1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành huế

75 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới.Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có những sự phát triển vượt bậc cả về số

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Lịch Sử Đại học Sư phạm Đà Nẵng, và sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lưu Trang tôi đã thực hiện đề tài

“Trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc Hoàng thành Huế”

Để hoàn thành khoá luận này Tôi xin chân thành cảm ơn cácthầy cô giáo

đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lưu Trang đã tận tình , chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này Mặc dù đã có nhiều cố gắng

để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứukhao học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất đònh màbản thân chưa thấy được

Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp

để khoá luận được hoàn chỉnh hơn.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 07 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

ĐOÀN KHÁNH LINH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu 7

3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

3.2 Đối tượng nghiên cứu 9

3.3 Phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Nguồn tư liệu 9

6 Đóng góp của đề tài 10

7 Cấu trúc đề tài 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN KIẾN TRÚC HOÀNG THÀNH HUẾ 11

1.1 Vài nét về Huế: vùng đất và con người 11

1.1.1 Vài nét về vùng đất Huế 11

1.1.2 Con người xứ Huế 14

1.2 Triều Nguyễn và công cuộc xây dựng kinh thành Huế 16

1.2.1 Khái quát về triều Nguyễn 16

1.2.2 Công cuộc xây dựng kinh thành Huế 19

1.3 Giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc kinh thành Huế 25

1.3.1 Giá trị lịch sử 25

1.3.2 Giá trị văn hoá 26

1.3.3 Giá trị kiến trúc 27

CHƯƠNG 2 CÔNG CUỘC TRÙNG TU VÀ PHỤC DỰNG 31

DI SẢN KIẾN TRÚC HOÀNG THÀNH HUẾ 31

2.1 Thực trạng di sản kiến trúc hoàng thành Huế 31

2.2 Công cuộc trùng tu và phục dựng hoàng thành Huế 41

2.2.1 Khái niệm trùng tu và phục dựng 41

2.2.2.Mục đích, vai trò, ý nghĩa của việc trùng tu và phục dựng các di sản văn hoá lịch sử 42

2.2.3 Chính sách của Đảng và Nhà nước về trùng tu và phục dựng di sản văn hoá lịch sử 47

2.2.4 Thành tựu và hạn chế của công cuộc trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành Huế 51

2.3 Bài học kinh nghiệm và một số đề xuất về công tác trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành Huế 62

2.3.1 Bài học kinh nghiệm từ việc trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành Huế 62

2.3.2 Một số đề xuất về công tác trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành Huế 64

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

ICCROM : International Center for Study of the Preservation and the

Restoration of Cultural Property – Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và bảo quản các tài sản văn hóa

ICOM : International Council of Museums – Hội đồng Quốc tế về Bảo

Tàng ICOMOS : International Council of Monuments and Sites – Hội đồng quốc tế

các di tích và di chỉ TT&PD : Trùng tu và phục dựng

UBND : Uỷ ban nhân dân

UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization –

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc, viết tắt VHTTDL : Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kinh thành Huế sau khi quy hoạch

Sơ đồ 1.2 Phong thủy của kinh thành Huế

Sơ đồ 2.1 Tổng thể các công trình trong hoàng thành Huế

Sơ đồ 2.2 Mặt cắt công trình Ngọ Môn

Sơ đồ 2.3 Mặt cắt công trình Điện Thái Hoà

Sơ đồ 2.4 Tổng thể các công trình tại Hoàng thành Huế

Sơ đồ 2.5 Tổng thể công trình tại Tử Cấm Thành

Bảng1.1 Thực trạng các công trình tiêu biểu tại Đại Nội

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới.Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có những sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.Góp phần cho sự phát triển chung của du lịch thì các yếu tố văn hoá truyền thống được thể hiện tại các di sản văn hoá hay di tích lịch sử chiếm vị trí khá quan trọng trong nền du lịch Việt Nam

Trải dài trên đất nước Việt Nam là một chuỗi di sản của quốc gia và thế giới Có trên 20 di sản tự nhiên cũng như văn hoá được thế giới công nhận, trong

đó di sản về văn hoá chiếm quá nửa cả về vật thể lẫn phi vật thể Lịch sử nghìn năm sinh tồn, phát triển giống nòi, xây dựng quốc gia, người Việt đã tạo lập những giá trị lớn lao về vật chất lẫn tinh thần Thời gian, những biến cố lịch sử và quy luật đào thải tự nhiên đã làm mai một phần lớn tài sản đó Những gì còn lại tạo thành di sản văn hoá dân tộc, là vốn liếng tinh thần, là tài nguyên vật chất mà các thế hệ người Việt Nam đang được nhận thức cần lưu giữ lại, phát huy những giá trị này trong cuộc sống hôm nay và mai sau Trong quá trình đổi mới, mở cửa, giao lưu hội nhập hiện nay của đất nước, di sản văn hóa dù là vật thể hay phi vật thể cũng đã trở thành một nhân tố quan trọng Về bản chất, di sản văn hóa đã mang tính nhân loại

Thông qua các hoạt động du lịch, di sản văn hoá nói chung và di sản kiến trúc nói riêng của nước ta được giới thiệu rộng rãi trên khắp thế giới Qua đó, đã giới thiệu hình ảnh đất nước, con người Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn, sản vật dồi dào, ẩm thực phong phú, con người Việt Nam chăm lao động, mến khách, thân thiện Sự giàu có về di sản là điều kiện cần cho môi trường du lịch tại Việt Nam, tuy nhiên các di sản đó

đã được bảo vệ kịp thời hay chưa, đã ở đúng với vai trò của nó trong tiến trình lịch

sử hay chưa, đã được truyền đạt đúng giá trị của nó tới từng du khách hay chưa thì

Trang 7

lại là vấn đề còn tồn động ở các di sản ở Việt Nam Vậy điều kiện đủ để góp phần phát triển du lịch ở đây sẽ là gì?

Quần thể di tích Cố đô Huế là một tiêu biểu cho một điều kiện đủ để phát triển du lịch di sản văn hoá tại Việt Nam, trong đó Kinh thành Huế là tiêu biểu cho công tác bảo tồn bao gồm trùng tu và phục dựng đi đôi với khai thác để phát triển

du lịch di sản văn hoá mà ở đây tiêu biểu cho di sản kiến trúc Quan trọng và cũng

là điểm tham quan thu hút khách du lịch chính của cả một quần thể di tích Cố đô lại là Hoàng thành Huế hay còn gọi là Đại nội, nó nằm bên trong Kinh thành, nơi

có các cơ quan quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và còn để bảo vệ Tử Cấm Thành Thế nhưng hầu hết những công trình đều đã xuống cấp có khả năm đổ sập bất cứ lúc nào tệ hơn là phần nhiều trong số các công trình tại Hoàng thành chỉ còn là nền đá, nền gạch mà thôi có nơi còn bị xoá sổ hoàn toàn.Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động du lịch, nghiên cứu và giáo dục, cũng như bảo tồn lưu giữ những nét đẹptruyền thống của văn hoá dân tộc cho thế

hệ mai sau

Chính vì lý do trên tôi đã chọn đề tài “Trùng tu và phục dựng di sản kiến

trúc Hoàng Thành Huế” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình

Nhật Bản là quốc gia đã dành nhiều sự quan tâm đặc biệt cho công cuộc nghiên cứu bảo tồn ở Huế như Đại học Nihon, Đại học Waseda, Đại học Tokyo và Đại học Monotsukuri Nhật Bản Với phương thức hợp tác chia sẻ kinh phí và đôi bên cùng tiến hành trùng tu di tích

