1.1.2.2 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình 10

1.1.2.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả 12

1.1.2.4 Văn miêu tả mang tính sáng tác 13

1.1.2.5 Tính chân thật trong văn miêu tả 15

1.1.2.6 Đặc điểm văn miêu tả con vật 16

1.2 Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học 20

1.2.1 Vị trí 20

1.2.2 Nhiệm vụ 20

1.3 Văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu học 21

Trang 5

1.3.1 Mục tiêu 21

1.3.2 Khảo sát chương trình sách giáo khoa lớp 4 về văn miêu tả 22

1.3.3 Tầm quan trọng vủa việc dạy học văn miêu tả con vật ở Tiểu học 27

1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học với quá trình dạy học viết văn miêu tả 27

1.4.1 Tri giác 27

1.4.2 Tư duy 28

1.4.3 Tưởng tượng 29

1.4.4 Ngôn ngữ 29

Kết luận chương 1 30

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 31

2.1 Mục đích khảo sát 31

2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 31

2.3 Thời gian khảo sát 31

2.4 Nội dung khảo sát 31

2.4.1 Nội dung kháo sát giáo viên 31

2.4.2 Nội dung khảo sát học sinh 31

2.5 Kết quả khảo sát 32

2.5.1 Kết quả khảo sát giáo viên 32

2.5.2 Kết quả khảo sát học sinh 41

Kết luận chương 2 49

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 50

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4 50

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 50

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu của bài học 51

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi 51

3.2 Biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4 52

3.2.1 Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu yêu cầu của đề bài 52

3.2.1.1 Các đề văn miêu tả con vật thường gặp ở Tiểu học 52

Trang 6

3.2.1.2 Tổ chức rèn luyện kĩ năng tìm hiểu yêu cầu đề bài 53

3.2.2 Rèn luyện kĩ năng quan sát 56

3.2.2.1 Quan sát 56

3.2.2.2 Kĩ năng quan sát 56

3.2.2.3 Tổ chức rèn luyện kĩ năng quan sát 58

3.2.3 Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ và kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ trong văn miêu tả con vật 62

3.2.3.1 Rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ trong văn miêu tả con vật 62

3.2.3.2 Rèn luyện kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ trong văn miêu tả con vật 65

3.2.4 Rèn luyện kĩ năng tìm ý, lập dàn ý: mở bài, thân bài, kết bài 66

3.2.4.1 Vai trò của việc lập dàn ý trong bài văn miêu tả con vật 66

3.2.4.2 Hướng dẫn HS tìm ý, lập dàn ý trong bài văn miêu tả con vật 67

Kết luận chương 3 73

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

1.Kết luận 74

2 Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 2

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Nhận xét, đánh giá của GV về ý nghĩa của dạy học văn miêu tả con vật

trong chương trình dạy học TLV ở Tiểu học……… 32

Bảng 2: Phương tiện dạy học trong các tiết dạy học văn miêu tả con vật…… … 33 Bảng 3: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học trong các tiết dạy học văn

miêu tả con vật lớp 4……… … 34

Bảng 4: Hình thức tổ chức dạy học trong dạy học văn miêu tả con vậ……… 35 Bảng 5: Kĩ năng viết văn miêu tả ở Tiểu học……… ……35 Bảng 6: Nhận xét, đánh giá mức độ kĩ năng viết văn miêu tả con vật của HS lớp 4… 36 Bảng 7: Những lỗi học sinh mắc phải khi viết văn miêu tả con vật………… … 38 Bảng 8: Những khó khăn của GV trong quá trình dạy họcvăn miêu tả con vật… 39 Bảng 9: Thái độ học văn miêu tả con vật lớp 4……… …… 41 Bảng 10: Nhận thức của học sinh về bố cục của bài văn miêu tả………… … 41 Bảng 11:Mức độ nắm kiến thức lí thuyết của HS về cách viết phần mở bài trong

văn miêu tả con vật……… … 42

Bảng 12:Mức độ nắm kiến thức lí thuyết của HS về cách viết phần kết bài trong

văn miêu tả con vật……… ….… 44

Bảng 13: Nội dung cần thực hiện của học sinh khi làm văn miêu tả con vật.… 45 Bảng 14: Những khó khăn của HS gặp phải khi học văn miêu tả con vật…… 45 Bảng 15: Mức độ sử dụng tài liệu tham khảo và vận dụngvào bài viết của học sinh 46 Bảng 16: Cách thức ôn tập phân môn TLV của HS để chuẩn bị kiểm tra học kì……… 47

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của việc dạy học văn miêu tảcon vật trong chương trình dạy học TLV ở Tiểu học 32

Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện thái độ của học sinh đối với việc họcvăn miêu tả con vật 4141

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển Cùng với cơ hội cũng như thách thức, đất nước đòi hỏi phải có những đổi mới, đặc biệt là với giáo dục để nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Theo tinh thần của đại hội VI, Nghị quyết Trung ương V (khóa 7), Nghị quyết Hội nghị Trung ương II (khóa 8), cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ

9, nội dung đổi mới giáo dục được thực hiện theo phương châm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, là động lực mục tiêu cho sự phát triển bền vững của xã hội Theo điều 28, Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh” Do đó, đổi mới giáo dục là vấn đề có tính cấp bách và cần thiết trong sự nghiệp giảng dạy và học tập nhằm nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trong

hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền tảng Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới

Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong những môn chính Dạy Tiếng Việt ở tiểu học nhằm trang bị cho học sinh kỹ năng sử dụng tiếng Việt thành thạo để các em sử dụng trong học tập, giao tiếp; cung cấp cho các em những hiểu biết phong phú về tiếng Việt, mở mang kiến thức về tự nhiên, xã hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam và nước ngoài Môn Tiếng Việt gồm có bảy phân môn, mỗi phân môn có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, tích hợp với nhau

Phân môn Tập làm văn (TLV) có nhiệm vụ rèn cho HS các kỹ năng sản sinh ngôn bản; sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng

Trang 10

Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác đã hình thành Đây là phân môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân TLV, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học môn Tiếng Việt Đối với HS tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó Để nói, viết hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều Cái khó ấy chính là cái đích của phân môn TLV đòi hỏi người học cần diễn đạt tới Từ đó, các em được mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mỹ, hình thành nhân cách

Ở Tiểu học, văn miêu tả chiếm khá nhiều thời lượng trong các thể loại Tập làm văn Ngay từ lớp 2, 3, các em đã được làm quen với loại văn này khi được tập quan sát và trả lời câu hỏi Lên lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn như: miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, tả người, tả cảnh Đặc biệt, ở lớp

4, văn miêu tả có 30 tiết, chiếm khoảng 50% thời lượng toàn bộ chương trình Tập làm văn Văn miêu tả được chia thành các kiểu bài khác nhau căn cứ vào các đối tượng miêu tả Tất cả đều là những chủ đề khá gần gũi nhưng khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viết đối với nhiều em còn nhiều khó khăn Việc cảm nhận cái hay, cái đẹp trong các bài văn, bài thơ các em còn nhiều lúng túng Vì vậy, học sinh thường có cảm giác sợ khi làm văn

Đối với HS lớp 4, để viết được một bài văn miêu tả hay, đặc biệt đối với văn miêu tả con vật thì học sinh cần phải có nhiều kĩ năng Chẳng hạn như kĩ năng quan sát sẽ là cơ sở giúp cho các em tìm được những từ ngữ, hình ảnh so sánh, ví von hay, độc đáo… Không những vậy, học sinh phải thể hiện được tình cảm, sự gắn bó yêu thương đối với con vật đó Vì thế, việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh để các em có thể làm được một bài văn hay là rất cần thiết Thế nhưng, trong thực tế dạy và học văn miêu tả con vật ở Tiểu học còn có nhiều khó khăn

và hạn chế Hầu hết các giáo viên chưa áp dụng những biện pháp phù hợp hoặc không có sự sáng tạo trong khi áp dụng phương pháp dạy học thông thường và nhiều bài làm của học sinh chưa đạt yêu cầu về cả nội dung lẫn hình thức

Trang 11

Xuất phát từ tầm quan trọng của việc dạy và học văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật lớp 4 nói riêng của phân môn Tập làm văn ở Tiểu học và một số lí

do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho

học sinh lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phân môn TLV được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có vị trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho các em Đối với phân môn TLV ở tiểu học, văn miêu tả con vật có vị trí đặc biệt quan trọng Thực tế, hiện nay

có rất nhiều nhà giáo dục đã tiến hành các công trình nghiên cứu rèn kĩ năng làm văn trong đó có văn miêu tả, để nâng cao chất lượng bài văn cho HS

