hương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường Trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh .... có thể vận dụng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 hương pháp nghiên cứu 7
6 óng góp của khóa luận 7
7 Cấu trúc của khóa luận 8
NỘI DUNG 9
ƯƠ 1: Ơ Ở LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP TÀI LIỆU VĂ C TRONG D Y H C L CH SỬ Ở ƯỜNG TRUNG H C PHỔ THÔNG E ƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA H C SINH 9
1.1 ơ sở lí luận 9
1.1.1 Quan niệm về tích hợp 9
1.1.1.1 Khái niệm về tích hợp và dạy học tích hợp 9
1.1.1.2 Các mức độ tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông 11
1.1.2 Quan niệm về phát huy tính tích cực của học sinh ở trường Trung học phổ thông 12
1.1.2.1 Khái niệm về tính tích cực 12
1.1.2.2 Dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực 14
1.1.3 Quan niệm về tài liệu văn học trong dạy học lịch sử 16
1.1.3.1 Quan niệm chung về tài liệu văn học 16
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa tài liệu văn học với tri thức lịch sử 16
1.1.3.3 Phân loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử 18
Trang 31.1.4 Vai trò và ý nghĩa của việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở
trường THPT 19
1.1.4.1 Vai trò 20
1.1.4.2 Ý nghĩa 21
1.2 ơ sở thực tiễn 25
ƯƠ 2: HỆ THỐNG TÀI LIỆU VĂ ƯỢC SỬ DỤNG TRONG D Y H C L CH SỬ VIỆ N 1930 - 1945 Ở ƯỜNG TRUNG H C PHỔ Ô ( ƯƠ Ì UẨN) 29
2.1 Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (Sách giáo khoa lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn) 29
2.1.1 Phong trào cách mạng 1930 – 1935 29
2.1.2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939 30
2.1.3 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời 31
2.2 Nguyên tắc lựa chọn tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT 32
2.2.1 Đảm bảo tính chính thống và có giá trị lịch sử cao 32
2.2.2 Đảm bảo rõ ràng về nguồn gốc 33
2.2.3 Đảm bảo tính đa dạng 33
2.2.4 Đảm bảo giá trị giáo dưỡng, giá trị giáo dục 34
2.3 Hệ thống tài liệu văn học được sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn) 35
ƯƠ 3: ƯƠ Á Í ỢP TÀI LIỆU VĂ C TRONG D Y H C L CH SỬ VIỆ N 1930 – 1945 Ở ƯỜNG TRUNG H C PHỔ Ô E ƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA H C SINH 47
3.1 Những yêu cầu khi tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử 47
Trang 43.1.1 Đảm bảo phù hợp với chương trình, nội dung môn học 47
3.1.2 Đảm bảo tính Đảng 48
3.1.3 Đảm bảo tính khoa học 49
3.1.4 Đảm bảo phù hợp với đối tượng dạy học 50
3.1.5 Đảm bảo tính cụ thể, truyền cảm 50
3.1.6 Đảm bảo phát huy tính tích cực của HS 50
3.2 hương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường Trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 51
3.2.1 Tích hợp tài liệu văn học để tạo biểu tượng về các sự kiện, nhân vật lịch sử 51 3.2.2 Tích hợp tài liệu văn học để rút ra nguyên nhân, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm lịch sử 53
3.2.3 Tích hợp tài liệu văn học kết hợp với các phương tiện dạy học 55
3.2.4 Tích hợp TLVH để tổ chức dạy học theo nhóm 56
3.2.5 Tích hợp TLVH để tổ chức trò chơi lịch sử 58
3.2.6 Tích hợp TLVH để giải thích sự kiện, hiện tượng lịch sử 61
3.3 Thực nghiệm sư phạm 63
3.3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 63
3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 63
3.3.3 Đối tượng thực nghiệm 63
3.3.4 Nội dung thực nghiệm 63
3.3.5 Kết quả thực nghiệm 64
KẾT LUẬN 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC I 71
Trang 5Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Lịch sử đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Đặc biệt, lời cảm ơn chân thành nhất em xin gửi đến thầy giáo - Th.S Trương Trung Phương – Khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, tuy rất bận với công việc song vẫn chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình từ những ngày đầu thực hiện đề tài, từ việc tìm đề tài nghiên cứu, tìm tài liệu tham khảo đến việc khai thác tài liệu và lập đề cương chi tiết để em có thể hoàn tành tốt khóa luận này
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song
do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong sự góp ý của quý thầy cô để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trần Thị hương hảo
Trang 7MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại Trong bất cứ thời đại nào, từ dựng nước đến giữ nước, những trang lịch sử vẻ vang là nguồn động lực mạnh mẽ để mỗi người dân Việt Nam chiến đấu, hy sinh vì độc lập của dân tộc vì sự trường tồn của đất nước Vì lẽ đó, lịch sử trở thành một phần máu thịt, một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong mỗi bước phát triển của Tổ quốc Hiểu đúng lịch sử, nhìn nhận đúng vai trò của lịch sử để có những ứng xử phù hợp với ngành khoa học này là vấn đề cấp bách đặt ra cho toàn xã hội, toàn dân ta trong bối cảnh hiện nay
Lịch sử đã trở thành một môn học quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông nước ta, cùng với các bộ môn khác góp phần đào tạo đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên gần đây thực trạng của việc dạy và học lịch sử trong nhà trường phổ thông hiện còn những tồn tại bất cập như nội dung nặng về lý thuyết với những con số khô khan, những sự kiện mang tính liệt kê, đòi hỏi người học phải ghi nhớ một cách máy móc… nên chưa tạo được hứng thú học lịch sử đối với học sinh Học sinh hiểu một cách rời rạc, nông cạn về kiến thức lịch sử, không nắm được mối liên hệ hữu cơ giữa các tri thức thuộc lĩnh vực đời sống xã hội, về kiến thức liên môn… Những điều đó cùng với nhiều lí do khách quan lẫn chủ quan đã góp phần gây nên tình trạng học sinh ngại học sử và để lại những hậu quả không hề nhỏ Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan đã nhận
thức rõ cần phải có sự đổi mới phương pháp dạy học và nhiều chủ trương chính
sách được đưa ra Trong đó dạy học theo chủ đề tích hợp là một trong những phương pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục
Trong các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn, tuy chức năng và nhiệm vụ của mỗi môn khác nhau nhưng tất cả đều phục vụ cho mục tiêu giáo dục – phát triển toàn diện con người, đều phản ánh mọi hoạt động của con người và xã hội Trong
đó, Lịch sử và Văn học là hai bộ môn có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau Vì vậy, ta
Trang 8có thể vận dụng phương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử, qua đó giúp tái hiện lại lịch sử một cách sinh động, phong phú, giàu hình ảnh hơn, giúp học sinh nắm kiến thức lịch sử sâu sắc, toàn diện hơn nhằm phát huy tính tích cực và gây hứng thú học tập
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng cuả lịch sử dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ - Tĩnh và thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 Qua bài học lịch sử giai đoạn này, các em sẽ thấy
sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, sự hy sinh anh dũng, quên mình của nhân dân vì sự nghiệp độc lập dân tộc Trên cơ sở đó, góp phần tạo được cảm xúc lịch sử sâu rộng, hình thành ở các em sự kính phục, lòng tự hào đối với thế hệ cha ông đi trước
Gắn liền với giai đoạn lịch sử hào hùng này, nền văn học cách mạng Việt Nam cũng đã ra đời và đồng hành với những bước tiến của cách mạng Việt Nam Những tác phẩm văn học giai đoạn này được thổi một làn gió mới, phản ánh quá trình đấu tranh cách mạng đầy cam go, quyết liệt nhưng rất đỗi anh hùng của cả dân tộc Đây
là một nguồn tư liệu phong phú, hấp dẫn mà giáo viên dạy sử có thể sử dụng để giúp học sinh tái hiện bức tranh hào hùng về một giai đoạn cách mạng vẻ vang suốt
15 năm từ khi Đảng ra đời
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)” làm khóa luận của
mình
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến đề tài đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, tiêu biểu là các công trình sau:
- Các giáo trình như: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi với
giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”; Phan ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường, Đặng Văn Hồ với “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”; “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử” do Trần Đình Tùng (chủ biên), …Các giáo trình này
Trang 9đã trình bày một cách đầy đủ về phương pháp và nguyên tắc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử nhưng chỉ trên phương diện lý thuyết
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đón đầu đổi mới chương trình đào tạo
GV, phát hành bộ sách “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh” gồm hai
quyển, bộ sách cung cấp một số cơ sở lí luận cần thiết về dạy học tích hợp, đồng thời giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ khác nhau
- Bên cạnh giáo trình, sách tham khảo về phương pháp dạy học lịch sử, vấn đề này cũng được nhiều sinh viên, học viên cao học lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp, Luận văn Thạc sĩ
Trần Thị Kim Vân trong khóa luận tốt nghiệp “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam (Thế kỷ X - XV) ở lớp 7 trường Trung học cơ sở” hay Trần Thị Hà với Luận văn thạc sỹ “Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1958 – 1918 ở lớp 11 Trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)”, …Các công trình này đã đề xuất đến các nguyên tắc và phương pháp
sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam ở một giai đoạn nhất định
- Tài liệu Hội thảo Khoa học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
về “Dạy học tích hợp, dạy học phân hóa ở trường trung học đáp ứng yêu cầu của chương trình sách giáo khoa sau năm 2015”, tác giả Đỗ Hồng Thái có bài viết “Tài liệu hướng dẫn dạy học tích hợp trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông” (2011) Các tác phẩm trên đã trình bày tổng quan về lí luận tích hợp trong
dạy học lịch sử, vị trí của tài liệu văn học trong đạy học lịch sử, cũng đã đưa ra một
số phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Nhưng nó cũng chưa
đi sâu vào phân tích cụ thể
- Nhóm cuối là các bài trong Tạp chí chí Dạy và học ngày nay có nhiều bài
viết như Nay Thị Hương với “Dạy học lịch sử nhằm phát huy tính tích cực của học sinh” hay “Một số yêu cầu cơ bản khi dạy học tích hợp” của Nguyễn Thị Hướng Lài; Đặng Hoàng Sang với “Sử dụng văn học dân gian trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường Trung học phổ thông”; “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” của Đặng Hữu Quế,…
Trang 10Trong các bài giảng cụ thể ở trường THPT, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về lí luận và thực tiễn tiến hành cũng như phương pháp tiến hành tích hợp các tài liệu văn học trong dạy học học lịch sử Vì vậy nhiệm
vụ của khóa luận là phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn những thể loại, các tác phẩm thơ ca, văn học … cho phù hợp vào giảng dạy các bài học lịch sử trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12, phần lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Trên cở sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, đề tài tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu về vấn đề tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Qua đó, để góp phần để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 theo hướng phát huy được tính tích cực của học sinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không đi sâu nghiên cứu lí luận dạy học lịch sử mà đi sâu vào nghiên cứu việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
- Góp phần nâng cao chuất lượng bộ môn thể hiện trên các mặt về giáo dục, giáo dưỡng và phát triển
- Khắc phục tình trạng chất lượng học tập môn lịch sử đang giảm sút
- Phát huy tính tích cực của học sinh trong việc học tập lịch sử và vận dụng vào thực tế
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, khai thác các tác phẩm, bài nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học lịch sử, về phương pháp tích hợp trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng
Trang 11- Xác định những tác phẩm văn học có liên quan đến nội dung của sách giáo khoa trong giai đoạn lịch sử nêu trên
- Đề xuất các nguyên tắc cơ bản và biện pháp sư phạm cần thiết để sử dụng tích hợp các tài liệu văn học trong dạy học phần lịch sử Việt Nam giai đoạn nêu trên
5 hương pháp nghiên cứu
- Cơ sở pháp luận: dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng
- Tiếp cận, đi sâu nghiên cứu và phân tích tài liệu tâm lí học, giáo dục học, nghiên cứu chương trình môn lịch sử, sách giáo khoa lịch sử lớp 12 (chương trình chuẩn)
- Lựa chọn và sắp xếp các loại tài liệu cần thiết cho đề tài, sau đó tiến hành tập hợp, so sánh đối chiếu chọn lọc nội dung chính xác, khách quan, khoa học phù hợp với chương trình và đối tượng nhận thức của học sinh ở trường Trung học phổ thông để tích hợp các tài liệu văn học có liên quan đến nội dung của chương trình thuộc giới hạn của đề tài
- Điều tra cơ bản: thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên và học sinh, điều tra
xã hội học để tìm hiểu thực tiễn của việc sử dụng tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở các trường phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm: tiến hành giảng dạy thực nghiệm toàn phần và đối chứng ở các lóp 12 Trung học phổ thông Trên cơ sở các tiết giảng thực nghiệm giáo dục, kiểm tra kết quả bằng trắc nghiệm giáo dục và rút ra kết luận
6 óng góp của khóa luận
- Đề tài góp phần khẳng định vai trò, vị trí của phương pháp tích hợp trong dạy học lịch sử và đồng thời thấy được mối quan hệ giữa dạy học các sự kiện lịch
sử với các tài liệu văn học
- Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, củng cố phương pháp dạy dọc cho giáo viên và phát huy tính tích cực trong học tập lịch sử của học sinh
Trang 12- Sưu tầm lựa chọn những tài liệu văn học cơ bản, phù hợp, có giá trị sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
- Khóa luận này còn là nguồn tài liệu cho ai quan tâm đến vấn đề này, là tài liệu tham khảo cho sinh viên, nhất là giáo viên dạy học lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, khóa luận được chia làm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Chương 2: Hệ thống tài liệu văn học được sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn) Chương 3: Phương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở trường Trung học phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Trang 13Còn theo từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa liên bang Đức nghĩa chung của từ integration có hai khía cạnh: Quá trình xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ; Trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ
Phạm Thanh Bình thì cho rằng: “Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, nó chỉ trạng thái liên kết các phần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này” [6, tr 15]
Ta có thể hiểu tích hợp là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập
- Khái niệm về dạy học tích hợp:
Trên thế giới và tại Việt Nam, dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư
phạm hiện đại và rất được quan tâm Trong nghiên cứu của Trần Bá Hoành “Theo định nghĩa của UNESSCO cho thấy dạy học tích hợp là dạy cho HS cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học” [20, tr 2]
Theo Đỗ Hồng Thái “Dưới góc độ giáo dục học, tích hợp (Intergration) được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất” [31, tr 14]
Trang 14Nguyễn Thị Kim Dung lại cho rằng: “Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì Khai sáng (thế kỉ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, …” [12, tr 13]
Trong khi đó Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2015 cho
rằng: “Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm
vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết” [2, tr 23]
Tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn trong bộ
môn; giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ với nhau thành một thể thống nhất; qua đó rèn luyện khả năng liên môn, xuyên môn để người học phát huy tính tích cực