Tạp chí “Những người bạn Cố Đô Huế” là ấn phẩm của Hội Đô thành hiếu

cổ, do Linh mục Léopold Cadière làm chủ bút Dung lượng của tạp chí rất đồ sộ

Trang 8

và công phu trong nghiên cứu, có tiếng vang rất xa và rất được độc giả trí thức khắp Đông Dương tán thưởng vào những năm của thế kỷ 20.Hội được thành lập cách đây 100 năm vào ngày 16/11/1913 Chương trình nghiên cứu của hội bao

gồm: “Toàn thể các sự kiện tạo thành cái mà chúng ta gọi là Huế cổ: Huế tiền sử,

Huế Chăm, Huế –An Nam và Huế – Âu” Mục đích của hội là: “Sưu tầm bảo tồn

và truyền đạt những dấu tích xưa về chính trị, tôn giáo, nghệ thuật và văn học châu Âu cũng như bản xứ liên quan đến Huế và vùng phụ cận” Để thực hiện mục

đích đó chỉmột năm sau khi thành lập, hội đã xuất bản Tạp chí Bulletin des Amis

du Vieux Huế Số đầu tiên ấn hành đầu năm 1914 Tạp chí là một trong các tạp chí khoa học nổi tiếng có giá trị nhất, chuyên viết về các vấn đề văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, tôn giáo, phong tục, mỹ thuật, ngôn ngữ… của Huế và Việt Nam Chính tập san này đã vinh danh tên tuổi cho những người chủ trương và cộng tác, đứng đầu là Linh mục Léopold Cadière Ông làm chủ bút suốt 30 năm tồn tại của Tạp chí và đóng góp trên dưới 160 bài viết được đánh giá có chất lượng cao, đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Đây cũng là những bài viết, những công trình nghiên cứu về kinh thành Huế cũng như một phần về kiến trúc hoàng thành Huế, là nguồn tài liệu cung cấp thông tin về các công trình có trong Đại Nội, cũng như cung cấp nguồn ảnh quý giá về Đại Nội Huế

Từ năm 1996, KTS Kazimierz Kwiatkowsy hay được gọi với cái tên thân mật là Kazik, người Ba Lan, đã chủ trì dự án trùng tu các di tích Thế miếu và Tả

vu ở Đại Nội – Huế, một dự án do chính phủ Ba Lan tài trợ Nhưng sau nhiều tháng làm việc cật lực để lập một dự án mà ông muốn là mẫu mực nhất, ông đã ngã bệnh và đột ngột qua đời ngày 19/3/1997 ngay trên bàn làm việc của mình Nhưng dự án vẫn được tiếp tục và hoàn thành trong năm đó

Trong cuốn “Huế – Triều Nguyễn.Một cái nhìn” xuất bản năm 2008 của

TS Trần Đức Anh Sơn, đã giới thiệu hầu hết những khía cạnh của nền văn hoá Huế, trong sách có nhiều bài viết từ những vấn đề có tính cách tinh tế như “vật thể gạch – ngói – gốm dùng để trang trí”, “qua các án thờ trong Thế Tổ Miếu”; rồi đến

Trang 9

những bài khảo sát có tính qui mô lớn hơn như “tư tưởng qui hoạch Kinh thành Huế”, “hồ trong Kinh thành Huế”

Những công trình trên đều đề cập đến vấn đề trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc tại Huế, nhưng lại chưa nêu được mối quan hệ giữ trùng tu và phục dựng với sự cấp thiết cần bảo vệ trong thời đại ngày nay nếu có cũng chỉ là một phần rất nhỏ, rồi lại chưa nêu lên được vai trò, mục đích của việc trùng tu và phục dựng với gìn giữ văn hoá di sản kiến trúc truyền thống

3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu ý nghĩa, mục đích, hệ quả của việc trùng tu và phục dựng Phân tích thực trạng trùng tu và phục dựng tại hoàng thành Huế,và tính cấp thiết của nó tới giữ gìn di sản kiến trúc truyền thống cũng như phát triển du lịch

Đề xuất phương hướng để việc trùng tu, phục dựng hiệu quả để phát triển

du lịch và ngược lại

Góp phần vào việc phát triển du lịch Quần thể di tích cố đô Huế nói riêng

và di sản văn hoá tại Việt Nam nói chung

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Di tích kiến trúc Hoàng thành Huế

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian từ tháng 10/2015 đến tháng 05/2016

Đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi thành phố Huế

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng lồng ghép nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học:

- Phương pháp quan sátthực địa

- Phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu tài liệu với điều kiện thực tế

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

5 Nguồn tư liệu

Trang 10

Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu, tài liệu khác nhau:

- Các tài liệu thành văn

- Nguồn tư liệu trên Internet

- Tài liệu thực địa: khảo sát thực tế

Đây là nguồn tư liệu quan trong cho thành công của đề tài

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài sau khi hoàn thành sẽ phân tích đầy đủ thực trạng di sản kiến trúc hoàng thành Huế, đưa ra những thuận lợi, khó khăn của việc trùng tu và phục dựng

Bổ sung những giải pháp cho công tác trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc hoàng thành Huế được thành công hơn góp phần giữ gìn văn hóa dân tộc cũng

như phát triển du lịch tại Huế

7 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm có 2 chương

Chương 1 Tổng quan về di sản kiến trúc Hoàng thành Huế

Chương 2 Công cuộc trùng tu và phục dựng di sản kiến trúc Hoàng

thànhHuế

Trang 11

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ DI SẢN KIẾN TRÚC HOÀNG THÀNH HUẾ

1.1 Vài nét về Huế: vùng đất và con người

1.1.1 Vài nét về vùng đất Huế

Thừa Thiên – Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía Bắc, biển Đông về phía Đông, thành phố Đà Nẵng về phía Đông Nam, tỉnh Quảng Nam về phía Nam, dãy Trường Sơn và các tỉnh Saravane và Sekong của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

về phía Tây Thừa Thiên – Huế cách thủ đô Hà Nội 660 km về phía Bắc, cách Thành phố Đà Nẵng 101 km về phía Đông Nam, cách Nha Trang 612 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 10 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Huế

Ở Thừa Thiên- Huế, sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu Những sông chính là Ô Lâu, Rào Trang, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch,

An Cựu, Nước Ngọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Sông Truồi, Đặc biệt có hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng lớn nhất Đông Nam

Á Và hai cửa biển quan trọng là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền Khí hậu Thừa Thiên – Huế gần giống như Quảng Trị với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Những tháng đầu năm có nắng ấm, thỉnh thoảng lụt vào tháng 5, tháng 6, 7, 8 có gió mạnh, mưa lũ và có gió đông vào tháng 9, 10, tháng 11 thường có lụt, cuối năm mưa kéo dài Nhưng hiện nay do chịu tác động của biến đổi khí hậu nên từ tháng 3 đến tháng 8 nắng nóng lên đến đỉnh điểm Các tháng 9, 10, 11 thường xuyên có bão, từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau là giai đoạn gió mùa đông bắc kéo về gây mưa to kèm theo đó lũ trên các sông tăng nhanh

Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mảnh đất này.Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng thuộc Hương Chữ, Hương Trà, cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới), Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con

Trang 12

người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh được tìm thấy lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế năm 1987 là

di tích Cồn Ràng ở Phụ Ổ, nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 tại Phú Ốc Cùng với văn hóa Sa Huỳnh, tại Thừa Thiên Huế còn có sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn Năm 1994, trống đồng loại một đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền Ðây

là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ [06]

Tuy có sự khác nhau giữa các nguồn sử liệu, song đã có nhiều ý kiến đồng tình với khẳng định vùng đất này trong những thế kỷ đầu Công Nguyên thuộc huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam thời thuộc Hán Các cứ liệu xưa cho biết rằng,

từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển Trong thời

kỳ phát triển của Văn Lang – Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường Trong thời kỳ nước Nam Việt lại thuộc về Tượng Quận Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận.Từ năm 192 sau Công nguyên vùng đất này thuộc địa bàn nước Lâm Ấp và sau đó là vương quốc Chămpa kéo dài gần 12 thế kỷ Sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938, biên giới Đại Việt mở rộng dần về phía Nam, Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, làm dâu vương quốc Chămpa, vua Chế Mân dâng hai châu Ô – Lý để làm sính lễ Năm sau vua Trần cho đổi thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị Thành Hóa châu nằm cách Huế 9 km về phía hạ lưu sông Hương là trụ sở và trung tâm chính trị kinh tế hành chính và quân

sự của châu Hóa.Sau hơn hai thế kỷ mở mang khai khẩn, đến giữa thế kỷ thứ XVI,

lộ Thuận Hóa đã thành nơi đô hội một phương Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa [07]