Trong các tài liệu “Bồi dưỡng giáo viên” (NXB GD – 2004, 2005, 2006), đã

đề cập đến một số yêu cầu cơ cơ bản về kiến thức, kĩ năng mà HS cần phải nắm được trong phân môn TLV Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học TLV theo nội dung khá đa dạng và phong phú cho GV tiểu học

Cuốn “ Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt” (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/2) của Tác giả Đào Ngọc – Nguyễn Đăng Ninh đã đưa ra cách cảm thụ văn bản cho HS [6]

Cuốn “ Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo viên - 2007 của Bộ GD và ĐT), dự án phát triển GV tiểu học đã biên soạn các môđun trong đó có nêu ra các phương pháp dạy học cũng như quy trình dạy học phân môn TLV theo chương trình sách giáo khoa ở tiểu học [7]

Cuốn “ Dạy văn cho học sinh tiểu học” (NXB GD-1997), tác giả Hoàng Hòa Bình đã có những đề xuất giúp GV tiểu học để hướng dẫn HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học.[2]

Cuốn “ Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học” (Nhà xuất bản Giáo dục - 1996), tác giả Nguyễn Trí đã đề cập đến cách dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân môn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể [10]

Trang 12

Bên cạnh những cuốn sách trên, nói về vấn đề viết văn miêu tả, đặc biệt là rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ cho học sinh tiểu học trong dạy học văn miêu tả con vật

đã có một số các đề tài nghiên cứu liên quan như sau:

- Năm 2011, cô giáo Đặng Thị Sóng, trường Tiểu học Nguyễn Du, Đồng Nai đã đưa ra sáng kiến kinh nghiệm với đề tài “Rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Bốn” [9]

- Năm 2013, SV Đinh Thị Yến, Đại học Tây Bắc – Sơn La đã nghiên cứu

đề tài “ Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La” [14]

Chúng tôi nhận thấy, các đề tài nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến vấn đề rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh mà chưa có đề tài nào bàn luận về rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật một cách cụ thể cho học sinh lớp 4 Tuy nhiên, đó là những tài liệu quý giá để chúng tôi tham khảo khi thực hiện đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tìm hiểu thực trạng việc dạy và học viết văn miêu tả con vật Từ đó, đưa ra một số biện pháp giúp cho việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 đạt được hiệu quả hơn

4 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học viết văn miêu tả con vật lớp 4

5 Giả thuyết khoa học

Trong quá trình dạy học TLV ở lớp 4 nếu GV nắm vững lí thuyết về văn

miêu tả đồng thời tổ chức rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho HS lớp 4

một cách khoa học, hệ thống, phù hợp với đặc trưng thể loại thì sẽ nâng cao chất

lượng dạy - học TLV ở Tiểu học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về dạy học viết văn miêu tả con vật ở Tiểu học

Trang 13

- Khảo sát thực trạng việc dạy học viết văn miêu tả con vật ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp

4 ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Trong các nhiệm vụ trên thì nhiệm vụ đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là nhiệm vụ chủ yếu

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu một số công trình nghiên cứu, tài liệu, giáo trình, sách báo có liên quan về vấn đề rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả con vật của học sinh tiểu học

7.2 Phương pháp nghiên cứu bằng anket

Được tiến hành dưới các hình thức dùng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với

GV và HS, tiết dạy học Tập làm văn tả con vật ở trường tiểu học để tìm hiểu các hình thức và PPDH của GV để thăm dò ý kiến trên GV và HS tại các trường khảo sát và thực nghiệm

7.3 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát HS trong giờ Tập làm văn để tìm hiểu về thực trạng kĩ năng viết văn miêu tả con vật của HS hiện nay và khó khăn của GV khi dạy học văn miêu

tả con vật cho HS

7.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của HS như cách các em sử dụng từ ngữ

để trả lời, diễn đạt; cách các em trả lời trong phiếu khảo sát Từ đó xác định được khả năng viết văn miêu tả con vật của các em Hơn nữa, thông qua nghiên cứu sản

Trang 14

phẩm hoạt động của GV cho phép ta dựa vào trình độ nghiệp vụ, PPDH của GV để

đề xuất các biện pháp hiệu quả

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài được triển khai phần nội dung với

3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận về việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4

Chương 2: Cơ sở thực tiễn về việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 ở một số trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả con vật cho học sinh

lớp 4 thông qua phân môn Tập làm văn

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT VĂN

MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4 1.1 Một số vấn đề chung về văn miêu tả

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Văn miêu tả

Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.” [8]

Theo nhà văn Phạm Hổ:" Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông, người đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi nước hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc Nhưng đó chỉ là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả cây cỏ."

Theo Đào Duy Anh, trong “Hán Việt tự điển”, miêu tả là lấy “nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện chân tướng của sự vật ra” Nhìn chung, các định nghĩa đều có cái nhìn giống nhau về ngôn ngữ miêu tả: Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc, con người Muốn miêu tả đựơc phải quan sát, tổ chức sắp xếp các chi tiết theo logíc, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả.[1]

Trong văn miêu tả, người ta không đưa ra những nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật Văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc, phải vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách rõ nét, chính xác, sinh động và cụ thể để giúp cho người nghe, người đọc nhìn rõ chúng, hình dung, tưởng tượng được ra chúng như đang nhìn tận mắt, sờ tận tay Tuy nhiên, miêu tả không phải là một bức ảnh chụp lại hay là một bản sao chép vụng về mà nó là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát Bởi vì trong thực tế

Trang 16

không ai tả để mà tả, mà thường tả để gởi gắm những suy nghĩ, cảm xúc, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình Các bài văn miêu tả ở Tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà các em yêu mến, yêu thích Vì vậy, qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm được tình yêu thương của mình với những gì mà mình miêu tả

Miêu tả là hòn đá thử vàng đối với các tài năng văn học, tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm văn học Có những tác phẩm có rất nhiều chi tiết nhưng những chi tiết đó không để lại cho người đọc gì ngoài những dòng chữ tẻ nhạt Ngược lại, chỉ vài nét thôi, các tài năng đích thực đã tạo nên những bức tranh phong cảnh, những bức chân dung,…tuyệt diệu Ta thấy qua bài “Đèo Ba Dội”

chỉ với 2 câu thơ: “Lắt lẻo cành thong cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo” Hồ Xuân Hương đã vẽ một bức tranh thật sinh động, cụ thể và hữu hình

Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng màu sắc, đường nét của hội họa Dùng ngôn ngữ, văn chương có thể miêu tả sự vật trong một quá trình vận động, có thể tả những thứ vô hình như âm thanh, tiếng động, hương vị,… hay tư tưởng, tình cảm thầm kín của con người

Trong cuộc sống, các em gặp nhiều người, nhiều cảnh vật, con vật khác nhau, chúng đều có thể trở thành đối tượng miêu tả Mỗi đối tượng này đều có những nét khác nhau Vì vậy, khi miêu tả, các em phải nắm được những nét riêng khác biệt này để viết những bài văn vừa mang đặc điểm chung của thể loại văn miêu tả, vừa có được cái riêng của đối tượng được miêu tả

1.1.1.2 Văn miêu tả con vật

Đối tượng của văn miêu tả con vật là những con vật quen thuộc, gần gũi với các em như trâu, bò, mèo, gà, vịt… Có khi các em chỉ cần tả một con vật, có khi lại phải tả cả bầy, cả đàn Để nâng cao kĩ năng có thể yêu cầu các em tả những con vật mình không quan sát trực tiếp mà được gợi ra trong một đoạn văn, bài thơ, câu chuyện

Mỗi con vật đều có đặc điểm riêng Do đó khi miêu tả, học sinh không thể bỏ qua những nét tiêu biểu của con vật đó cũng như những đặc trưng cá thể như màu sắc, vóc dáng, tính nết…

Trang 17

Những con vật được miêu tả là những con vật thân thiết với các em và có nhiều lợi ích nên bài văn miêu tả phải thể hiện sự chăm sóc, tình cảm yêu mến của các em đối với chúng

Đặc điểm này làm cho văn miêu tả trong văn học khác hẳn văn miêu tả trong khoa học (sinh học, địa lí học, khảo cổ học,…) Tả trong phân môn Tập làm văn cũng khác hẳn cách miêu tả con vật, cây cối trong môn Tự nhiên và Xã hội

Chúng ta hãy đọc hai đoạn văn miêu tả cùng một con bướm sau và so sánh

sự khá biệt giữa chúng

Đoạn thứ nhất trích từ SGK của học sinh:

“Thân bướm có ba phần: đầu, ngực, bụng Phần ngực có bốn cánh, sáu chân Bướm bay được nhờ hai đôi cánh là hai màng rộng bản chúng có vảy phấn bao phủ nên khoonng trong như cánh chuồn chuồn”

Đoạn thứ hai trích từ một tác phẩm văn học của Vũ Tú Nam:

“Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ sắc màu Con xanh biếc pha đen như nhung bay loang loáng Con vàng sẫm nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn

lờ đờ như trôi trong nắng con bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn vẻ dữ tợn Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng Loại bướm nhỏ đen kịt,là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương Còn lũ bướm vàng tươi xinh xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông”

Trang 18

Ta thấy ở đoạn 1 người viết gạt bỏ hẳn cảm xúc riêng Các chi tiết hiện ra chính xác nhưng thật lạnh lùng Còn ở đoạn thứ 2 ngay từ đoạn đầu miêu tả, tình cảm của người viết đã được xác định Đó là sự yêu thích, say mê, sự gắn bó, hòa quyện tâm hồn của tác giả đối với thiên nhiên Chính vì điều này mà đọan văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn

1.1.2.2 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình

Đây là một đặc điểm nổi bật của văn miêu tả M.Gorki đã có lần phân tích: Dùng từ để “tô điểm” cho người và vật là một việc Tả họ một cách sinh động, cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta thường muốn sờ mó các nhân

vật trong Chiến tranh và hòa bình của Lép Tôn-xtôi, đó là một việc khác

Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con người,… trong bài văn hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng có thể cầm nắm được, có thể nhìn ngắm hay sờ mó được như

cách nói của Gorki Trong Những chiếc ấm đất của Nguyễn Tuân, đoạn miêu tả

người đầy tớ già gánh nước từ trên chùa về làng là một đoạn văn miêu tả giàu chất tạo hình Đoạn này nhà văn dùng ít lời lẽ, ít chi tiết nhưng sức gợi cảm trong tâm tưởng người đọc lại lớn

“Trên con đường đất cát khô, nồi nước tròng trành theo bước chân mau của người đầy tớ già đánh rỏ xuống mặt đường những hình ngôi sao ướt và thẫm màu Những hình sao ướt nối nhau trên một quãng đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài bò sát”

Chúng ta cũng có thể đọc được nhiều tác phẩm hay trong các kiệt tác của các ngòi bút miêu tả bậc thầy như: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,…

Làm nên sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây

ấn tượng… Những chi tiết mà khi ta tước bỏ chúng đi, bài văn miêu tả sẽ trở nên

mờ nhạt Ta thử xem bài tả Những cánh bướm bên bờ sông sẽ như thế nào khi bị xóa đi các chi tiết như: tha thẩn ở bờ sông, đen như nhung bay loang loáng, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như bơi trong nắng, líu ríu như hoa nắng, là là theo chiều gió,hệt như tàn than của những đám đốt nương,…? Bài

văn sẽ trơ ra bộ xương khô Đọc nó tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một

Trang 19

người không còn sinh khí Tuy nhiên cũng cần chú ý tránh khuynh hướng ngược lại

là đưa quá nhiều chi tiết vào bài văn miêu tả làm cho bài văn trở nên rườm rà Cần phải biết gạt bỏ các chi tiết thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để cho bài văn miêu tả vừa gọn mà vừa giàu chất tạo hình Để đạt được điều đó, người viết cần có vốn sống Đó chính là từ sự quan sát cuộc sống của người viết, từ những kinh nghiệm của bản thân Có bắt nguồn từ trong thực tế, có thai nghén trong kinh nghiệm thì bài văn mới có thể sinh động, linh hoạt và có tính tạo hình

Trong miêu tả người ta hay sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa Nó làm cho bài văn trở nên sinh động và hấp dẫn hơn nhiều

Ví dụ: “…Chú gà được mẹ mua từ phiên chợ Mai tết năm ngoái Hồi ấy, chú chỉ là một “cậu bé thiếu niên” mới ba tháng tuổi con rụt rè, bỡ ngỡ Đến nay, chú

đã là một “thanh niên” trưởng thành, oai phong Chú được lai giữa giống gà nòi và

gà tàu nên chú chọn lọc những đặc tính tốt nhất của hai giống gà Bởi thế chú to khỏe như một “lực sĩ trên võ đài” và đẹp trai như một “siêu sao người mẫu” Chú khoác trên mình bộ áo màu đỏ tía chen lẫn màu vàng sậm Cái đầu của chú được trang điểm bằng một cái nón hình bánh lái tàu và đỏ chót như màu hoa phượng vĩ Đôi mắt tròn to như hai hạt ngọc đưa qua đưa lại như muốn làm duyên với mấy cô

gà mái tơ trong đàn Cái mỏ nhọn màu mận chin, phía đầu chót khoằm xuống như

mỏ vẹt rất lợi hại, vừa là phương tiện kiếm ăn vừa là vũ khí tự vệ Hai cái chân to khỏe và cao như chú gà nòi chính hiệu được bao bọc bởi một lớp vảy sừng màu vàng nghệ, giống như bộ giáp chiến giúp chú đánh trả lại kẻ thù một cách hữu hiệu Hai cái cựa nhọn hoắt chìa ra như hai mũi dao Thái Đây mới chính là thứ vũ khí tấn công của chú, khi cần thiết có thể đưa ra đòn đánh cuối cùng để dứt điểm đối phương Đôi cánh của chú thì thật tuyệt, mỗi lần dang ra y hệt như cái quạt lông của vị quân sư Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc Cái đuôi của chú đủ màu, vươn dài ra phía sau và cong lại hình cánh cung Có những chiếc lông tam sắc đỏ, xanh, đen quăn lại như một nét hoa văn càng tôn thêm vẻ “hào hoa, phong nhã” cho chú”

Chỉ là đoạn văn miêu tả con gà trống được mẹ mua ngoài chợ về mà tác giả đã khiến cho người đọc như bị cuốn hút vào chú gà trống này Lúc đầu thì chú gà được

Trang 20

tác giả nhân hóa như một cậu bé thiếu niên, rồi đến một anh thanh niên Không

những vậy, bằng những hình ảnh so sánh Hai cái cựa nhọn hoắt chìa ra như hai mũi dao Thái hay Đôi cánh của chú thì thật tuyệt, mỗi lần dang ra y hệt như cái quạt lông của vị quân sư Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc đã khiến cho chúng

ta hình dung ra một chú gà thật oai phong Có như vậy, ta mới thấy được, việc sử dụng các biện pháp tu từ trong văn miêu tả con vật có ý nghĩa quan trọng như thế nào

1.1.2.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả

Ngôn ngữ trong văn miêu tả phải được chọn lọc kĩ càng, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có nghệ thuật cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả Ngôn ngữ trong văn miêu tả phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Trước hết, ngôn ngữ miêu tả là phải có tính chính xác Ngôn ngữ miêu tả

chính xác là ngôn ngữ miêu tả sát đúng, cụ thể từng biểu hiện của sự vật, sự việc, con người (ngay cả ý nghĩ, tư tưởng ) Bởi văn học phản ánh cuộc sống một cách

chân thực, do đó "văn muốn hay là phải đúng" (Lê Quý Đôn) Tả con mèo thì mắt

phải tròn, tiếng kêu “meo meo”, ngủ “lim dim”, đi “nhẹ nhàng”… Tả người thì tùy vào đối tượng đó là ai mà sử dụng ngôn ngữ phù hợp, không thể tả mái tóc, nước da của em bé cũng giống như người lớn được…

Thứ hai, tính hàm súc Hàm súc nghĩa là súc tích, ít lời mà nhiều ý "ý tại ngôn ngoại" Đây là đặc điểm nổi bật đối với văn miêu tả bởi có thế thì đối tượng cần tả mới nổi bật, gợi cảm Nhà văn Tô Hoài tả: "Nhưng hai bên sườn núi trong các thung lũng vẫn chỉ sừng sững một màu đá xám ngắt, không thấy đâu một chút vàng lúa chín" (Cứu đất cứu mường) mà đó lột tả được cảnh núi rừng miền Tây