Dạy học tích hợp là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi học sinh biết vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ; qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có năng lực Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các tình huống của cuộc sống sau này mà học sinh có thể phải đối mặt và chính vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với học sinh Qua
đó, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai
Chính vì vậy, dạy học tích hợp là một trong những định hướng chính của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nước ta sau năm 2015, nhằm hướng tới mục tiêu là chuyển nền giáo dục nước ta từ chủ yếu cung cấp kiến thức và kĩ năng sang nền phát triển phẩm chất và năng lực HS Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều môn học để thực hiện mục tiêu đó Tuy nội dung các môn học và nhiệm vụ của chúng có thể khác nhau, song chúng
Trang 15vẫn có mối quan hệ nhất định, nhiều khi là rất chặt chẽ Tuy nhiên trong thực tế dạy học các môn học nói chung, môn Lịch sử nói riêng, việc khai thác mối quan hệ giữa các môn học đã không được quan tâm đúng mức Một trong những biện pháp đưa ra giải quyết vấn đề trên là vận dụng phương pháp dạy học tích hợp giữa các bộ môn nói chung hay tích hợp tài liệu văn học trong bộ môn lịch sử nói riêng
1.1.1.2 Các mức độ tích hợp trong chương trình giáo dục phổ thông
Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo; …
Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau
Có thể đưa ra ba mức độ tích hợp cụ thể theo thang tăng dần như sơ đồ dưới đây:
Mức độ thấp nhất là lồng gép hay liên hệ - là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào nội dung chủ đạo trong bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn ở mức độ riêng rẽ
GV có thể tìm thấy mối liên hệ giữa kiến thức của môn mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp Dạy học tích hợp ở mức độ lồng ghép có thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học
Lồng ghép hay liên hệ
Liên môn
Hòa trộn
Trang 16Ở mức độ vận dụng kiến thức liên môn thì các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn chung Chương trình liên môn tạo ra những kết nối rõ rệt giữa các môn học Chương trình cũng xoay quanh các chủ đề hay vấn đề chung, nhưng các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ không phải trong từng môn riêng biệt Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học Thí dụ: môn Lí – Hóa, Sử - Địa, Sinh – Địa chất…Ở mức độ này, người học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra
Hòa trộn là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình không môn học, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, nó dẫn đến hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học Với mức độ này, GV phải phối hợp nội dung các môn khác nhau trong quá trình học tập bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề học tập thích hợp [35, tr 15, 16, 17]
Nói tóm lại, dạy học tích hợp là một khái niệm còn tương đối mới, đang được
cụ thể hóa ở nhiều cấp độ khác nhau trong các chương trình giáo dục Tùy theo vấn
đề, nội dung cũng như nhu cầu thực tế và trình độ của GV mà mức độ tích hợp trong giảng dạy là khác nhau Có những nội dung chỉ tích hợp trong một môn học như dạy học theo chủ đề; có những nội dung được tích hợp đa môn hoặc xuyên môn như dạy học theo dự án chẳng hạn Tích hợp đòi hỏi phải có sự công phu, khoa học
1.1.2 Quan niệm v phát huy tính tích cực của học sinh ở trường Trung học phổ thông
1.1.2.1 Khái niệm về tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, tính tích cực của con người biểu hiện trong các hoạt động và học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học
Theo I.U.C Babanxki tính tích cực trong học tập biểu hiện: “Sự phản ánh vai trò tính tích cực của cá nhân học sinh trong quá trình học, nhấn mạnh rằng học
Trang 17sinh là chủ thể chứ không đóng vai trò thụ động Tính tích cực của học sinh không chỉ tập trung vào việc ghi nhớ, ghi chép đơn giản hay thể hiện sự chú ý mà còn hướng học sinh tự lĩnh thụ kiến thức mới” [36, tr 8]
Theo Hà Thế Ngữ thì “tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh là ý thức được nhiệm vụ học tập của học sinh đối với từng môn từng bài nói riêng thông qua việc học sinh hăng say học tập…” [36, tr 9] Qua đó, ta có thể thấy tính tích
cực trong học tập là sự hăng hái, tự giác, tham gia các hoạt động học tập, chủ động tìm tòi khám phá những điều chưa biết dựa trên cái đã biết, sáng tạo vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 Ở thời điểm này, các trường sư phạm đã có
khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải
cách giáo dục lần thứ hai năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước Từ đó, trong nhà trường dạy học theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động,
tự lực chiếm lĩnh tri thức mới
Trong Luật Giáo dục ở điều 2.4 quy định “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [18, tr 21]
Như vậy ta thấy Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh ở đây
là phải thay đổi cách dạy và cách học Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một
chiều “đọc - chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung
tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học Dạy và học tích cực là điều kiện tốt khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh vào quá trình học tập
Tính tích cực học tập được biểu hiện qua nhiều cấp độ khác nhau, đó là bắt chước (cố gắng thực hiện theo các mẫu hành động của thầy của bạn); tìm tòi (độc
Trang 18lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề) và sáng tạo (tìm ra cách giải quyết mới độc đáo hữu hiệu)
1.1.2.2 Dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
Phương pháp dạy và học tích cực luôn hướng tới mục đích phát triển năng lực giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực sáng tạo từ người học Phương pháp này đề cao vai trò người học bằng hoạt động cụ thể thông qua sự động não để tự chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức…GV bộ môn luôn là người đứng ra tổ chức, giúp đỡ, hướng dẫn
và tạo điều kiện tốt nhất cho HS thực hiện các hoạt động học tập một cách có hiệu quả
Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh là dấu hiệu đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy và học tích cực Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết và đã qua trải nghiệm Từ đó, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Dấu hiệu đặc trưng thứ hai là dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu học Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ có được lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh hoạt động tự học trong quá trình dạy học, không phải tự học ở nhà mà cả tự học trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
Một dấu hiệu đặc trưng khác là tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm Trong học tập, không phải mọi tri thức kĩ năng, thái độ được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá thể Lớp học là môi trường giao tiếp thầy trò, trò với trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong học tập, ý kiến mỗi cá nhân
Trang 19được bộc lộ, khẳng định, hay bác bỏ Qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của
cả lớp
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò là dấu hiệu đặc trưng cuối cùng Trước đây, mọi người vẫn thường hay có quan niệm giáo viên có độc quyền đánh giá học sinh, nhưng trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tự đánh giá để điều chỉnh cách học Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá nỗ lực, quá trình và kết quả, mức độ cao hơn là người học có thể phản hồi lại quá trình học của mình Liên quan đến điều này, giáo viên cần tạo thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà mỗi thầy cô cũng như nhà trường phải trang bị cho học sinh Với phương pháp này, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Ở trên lớp, với phương pháp tích cực này thì học sinh hoạt động là chính, giáo viên nhàn hạ hơn Song khi soạn giáo án giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh [1]