Trang 13

Từ khi trở thành một phần của Đại Việt, Châu Hóa và vùng đất Thuận Hóa

đã từng là nơi ghi dấu những công cuộc khai phá mở làng, lập ấp, nơi Đặng Tất xây dựng đồn lũy chống quân Minh, nơi cung cấp kho tinh binh cho Lê Thái Tổ bình định giang sơn Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá

mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Ðàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân Hơn ba thế kỷ từ khi trở về với Ðại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị Sự ra đời của thành Hóa Châu vào khoảng cuối thế kỉ 15 đầu thế kỉ 16 có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với

tư cách là một tòa thành phòng thủ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy Mãi cho đến năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Huế sau này [10], [36]

Trải qua nhiều thế kỷ phát triển, Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Đông với nền văn hóa của các cư dân bản địa Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, là kinh đô của cả nước dưới thời Tây Sơn với tên gọi là Phú Xuân Thời nhà Nguyễn, sau khi lên ngôi, vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức; địa danh hành Quảng Đức tồn tại trong vòng 20 năm từ 1802 – 1822 Đến năm 1822, dinh Quảng Đức được vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên Từ năm 1831 –

1832, vua Minh Mạng lần đầu tiên chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên Đến thời Pháp thuộc, được đổi thành tỉnh Thừa Thiên.Tên này được duy trì cho đến năm 1975

Sau ngày đất nước thống nhất 30/04/1975, tỉnh Thừa Thiên hợp nhất với tỉnh Quảng Bình, tỉnh Quảng Trị và khu vực Vĩnh Linh thành tỉnh Bình Trị Thiên năm 1976 Ngày 30/06/1989, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII đã quyết định

Trang 14

tách tỉnh Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh như cũ, riêng tỉnh Thừa Thiên sau khi tách thì mang tên gọi mới là tỉnh Thừa Thiên Huế

1.1.2 Con người xứ Huế

Có đến Huế, bạn mới hiểu tại sao lại có nhiều văn thơ ca tụng Huế cũng như cảm nhận được tình cảm nồng hậu mà người dân của vùng đất kinh kỳ dành cho nơi này Xứ Huế phải có một cái gì đặc sắc lắm, khác hơn các đô thị khác để:

“Trăm nhớ ngàn thương không nói hết Nhớ Huế làm sao nhớ quá chừng”

Thật vậy, Huế không những được thiên nhiên ưu đãi là vùng đất địa linh, là nơi chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) làm chốn dung thân muôn đời khi lĩnh hội lời gợi ý của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, khai sáng sự nghiệp chín đời chúa Nguyễn ở xứ Đàng Trong, lập nền tảng cho Gia Long hoàng đế sáng lập

ra triều Nguyễn 1802 – 1945, một triều đại gắn liền với lịch sử cận đại của nước Việt Huế còn được bàn tay của cả một triều đại với 13 vị vua tô điểm thêm vào bức tranh sơn thủy tuyệt vời những nét cổ kính nhưng đầy vẻ tráng lệ, uy nguy Người dân Huế vì vậy cũng mang trong mình những đức tính đáng yêu và đáng kính

Huế nằm trên dải đất miền Trung đầy nắng gió với bao khó khăn trong cuộc sống Phía Nam là đèo Hải Vân- bức tường thành tự nhiên đã tạo nên cho Huế một kiểu khí hậu mà chỉ có ai yêu Huế, sinh ra và lớn lên ở Huế mới chịu đựng nổi: mưa dầm dề triền miên và nắng cháy da cháy thịt Điều kiện thiên nhiên không ưu đãi khiến cho người Huế phải sống chắt chiu, tiết kiệm để có thể tồn tại trên mảnh đất này Thiên tai, bão lũ thường xuyên khiến cho người Huế sống gần gũi nhau hơn, quan tâm nhau nhiều hơn để cùng nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn, để khi tắt lửa tối đèn thì còn có nhau

Huế đặc biệt với lối sống nề nếp gia phong, phép tắc do ảnh hưởng của hơn

300 năm thủ phủ Đàng Trong và hơn 140 năm kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng, cho nên người Huế sống có vẻ hoài cổ và thủ cựu Người Huế nặng lòng và rất gắn bó với gia đình Cũng bởi điều này mà dù là một trong những

Trang 15

thành phố lớn của Việt Nam nhưng nhịp sống ở Huế lại nhẹ nhàng, khác hẳn Đà Nẵng – nơi cách đó chỉ 100km Không có những khu công nghiệp sầm uất, người Huế vẫn sống một cách nhẹ nhàng, kín đáo và bình yên thư thái như bao đời trước

đó

Huế là xứ sở của sông xanh nước biếc, có dòng sông Hương thơ mộng gắn liền với đời sống tình cảm của người dân Đồng hành với con sông uốn khúc là những thảm xanh hoa lá của nhiều khu vườn rộng lớn- tài sản của những con người coi trọng tự nhiên và muốn sống gần gũi với thiên nhiên Cụ thể nhất mà ai

cũng thấy rõ là lối kiến trúc “nhà Vườn” mà chỉ ở Huế mới có Tô điểm thêm vào

cảnh sông nước hiền hoà thơ mộng là đồi núi bao la, hùng vĩ, cao thì có dãy Trường Sơn, thấp hơn thì có Ngự Bình, Kim Phụng

Con sông Hương mà người ta dễ tưởng là suốt đời lặng lẽ, êm đềm ấy hằng năm vẫn có thời điểm vẫy vùng khiến nước ngập tràn bờ bãi Huế không những nổi tiếng nắng nóng mùa hè, mà còn nổi tiếng với những cơn bão lũ mùa mưa Lúc

ấy, song Hương khoác lên mình một vẻ dữ dội khác hẳn thường ngày

Người Huế cầu kì trong việc chế biến ẩm thực Với người Huế, nấu món ăn

là để thể hiện sự đam mê nghệ thuật Với quan niệm ăn trước hết là ăn bằng mắt, nên người phụ nữ Huế rất dụng công trong việc tạo hình các món ăn một cách tinh

tế, tạo nên cảm hứng mạnh mẽ mỗi khi ngồi vào bàn tiệc Tất cả kinh nghiệm chế biến được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác và ngày càng hoàn thiện hơn

Nhà thơ Thu Bồn từng khắc họa tính cách của con người Huế qua câu thơ:

“Em ơi giọng Huế có chi

Mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa"

Phải chăng sinh ra và lớn lên tại vùng đất giàu văn hóa mà con người Huế

cũng trở nên dịu dàng? Giọng Huế nhỏ nhẹ, kín đáo và tiếng “dạ, thưa” rất mực

ngọt ngào của con gái Huế đã khiến biết bao người say lòng Nếu một lần đến Huế, hẳn ta cũng sẽ phải lòng chất giọng tha thiết ấy Dẫu mọi thứ đổi thay, và dù những người con Huế tha phương nơi nào thì giọng nói vẫn là nét đẹp không thể nhầm lẫn với bất cứ một vùng miền nào khác

Trang 16

Những vùng văn hoá lúa nước khác nhau thì gắn với những con sông khác nhau, tính bổ bã của con sông Thu Bồn thì tạo ra tính cách chất phác của người Quảng Nam Tính chạy quanh co của sông Trà Khúc tạo ra tính cách … của người Quảng Ngãi và cách chảy của sông Hương tạo ra tính cách nhẹ nhàng của người

Huế, nhẹ nhàng, đằm thắm, ai hỏi gì cũng “dạ” Thật không sai khi nói rằng,

chính những yếu tố địa lí đã tạo nên tính cách con người Huế

Tóm lại, tính cách là một trong những nét đặc trưng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền, và là cái để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho mỗi du khách khi đến thăm vùng đất đó, dân tộc đó Tính cách người Huế thực sự là một “kho tàng lớn” về sự thú vị cho mọi người dần khám phá