Trang 21

vặc”, tả con suối thì màu “trắng xóa”, chảy “róc rách,… Thông qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ, nhà văn phải bộc lộ những cung bậc tình cảm khác nhau, có thể là niềm vui hay nỗi buồn, yêu thương hay giận hờn trước đối tượng mình tả Từ đó hướng dẫn nhận thức và thôi thúc hoạt động của con người Hướng dẫn học sinh tả con vật thì phải sử dụng những từ ngữ yêu thương, quý mến như: nhớ, thương, yêu quý hay tả mẹ thì dùng những từ như: biết ơn, yêu quý, thương yêu Quan sát nhiều bài văn miêu tả, người ta thấy ngôn ngữ văn miêu tả giàu các tính từ, động từ, thường hay sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ Do sự phối hợp các tính từ (màu sắc, phẩm chất,…), động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong long họ những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng, hình ảnh về sự vật được miêu tả

Tính cá thể hoá cũng là một yêu cầu cao đối với văn miêu tả Mỗi học sinh

do xu hướng, sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lý xã hội, cá tính mà hình thành giọng điệu riêng, cái vẻ riêng về cách dùng từ, đặt câu, dựng đoạn trong bài văn Có như vậy, người đọc mới nhận ra được một bài văn có phong cách, ở chỗ nó cho cảm

giác “về một cái khép kín” (Mắc Gia Cốp), đem lại cho cảnh rực rỡ, lộng lẫy sắc

màu, hài hoà, dung dị, tự nhiên Nó tạo nên giá trị biểu cảm, gợi hình, gợi nét và

"gợi cho người đọc cảnh hiện ra y như thật" (Hà Minh Đức) Ví dụ nhà văn Tô Hoài tả: "Bây giờ, buổi sáng mùa đông khô ráo Từ mặt đất, mây mù dần cất cao như một mành sương cuộn lên, lần đầu tiên trông thấy đồng lúa chín, rồi nước suối Nậm Giơn óng ánh sáng, rồi các nóc nhà trong làng nhấp nhô, rồi thấy ngang lưng quả núi xanh ngắt”

Chính vì vậy, chỉ khi ngôn ngữ đáp ứng được tính chính xác, tính hàm xúc, tính cá thể và mang tính hình tượng, giàu cảm xúc thì bài văn miêu tả mới hay và hấp dẫn được

1.1.2.4 Văn miêu tả mang tính sáng tạo

Văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại những đối tượng miêu tả một cách rập khuôn, máy móc Mà đó là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng hết sức phong phú của mỗi cá nhân, chủ thể

Trang 22

Tùy vào mỗi người viết mà cùng một đối tượng lại có những cách viết, cách sáng tác khác nhau Mỗi bài văn miêu tả là một cái gì đó mới mẻ, riêng biệt của người viết Qua những bài viết đó lại mang cho người đọc một cái nhìn, một góc nhìn mới lạ, hấp dẫn hơn Nhờ thế mà cùng một chủ đề vẫn có nhiều tác phẩm hay,

để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc Mỗi người đều có những suy nghĩ, cách nhìn khác nhau về một đối tượng, nên khi viết họ sẽ có những bài viết khác nhau Nhất là trong văn miêu tả sự khác biệt đó lại càng trở nên quan trọng Nếu như miêu tả một con gà, một con chó, một cái cặp sách hay một cảnh nào đó… mà ai cũng viết giống nhau thì sẽ không ai thích đọc cả

Ví dụ cùng tả về con dế nhưng trong mỗi đoạn văn dưới đây tác giả lại có cách tiếp cận và sử dụng các biện pháp tu từ, ngôn ngữ khác nhau nên đọc cả ba đoạn ta đều thấy sự mới lạ trong đó

Đoạn thứ nhất trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài mượn lời của

chú dế để nó tự tả mình:

“Đôi càng của tôi mẫm bóng Những cái vuốt ở chân, ở khoeo đã nhọn hoắt Thỉnh thoảng muốn thử sức lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ Những cây cỏ gãy rạp xuống như là có ai lia qua một nhát dao Đôi cánh tôi, trước kia ngắn cun củn, bây giờ dài kín xuống tận chấm đuôi Mỗi khi tôi vỗ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã”

Đoạn thứ hai trong tác phẩm là đọan văn miêu tả con dế của Vũ Tú Nam

trong tác phẩm Ong bắt dế:

“Rồi đột ngột con dế cụ cắn toang vỏ đất mỏng, từ cái nghách bí mật vọt ra

Đó là một con dế lực lưỡng, đầu tròn bóng như sừng, cánh vân hình sóng lượn và đôi càng mập, cứng, đầy gai nhọn hoắt.”

Đoạn thứ ba là đoạn văn miêu tả con dế của Duy Khán trong tác phẩm Tuổi thơ im lặng:

“Bố đi cắt tóc về, không một lần nào là chúng tôi không có quà

Mở hòm dụng cụ ra là cả một thế gian trên đất: con xập xành,con muỗm, con

bọ bầu to xù, mốc thếch,ngó ngoáy Hấp dẫn nhất là mấy con dế lạo xạo trong các

vỏ bao diêm: toàn dế đực, cánh xoăn, chọi nhau phải biết và gáy vang nhà Bố gọi

Trang 23

chung các loại dế biết gáy là “tắc tẩu”, chúng tôi gọi riêng theo từng loại: con

“roóc”, con “chéc”, loại bé nhất là “két”… theo tiếng kêu của chúng mà gọi”

Có thể nói, mỗi con người là một cá thể riêng và độc lập Chính vì vậy mà cách nhìn nhận mọi vật của mỗi người cũng có sự khác nhau nhau Cũng là một con

dế, nhưng đối với mỗi tác giả, nó lại được khắc họa ở những khía cạnh không giống nhau, tạo nên một vẻ đẹp mang đậm nét cá tính của người viết

1.1.2.5 Tính chân thật trong văn miêu tả

Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới mẻ của người viết Nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép người viết bịa một cách tùy tiện, muốn nói sao thì nói, muốn viết sao thì viết Khi miêu tả, người viết bắt buộc phải tưởng tượng nhưng phải hợp lí, gắn liền với cái chân thật khiến người đọc chấp

nhận được Một đoạn văn của học sinh như sau: “Tháng trước mẹ mua cho em một con gà trống về nuôi Nhờ em chăm sóc chu đáo nên nó lớn nhanh như thổi và đã

đẻ được ba con gà con…” Đoạn văn này dù có hay thế nào đi nữa thì người đọc

cũng không thể chấp nhận được vì nó quá vô lí

Có nhà văn, nhà thơ đã nói về cái giả và cái thật như sau: “Giả và thật cũng giống như hai cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào đấy Nhưng bấm một cái thì bóng điện này sang còn bóng điện kia tối vì một bên có điện một bên thì không” Bề

ngoài thì hai cái giả và thật khó phân định được nhưng khi đi sâu khám phá bản chất của đối tượng thì mình mới thấy được cái quan trọng của sự chân thật trong văn miêu tả

Nhờ quan sát tinh tế của người viết mà người đọc có những hiểu biết rộng hơn, sâu hơn, và tinh tế hơn về cuộc sống xung quanh mình Theo “Nghệ thuật làm văn của Vũ Ký”, Hoàng Đạo đã có bài “Tả hai mẹ con Hươu sao” như sau:

“Một đám mây vàng hiện ra ở Phương Đông, nằm ngang chân trời lá cây nặng trĩu sương đêm nghiêng mình và bỏ những giọt nước trong vắt lốp bốp xuống nội cỏ Tiếng hai con chim thủ thỉ và thù thì nghe đã gần nhau lắm Trời đã rạng Đông

Dưới gốc cây trám nắng, trong bụi rậm con hươu nhỏ và gầy, chập chững trên bốn chân còn run run và yếu ớt quá Một con chim chích chòe ý chừng vừa mới

Trang 24

ngủ dậy ở trên cành cao bay là là xuống đậu gần hai mẹ con hươu, vểnh đuôi lên mấy cái nhìn tả, nhìn hữu để làm duyên rồi nói:

- Mẹ tròn con vuông chứ? Chích! Chích! Trông nó hay lắm đấy nhỉ!

Nhưng nó to hơn làm sao! Và lông nó thô quá, ít ỏi quá! Hôm nọ, chị tôi cũng vừa ở

cữ một lứa, những năm đứa trẻ nhỏ xíu trông xinh lắm! Chích! Chích!

Hươu mẹ lơ đãng trả lời cô chích chòe lắm điều:

- Chị nói gì kia ạ! Xin lỗi chị, tôi không nghe chị nói gì cả!