Dạy học tích hợp là một trong những phương pháp dạy và học tích cực, nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn Thông qua dạy học tích hợp, học sinh có thể vận dụng kiến thức để giải quyết các bài tập hàng ngày, đặt cơ sở nền móng cho quá trình học tập tiếp theo; cao hơn là có thể vận dụng để giải quyết những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy nếu chúng ta tổ chức tốt quá trình dạy học tích hợp (từ khâu biên soạn chương trình, sách giáo khoa đến tổ chức dạy học) sẽ hình thành và phát triển được năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực tổng hợp để chuẩn bị tâm thế cho người học bước vào cuộc sống lao động – năng lực vận dụng kiến thức nhất là vận dụng kiến thức vào
Trang 20thực tiễn cuộc sống Có thể khẳng định dạy học tích hợp là một phương pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực của HS trong học tập nói chung và học Lịch sử nói riêng
1.1.3 Quan niệm v tài liệu văn học trong dạy học lịch sử
1.1.3.1 Quan niệm chung về tài liệu văn học
Mác-xim Gocky đã từng nói “Văn học là nhân học”, tức văn học phản ánh
tâm tư, tình cảm của con người hay có thể nói những tác phẩm văn học đã phản ánh đời sống con người trong quá khứ Lịch sử của con người gắn liền với lịch sử của một dân tộc, đất nước, đó là lịch sử của dựng nước và giữ nước Tác phẩm văn học phản ánh đúng thực tế cuộc sống xã hội loài người dưới những góc độ khác nhau, thông qua lăng kính thẩm mỹ của tác giả, sự thật ngoài đời được chuyển vào những
trang văn, trang thơ lấp lánh, sinh động Có thể nói rằng: “Tác phẩm văn học là bức tranh sinh động và phong phú về đời sống xã hội Trong khi xây dựng tác phẩm, xây dựng nhân vật văn học, tác giả đã dựa vào tư liệu thực tế đời sống và những tư liệu của sử học… Vì vậy qua tác phẩm văn học có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thấy được các tư liệu khác về vật chất và tinh thần của xã hội… thấy được những hiện tượng văn hóa sống động trong xã hội, trong những cuộc đời, tức là những hiện tượng văn hóa gắn với cách ứng xử của những cộng đồng người và của từng con người đang đấu tranh cho vận mệnh của mình” [14, tr 72, 73]
Tài liệu văn học có nhiều loại như thơ, văn xuôi, ca dao, tục ngữ… mỗi thể loại có những đặc điểm riêng, song tất cả đều phản ánh lịch sử một cách sinh động, phong phú
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa tài liệu văn học với tri thức lịch sử
Giữa tri thức lịch sử và tri thức văn học có mối quan hệ rất chặt chẽ Để cho
bài giảng lịch sử không phải rơi vào tình trạng “khô, khó, khổ”, GV phải linh hoạt
sử dụng nhiều phương pháp đổi mới trong dạy học, trong đó có phương pháp tích hợp TLVH là một trong những phương pháp nhằm nâng cao chất lượng bài giảng tốt hơn
TLVH là những tác phẩm của nhân dân sáng tác, phát triển trong đời sống nhân dân theo nhiều phương thức Những tác phẩm văn học phản ánh đời sống vật
Trang 21chất và thế giới tinh thần của người dân Đó là cuộc sống lao động; những sự kiện, vấn đề của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội; cuộc đấu tranh của quần chúng chống áp bức và cuộc chiến đấu của toàn dân chống ngoại xâm… Hiện thực lịch sử phản ánh trong các tác phẩm văn học như là bộ bách khoa toàn thư về mọi mặt của
đời sống nhân dân “Giữa Văn học và Khoa học nói chung, Sử học nói riêng có mối liên hệ khăng khít Trong khi sáng tác một tiểu thuyết (lịch sử hay tâm lí xã hội), nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử Không ít các tác phẩm văn học, tự nó
là một tư liệu lịch sử, ví dụ như “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi hay “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh” [25, tr 156]
Vì vậy nó chính là “những hòn ngọc quý”, vũ khí tinh thần của tầng lớp nhân dân Việc sử dụng những thể loại TLVH trong bài giảng sẽ làm tăng sự “cảm thụ lịch sử” cho HS thêm phần tinh tế và sâu sắc hơn, góp phần phát huy tính tích cực của HS Từ đặc điểm này, TLVH cơ bản đã phản ánh được “cái thần” của sự kiện,
ở mỗi thời kì lịch sử cụ thể Nhận thức lịch sử không chỉ có một hướng, một nội dung mà là sự kết hợp, bổ sung sâu sắc giữa cảm thụ và tư duy lí trí, giữa nhận thức cảm tính và tư duy lí tính Nên khi giảng dạy, phân tích có tính chất lí luận không
đủ để HS hiểu đầy đủ một vấn đề và sự kiện lịch sử thì chính TLVH sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó Hiểu được như vậy, người GV lịch sử mới thấy rõ sự cần thiết và vai trò của TLVH trong dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
Song nhìn chung, TLVH về tính chính xác, khoa học của lịch sử không cao vì văn học phản ánh xã hội thông qua nghệ thuật ngôn từ, lăng kính thẩm mỹ chứa đựng yếu tố chủ quan của tác giả, vì thế TLVH bao hàm cả sự thật cuộc sống và hư cấu nghệ thuật Khi sử dụng cần phải sàng lọc để nhìn thấy được sự thật lịch sử được phản ánh trong đó
Tác phẩm văn học thực sự là nguồn tài liệu quý trong nghiên cứu, tìm hiểu và giảng dạy Lịch sử Tri thức lịch sử là những sự kiện, nhân vật lịch sử, những biến
cố lịch sử là những sự kiện (cả nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm, quy luật lịch sử) được diễn ra ở một phạm vi nào đó của một địa phương, một dân tộc hay một quốc gia, các khu vực trên thế giới Đây là những sự kiện, biến cố lịch sử có thật, có tính khoa học, tính chính xác cao, chính các tri thức
Trang 22lịch sử là những nguồn tư liệu làm cho giá trị của tác phẩm văn học được nâng cao hơn, và có tính hiện thực, tính khoa học cao hơn, đồng thời TLVH lại có tác dụng tái hiện lịch sử một cách sinh động, phong phú, giàu hình ảnh
Như vậy, giữa văn học và sử học có mối quan hệ khăng khít với nhau, hỗ trợ cho nhau, cùng với các môn khoa học xã hội khác, chúng cùng nhau phản ánh sự phát triển mọi mặt của xã hội
1.1.3.3 Phân loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử
Trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông tùy vào nội dung từng bài, từng phần mà GV có thể đưa vào bài giảng các loại TLVH sau đây: văn học dân gian, tác phẩm văn học ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, hồi kí cách mạng, thơ ca cách mạng Mỗi loại có ý nghĩa riêng, do đó khi sử dụng phải phù hợp với yêu cầu bài giảng; với từng sự kiện, nhân vật lịch sử mà GV lựa chọn đưa vào
- Văn học dân gian ra đời sớm và rất phong phú nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân ca… Đây là tài liệu phản ánh nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc
Sử dụng tài liệu văn học dân gian không chỉ góp phần làm cho bài giảng sinh động, tạo được không khí gần gũi với bối cảnh lịch sử, sự kiện đang học mà GV tiến hành có thể đạt được kết quả giáo dục tư tưởng đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng
- Tác phẩm truyện ngắn ra đời vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử có ý nghĩ đối với việc khôi phục hình ảnh quá khứ Khi miêu tả về một sự kiện hay một nhân vật, GV có thể sử dụng nội dung chính hay một đoạn trích của tác phẩm văn học đó
Trang 23- Hồi kí cách mạng là loại văn học ra đời không trùng lặp với thời kì xảy ra các sự kiện lịch sử nhưng lại có giá trị lịch sử lớn Người viết Hồi kí ghi lại phần hiện thực mà tác giả chứng kiến dựa trên cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng, trực tiếp của mình
- Một loại tài liệu văn học quan trọng là thơ ca cách mạng Đó là những sáng tác văn học ra đời vào thời điểm xảy ra các hiện tượng, sự kiện lịch sử, trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh các sự kiện lịch sử đó Có rất nhiều tác phẩm thơ ca ra đời nhằm mục đích phục vụ nhiệm vụ cách mạng
Tuy nhiên khi sử dụng thơ ca, GV cần chọn lọc những bài thơ, câu thơ dễ hiểu phản ánh trực tiếp tình hình lịch sử, tránh sử dụng những tác phẩm, đoạn trích mang
ý nghĩa trừu tượng làm cho bài giảng không những không đạt được hiệu quả mà rất nặng nề, căng thẳng
Nói chung các tác phẩm văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội loài người qua các thời đại lịch sử nên giáo viên có thể vận dụng có hiệu quả để khôi phục hình ảnh quá khứ và giáo dục tư tưởng đạo đức, truyền thống cho học sinh Việc vận dụng kiến thức tích hợp giúp người học nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của lịch sử, khắc phục được tính rời rạc tản mạn trong kiến thức