1.2 Triều Nguyễn và công cuộc xây dựng kinh thành Huế

1.2.1 Khái quát về triều Nguyễn

Triều Nguyễn có 9 đời chúa và 13 đời vua, khởi nghiệp Chúa là Nguyễn Hoàng (1524 – 1613) tục gọi là Chúa Tiên, người tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Hoàng được cử vào trấn đất Thuận Hóa vào năm 1558, khi đi ông đem theo tất cả những người họ hàng và cũng có những binh lính tự nguyện theo ông vào Nam Vào năm

1569, ông được giao cho việc trấn thủ luôn cả đất Thuận Hóa và Quảng Nam Nhân cuộc di dân này, họ Nguyễn đã gầy dựng được thế lực, mở mang mọi mặt, xây dựng vùng đất mới, nới rộng xuống phía Nam, đặc biệt chú ý đến tôn giáo, chùa Thiên Mụ trên bờ sông Hương đã được xây dựng trong dịp này Cùng lúc dân chúng miền Bắc gặp nhiều thiên tai, mất mùa, đói kém, chạy vào Nam khá đông nên họ Nguyễn đã được khối lượng hậu thuẫn dân chúng đáng kể Từ đó mưu đồ xây dựng cho mình một giang sơn riêng Nhân cơ hội Trịnh Tùng kéo quân vào đánh Chúa Nguyễn ở Thuận Hóa năm 1619, họ Nguyễn đã chấm dứt việc tuế cống và cũng bắt đầu từ đây, họ Nguyễn mang quốc tộc Nguyễn Phúc kế truyền cho đến 9 đời [11], [23]

Vị Chúa nối nghiệp Nguyễn Phúc Thuần tức Nguyễn Ánh mới 17 tuổi được chúng tướng tôn lên làm Nhiếp Quốc Chính để chống lại Tây Sơn lúc bấy giờ đã khởi nghĩa ở miền Nam năm 1773 Thế rồi suốt 24 năm trời, nhờ lòng kiên nhẫn

Trang 17

lớn lao, chịu đựng bao nhiêu gian khổ, bôn tẩu nhiều phen, cuối cùng Nguyễn Ánh cũng dứt được nhà Tây Sơn vào năm 1802, thống nhất giang sơn, lên ngôi xưng đế hiệu là Gia Long và đặt tên nước là Việt Nam, đóng đô ở Phú Xuân và lo sửa sang chỉnh đốn mọi việc, tổ chức chính quyền địa phương, ban hành luật lệ Bộ Luật Gia Long hay Hoàng Việt luật lệ do Nguyễn Văn Thành soạn lục ra đời từ đây [32]

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua đặt niên hiệu Gia Long đóng đô ở Huế mở đầu cho vương triều Nguyễn với 13 đời vua tồn tại 143 năm (1802 – 1945) Đây là một thời kỳ đầy biến động và phân hóa sâu sắc trong lịch sử nước nhà, là tấm gương phản chiếu hơn ngàn năm của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam và là đêm trước của công cuộc giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hiện nay

Triều đại nhà Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19 Có thể thấy triều đại nhà Nguyễn được chia ra hai giai đoạn riêng biệt, giai đoạn độc lập và giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng và đô hộ

- Giai đoạn độc lập 1802 – 1858: Là giai đoạn mà các vua nhà Nguyễn

đang nắm toàn quyền quản lý đất nước, kéo dài 56 năm và trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Gia Long và con trai Minh Mạng đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm kiểu Nho giáo Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp – thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số Đáp lại, vua Minh Mạng và những người

kế tục Thiệu Trị và Tự Đức chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng phát triển nông nghiệp và ngăn cản Công giáo, không giao thiệp với phương Tây

- Giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ 1858 – 1945: Là giai đoạn kể từ

việc quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây để tạo

Trang 18

thành một lãnh thổ thuộc địa Nam kỳ Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ,

từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945 [13]

Đây là vương triều duy nhất trong các chính quyền phong kiến Việt Nam xác lập được quyền cai trị từ Lạng Sơn tới Cà Mau, triều Nguyễn cũng bị đặt vào một bối cảnh lịch sử đặc biệt Khác với triều Trần có được ngai vàng nhờ đảo chính cung đình một cách hòa bình nên về cơ bản vẫn kế thừa tổ chức chính quyền của triều Lý, hay triều Lê có được ngai vàng nhờ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh nên có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng bộ máy nhà nước trên cơ sở sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, triều Nguyễn phải xây dựng

hệ thống chính trị của họ sau một cuộc chiến tranh kết thúc gần ba trăm năm phân tranh và nội chiến ở Việt Nam và vì vậy cũng bị cái quá khứ ấy chi phối Ngay từ đầu đời Gia Long họ đã bị đặt trước sự chống đối khá quyết liệt và phổ biến của nhiều lực lượng chính trị khác nhau ở vùng Đàng Ngoài cũ Khi tiếp quản miền Bắc năm 1802 triều Nguyễn đã đứng trước một tình hình chính trị – xã hội ít nhất cũng phức tạp Nhưng ba mươi năm sau khi triều Nguyễn tiêu diệt Tây Sơn, Minh Mạng đã tiến hành được cuộc cải cách hành chính lớn nhất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến với việc giải thể Bắc thành năm 1832 và Gia Định thành năm

1833, đưa văn quan vào vị trí đứng đầu bộ máy hành chính các địa phương thay cho chế độ võ tướng trấn thủ, chấm dứt hoàn toàn chế độ quân chính kéo dài từ giữa thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 19

Chính sự ra đời và tồn tại trong một giai đoạn khá đặc biệt nên xung quanh vương triều này có rất nhiều các quan điểm đánh giá trái ngược nhau Rất nhiều khía cạnh về vương triều này được đưa ra tranh luận với các ý kiến không đồng nhất giữa các thời kì lịch sử, thậm chí trong một giai đoạn cũng nhiều quan điểm không đồng nhất Có người cho rằng Tây Sơn là lực lượng thống nhất đất nước, người lại cho rằng là công triều Nguyễn, cũng có ý kiến phê phán các vua thời Nguyễn, lại có quan phán các vua thời Nguyễn, lại có quan điểm khen ngợi các

Trang 19

chính sách dưới thời nhiều vua đứng đầu Có thể nói sự tranh luận đã đem lại một

không khí sôi nổi khi nhận thức về triều Nguyễn

1.2.2 Công cuộc xây dựng kinh thành Huế

Chúa Nguyễn vào Nam xây dựng cơ đồ, tạo lập giang sơn riêng là cả quá trình vận động cam go và biến đổi không ngừng trên nhiều phương diện, trong đó

có cả việc xây dựng, củng cố và xác lập thủ phủ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất Đàng Trong Trong hơn 200 năm thời chúa Nguyễn kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, đến khi họ Nguyễn phải rời khỏi Phú Xuân năm 1775 để chạy lánh Tây Sơn, thủ phủ của chính quyền đã trải qua 8 lần thay đổi vị trí: Ái Tử 1558 – 1570, Trà Bát 1570 – 1600, Dinh Cát 1600 – 1626, Phước Yên 1626 – 1636, Kim Long 1636 – 1687, Phú Xuân lần thứ nhất

1687 – 1712, Bác Vọng 1712 – 1738, và Phú Xuân lần hai 1738 – 1775 [01], [36]

Mỗi lần di chuyển quy mô xây dựng và vai trò của thủ phủ ngày càng được nâng lên, khẳng định dần về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, đồng thời cũng gắn với việc phát triển và vai trò quan trọng của vùng đất Thừa Thiên Huế đối với sự nghiệp của chúa Nguyễn cũng như đối với Đàng Trong

Sau khi xưng niên hiệu và định đô tại Phú Xuân, vua Gia Long đã nghĩ ngay đến việc xây dựng kinh thành thương đô của đế vương cho xứng với tầm vóc của một đất nước thống nhất có lãnh thổ rộng lớn