Chích Chòe giương mắt nhìn Hươu, vểnh đuôi lên rồi vỗ cánh bay đi Hươu

mẹ không để ý đến sự tức giận của Chích Chòe cứ rúc đầuvào con mà hun hít, âu yếm Hươu con ngơ ngác nhìn xung quanh những hình ảnh mới lạ bên ngoài hỗn độn in vào trong trí khôn con non nớt Ánh nắng lọt qua lá cây, dịu dang soi sáng một vùng rừng thẳm Những cây cổ thụ dướn cao lên không, dưới chân cây lá khô xào xạc trong gió nhẹ Mấy cây lau chốc chốc lại chạm đầu vào nhau như thì thầm nói chuyện riêng Dưới nội cỏ ướt sương có muôn vàn tiếng động rất khẽ của côn trùng Ở trên bụi tre một con sáo sậu cãi chí cha chí chát.Còn mấy con chim ri, mấy con chim sậu đậu chỗ này bay chỗ kia không lúc nào yên Xa xa như cầm nhịp, vọng đưa lại tiếng chua ngoa của con chim than yêu của những nơi nước độc: “bắt cô trói cột! bắt cô trói cột!”

Đọc xong bài văn trên ta thấy việc chọn lọc những chi tiết để miêu tả vẻ bề ngoài của các sự vật hòa quyện với lòng yêu thiên nhiên của tác giả đã tạo nên cái bên trong, cài hồn của các sự vật Tác giả tả hai mẹ con Hươu Sao nhưng khi đọc lên ta lại nghĩ tới những con người Ở đây tác giả có sự sáng tạo với cách nhìn hóm hỉnh, những quan sát tinh tế cộng với sự tỉ mỉ đã làm cho bức tranh miêu tả con vật trở nên sinh động và đầy hấp dẫn

1.1.2.6 Đặc điểm văn miêu tả con vật

Miêu tả con vật là dùng từ ngữ để tả con vật về cả hai mặt hình dáng và tính nết, hoat động của con vật Ở lớp 4 đối tượng miêu tả của học sinh tả những con vật gần gũi mà các em đã có dịp nhìn thấy hoặc tiếp xúc như: con chó, con mèo, con lợn,… Dù miêu tả ngoại hình hay hoạt động, tính nết của con vật thì bài văn miêu tả đều đòi hỏi những chi tiết độc đáo, tinh tế trong việc phát hiện đặc điểm riêng, mới

Trang 25

lạ của con vật đó Miêu tả ngoại hình cần nhấn vào một số khía cạnh tiêu biểu nhất

để không cần chi tiết, hình ảnh thì con vật vẫn hiện ra một cách sinh động trước mắt người đọc Các tác giả như Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Đoàn Giỏi, Võ Quảng,… là

những cây bút giàu kinh nghiệm trong phạm vi này Qua Đất rừng phương Nam, Dế Mèn phiêu lưu kí, Quê nội và Tảng sáng,… nhiều con vật được miêu tả sinh động

và giàu tính tạo hình Miêu tả hoạt động của con vật làm cho bức tranh trở nên có hồn Các chi tiết tả hoạt động và hình dáng phải có mối quan hệ với nhau Việc miêu tả ngoại hình làm cho người đọc cảm nhận các hoạt động của con vật đúng hơn, đầy đủ hơn và ngược lại Hoạt động của con vật có nhiều loại: di chuyển, kiếm

ăn, chơi đùa,… Các hoạt động này thường giống nhau trong cùng một loài: con vịt nào cũng biết bơi, con bò nào cũng ăn cỏ,… Nhưng khi miêu tả cần lựa chọn những chi tiết vừa mang tính chung của giống loài, vừa mang tính cá biệt của từng con vật

cụ thể Các hoạt động tiêu biểu ấy tạo cho mỗi con vật một tính nết riêng, cá thể hóa bức tranh miêu tả Bài văn miêu tả con vật phải làm cho người đọc, người nghe như đang sống cùng với chúng, nhìn ngắm hình dáng bên ngoài, chứng kiến hoạt động của chúng

Ví dụ qua đoạn văn miêu tả về con ngan mới nở của Tô Hoài dường như chúng ta cứ muốn đưa tay khẽ nâng chú ngan con lên ngắm nghía

“Con ngan nhỏ mới nở được ba hôm trông chỉ to hơn cái trứng một tí Nó có

bộ lông vàng óng Một màu vàng đáng yêu như màu những con tơ non mới guồng Nhưng đẹp nhất là đôi mắt với cái mỏ Đôi mắt chỉ bằng hạt cườm, đen nhánh hạt huyền, lúc nào cũng long lanh đưa đi đưa lại như có nước, làm hoạt động hai con ngươi bóng mờ Một cái mỏ màu nhung hươu vừa bằng ngón tay đứa bé mới đẻ và

có lẽ cũng mềm như thế, mọc ngay ngắn đằng trước cái đầu xinh xinh vàng muỗm

và ở dưới bụng lủn chủn hai chân bé tí màu đỏ hồng”

Hoặc qua đoạn miêu tả đàn bò của Hồ Phương, ta lại thấy tác giả đã khéo tả các cách ăn khác nhau của mỗi con bò Ba Bớp thì tham ăn, cu Tũn thì ham chơi, chị Vàng thì dịu dàng,…

“Con Nâu dừng lại Cả đàn bò dừng theo Tiếng gặm cỏ bắt đầu rào lên như một nong tằm ăn rỗi khổng lồ.Con Ba Bớp vẫn phàm ăn tục uống nhất, cứ thúc mãi

Trang 26

mõm xuống đất, ủi cả đất lên mà gặm Bọt mép nó trào ra trông đến là ngon lành

Mẹ con chị Vàng ăn riêng một chỗ Cu Tũn dở hơi, chốc chốc lại hếch cái mồm tròn

vo, đen mịn như nhung và cặp mắt trong suốt lên nhìn rối chạy tới ăn tranh mảng

cỏ của mẹ Chị Vàng lại dịu dàng nhường cho nó, đi kiếm mảng khác…”

Nếu bài văn miêu tả nào tước bỏ đi những nét riêng, nét cá biệt của con vật, chỉ có những nét chung chung của một giống loài nào đó thì bài văn miêu tả ấy trở nên khô khan, mờ nhạt Bên cạnh hai nội dung trên cần chú ý đến một nội dung cũng không kém phần quan trọng đó là thể hiện tình cảm của người viết đối với con vật được tả Quan sát để miêu tả bao giờ người ta cũng có nhận xét, đánh giá hay có tình cảm (yêu, ghét, vui, buồn,…) đối với con vật Việc bộc lộ những tình cảm, nhận xét đó có khi được miêu tả trực tiếp nhưng phần lớn là nó được miêu tả gián tiếp qua cách chọn lựa từ ngữ, hình ảnh; qua cách ví von giàu tưởng tượng, dạt dào cảm xúc, hoặc qua bố cục,… của một bài văn miêu tả

Ngôn ngữ trong văn miêu tả loài vật là ngôn ngữ chính xác, hàm súc nhưng sinh động, giàu hình ảnh và cảm xúc Trong văn miêu tả con vật người ta thường sử dụng có hiệu quả các tính từ chỉ màu sắc, khối lượng, các từ tượng thanh, các động

từ chỉ hoạt động, các phép nhân hóa, so sánh,… Trong bài văn miêu tả con vật, ta thấy các tính từ chỉ màu sắc, khối lượng có tần số xuất hiện cao Điều này cũng dễ hiểu vì chúng nó có ưu thế trong việc khắc họa hình ảnh con vật Con ngan mới nở

bộ lông vàng óng, đôi mắt đen nhánh hạt huyền Con mèo đầu tròn xinh và nghộ nghĩnh, to bằng quả bóng cao su, đôi mắt long lanh như ngọc và tròn xoe như hai hòn bi ve Song điều cần lưu ý là phải tìm cho được các tính từ miêu tả con vật đúng

và hay nhất về màu sắc, hình dáng con vật, không nên chỉ dừng lại ở cac tính từ chung chung Con ngan, con vịt mới nở màu gì? Chỉ nói màu vàng thôi thì chưa đủ

hay vì chưa lột tả đúng sắc độ của màu vàng Phải nói như Tô Hoài “bộ lông vàng óng” hay như Vũ Thị Thường “lông vàng suồm suộm”, Cùng tả con cá song có người viết “vây hoa xám đen lốm đốm” còn Huy Cận lại viết “cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”