Các loại TLVH trên đều có ưu thế nhất định trong dạy học lịch sử nhưng việc
sử dụng các loại tài liệu này cần phải biết kết hợp hài hòa giữa các thể loại văn học Trong một bài học, một chương mục GV không nên sử dụng lặp đi lặp lại một thể loại văn học, điều này sẽ làm cho HS thấy nhàm chán, hiệu quả sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử không đạt hiệu quả cao
Ngoài ra, khi sử dụng các tài liệu văn học giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ và chắt lọc những trích đoạn thơ văn thật ngắn, có nội dung tiến bộ, phản ánh lịch sử một cách chân thực nhất, phù hợp với yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng của bài học, tránh ôm đồm làm loãng nội dung bài lịch sử
1.1.4 Vai trò v ý nghĩa của việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Trang 241.1.4.1 Vai trò
Giữa bộ môn Lịch sử và Văn học có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ kiến thức
cho nhau Theo Phan Ngọc Liên “Các tác phẩm văn học bằng những hình tượng cụ thể, có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng điển hình của các hiện tượng kinh tế, chính trị, những quy luật của đời sống xã hội” [26, tr 156]
Phải khẳng định rằng, TLVH trong quá trình dạy học Lịch sử ở trường phổ thông có vai trò to lớn:
- Trước hết, các tác phẩm văn học có những hình tượng cụ thể tác động mạnh
mẽ đến tư tưởng, tình cảm của HS, nó giúp HS tiếp cận kiến thức, khắc sâu kiến thức một cách dễ dàng hơn
- TLVH có vai trò lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền
thống dân tộc cho HS Thông qua các tác phẩm “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi; “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí
Minh … có tác dụng rất lớn trong các bài lịch sử giáo dục tình cảm cho HS Qua đó truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý thức độc lập, yêu quê hương đất nước… cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân đối với Tổ quốc càng thêm được khắc sâu
- TLVH phản ánh hơi thở của cuộc sống thời đại Văn học là những tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng xuất hiện ở một thời điểm lịch sử nhất định, ít nhiều cũng phản ánh hơi thở của cuộc sống ở thời điểm đó với đầy đủ những sắc thái đặc điểm
về văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống, tư tưởng của thời đại và từng con người
- Tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử còn giúp các em hiểu thêm về các tác phẩm văn học Qua cách dạy này GV đã giúp HS được học một lần nữa về các tác phẩm văn học trong nhà trường và giúp các em tạo tiền đề cho việc phát triển tư duy trong học tập các môn học khác
- Văn học là những tấm gương phản ánh hiện thực, có giá trị lớn trong việc khôi phục lịch sử Có những tác phẩm văn học diễn tả lại cả một cuộc nội chiến, một trận đánh, một sự kiện lịch sử, một hoàn cảnh lịch sử vừa sinh động vừa cụ thể
Trang 25Khi dạy đến những bài lịch sử đó thì ta vận dụng vào để cho bài học càng sinh động gây hứng thú cho HS
Phần lịch sử Dân tộc thời kì 1930 – 1945 là phần lịch sử rất quan trọng, đó là thời kì tiêu biểu cho xã hội Việt Nam bị chìm dưới ách nô lệ của thực dân phong kiến, cũng là thời kì Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, Văn học nở rộ hơn bất cứ thời đại nào trước đó, những tác phẩm đã trở thành tư liệu sống, khắc ghi dấu ấn lịch sử mà khi dạy học ta có thể khai thác như một nguồn tài liệu vô tận Khi dạy
phần lịch sử này ta nên vận dụng các tác phẩm văn học nổi tiếng như: “Tắt đèn” của Ngô tất Tố, “Chí Phèo” của Nam Cao, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, “Vợ nhặt” của Kim Lân… qua những đoạn trích này là minh chứng sống
động nhất về cuộc sống của nhân dân ta dưới ba tầng áp bức bóc lột của Nhật – Pháp – phong kiến Trong các tác phẩm trên có cái bi ai của sự chia cắt, có cái mất mát đau thương, có sự oai hùng của người chiến sĩ khi hi sinh, có niềm vui của ngày chiến thắng Qua đó làm cho HS hiểu rõ hơn về cuộc sống chiến đấu của thế hệ cha ông đã kinh qua trong thời kì khó khăn nhất của Tổ quốc
Như vậy, việc tích hợp TLVH trong dạy học lịch sử có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy tính tích cực của HS Bằng những hình tượng cụ thể các tác phẩm văn học góp phần làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của học sinh, khắc phục tính khô khan, khó hiểu của sự kiện lịch sử, vừa làm phong phú thêm những kiến thức hiểu biết của học sinh và nhất là có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người học
Nhưng khi sử dụng không phải ta áp dụng luôn cả bài tư liệu vào để giảng dạy GV cần chú ý là phải chọn lọc thật kĩ những câu, những đoạn có nội dung làm sáng tỏ thêm sự kiện lịch sử…Nếu ta không lựa chọn cho phù hợp hay quá lạm dụng thì sẽ không có tác dụng, dẫn đến lan man và sa đà thiếu trọng tâm,…
1.1.4.2 Ý nghĩa
Quán triệt quan điểm đổi mới toàn diện của Đảng về giáo dục và đào tạo, việc tìm tòi vận dụng những phương pháp dạy học mới đang đặt ra cho tất cả các môn học nói chung và môn học Lịch sử nói riêng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 26Trên cơ sở quan điểm dạy học nêu vấn đề, lấy HS làm trung tâm thì người dạy cần phải có sự đổi mới ở tất cả các các bước chuẩn bị lên lớp: thiết kế bài dạy, phương pháp truyền thụ, đồ dùng dạy học nhằm làm cho HS tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Từ đó tạo ra cho HS năng lực tư duy độc lập, tự chuyển hóa kiến thức tiếp thu thành tri thức, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay, tạo ra một lớp người sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cao
Nguồn tài liệu có thể sử dụng tích hợp trong dạy học lịch sử rất đa dạng Tài liệu văn học với ý nghĩa đặc trưng của mình được thể hiện bằng những hình tượng
cụ thể, hình ảnh sinh động, lời văn lời thơ truyền cảm dễ đi vào lòng người đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người đọc người nghe Vì vậy nó sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả học tập (giáo dưỡng) và giáo dục tình cảm cũng như phát triển tư duy, khả năng độc lập suy nghĩ trong học tập cho HS
- Về giáo dưỡng:
Tài liệu văn học đã góp phần khắc họa bức tranh quá khứ một cách sinh động
và phong phú hơn, từ đó HS có thể tiếp thu một cách đầy đủ và sâu sắc hơn tri thức lịch sử
Ví dụ khi dạy bài14 “Phong trào cách mạng 1930 – 1935” mục II“Phong trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh”
Để khắc sâu kiến thức trọng tâm và nhấn mạnh ý nghĩa của phong trào - Cuộc tập dượt lần thứ nhất cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, giáo viên
dùng đoạn thơ sau để minh hoạ:
"Trống Xô Viết Nghệ An vang động Bắc Trung Nam tràn sóng đấu tranh Hầm than, xưởng máy, lều gianh Đứng lên tự cứu mà giành ấm no Đứng lên cứu tự do độc lập Đứng lên giành ruộng đất áo cơm!
Đứng lên thân cỏ, thân rơm Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn!
Trang 27Máu có chảy xương tan thịt nát
Bớ công nông! tiếng hát càng cao" [35, tr 55]
- Hoặc khi nói về Xô viết Nghệ - Tĩnh có thể đọc cho học sinh mấy câu thơ sau:
Kìa Bến thủy đứng đầu dậy trước
Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên Nam Đàn, Nghi lộc, Hưng Nguyên Anh sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi Không có lẽ ta ngồi chịu chết Phải cùng nhau cương quyết một phen ” [11, tr 150]
Đồng thời tích hợp tài liệu văn học theo hướng tái tạo các sự kiện lịch sử, phân tích, so sánh, tập hợp các sự kiện lịch sử… sẽ có tác dụng kích thích HS phải động não, phát triển tư duy trong học tập Từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm và quy luật của lịch sử của lịch sử Đây là ý nghĩa rất quan trọng của việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử, nó góp phần đánh giá mức độ hiểu biết lịch sử của HS
GV nêu câu hỏi: Kết hợp với kiến thức đã học và đoạn thơ trên, em có nhận xét gì về quy mô, lực lượng, mục tiêu, kết quả và ý nghĩa của phong trào 1930 - 1931?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên có thể rút ra nhận xét: Phong trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh, khẳng định trong thực tế