Ðây là một công việc lớn lao có ý nghĩa quan trọng đối với triều đại Vì vậy, trước khi đi đến quyết định lựa chọn một nơi thích hợp nhất, vào tháng 3 năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long đã thân hành khảo sát vùng đất nằm dọc sông Hương từ xã Kim Long đến cảng Thanh Hà Vua thân định cách thức xây dựng kinh thành và sai giám thành và Nguyễn Văn Yến cùng với một số quan lại khác nghiên cứu kỹ thực địa hình thế và lập thiết kế xây thành theo kiểu kiến trúc Vauban Các nhà kiến trúc tài ba đặt nền móng đầu tiên cho công trình có một không hai này không chỉ đơn thuần để mở rộng kinh sư, mà họ còn phải quy hoạch, sắp xếp lại mặt bằng, điều chỉnh và lợi dụng hai con sông Kim Long và

Trang 20

Bạch Yến nằm ở tả ngạn sông Hương để thiết kế đào hộ thành hà, ngự hà và các

hồ lớn nhỏ khác nằm trong khu vực thành nội [01], [11]

Về đồ án kiến trúc xây dựng kinh đô Huế, vua Gia Long là một nhà chính trị, quân sự, đồng thời là một người có sáng tạo trong quy hoạch đô thị Đồ án được thai nghén trong tâm thức của nhà vua từ trước khi đăng quang Vị vua nhà Nguyễn đầu tiên đã thực hiện ngay việc xây dựng kinh thành Phú Xuân và các vị vua kế nghiệp sẽ tiếp tục tu bổ, tô bồi cho bộ mặt của quốc gia ngày càng tráng lệ

uy nghi

Không kể đến những gì được xây dựng bên trong phạm vi của mỗi thành, nếu đem ba thành ấy gồm Tử Cấm thành, hoàng thành và kinh thành để so sánh với nhau, ai cũng thấy ngay cái thành thứ ba là đáng để ý hơn cả Thật vậy, công trình kiến trúc vĩ đại nhất của vua Gia Long nói riêng và triều Nguyễn nói chung, chính là kinh thành Huế Có thể nói đây là di tích cổ lớn hơn hết của Việt Nam hiện đại

Tháng 4 năm 1805, sau khi làm lễ tế trời đất và nhận thấy mọi sự chuẩn bị

đã xong, vua Gia Long cho khởi công xây đắp kinh thành Hơn 3 vạn lính và dân phu từ Quảng Bình đến Quy Nhơn đã được huy động đến Huế thi công Ðến năm

1807 thêm 85.000 binh lính ở Thanh Nghệ và Bắc Thành được đưa vào tăng cường lao dịch ngày đêm Ban đầu thành đắp bằng đất, bằng gỗ ván bọc mặt ngoài Năm Gia Long 17 (1818) mới cho xây gạch 2 mặt Tây và Nam Hai mặt đông và bắc xây gạch năm 1822 Ðến năm 1838, đời Minh Mạng, việc thi công mới hoàn tất và sau đó còn được tu bổ nhiều lần [11]

Trước khi vua Gia Long cho xây thành mới, ở Phú Xuân đã có thành cũ của các chúa Nguyễn trước kia để lại, rồi thành của Tây Sơn dựng lên Nhưng thấy các thành cũ kia quá nhỏ hẹp, nên vua nghiên cứu địa bàn để mở rộng phạm vi cho kiến trúc mới Vua thân hành đi xem xét các địa điểm từ các làng Kim Long đến Thanh Hà, tức Bao Vinh ngày nay, đích thân đưa ra tiêu chuẩn và kích thước cần thiết để xây dựng thành lũy Địa điểm tọa lạc của kinh thành Huế nguyên đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong từ năm 1687 đến 1775, rồi sau

Trang 21

đó nhà Tây Sơn dùng làm kinh đô của cả nước từ 1788 đến 1801 Vua gia Long chọn lại địa điểm này để xây dựng kinh thành với quy mô to lớn hơn, nằm trên đất của 8 làng: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Bửu

và An Mỹ Việc giải toả dân 8 làng nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng một kinh sư vững bền muôn đời

Di dời xong, ngày kỷ mùi tháng tư năm Giáp Tý tức năm 1804, vua cho phép bắt tay xây dựng vòng trong thành tức vòng trong của Đại Nội, với tổng chu

vi bốn cạnh là 1.229m, thành bằng gạch cao 3,68m và dày 0,72m Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông Nam tức hướng Tốn theo kinh dịch, thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình [10], [36]

Vua Gia Long cho ngăn chận hoặc lấp một số đoạn của hai nhánh sông Kim Long và Bạch Yến, và vua cũng lợi dụng một số đoạn của hai nhánh sông này để làm hai con sông đào, một ở trong và một ở ngoài thành, cả hai con sông ấy đều được đào vào năm khởi công xây kinh thành

Trang 22

Sơ đồ 1.1 Kinh thành Huế sau khi quy hoạch

(Nguồn: Kiến trúc cố đô Huế)

Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy

là nơi tụ thủy, đất phát tài Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo Vì thế phải xây chùa miếu ở phía Tây để trấn Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô Thành có núi Ngự làm án tự nhiên, có tả thanh long, hữa bạch hổ, có sông phía trước làm minh đường tụ thuỷ [10], [11]

Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh

đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất

Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước thuộc hướng Nam, hành hỏa Phía trái gọi là bạch hổ thuộc

Trang 23

hướng Tây, hành kim Phía phải gọi là thanh long thuộc hướng Đông, hành mộc Phía sau gọi là huyền vũ thuộc hướng Bắc, hành thủy Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình,

để đoán vị và quy hoạch, bố trí cung điện Có thể khẳng định rằng kinh thành Huế

là sự kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa giữa hai luồng văn hóa Đông – Tây

Kinh thành kiến trúc kiểu Vauban, nếu kể cả thành phụ mang tên Trấn Bình đài sau này gọi là thành Mang Cá, kinh thành Huế có chu vi đáng kể đến gần 11 cây số, có hình gần như vuông, diện tích 520ha, chu vi trên 10.500m, thành cao 6.60m, dày trung bình 21m Chính nhờ cái đồ sộ và vững chắc của nó mà thành Huế vẫn còn tồn tại đến ngày nay Hệ thống thành quách gồm kinh thành, hoàng thành và Tử cấm thành đều nằm trên một trục, quay mặt về hướng Nam – Đông Nam, được xây dựa vào địa thế của núi Ngự, sông Hương Trục chính của hệ thống này chạy qua giữa đỉnh núi Ngự Bình Kiến trúc kinh thành Huế là sự kết hợp chặt chẽ đầy trí tuệ giữa kiến trúc và thiên nhiên Đây là tri thức và tài nghệ của dân tộc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19 [01], [36]

Trang 24

Sơ đồ 1.2 Phong thuỷ kinh thành Huế

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tp Huế)

Hoàng thành là trung tâm sinh hoạt chính trị và hành chính quan trọng nhất của triều đình, được xây dựng vào năm 1804 và được nâng cấp, hoàn chỉnh vào năm 1833 Hoàng thành có diện tích 36ha, có hình gần như vuông, mỗi cạnh khoảng 600m.Trong Hoàng thành có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp chia làm

nhiều khu vực khác nhau, giữ các chức năng riêng

Tử cấm thành nằm trong lòng Hoàng thành là khu vực sinh hoạt của vua và hoàng gia Tử cấm thành có hình gần như vuông với chu vi 1.200m Trong Tử cấm thành có hơn 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ, bao gồm nhiều cung điện huy hoàng tráng lệ, lộng lẫy vàng son

Kinh thành Huế có giá trị lớn về mặt phòng thủ Chung quanh thân thành

có 24 pháo đài, cùng một thành phụ là Trấn Bình đài Tất cả các công trình đó

Trang 25

cùng với vòng đai hộ thành hà bảo vệ bên ngoài đã tạo nên một hệ thống bố phòng vững chắc