Các từ thường được sử dụng có khi để miêu tả tiếng kêu của con vật hay

tiếng động do nó tạo ra Đàn bò thì sung sướng ò…ò…,các chú vịt con thì vít vít

Trang 27

đáng yêu, con khỉ thì khẹc…khẹc…, “con gà bà Kiến chỉ rặn được ba tiếng éc, e, e cụt ngủn…”… Các từ tượng thanh làm cho bài văn miêu tả trở nên chân thực hơn,

hấp dẫn hơn vì con vật được tả giống như trong cuộc sống vậy

Các động từ hoạt động rất cần cho việc miêu tả hoạt động miêu tả của con vật Các hoạt động này rất phong phú Do đó số lượng lớn động từ hoạt động được

sử dụng Các động từ này làm cho các hoạt động của con vật như hiện rõ trước mắt

người đọc “Chim bố và chim mẹ mải miết đi kiếm mồi về mớm cho con Thỉnh thoảng Minh lại bắc ghế nhòm lên Môi Minh chúm lại khe khẽ bắt chước tiếng

chim kêu lích tích, lích tích Những chú chim non vội nhổm hết cả dậy Những đôi

mắt tròn như hạt cườm đen, chớp chớp, cái đầu khẽ nghiêng nghiêng,… Những chiếc mỏ vàng khúm lại há ra đớp đớp, ngon lành như em bé của Minh lúc nó ọ ẹ hớp hớp đôi môi đòi bú tí…”

Phép nhân hóa, so sánh tỏ ra đặc trưng trong văn miêu tả con vật Ở nhiều tác phẩm, nhân hóa không những chỉ là những biện pháp hoặc thủ pháp có tính chất tu

từ mà trở thành phương pháp xây dựng hình tượng, xây dựng tác phẩm như trong

Dế Mèn phiêu lưu kí, Võ sĩ Bọ Ngựa,… Phổ biến trong các tác phẩm miêu tả, nhân hóa được dùng như một biện pháp nghệ thuật Người viết dùng cách gọi người để gọi con vật (cu Tũn, chị Vàng,…), tả các hoạt động, tính nết của con vật như con người,… Nhờ biện pháp nhân hóa và so sánh con vật được miêu tả trở nên sinh động và thân thiết hơn đối với người đọc

“Ở một trang trại kia có một con chó Vện Vện rất khó tính Nếu bị xích, nó lăn ra kêu ăng ẳng Nhưng nếu để tự nhiên thì nó chạy rông suốt ngày, có khi đến bữa cũng mải vui chơi với chúng bạn, quên cả về ăn cơm Bởi thế nên Vện thường

bị khổ hình số một Nghĩa là phải xích cổ lại

Tất nhiên Vện không ưng thế Nó phản đối Nó cắn xích Nó nhá thừng Nhưng xích thì bằng xích dây thì bằng đay Cắn nhá lắm chỉ tổ có rách mép, đau răng thôi Sau một hồi ghè nhay, cậu cả lại mệt lử, nằm nhoài ra thở phì phò Không làm thế nào được”

Trang 28

Trên đây là một số đặc điểm về đối tượng, nội dung cũng như ngôn ngữ trong văn miêu tả Qua một số nét trên, chúng ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn

về văn miêu tả con vật

1.2 Phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học

1.2.1 Vị trí

Những lời được chúng ta nói ra hoặc viết ra khi giao tiếp với nhau gọi là ngôn bản Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh (tạo lập) và tiếp nhận (hiểu) ngôn bản (còn gọi là lời nói) Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng sản sinh ngôn bản Nó có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì:

Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mà các phân môn khác như Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu – đã hình thành

Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kĩ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn

mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp

Như vậy, phân môn Tập làm văn đã thực hiện được mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng được tiếng Việt để giao tiếp, tư duy, học tập

1.2.2 Nhiệm vụ

Sản phẩm của TLV là các ngôn bản ở dạng nói và dạng viết theo các dạng lời nói, kiểu bài văn do chương trình quy định Nói cách khác, mục đích của TLV là tạo lập được ngôn bản Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của dạy học TLV là giúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chương trình quy định

Nhiệm vụ của dạy học TLV là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập văn bản được phân tích thành các kĩ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Vì vậy, phân môn TLV phải cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành, phát triển ở các em các kĩ năng này Ở Tiểu học, phân môn TLV có

Trang 29

nhiệm vụ rèn kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số các văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả

Ngoài các kĩ năng chung để viết văn bản, mỗi loại văn bản cụ thể đòi hỏi có những kĩ năng đặc thù Chẳng hạn, để viết văn bản miêu tả cần có kĩ năng quan sát,

kĩ năng diễn đạt một cách có hình ảnh; để viết các bài văn kể chuyện cần có các kĩ năng xây dựng cốt truyện và nhân vật, kĩ năng lựa chọn các tình tiết… Phân môn TLV có nhiệm vụ rèn luyện những kĩ năng này

Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập văn bản, phân môn TLV đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh

Phân môn TLV góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt truyện Khả năng tư duy logic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn… Quá trình sản sinh văn bản cũng giúp cho học sinh có khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn

Để giao tiếp đạt hiệu quả, yêu cầu đặt ra là phải có thái độ đúng đắn với đối tượng giao tiếp Phân môn TLV khi dạy các nghi thức cũng đồng thời dạy cách cư

xử đối với mọi người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng Để viết văn cần có hiểu biết và tình cảm với đối tượng được viết Vì vậy, phân môn TLV đã tạo cho học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người

và vạn vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời, một em bé bị ngã, một người phụ nữ đang gặp khó khăn đến một chú gà trống, một đồ vật đã từng gắn bó… Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và phát triển

1.3 Văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn ở Tiểu học

1.3.1 Mục tiêu

Việc dạy văn miêu tả ở tiểu học giúp HS có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm Một bài văn hay là một bài văn

mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình sống động như nó vẫn tồn tại

Trang 30

trong thực tế cuộc sống Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học Kiến thức của các môn học này kết hợp với vốn sống thực tế sẽ giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp

1.3.2 Khảo sát chương trình sách giáo khoa lớp 4 về văn miêu tả

Nội dung chương trình TLV lớp 4 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm Trong đó, văn miêu tả gồm có 30 tiết được phân bố như sau:

Hiểu được thế nào là miêu tả

Nhận biết được câu văn miêu tả trong truyện

Chú Đất Nung; bước đầu viết được 1,2 câu miêu

tả một trong những hình ảnh yêu thích trong bài

thơ Mưa

Nắm được cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật, các kiểu mở bài, kết bài, trình tự miêu tả trong phần thân bài

Biết vận dụng để viết mở bài, kết bài cho một bài

văn miêu tả cái trống trường

Lập được dàn ý cho bài văn tả chiếc áo mặc đến lớp

Biết quan sát đồ vật theo một trình tự hợp lí,

Trang 31

bằng nhiều cách khác nhau; phát hiện được đặc điểm phân biệt đồ vật đó với đồ vật khác; dựa vào kết quả quan sát, biết lập dàn ý để tả một đồ chơi quen thuộc

Tuần 17

1 Đoạn văn trong

bài văn miêu tả đồ

Nhận biết được cấu tạo của đoạn văn; viết được một đoạn văn tả bao quát một chiếc bút

Nhận biết được đoạn văn thuộc phần nào trong bài văn miêu tả, nội dung miêu tả của từng đoạn, dấu hiệu mở đầu đoạn văn; viết được đoạn văn tả hình dáng bên ngoài, đoạn văn tả đặc điểm bên

trong của chiếc cặp sách

Viết được đoạn mở bài cho một bài văn miêu tả

đồ vật theo hai cách trên

Nắm vững hai cách kết bài (mở rộng, không mở rộng) trong bài văn tả đồ vật

Viết được đoạn kết bài mở rộng cho một bài văn

miêu tả đồ vật

Tuần 20

Miêu tả đồ vật

(Kiểm tra viết)

Biết viết hoàn chỉnh bài văn tả đồ vật đúng yêu cầu của đề bài, có đủ 3 phần(mở bài, thân bài, kết bài), diễn đạt thành câu rõ ý

Trang 32

Tuần 21

1 Trả bài văn

miêu tả đồ vật

2 Cấu tạo bài văn

miêu tả cây cối

Biết rút kinh nghiệm về bài TLV tả đồ vật(đúng

ý, bố cục rõ, dùng từ, đặt câu và viết đúng chính tả,…); tự sửa được các lỗi đã mắc trong bài viết theo sự hướng dẫn của GV

Nắm được cấu tạo 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài) của một bài văn tả cây cối