quyền và năng lực lãnh đạo của Đảng Cố Tổng bí thư Lê Duẩn nhận xét: "Thành quả lớn nhất của phong trào 1930 - 1931, thành quả mà cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc và phong kiến sau đó đã không thể xoá nổi - là ở chỗ nó khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng ta, là ở chỗ nó đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp vô sản, đồng thời đem lại cho đông đảo quần chúng công nông niềm tin vĩ đại ở sức mạnh của mình … đó là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930-
Trang 281931, trong đó công nông đã "Vung ra nghị lực phi thường" của mình thì không thể
có cao trào những năm 1936 - 1939…” [11, tr 157]
Như vậy, việc tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử giúp HS hiểu được bản chất của sự kiện Tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử còn góp phần bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho HS và lòng đam mê, ham học hỏi đối với bộ môn Lịch sử
- Về giáo dục:
Nhiệm vụ quan trọng của môn học lịch sử ở trường phổ thông là giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị và tình cảm đạo đức cho HS Thực hiện nhiệm vụ đó, tức là làm tốt ba yếu tố có mối quan hệ với nhau: Trình bày đúng sự kiện; Rút ra kết luận khoa học; Sử dụng tri thức lịch sử để chứng minh, giải thích lí tưởng, tiến hành giáo dục tư tưởng tình cảm
Trên cơ sở lí luận dạy học cơ bản đó, chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng tốt phương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử sẽ góp phần lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục
- Về phát triển:
Phương pháp tích hợp tài liệu văn học trong dạy học lịch sử không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản của bộ môn lịch sử, giáo dục tư tưởng tình cảm mà còn góp phần phát triển năng lực tư duy lôgic, tư duy lịch sử và rèn luyện phương pháp khoa học cho HS khi xem xét các hiện tượng lịch sử
Khi dạy nội dung Lịch sử Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945, GV nhắc
lại học sinh liên tưởng đến các nhân vật như Chị Dậu trong “Tắt đèn” của Ngô Tất
Tố hoặc hỏi về tác phẩm “Vợ Nhặt” của nhà văn Kim Lân; tác phẩm “Một bữa no” của Nam Cao…và đặc biệt là phải nói đến đoạn trích trong Hồi kí “Hào khí trăm năm” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Thông qua những tác phẩm này giúp học
sinh hiểu rõ tình cảnh hết sức khốn đốn, khổ cực và bế tắc của người nông dân trước cách mạng tháng Tám Từ đó, các em sẽ rút ra được rằng dưới ách đô hộ thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai thì đời sống nhân dân ta vô cùng cực
khổ “phải bán con”, “bán cả nhân hình lẫn nhân tính”, “chết vì no”, Vì vậy, họ
Trang 29đã vùng lên đấu tranh để giành lại độc lập, chủ quyền, tạo thành ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân ta
Tóm lại, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất lớn đối với việc nhận thức quá khứ, giáo dục tư tưởng, tình cảm, hành động cho HS cũng như phát triển năng lực nhận thức cho HS
1.2 ơ sở thực tiễn
Để nắm được tình hình, có được nhận xét, đánh giá khách quan về nhận thức của GV và HS trong việc tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông, tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thông qua phiếu điều tra Công việc này được triển khai thực hiện tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: THPT Nguyễn Thượng Hiền và THPT Thanh Khê
1.2.1 Mục đích điều tra
- Điều tra thực tế để nắm rõ nhận thức của GV về vai trò, ý nghĩa của việc tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử ở trường THPT Qua đó nắm được tình hình cụ thể và để đưa ra cách lựa chọn tài liệu, phương pháp sử dụng hợp lí
- Đối tượng điều tra: công tác điều tra được tiến hành đối với GV và HS ở các trường nói trên
- Phương pháp tiến hành: Thực tế giảng dạy và học tập ở các trường THPT rất phong phú Để tiến hành điều tra, tôi đã đến các trường quan sát, dự giờ, trao đổi, tiếp xúc với cá GV và HS Chúng tôi đã điều tra thực trạng bằng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo mẫu để thăm dò ý kiến của GV và HS, một mặt xem xét tình hình dạy học lịch sử, mặt khác nắm bắt một số đề xuất, nguyện vọng của GV
và HS Sau đó phân tích, xử lí các số liệu để có những cơ sở rút ra kết luận vấn đề này
1.2.2 Nội dung điều tra
Đối với GV, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi để biết được quan niệm của GV
về sử dụng phương pháp tích hợp TLVH trong dạy học lịch sử cũng như những đề xuất của GV về những biện pháp mà họ đã tiến hành nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử
Đối với HS, chúng tôi sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thái độ học tập lịch
Trang 30sử của HS; những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tính tích cực của HS; biểu hiện của tính tích cực trong học tập lịch sử của HS ở trường Trung học phổ thông
1.2.3 Kết quả điều tra
- Đối với GV, từ kết quả của phiếu điều tra cho thấy:
+ Xét về nhận thức vai trò của phương pháp tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử:
Qua thực tế điều tra 10 GV cho thấy, 100% GV nhận thức được mức độ cần thiết phải sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử nói chung và lịch sử ở trường THPT nói riêng
Đồng thời, tất cả thầy cô đều khẳng định về vai trò, ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp tích hợp trong dạy học lịch sử nói chung và tích hợp TLVH nói riêng nhằm phát huy tính tích cực của HS, nâng cao hiệu quả môn học
+ Về sử dụng phương pháp tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử:
Có 100% GV đều sử dụng phương pháp tích hợp TLVH trong dạy học Lịch
sử Trong đó có 2 GV (20%) tích hợp TLVH để giới thiệu, kết thúc một bài học và 80% GV còn lại đều chọn cả hai phương án trên (giới thiệu, kết thúc một bài học và nhằm phát huy tính tích cực của HS)
+ Về hình thức áp dụng phương pháp tích hợp TLVH trong bài học Lịch sử:
Nhận thức được vai trò của phương pháp tích hợp TLVH đối với việc phát huy tính tích cực của HS nên đa số GV thường xuyên sử dụng phương pháp này trong dạy học lịch sử (chiếm 70%) Tuy nhiên, ở từng đối tượng HS và điều kiện cụ thể của nhà trường mà từng GV có sự lựa chọn các hình thức sử dụng khác nhau, mức
độ vận dụng vào từng bài học cũng khác nhau Trong đó, hình thức mà GV sử dụng nhiều nhất là trong bài học nội khóa (chiếm 50%), còn 20% thì áp dụng trong bài học ngoại khóa và còn lại là chọn cả hai hình thức trên (30%) Qua lựa chọn trên ta thấy đa số thầy cô đều sử dụng TLVH trong các bài học trên lớp, để làm cho bài học thêm sinh động hấp dẫn, những sự kiện hay nhân vật sẽ dễ ghi nhớ hơn và nhất là phát huy được tính tích cực của HS
+ Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tích hợp TLVH trong dạy học Lịch
Trang 31sử:
Việc sử dụng phương pháp tích hợp TLVH đem lại hiệu quả rất tốt cho trình dạy học Tất cả GV đều thấy rõ hiệu quả của việc sử dụng phương pháp này trong từng tiết lên lớp
- Về phía HS, từ kết quả điều tra 300 HS cho thấy:
+ Hiệu quả học tập của HS khi GV sử dụng TLVH trong dạy học lịch sử:
Khi hỏi là trong dạy học thì GV có sử dụng TLVH để minh họa không thì 90% HS trả lời là thường xuyên và 10% còn lại là thỉnh thoảng Các em cũng cho rằng việc GV sử dụng TLVH trong dạy học làm cho các em cảm thấy có hứng thú học tập hơn, dễ nhớ các nhân vật hoặc sự kiện hơn và qua đó hiểu bài đầy đủ, sâu hơn
+ Nhận thức của HS về mối quan hệ giữa văn học và lịch sử:
Hơn 80% HS đều trả lời rằng văn học và lịch sử có mối quan hệ khăng khít
và không em nào chọn đáp án là không có liên quan gì với nhau khi các em được hỏi về mối quan hệ giữa văn học và lịch sử Chính vì thấy được mối quan hệ đó nên hầu hết các em thấy rằng nên sử dụng TLVH trong dạy học Lịch sử Và khi hỏi các
em có sưu tầm các ca dao, tục ngữ, thơ, truyện về nhân vật, sự kiện lịch sử trong nội dung bài học không thì có 216 HS (72%) trả lời là thỉnh thoảng, 29 HS (9,7%) trả lời là thường xuyên và 55 HS còn lại (18,3%) chọn là rất ít khi