1.3 Giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc kinh thành Huế

1.3.1 Giá trị lịch sử

Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn thế kỷ 17 – 18 là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân Năm 1636, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, Hương Trà làm nơi đặt phủ Năm 1687, Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái, dời Phủ chúa về làng Phú Xuân, và năm 1712 Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu dời phủ về làng Bác Vọng, Quảng Điền làm nơi đặt phủ mới Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầm quyền năm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ về tay quân họ Trịnh Vào những năm của thế kỷ 18, Phú Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của Xứ đàng trong

Trong thời kỳ Tây Sơn, Phú Xuân – Huế luôn là một địa bàn chiến lược được Nguyễn Huệ vô cùng coi trọng và chọn là nơi đóng đại bản doanh Năm

1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô Có thể thấy việc lựa chọn kinh đô là sự kế thừa

về mặt lịch sử khi trước đó 9 đời chúa Nguyễn đã chọn đất Phú Xuân làm thủ phủ rồi kinh đô, mặt khác có thể thấy kinh thành Huế còn là nơi đặt nền móng để sai sáng triều đại nhà Nguyễn

Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị mà tiêu biểu là kinh thành Huế, đặc biệt là khu Đại Nội có 253 công trình, 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua Nguyễn, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Hòn Chén

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, bao thế hệ đã xây dựng được khá nhiều thành lũy với quy mô tầm cỡ khác nhau dùng

để làm trung tâm chính trị – hành chính của chính quyền Trung ương hoặc địa phương nhằm điều hành công việc, bảo vệ Hoàng gia và bảo vệ biên cương, chủ

Trang 26

quyền của Tổ Quốc Một trong những thành lũy xưa nhất là thành Cổ Loa được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nay chỉ còn lại một số vết tích ở cách Hà Nội khoảng 17 km ở huyện Đông Anh Sau hơn 1000 năm bị Bắc thuộc, các triều đại độc lập và tự chủ của Việt Nam như Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn từ cuối thế kỷ thứ 10 đến nửa đầu thế kỷ 19 đã cho xây dựng nhiều thành lũy trên khắp đất nước như thành Hoa Lư, Thăng Long, Phú Xuân, Đồ Bàn, Gia Định, Huế, Hà Nội nhưng chỉ riêng kinh thành Huế là còn hầu như nguyên vẹn ban đầu

1.3.2 Giá trị văn hoá

Bên bờ Bắc của con sông Hương, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn là ba tòa thành kinh thành, hoàng thành

và Tử Cấm thành, lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt

từ mặt Nam ra mặt Bắc Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của kinh thành Huế đó là núi Ngự Bình, sông Hương, cồn Giã Viên, cồn Hến (Bộc Thanh)

Kinh thành Huế được quy hoạch dựa trên những nguyên tắc triết lý cổ của phương Đông nói chung và theo truyền thống của Việt Nam nói riêng, tạo nên sự hài hòa giữa quy hoạch kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên mang đậm ý nghĩa biểu tượng Mối quan hệ âm dương, ngũ hành thể hiện qua 5 phương hướng chủ yếu (trung tâm, đông, tây, nam, bắc), 5 yếu tố cơ bản của tự nhiên (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), và 5 màu cơ bản (vàng, trắng, xanh, đen, đỏ) là cơ sở cho ý tưởng quy hoạch của kinh thành, được phản ánh trong tên gọi của nhiều công trình quan trọng ở khu vực này Đây cũng là thành lũy đầu tiên ở Đông Nam Á được làm theo kiểu phòng thủ phương Tây với quy mô hoàn chỉnh nhất, được hoàn tất với

sự đóng góp công sức của hàng ngàn nhân công và binh lính huy động từ các địa phương trong cả nước

Trang 27

Gần một thế kỷ rưỡi là kinh đô của một triều đại phong kiến với thiết chế chính trị dựa trên nền tảng Nho giáo, lại từng là thủ phủ của Phật giáo một thời, bên cạnh những kiến trúc cung đình lộng lẫy vàng son, Huế còn lưu giữ hàng trăm ngôi chùa thâm nghiêm cổ kính, an lạc giữa những núi rừng hoang vu u tịch Nhưng Huế không phải chỉ là một mẫu mực về kiến trúc mà còn là một cao điểm

về tinh thần và một trung tâm văn hóa sôi động, ở đó đạo Phật và đạo Khổng đã thấm sâu, hòa nhuyễn vào truyền thống địa phương, nuôi dưỡng một tư tưởng tôn giáo, triết học và đạo lý hết sức độc đáo

Gắn với một triều đại phong kiến tuân thủ những nguyên tắc rạch ròi của triết lý Khổng Mạnh, lễ hội và âm nhạc ở vùng kinh sư này đã phát triển vô cùng phong phú và mang đậm phong cách dân tộc Triều đình có nhiều lễ tế như Tế Giao, Tế Xã Tắc, lễ Nguyên Đán, lễ Đoan Dương, lễ Vạn Thọ, lễ Đại triều, lễ Thường triều, lễ Ban Sóc, lễ Truyền Lô, lễ Duyệt Binh mỗi một lễ hội đều có những bước nghi thức mà phần hồn của nó chính là âm nhạc lễ nghi cung Cùng tồn tại với dòng âm nhạc mang tính lễ nghi, loại hình âm nhạc mang tính giải trí tiêu khiển của xứ Huế cũng được thế giới biết đến như một điển hình mang đậm bản sắc riêng của một vùng văn hóa, mộc mạc thuần khiết, đặc thù không pha trộn

Đó là những điệu múa Huế, những vở tuồng Huế, những bài ca Huế mà ngày nay

đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu trong một chuyến tham quan

cố đô Có thể thấy âm nhạc cung đình và dân gian của Huế đã ảnh hưởng ít nhiều đến nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20

Với một di sản văn hóa vật thể và tinh thần mang ý nghĩa quốc hồn quốc túy của dân tộc, Huế là một hiện tượng văn hóa độc đáo của Việt Nam và thế giới

Di sản Huế đang được bảo tồn rất tốt mà trực tiếp là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố

đô Huế Ngày 11/12/1993, Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận

là Di sản Văn hóa Thế giới Huế sẽ mãi mãi được giữ gìn cho Việt Nam và cho thế giới, mãi mãi là niềm tự hào của chúng ta

1.3.3 Giá trị kiến trúc

Trang 28

Kinh thành Huế từ lâu đã trở thành một trong những quần thể kiến trúc vô cùng độc đáo của Việt Nam Kiến trúc dinh thự, cung đình Huế có đặc điểm là không vươn lên cao mà dàn trải theo bề rộng Các lớp lang kiến trúc hòa nhập vào thiên nhiên, ẩn hiện trong cây xanh, nước biếc Về kiểu dáng xây dựng của tất cả các thành lũy ấy, các nhà nghiên cứu kiến trúc đều chia ra làm 2 loại

- Loại thứ nhất có nguồn gốc từ phong cách Trung Hoa được xây dựng từ trước thời Bắc thuộc đến cuối thế kỷ 18 như thành Cổ Loa, thành Thăng Long, thành Đông Kinh, thành Đồ Bàn là những thành lũy có hình tứ giác đều, các cạnh tương đối thẳng và chung quanh không xây các pháo đài quân sự

- Loại hình thứ hai chịu ảnh hưởng từ lối kiến trúc Pháp được xây dựng theo kiểu Vauban, chính là loại thành lũy có hình ngôi sao như kinh thành Huế

Đó là một phức hợp các công trình liên quan chặt chẽ với nhau và có giá trị phòng thủ cao, bao gồm nhiều bộ phận như lũy, pháo đài, hào, hộ thành hà Có lẽ đây là thành lũy hình ngôi sao có nhiều cánh nhất so với một số thành lũy có hình ngôi sao của một số nước trên thế giới còn lại đến nay

Về quy mô: Vòng thành có chu vi hơn 10 km, cao 6,6m, dày 21m được xây

khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, có tới 10 cửa và một

hệ thống hào bao bên ngoài Trong 27 năm từ 1805 – 1833 kinh thành Huế đã xây dựng trên 140 công trình lớn nhỏ, phân bố trong chín khu vực riêng biệt, cách nhau bởi những vòng tường thành và cổng Mỗi khu vực có chức năng khác nhau