Nhận biết được trình tự miêu tả trong bài văn tả cây cối; biết lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả

quen thuộc theo 1 trong 2 cách đã học

Tuần 22

1 Luyện tập quan

sát cây cối

2 LT miêu tả các bộ

phận của cây cối

Biết quan sát cây cối theo trình tự hợp lí, kết hợp các giác quan khi quan sát; bước đầu nhận ra được sự giống nhau giữa miêu tả một loài cây với miêu tả một cái cây

Ghi lại được các ý quan sát về một cây em thích theo một trình tự nhất định

Nhận biết được một số điểm đặc sắc trong cách quan sát và miêu tả các bộ phận của cây cối trong đoạn văn mẫu; viết được một đoạn văn ngắn tả lá(thân, gốc) một cây em thích

Tuần 23

1 LT miêu tả các bộ

phận của cây cối

2 Đoạn văn trong

bài văn miêu tả cây

cối

Nhận biết được một số điểm đặc sắc trong cách quan sát và miêu tả các bộ phận của cây cối (hoa, quả) trong đoạn văn mẫu; viết được một đoạn văn ngắn tả một loài hoa em thích

Nắm được đặc điểm nội dung và hình thức của đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối

Nhận biết và bước đầu biết cách xây dựng một đoạn nói về lợi ích của loài cây em biết

Tuần 24 LT xây dựng đoạn

văn miêutả cây cối

Vận dụng những hiểu biết về đoạn văn trong bài văn tả cây cối đã học để viết được một số đoạn

Trang 33

văn(còn thiếu ý) cho hoàn chỉnh

Tuần 25

LT xây dựng mở bài

trong bài văn miêu

tả cây cối

Nắm được 2 cách mở bài (trực tiếp, gián tiếp) trong bài văn miêu tả cây cối; vận dụng kiến thức đã biết để viết được đoạn mở bài cho bài văn tả một cây mà em biết

Tuần 26

1 LT xây dựng mở

bài trong bài văn

miêu tả cây cối

2 Luyện tập miêu

tả cây cối

Nắm được 2 cách kết bài (mở rộng, không mở rộng) trong bài văn miêu tả cây cối; vận dụng kiến thức đã biết để bước đầu viết được đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả một cây mà em thích Lập được dàn ý sơ lược bài văn tả cây cối nêu trong đề bài

Dựa vào dàn ý đã lập, bước đầu viết được các đoạn thân bài, mở bài, kết bài cho bài văn tả cây cối xác định

Tuần 27

1 Miêu tả cây cối

(Kiểm tra viết)

2 Trả bài văn miêu

theo sự hướng dẫn của GV

Tuần 29

Cấu tạo của bài

văn miêu tả con

Tuần 30 Luyện tập quan sát Nêu được nhận xét về cách quan sát và miêu tả

Trang 34

con vật con vật qua bài văn Đàn ngan mới nở; bước đầu

biết cách quan sát một con vật để chọn lọc các chi tiết nổi bật về ngoại hình, hoạt động và tìm từ ngữ để miêu tả con vật đó

từ ngữ miêu tả thích hợp

Nhận biết được đoạn văn và ý chính của từng đoạn trong bài văn tả con chuồn chuồn nước; biết sắp xếp các câu cho trước thành một đoạn văn; bước đầu viết được một đoạn văn có câu

bài, kết bài trong

bài văn miêu tả con

vật

Nhận biết được: đoạn văn và ý chính của đoạn trong bài văn tả vật, đặc điểm hình dáng bên ngoài và hoạt động của con vật được miêu tả trong bài văn; bước đầu vận dụng kiến thức đã học để viết được đoạn văn tả ngoại hình, tả hoạt động của một con vật em yêu thích

Nắm vững kiến thức đã học về đoạn mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật để thực hành luyện tập; bước đầu viết được đoạn mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng cho bài văn tả con vật yêu thích

Tuần 33 Miêu tả con vật

(kiểm tra viết)

Vận dụng các kiến thức đã học để viết một bài văn miêu tả con vật hoàn chỉnh

Trang 35

Qua bảng trên ta thấy trong 30 tiết văn miêu tả thì văn miêu tả con vật được dạy trong 8 tuần phân bố từ tuần 29 đến tuần 34 Văn miêu tả con vật được phân bố vào gần cuối năm đó cũng là thuận lợi và khó khăn cho việc dạy học văn miêu tả con vật Thuận lợi là các em đã được học về một số thể loại văn miêu tả khác như văn miêu tả cây cối, văn miêu tả đồ vật,… Qua đó, các em được rèn luyện một số kĩ năng cần thiết cho việc làm văn miêu tả Các em sẽ có cơ sở để làm tốt hơn trong thể loại văn miêu tả con vật Bên cạnh đó, khi các em làm văn miêu tả đồ vật hay cây cối thì đó là những đối tượng đứng yên, không có “hoạt động” hay “tính nết” nên việc hướng dẫn các em viết về tính nết và hoạt động của con vật vẫn gặp nhiều khó khăn

1.3.3 Tầm quan trọng vủa việc dạy học văn miêu tả con vật ở Tiểu học

Trong cuộc sống của chúng ta, bên cạnh đồ vật, cây cối thì không thể không nhắc đến con vật Đối với học sinh tiểu học, việc được học văn miêu tả con vật là vô cùng cần thiết Bởi vì nếu trong chương trình dạy học văn miêu tả ở Tiểu học chỉ dừng lại ở dạy miêu tả đồ vật, cây cối, con người và cảnh vật thì sẽ khiến cho học sinh tiểu học không nắm được và không biết cách quan sát, nhận xét các con vật xung quanh Việc tìm hiểu các con vật gần gũi xung quanh cuộc sống hằng ngày của học sinh sẽ giúp cho các em nắm được những đặc điểm về hình dáng, tính cách

và hoạt động của con vật đó Không chỉ vậy, khi quan sát đối tượng là con vật sẽ giúp cho các em có tình cảm và yêu quý những loài vật đó hơn

1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học với quá trình dạy học viết văn miêu tả

Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên HS được học văn miêu tả Các em gặp nhiều khó khăn cả về tri thức lẫn phương pháp Do đó, việc nắm được đặc điểm tâm sinh lý của HS sẽ giúp cho GV có những phương pháp thích hợp trong việc giảng dạy trong các giờ học TLV miêu tả

1.4.1 Tri giác

Ở lứa tuổi cuối của bậc Tiểu học, quá trình tri giác có những biến đổi quan trọng Tri giác của HS đi từ tính đại thể, ít đi vào chi tiết chuyển sang tính có mục đích, có chủ định HS đã có khả năng nhìn thấy nhiều chi tiết trong cùng một đối tượng và nắm bắt được những dấu hiệu chủ yếu, quan trọng của đối tượng đó Tuy

Trang 36

nhiên, tri giác ở lứa tuổi này cũng bắt đầu mang tính xúc cảm Các em chỉ thích quan sát những sự vật, hiện tượng nào gần gũi, trực tiếp gây xúc cảm, tác động mạnh mẽ đến mình Do đó sự quan sát của HS còn mang nhiều cảm tính, có khi phiến diện và hời hợt

Văn miêu tả là kết quả dễ thấy nhất, trực tiếp nhất của quan sát Quan sát càng tinh vi, thấu đáo, bài viết càng đặc sắc và hấp dẫn Nếu quan sát hời hợt, phiến diện, bài viết sẽ khô khan, nông cạn Quan sát còn là một hoạt động tư duy cần thiết giúp các em nhận thức được thế giới xung quanh Đối với văn miêu tả con vật, nếu HS biết quan sát một cách tỉ mỉ sẽ giúp các em có thể dễ dàng lựa chọn từ ngữ để miêu

tả Vì vậy, kĩ năng quan sát luôn là một kĩ năng quan trọng trong chương trình dạy học văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật nói riêng Thông qua các giờ rèn

kĩ năng quan sát trong chương trình, sự quan sát của HS ngày càng trở nên tỉ mỉ, sâu sắc với những mục đích rõ ràng hơn HS đã có khả năng phân biệt, phán đoán

và hệ thống hóa các sự vật được quan sát để diễn tả chính xác những điều quan sát Quan sát tốt chẳng những giúp HS tích lũy vốn sống, mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên ở trẻ

Văn miêu tả đem lại cho học sinh cái nhìn về thế giới khách quan Thông qua hoạt động trong các giờ học văn miêu tả như đọc, phân tích đề bài, quan sát, tìm ý, viết đoạn, sửa chữa bài,… tư duy của các em tách ra khỏi tri giác trực tiếp và mang dần tính trừu tượng Những thao tác logic đầu tiên bắt đầu thay thế cho trực giác, cho phép các em có khả năng phán đoán, suy luận và nhận thức thế giới một cách khách quan hơn Cùng một lúc, HS có thể vừa tìm thấy cái giống nhau và khác nhau của những đối tượng tri giác, tách chúng ra khỏi các dấu hiệu không bản chất để