Như vậy qua điều tra thực tế ở hai trường THPT Nguyễn Thượng Hiền và THPT Thanh Khê, chúng tôi thấy hầu hết các GV đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc tích hợp TLVH trong dạy học Lịch sử Tuy nhiên do một số điều kiện, nguyên nhân chủ quan và khách quan nên việc thực hiện chưa được đầy
đủ, toàn diện, chưa đem lại hiệu quả cao
Từ thực tiễn cho thấy GV cần có tâm huyết tìm hiểu nghiên cứu kĩ về phương pháp tích hợp về cả lý thuyết cũng như vận dụng vào thực hành; bên cạnh
đó chú ý đầu tư sưu tầm lựa chọn TLVH hợp lý, tiêu biểu và phù hợp với nội dung bài học thường xuyên kịp thời sẽ giúp phát huy tính tích cực của HS, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
Trang 33C ƯƠ 2: HỆ THỐNG TÀI LIỆU VĂ ƯỢC SỬ DỤNG TRONG
D Y H C L CH SỬ VIỆ N 1930 - 1945
Ở ƯỜNG TRUNG H C PHỔ THÔNG ( ƯƠ Ì UẨN)
2.1 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (Sách giáo khoa lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn)
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930-1945 được trình bày trong 3 bài của chương
II “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” Bài 14: Phong trào cách mạng
1930-1935; Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939; Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc
và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
2.1.1 Phong trào cách mạng 1930 – 1931
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) đã tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, làm cho kinh tế Viêt Nam ngày càng phụ thuộc vào kinh tế nước Pháp Tình trạng đói nghèo của người Việt ngày càng trầm trọng Từ
đó, mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp ngày càng gay gắt
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã nhanh chóng tập hợp
và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, đã tạo nên một phong trào cách mạng vô cùng to lớn, chưa từng có kể từ khi đế quốc Pháp xâm lược nước ta, đó là phong trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh làm cho đế quốc Pháp và bọn phong kiến tay sai vô cùng run sợ
Xô viết Nghệ - Tĩnh là tên gọi cho phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1930 - 1931 Tên gọi Xô viết Nghệ Tĩnh xuất
phát từ sự hình thành các "xã bộ nông" mà các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt
Nam gọi là "Xô Viết" Chính quyền Xô viết thi hành nhiều chính sách tiến bộ
Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hương Cảng (Trung Quốc) đã quyết định: Đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; cử ra Ban Chấp hành
Trang 34Trung ương chính thức do Trần Phú làm Tổng bí thư và thông qua Luận cương chính trị của Đảng
Phong trào cách mạng 1930 - 1931 chỉ diễn ra một thời gian ngắn nhưng có ý nghĩa lịch sử to lớn và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu
2.1.2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939
Vào nửa cuối những năm 30 của thế kỉ XX, tình hình thế giới và trong nước
có nhiều biến chuyển lớn
Trước bối cảnh chủ nghĩa phát xít - chế độ độc tài chuyên chính của những thế lực phản động nhất, tàn bạo dã man nhất đã xuất hiện và cầm quyền ở một số nước, ráo riết chuẩn bị chiến tranh thế giới thì Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản họp tại Mátxcơva (tháng 7-1935) Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do
Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự Đại hội Đại hội xác định: Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lúc này là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít
Trước tác động của tình hình thế giới và nước Pháp thì tình hình chính trị, kinh tế - xã hội Đông Dương cũng có những chuyển biến mới Thực dân đã nới rộng một vài quyền tự do dân chủ cho người dân thuộc địa Đảng cộng sản Đông Dương đã chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho phù hợp với điều kiện, yêu cầu của mỗi giai đoạn mà đạt được mục tiêu chung của cách mạng Đảng ta sử dụng hình
thức đấu tranh công khai, hợp pháp, và nửa hợp pháp, thực hiện khẩu hiệu “Chống Phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình” [3, tr 100]
Cao trào cách mạng 1936 - 1939 đã phát triển rộng khắp Trong đó phong trào đấu tranh tiêu biểu là phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, phong trào đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, đấu tranh trên nghị trường
Có thể thấy rằng, cao trào đấu tranh dân chủ công khai những năm1936 - 1939
là một cao trào của quần chúng hiếm có ở xứ thuộc địa Đó là thành công lớn, từ thực tiễn đấu tranh những năm 1936 - 1939 là bài học quý báu, hành trang của Đảng Cộng sản Đông Dương và tất cả những người yêu nước Việt Nam đem theo trong
Trang 35quá trình đấu tranh cho tự do độc lập Đây được coi như là cuộc tập dượt thứ hai chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám
2.1.3 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945) Nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Lịch sử Việt Nam 1939 – 1945 trình bày phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong những năm diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)
Tháng 9 - 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương Pháp và Nhật đã cấu kết với nhau cùng thống trị Đông Dương Chính sách vơ vét bóc lột của Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực
Trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, Đảng Cộng Sản Đông Dương đã chuyển hướng đấu tranh, quyết định dùng hình thức đấu tranh vũ trang, tiến tới Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến
Sự chuẩn bị về đường lối đấu tranh của Đảng được tiến hành qua ba Hội nghị Trung ương họp vào tháng 11 – 1939, tháng 11 – 1940 và tháng 5 – 1941
Qua các Hội nghị đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đồng thời mở ra một thời kỳ đấu tranh mới với những cuộc đấu tranh tiêu biểu như: khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kì,
binh biến Đô Lương Các cuộc nổi dậy tuy thất bại nhưng “đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc Đông Dương” [26, tr 109]
Tháng 2/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và chủ trì Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5/1941) tại Pác Bó (Cao Bằng)
Sau hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đảng ta và Mặt trận Việt Minh đã lãnh đạo toàn dân trong công cuộc chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc Tổng khởi nghĩa: xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và tiến hành gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai dần bước vào giai đoạn kết thúc với việc quân Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, quân Nhật bị giáng những đòn nặng nề Ở Đông Dương, mâu thuẫn Nhật – Pháp nặng nề Nhân cơ hội
Trang 36đó, Đảng ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, từ tháng 3
đến giữa tháng 8 – 1945 diễn ra các cuộc khởi nghĩa từng phần dưới nhiều hình thức khác nhau
Giữa tháng 8 – 1945, thời cơ ngàn năm có một của cuộc Tổng khởi nghĩa đã đến, Đảng Cộng Sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã phát động lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước Và chỉ trong vòng 15 ngày, các địa phương trong cả nước
đã lần lượt đứng lên khởi nghĩa và giành thắng lợi Cuối tháng 8/1945 Chính phủ lâm thời từ Việt Bắc về Hà Nội
Ngày 2/9/1945, hàng chục vạn người mít tinh tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) mừng Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân Thay mặt chính phủ, Hồ Chí Minh
đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tổng khởi nghĩa tháng Tám với đỉnh cao là sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2/9/1945 là một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, bước ngoặc đánh dấu sự phát triển mới của quá trình đấu tranh của dân tộc vì độc lập tự do Đánh đổ nền thống trị của ngoại bang gần một thế kỷ, lật nhào ngai vàng phong kiến hơn 1000 năm, chiến công ấy của cuộc cách mạng tháng Tám còn là mốc son lịch sử của dân tộc hàng ngàn năm và của Việt Nam thế kỷ XX
2.2 Nguyên tắc khi lựa chọn tài liệu văn học
Tài liệu văn học có liên quan đến tri thức lịch sử khá phong phú Vì vậy, để lựa chọn tài liệu văn học đưa vào bài học lịch sử Việt Nam nói chung và giai đoạn lịch sử 1930 – 1945 nói riêng có hiệu quả và nâng cao chất lượng bộ môn thì đòi hỏi người giáo viên phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