đã tạo nên những không gian nhỏ nhưng tương đối hài hoà và đạt được vẻ trang trọng, nghiêm mật đúng độ cho từng khu, từng công trình Có hệ thống sông đào gọi là hộ thành hà vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km Những đặc điểm trên cho thấy rõ kinh thành Huế là một kinh thành phòng thủ mẫu mực thời bấy giờ

Về kiến trúc: Xuyên suốt cả ba tòa thành, con đường thần đạo chạy từ bờ

sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của kinh thành Huế như: Nghinh Lương Ðình, Phu Văn Lâu, Kỳ Ðài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung, cửa Hoà

Trang 29

Bình Hai bên đường thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, được thiết kế đa dạng, mỗi công trình một kiểu dáng, đường nét, hình khối kiến trúc phong phú, trang trí nội ngoại thất hết sức tinh xảo với mật độ dày đặc từ trong ra ngoài, từ thấp lên cao Mặc dù quy mô của mỗi công trình có

khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng

lương trùng thiềm” hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” đây là kiểu nhà kép hai

mái trên một nền, đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói thanh lưu ly hoặc hoàng lưu ly, các cột được sơn thếp theo mô típ long vân Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng

một phong cách “nhất thi nhất họa” tức một bài thơ kèm một bức tranh với rất

nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời Lại nói thêm, với sự kết hợp hài hoà kiểu kiến trúc nhà vườn ở Huế vào một công trình mang tầm vóc quốc gia như vậy đã cho thấy sự quan tâm, coi trọng yếu tố dân gian của các vua triều Nguyễn

Trong hoàng thành còn có năm miếu thờ, mỗi miếu có một kiến trúc khác biệt nhau Thế Miếu là nơi thờ mười vua triều Nguyễn, do vậy mà các công trình kiến trúc được chú trọng đặc biệt Nổi bật nhất là Hiển Lâm Các, cấu trúc gỗ truyền thống với ba tầng cao, tương đương với Ngọ Môn, là công trình đẹp và cao nhất ở Hoàng thành

Miếu Môn ở Thế Miếu với 36 lá mái, những hình đắp nổi và màu sắc kỳ diệu, là một trong những cửa đẹp nhất ở hoàng thành

Cách cấu tạo giữa kiến trúc và cảnh quan làm cho Huế trở thành một thành phố của sự hài hòa giữa kiến trúc với thiên nhiên và con người Huế,thể hiện được

sự tổng hợp giữa đạo và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ xưa và hiện đại, qua

đó cố đô cổ kính chung sống hài hòa với thành phố trẻ mới ngày nay

Trang 30

Tiểu kết chương

Tóm lại, trong gần 400 năm từ 1558 đến 1945, Huế đã từng là Thủ phủ của

9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến kinh

sư của quốc gia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Cố đô Huế ngày nay vẫn còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam

Suốt mấy thế kỷ, bao nhiêu tinh hoa của cả nước được chắt lọc hội tụ về đây hun đúc cho một nền văn hóa đậm đà bản sắc để hoàn chỉnh cho một bức cảnh thiên nhiên tuyệt vời cùng sông núi hữu tình thơ mộng Cho nên, khi nói đến Huế người ta nghĩ ngay đến những thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, những lăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiên nhiên do thợ trời khéo tạc

Với vị trí nằm giữa hai miền đất nước, chịu sự giao thoa văn hoá của cả phía Nam lẫn phía Bắc, rồi ít nhiều có ảnh hưởng từ văn hoá Chămpa lâu đời khiến cho Huế có bề dày về văn hoá và lịch sử Cộng thêm cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp hữu tình cùng quần thể di tích lịch sử được thế giới công nhận, làm cho Huế được biết đến như một địa điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong nước

và ngoài nước

Trang 31

CHƯƠNG 2 CÔNG CUỘC TRÙNG TU VÀ PHỤC DỰNG

DI SẢN KIẾN TRÚC HOÀNG THÀNH HUẾ 2.1 Thực trạng di sản kiến trúc hoàng thành Huế

Cố đô Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn, là kinh đô của triều Tây Sơn, rồi kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam Sau khi kinh thành bắt đầu được xây dựng từ năm 1805, bộ mặt của Huế đã có nhiều thay đổi Một số làng mạc bị xóa mất, các dòng sông chảy qua Huế xưa cũng vậy, nay còn lại rất ít dấu tích về làng và các đoạn sông Ngày nay nhìn lại, không ai có thể hình dung được Huế đã có một sự thay đổi lớn lao như vậy, ít ai nghĩ đến chuyện lấp sông đào hào, lấp hồ đào kênh, mà cứ tưởng rằng kinh thành to lớn ấy được xây trên vùng đất đã có sẵn như vậy

Kể từ khi được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới đến nay, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế đã trùng tu, phục hồi được hơn 130 công trình cho cả quần thể di tích cố đô, và những hạng mục di tích tiêu biểu Trong hơn 100 công trình tại Đại Nội cũng có các công trình tiêu biểu được trùng tu như Ngọ Môn, điện Thái Hoà, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống trường lang Tử Cấm thành Hầu hết thì các di tích đều được bảo quản cấp thiết, bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hoá, hư hại

Trang 32

Sơ đồ 2.1 Tổng thể các công trình trong hoàng thành Huế

(Nguồn: Tạp chí Những người bạn Cố Đô Huế)

Hoàng thành Huế trong nhiều năm qua tuy đã được trùng tu nhiều lần, với

số tiền đầu tư không hề nhỏ từ Trung ương hỗ trợ, từ tiền bán vé tham quan, sự đóng góp của bạn bè quốc tế hay kinh phí do chính người dân Huế góp vào, nhưng nhìn về bản chất tổng thể của các công trình tại hoàng thành thì thấy rõ việc trùng

Trang 33

tu và phục dựng vẫn còn nhiều vấn đề để suy ngẫm, thực trạng hư hại và tiến độ phục hồi vẫn còn rất hạn chế Các công trình quan trọng tại đây ngày càng già đi nhưng việc trùng tu hay phục dựng lại chỉ nằm trên giấy tờ, vẫn chỉ là những dự án treo Có chăng sự tu bổ chỉ chú trọng vào các công trình là bộ mặt của kinh thành như Ngọ Môn hay Phu Văn Lâu Còn những công trình cơ yếu mà đặc biệt là Tử Cấm thành lại chưa hề đụng đến công trình nào

Mặc khác những công trình được trùng tu và phục dựng lại lại có những nét

gì đó rất lạ lẫm, rất không phù hợp với tiêu chí về bảo tồn, trùng tu hiện nay trên thế giới, cũng có những công trình phục dựng lại thì hoàn toàn khác với ý đồ kiến trúc trước đây Lại có trường hợp, như trong giai đoạn đất nước vừa tái thiết lại sau chiến tranh, thì việc trùng tu gặp khó khăn về kinh phí eo hẹp và đội ngũ nghệ nhân hạn chế nên phải sử dụng những biện pháp gọi là cứu vãng tạm thời không được giới khoa học ủng hộ cho lắm

- Từ năm 1945 về sau, Huế được thừa nhận tư cách là di tích của dân tộc, song từ 1954 đến 1975 việc bảo tồn di tích này do viện khảo cổ Sài Gòn và phòng bảo tàng Di tích Huế quản lý với việc trực tiếp sửa chữa, xây cất lại do Nguyễn Phước tộc đảm trách Ở giai đoạn này người ta đã làm biến dạng di tích Huế một cách trầm trọng như việc xây lại Thế Miếu, nhiều cấu trúc gỗ bị thay bằng bê tông cốt thép, các máng xối nguyên bằng đồng cũng được đúc bê tông, các mái ngói không được lợp bằng ngói thanh lưu ly và hoàng lưu ly, và đặc biệt phổ biến là sơn công nghiệp được quét lên các di tích có giá trị Công tác làm hồ sơ khoa học

và xây dựng cơ sở pháp lý cho di tích đều không được đề cập đến

- Giai đoạn 1975 – 1982 việc bảo tồn di tích Huế thuộc Sở văn hoá Bình Trị Thiên quản lý và Ban quản lý di tích cùng với Xí nghiệp tu sửa di tích thực hiện Mặc dù ở trong giai đoạn kinh tế khó khăn, song một số công việc cấp bách đã được tiến hành, chủ yếu tu bổ ở Ngọ Môn, hồ Kim Thuỷ, tu sửa cửa Hiển Nhơn và Hữu Vu Với sự giúp đỡ bước đầu của UNESCO, một số lớn công trình đã được chống đỡ và lợp tạm bằng tôn kẽm Ở giai đoạn này người ta chưa xem trọng các công tác như lập hồ sơ khoa học, thiết kế tu bổ nên không ít các sai sót xảy ra