Trang 37

làm nên sự khái quát hóa đúng đắn Những tài liệu trực quan của giờ văn miêu tả cũng là một chỗ dựa vững chắc để HS có thể chứng minh, lập luận vấn đề một cách

dễ dàng

1.4.3 Tưởng tượng

Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng cửa HS càng gần hiện thực hơn Các em HS lớp 4, 5 đã có khả năng dùng ngôn ngữ để nhào nặn, gọt dũa những hình tượng cũ, sáng tạo ra những hình tượng mới Tuy nhiên các chi tiết, hình ảnh tưởng tượng của trẻ đôi khi còn nghèo nàn, tản mạn

Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Đọc và học văn miêu tả, các em sẽ đến được thế giới của tuổi thơ, thế giới của sự tưởng tượng và sáng tạo Đặc biệt, đối với văn miêu tả con vật, dựa vào đặc điểm từng bộ phận của con vật đó mà các em có thể tự

do tưởng tượng, liên tưởng đến những hình ảnh gần gũi nhất Chương trình dạy văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật nói riêng sẽ giúp các em biến hình ảnh tưởng tượng ban đầu còn tản mạn bằng những hình ảnh trọn vẹn, chính xác, rõ ràng, mạch lạc hơn Nhờ đó, trẻ có thể viết được những câu văn, đoạn văn hay bài văn sinh động, đầy cảm xúc và chân thật

1.4.4 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lí tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của học sinh phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết

Ngôn ngữ của HSTH phát triển mạnh mẽ cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Vốn từ của các em tăng lên đáng kể từ kiến thức ở các môn học trong nhà trường và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển: từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát, trừu tượng nghĩa của từ Tuy nhiên trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa Việc hiểu nghĩa bóng còn khó khăn với trẻ Các em thường sử dụng chúng một cách tùy tiện khi chưa hiểu hết nội dung Ngoài ra ở lứa tuổi này, HS đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và viết nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa

Trang 38

thuần thục, còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết Từ chỗ hiểu nghĩa từ ngữ chưa chính xác, nắm ngữ pháp chưa chắc nên khi viết các em còn dùng từ sai, viết câu chưa đúng, không biết chấm câu,…

Ngôn ngữ góp phần làm cho bài văn miêu tả trở nên sinh động, tạo hình Đặc biệt đối với văn miêu tả con vật, việc sử dụng ngôn ngữ vô cùng quan trọng Học văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật nói riêng sẽ tạo cơ hội cho HS tích lũy, mở rộng thêm vốn từ Thông qua các ngữ liệu trong bài văn miêu tả, thông qua các tiết quan sát, tìm ý, các bài học của tiết Tập đọc, Luyện từ và câu, HS sẽ biết cách chọn từ ngữ thích hợp, vận dụng được các quy tắc ngữ pháp về câu, đoạn, các

từ trái nghĩa, gần nghĩa, các phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa để viết ra những đoạn văn, bài văn miêu tả có sức gợi hình, gợi cảm lớn

Kết luận chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu một số vấn đề văn miêu tả, văn miêu

tả con vật, đặc điểm của văn miêu tả và từ đó rút ra đặc điểm của văn miêu tả con vật một cách cụ thể

Chúng tôi đã tìm hiểu và xác định được vị trí và nhiệm vụ của văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn, hiểu tâm lí của học sinh khi học văn miêu tả và nắm được sự phân bố các tiết dạy học văn miêu tả con vật trong chương trình Tập làm văn lớp 4 Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và đưa ra những yêu cầu trong việc sử dụng từ ngữ trong học văn miêu tả của học sinh tiểu học sẽ là cơ sở lí luận vững chắc để chúng tôi có thể thực hiện quá trình khảo sát được dễ dàng và chính xác hơn

Trang 39

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN

MIÊU TẢ CON VẬT CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA

PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

2.1 Mục đích khảo sát

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đánh giá đúng thực trạng dạy và học viết văn miêu tả con vật lớp 4 ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Từ

đó, chỉ rõ nguyên nhân dẫn tới thực trạng và rút ra kết luận có tính khái quát

2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát

Đề tài khảo sát 120 HS ở các lớp khối 4 và 20 GV đang làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4 ở 3 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cụ thể là:

- Trường Tiểu học Trần Văn Dư: 6 GV và 38 HS

- Trường Tiểu học Nguyễn Như Hạnh: 7GV và 39 HS

- Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi: 7GV và 43 HS

2.3 Thời gian khảo sát

Tiến hành từ ngày 14/3/2016 đến ngày 20/04/2016

2.4 Nội dung khảo sát

2.4.1 Nội dung kháo sát giáo viên

Đề tài tiến hành khảo sát những vấn đề sau:

- Nhận xét, đánh giá của GV về năng lực viết văn miêu tả con vật của HS

- Nhận thức của GV về tầm quan trọng của dạy học văn miêu tả con vật trong chương trình dạy học TLV ở Tiểu học

- Những khó khăn thường gặp của GV khi dạy viết văn miêu tả cho HS

Những nội dung khảo sát được thể hiện cụ thể qua phiếu kháo sát giáo viên ở phần phụ lục

2.4.2 Nội dung khảo sát học sinh

Đề tài tiến hành khảo sát những vấn đề sau:

- Thái độ của HS khi học viết văn miêu tả con vật

- Hiểu biết của HS về cách thực hiện viết bài văn miêu tả con vật (cách mở bài, viết dàn ý,…)

Trang 40

- Những lỗi HS thường mắc phải khi viết văn miêu tả con vật

Những nội dung khảo sát được thể hiện cụ thể qua phiếu kháo sát học sinh ở phần phụ lục

2.5 Kết quả khảo sát

2.5.1 Kết quả khảo sát giáo viên

Được sự cho phép của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát xin ý kiến đóng góp của 20 giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy lớp 4 tại 3 Trường Tiểu học Trần Văn Dư, Nguyễn Như Hạnh và Nguyễn Văn Trỗi thông qua phiếu trắc nghiệm (phần phụ lục) mà chúng tôi đã soạn Mỗi phiếu gồm 9 câu hỏi Kết quả thu được như sau:

Câu 1: Theo thầy (cô), việc dạy viết văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 có ý nghĩa như thế nào?

Mức độ Cần thiết Bình thường Không cần thiết

Bảng 1: Nhận xét, đánh giá của GV về ý nghĩa của dạy học văn miêu tả con vật

trong chương trình dạy học TLV ở Tiểu học

Từ bảng, ta vẽ được biểu đồ như sau:

Biểu đồ 1 Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của việc dạy học văn miêu tả

con vật trong chương trình dạy học TLV ở Tiểu học

(Đơn vị: %)

90%

Bình thường Không cần thiết

Ngày đăng: 17/05/2021, 00:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1974), Hán Việt Từ điển, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt Từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1974
2. Hoàng Hòa Bình (1997), Dạy văn cho học sinh tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
3. Phạm Minh Diệu, Đỗ Ngọc Thống (2003), Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Minh Diệu, Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục - Hà Nội
Năm: 2003
4. Vũ Tú Nam, Phạm Hổ (1998), Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và kể chuyện
Tác giả: Vũ Tú Nam, Phạm Hổ
Nhà XB: Nxb Giáo dục - Hà Nội
Năm: 1998
5. Lê Phương Nga (2013), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
6. Đào Ngọc – Nguyễn Đăng Ninh, Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt
7. Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học, Tài liệu đào tạo giáo viên - 2007 của Bộ GD và ĐT, Dự án phát triển GV tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học
8. Hoàng Phê (1988), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1988
10. Nguyễn Trí (1996), Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
11. Nguyễn Trí, Lê Phương Nga (1995), Phương pháp dạy học tiếng Việt Tiểu học (tập 1, 2), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt Tiểu học (tập 1, 2)
Tác giả: Nguyễn Trí, Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1995
12. Nguyễn Trí (1998), Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Trí (2001), Dạy Tập Làm Văn ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Tập Làm Văn ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
14. Đinh Thị Yến (2013), Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La, Đại học Tây Bắc – Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu học Tường Hạ - Huyện Phù Yên - Tỉnh Sơn La
Tác giả: Đinh Thị Yến
Năm: 2013
9. Đặng Thị Sóng (2011), Rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Bốn, trường Tiểu học Nguyễn Du, Đồng Nai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w