2.2.1 ảm bảo tính chính thống và phản ánh giá trị lịch sử cao
Đây là một yêu cầu rất quan trọng vì nó đảm bảo độ tin cậy cũng như chất liệu tài liệu sử dụng Giá trị lịch sử ở đây được hiểu là những nhân vật, sự kiện được phản ánh trong tác phẩm văn học, sau khi loại bỏ phần hư cấu sẽ đúng hoặc gần đúng với thực tế lịch sử diễn ra Nhân vật, sự kiện lịch sử là có thật, đã diễn ra, nhà văn chỉ dùng công cụ ngôn ngữ và những biện pháp nghệ thuật xây dựng hình
tượng văn học Như vậy, giá trị lịch sử ở đây là cốt yếu, là “bộ khung”, chất liệu
chính của nhà văn Đảm bảo nguyên tắc này, GV ưu tiên lựa chọn những tài liệu
Trang 37văn học mà tác giả là người trong cuộc, trực tiếp tham gia, chứng kiến hoặc sống gần với thời điểm diễn ra sự kiện Mặt khác, đó phải là những tác phẩm văn học của những nhà văn mà tên tuổi của họ đã được đất nước tôn vinh, nhân dân công nhận,
có sức lan tỏa được nhân dân phổ biến rộng rãi Hơn nữa những tác phẩm này được xuất bản bởi những nhà xuất bản nổi tiếng như nhà xuất bản Văn học, nhà xuất bản Giáo dục, nhà xuất bản Công an Nhân dân, nhà xuất bản Quân đội nhân dân…, và được công nhận bởi những cơ quan chức năng có thẩm quyền Trong thời đại hiện nay, thông tin trở thành một thứ hàng hóa – tri thức có tính chất toàn cầu với số kênh, cổng rất đa chiều, đa hệ thậm chí trái ngược nhau Nhiều lúc chỉ một sự kiện, một nhân vật cụ thể nhưng vẫn tồn tại nhiều cách đánh giá, nhìn nhận khác nhau Vì
lẽ đó, nguyên tắc đảm bảo tính chính thống và giá trị lịch sử của nguồn tư liệu giúp
có được độ tin cậy cao nhất về những tài liệu được trực tiếp sử dụng
2.2.2 ảm bảo rõ ràng v nguồn gốc
Người giáo viên giảng bài trên bục giảng có thể nói là một phát ngôn viên Họ phải chịu trách nhiệm về những gì mình giảng, mình nói với HS Khi tích hợp tài liệu văn học, người GV phải chứng minh được nguồn gốc của tài liệu đó Nguyên tắc này đảm bảo cho giáo viên chuẩn bị kĩ bài giảng, không được chủ quan càng
không được xem thường HS, khi sử dụng cần tránh những điều như “nếu tôi nhớ không nhầm…” hay “hình như tác phẩm này…” Những tài liệu mà giáo viên trích
dẫn phải có lai lịch với các thông số cơ bản như tên tác giả, tên sách, nhà xuất bản, năm xuất bản, trang, nơi xuất bản…Nếu không đảm bảo được xuất xứ của tài liệu
thì không nên sử dụng Đã từng có nhiều trường hợp “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” trong việc sử dụng tài liệu Vì vậy, tốt nhất là giáo viên nên chuẩn bị sẵn tài
liệu trước khi lên lớp
2.2.3 ảm bảo phải đa dạng
Mỗi thể loại văn học đều có thể loại riêng của nó Trong thơ có ngôn ngữ, hàm xúc cô đọng nhưng giàu hình tượng, nó sẽ dễ tác động trực tiếp ngay đến não bộ của người đọc, người nghe, dễ thấm vào lòng người Mặt khác thơ có vần điệu suôn sẻ (ngoại trừ thể thơ tự do), đặc biệt là thể thơ truyền thống của dân tộc nên dễ đọc, dễ nhớ và nhớ lâu Không phải ngẫu nhiên mà cha mẹ, ông bà chúng ta rất nhiều người
Trang 38không biết chữ mà vẫn thuộc lòng Truyện Kiều của Nguyễn Du và hàng trăm câu ca dao
Văn xuôi với ưu thế về dung lượng ngôn từ, về bố cục, về những nghệ thuật đặc trưng như miêu tả, phép tu từ…sẽ có lợi thế trong việc tường thuật diễn biến, cung cấp số liệu, sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể, chi tiết giúp HS nhận thức dễ dàng hơn Vì vậy, để tích hợp tài liệu văn học một cách có hiệu quả, giáo
viên phải trang bị cho mình một số “vốn” tương đối toàn diện, đầy đủ thể loại: thơ,
tiểu thuyết, truyện, ký sự, hồi ký…Sẽ là phiến diện, bị động nếu như giáo viên chỉ thiên về một lợi thế nào đó, vì vậy sẽ không phát huy được tính đa dạng, phong phú của tài liệu văn học Đương nhiên trong thực tế, không phải lúc nào các dòng văn học cũng phát triển đầy đủ các thể loại
2.2.4 ảm bảo giá trị giáo dưỡng, giáo dục
Tài liệu văn học mà giáo viên sử dụng phải là tài liệu giúp cho HS nhận thức bài học lịch sử được toàn diện, sâu sắc hơn Thông qua việc cung cấp tài liệu của giáo viên trong bài giảng, HS sẽ ghi nhớ sự kiện, nhân vật lịch sử sẽ bền vững hơn
Bức tranh lịch sử trong quá khứ được khôi phục rõ nét hơn Từ chỗ “biết”, “ghi nhớ”, tài liệu văn học phải giúp HS “hiểu” được lịch sử Tiến lên một bước cao
hơn, thông qua các phương pháp, trường hợp sử dụng tài liệu của giáo viên, HS sẽ
có nhận thức đúng đắn về nội dung lịch sử, mối liện hệ bản chất của các sự kiện lịch
sử, những nội dung có tính khái quát cao cũng sẽ được sáng tỏ hơn sau khi sử dụng tài liệu văn học Đó chính là giá trị giáo dưỡng của tài liệu văn học
Về giá trị giáo dục, cũng như tài liệu lịch sử, tài liệu văn học có nguồn tri thức góp phần quan trọng trong nhiệm vụ giáo dục Thông qua những án văn thơ ngợi ca
về đất nước, về lãnh tụ, về anh bộ đội cụ Hồ… HS sẽ hiểu rõ hơn về những trang sử vàng chói lọi, những chiến công hiển hách của dân tộc Từ đó lòng tự hào dân tộc, lòng kính yêu lãnh tụ và lòng biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xương máu
để xây dựng và bảo vệ nền độc lập của tổ quốc Việt Nam sẽ được hình thành một cách tự nhiên trong tâm hồn của các em
Mặt khác không thể gọi là tài liệu văn học nếu không có giá trị văn học Ngoài
giá trị lịch sử, giá trị văn học của tài liệu chính là yếu tố tạo nên phần “chất” của
Trang 39nó Vấn đề của giáo viên là lựa chọn những tài liệu có giá trị thì hiệu quả sử dụng càng cao Gía trị văn học được đảm bảo bằng những giải thưởng văn học do cơ quan chức năng của Nhà nước trao tặng nếu những tác phẩm văn học đó tham gia những cuộc thi sáng tác trên quy mô lớn Giá trị văn học còn được đo bằng sự công nhận và hoan nghênh của người đọc đương thời cũng như hậu thế do sức sống lan tỏa của tác phẩm
2.3 Hệ thống tài liệu văn học được sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 ở trường Trung học phổ thông (chương trình chuẩn)
Bài 14: Phong trào cách mạng 1930 - 1935 Mục Kiến thức lịch sử cơ bản TLVH được tích hợp
ở “chính quốc” lại càng suy sụp hơn
- Tình trạng đói khổ trầm trọng:
+ Công nhân: bị sa thải + Nông dân: sưu cao, thuế nặng
- Mâu thuẫn xã hội sâu sắc:
+ Dân tộc Việt Nam ><
Đọc trích đoạn bài viết nói về cuộc sống nhân dân trên báo Nhân Dân:
“…Công nhân Lỗ làm việc như nô lệ Tiền công rất rẻ mạt Chỉ từ 1929 đến
1933 tiền công đã giảm một nửa Cũng như ở tất cả các nước tư bản, nạn thất nghiệp rất tai hại …Tình hình phân phối ruộng đất rất chênh lệch Hàng chục vạn nhân dân không có một tấc đất…”
(Xem phu lục III.1)
Kể thêm cho các em nghe về câu chuyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chị Dậu để có tiền nộp sưu cho chồng phải bán chó, bán con:
“…Chị lục tất cả quần áo của cái Tý và gói chung làm một gói Rồi một tay nưng cổ chó con lên đầu, một tay cầm sợi xích sắt định giắt luôn con chó cái
Trang 40thực dân Pháp
+ Nông dân >< địa chủ
ra cửa, sụt sịt chị bảo cái Tý …”
(Xem phụ lục .2) Mục II.1:
- Tháng 5, bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động
- Tháng 6, 7, 8, phong trào liên tục nổ ra rộng khắp
- Tháng 9, phong trào dâng cao ở Nghệ An và Hà Tĩnh
Tháng 9/1930, Xô viết ra đời ở nhiều xã thuộc Nghệ
An, Hà Tĩnh, đưa ra nhiều chính sách:
+ Chính trị: thực hiện quyền tự do dân chủ
+ Kinh tế: bỏ các loại thuế
cũ, chia ruộng đất cho dân cày
+ Văn hoá - Xã hội: học chữ Quốc ngữ, bài trừ mê tín…
Tháng 10/1930, Hội Nghị
- Tiêu biểu là phong trào công nhân Phú Riềng, thời bấy giờ người ta thường ví đồn điều cao su Phú Riềng
như "Địa ngục trần gian”…
Xem một số câu ca dao về công nhân
( hụ lục .3)
- Kể thêm sự kiện “Phú Riềng Đỏ” qua
hồi ức của Bí thư chi bộ Trần Tử Bình:
“… Các đồng chí của ta bị giải về Biên Hòa Dọc đường anh em hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Pháp!”, “Đảng Cộng sản muôn năm ”
(Xem phụ lục .4)
Đọc trích đoạn thơ của Đặng Chánh Kỷ
về phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh:
“Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước,
Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,
Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi…”
(Xem phụ lục III.5)
Kể thêm cho HS nge về Tổng bí thư