Trang 34

Việc phục chế ngói lợp thanh lưu ly, hoàng lưu ly chưa thành công Không gian di tích lộ rõ vẻ hoang phế, cây cối xâm thực Để chống mối, giai đoạn này đã áp dụng một số thuốc dùng cho nông, lâm nghiệp như thuốc DDT hay 666 ở Thế Miếu Các hoá chất này đã làm cho gỗ bị xám màu và các lớp sơn son thếp vàng bị hư hại khá nặng nề,di chứng của các hư hại này bước đầu được các chuyên gia Ba Lan khi tu bổ Thế Miếu 1996– 1997 khắc phục bằng phương pháp tẩy rửa khoa học

Như vậy, việc đánh giá tình trạng kỹ thuật quần thể di tích Huế lúc này là rất nghiêm trọng và mục tiêu cứu vãn di tích như một nhiệm vụ cấp bách là phù hợp Trên thực tế, giai đoạn cứu vãn này đã kéo dài trong 15 năm 1982 – 1997, với các hoạt động bảo tồn, bảo tàng, phát huy giá trị từng bước của các di tích do Công ty quản lý di tích lịch sử và văn hoá Huế, sau này là Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đảm nhiệm

Thực trạng một vài công trình tiêu biểu được trung tu trong thời gian qua có thể nói tới như hai công trình coi như bộ mặt của Đại nội là Ngọ Môn và Thái Hoà điện Ngày 21/03/2013, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm lễ khởi công trùng tu Ngọ Môn với tổng số tiền trên 43 tỷ đồng, kéo dài 34 tháng cho giai đoạn

1 Trong thời gian từ 21/03/2013 đến 21/12/2015, nhiều hạng mục quan trọng đã được hoàn tất, gồm phần nền đài được trùng tu, gia cố nền móng, vệ sinh khoa học thân đài, hệ thống cửa và vòm cửa, rồi đến lầu Ngũ Phụng cũng tu bổ, phục hồi và lắp dựng khung chịu lực chính như cột, kèo, xuyên, trến, hệ dàn mái, ván, vách và liên ba, cửa các loại, trần, sàn, lan can Phần trang trí tại lầu phục hồi mái lợp hoàng lưu ly và thanh lưu ly, bờ nóc, bờ quyết trang trí hình rồng, giao, phục chế thiên hồ, màu sắc của các cấu kiện gỗ, hoa văn họa tiết trang trí bằng pháp lam

Đó là giai đoạn 1, và bây giờ Ngọ Môn vẫn đang đắp chiếu chờ giai đoạn 2 và những giai đoạn sau, du khách hiện chỉ có thể đứng tại công trình này ngắm những cột trụ, mái lá chưa được trang trí sơn phết

Trong những công trình tại Đại Nội thì điện Thái Hoà đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần nhất, đáng chú ý phải kể đến đợt trùng tu lớn vào năm 1833 khi

Trang 35

vua Minh Mạng cho tái quy hoạch các công trình trong hoàng thành Huế, dời công trình từ vị trí cũ cách một đoạn không xa về phía bắc đến vị trí hiện nay, và đợt trùng tu vào năm 1923 dưới thời vua Khải Định, các hệ thống cửa kính và phần bửu tán thếp vàng đều được làm vào giai đoạn này Qua hai đợt trùng tu lớn nói trên cũng như nhiều lần trùng tu sửa chữa nhỏ diễn ra dưới thời vua Thành Thái và những thập niên gần đây vào năm 1960, 1970, 1981, 1985 và 1992 điện Thái Hòa

đã ít nhiều có thay đổi, vẻ cổ kính ngày xưa đã giảm đi một phần

Với vị trí trang trọng trên trục dũng đạo của hoàng thành và nhiều ý nghĩa mang tính biểu tượng trong trang trí kiến trúc, điện Thái Hòa nổi bật uy nghi trong cảnh quan hoành tráng, thực sự là công trình tiêu biểu nhất trong quần thể kiến trúc cung đình Huế cả về giá trị lịch sử và nghệ thuật Tuy nhiên hiện giờ các cột trụ tại Thái Hoà điện sơn son đã bắt đầu bong tróc rất nhiều, những cột trụ phía gian trước hiên đã bắt đầu xuống cấp đang được gia cố bởi các cột chống bằng sắt, lại thêm khu vực phía sau của điện quá ồn ào, nguyên do ở đây hiện đang đặt hệ thống chiếu phim tư liệu phục dựng các công trình Đại Nội bằng công nghệ 3D, khiến du khách chen nhau gây mất trật tự, ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của công trình

Những công trình đã và đang được trùng tu và phục dựng, nhưng nhìn chung tổng thể về bố cục cảnh quan tại hoàng thành Huế vẫn chưa được cải thiện Những công trình bị triệt phá vào những năm sau Cách mạng tháng 8 vẫn chỉ là phế tích Có thể tham khảo các sơ đồ 2.4 và 2.5 rồi đem so sánh với sơ đồ 2.1 sẽ thấy rõ thực trạng tồn tại của các công trình trong Đại Nội hiện nay

Trang 36

Sơ đồ 2.4 Tổng thể các công trình tại Hoàng thành Huế

(Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế)

Sơ đồ 2.5 Tổng thể công trình tại Tử Cấm Thành

(Nguồn: Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế)

Trang 37

Trong sơ đồ 2.5 và bảng 2.1, tổng thể các công trình tại Tử Cấm thành và hoàng thành cho thấy, các công trình được đánh số từ 8 đến 12 bao gồm cả các vườn được đánh số 29, 30 đều không còn tồn tại, điều này khẳng định Tử Cấm thành đã hoàn toàn biến mất về kiến trúc và cảnh quan Công trình quan trọng của kinh thành nhưng không tồn tại tất nhiên sẽ làm giảm đáng kể giá trị của cả một quần thể, lại nhìn vào sơ đồ 2.1 thì càng nhận ra sự hiện diện của các công trình trong Đại Nội hiện nay bị cô độc và thiếu sự liên kết trong tổng thể, đó là một cảnh báo cho những người làm công tác trùng tu, phục dựng và cần nhanh chóng

vào cuộc để trả lại cho di sản kiến trúc hoàng thành Huế bộ mặt ban đầu

Bảng 2.1 Thực trạng các công trình tiêu biểu tại Đại Nội

Công trình tại Đại Nội Còn

tồn tại

Không tồn tại Năm TT&PD gần nhất

1 Ngọ Môn  2012 – 2015

2 Hồ Thái Dịch 

3 Cầu Trung Đạo 

4 Sân Đại Triều 

5 Điện Thái Hoà  1833; 1923

6 Đại Cung môn 

7 Tả vu – Hữu vu 

8 Điện Cần Chánh 

8a Điện Võ Hiển 

8b Điện Văn Minh 

9a Điện Trinh Minh 

9b Điện Quang Minh 

10 Điện Càn Thành 

11 Điện Khôn Thái 

11a Viện Thuận Huy 

11b Viện Dưỡng Tâm 

Ngày đăng: 17/05/2021, 00:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
34. Quốc sử quán Triều Nguyễn (Viện sử học Việt Nam dịch) (1969). “Quyển Tự Đức”. Đại Nam Nhất thống chí.Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyển Tự Đức”
Tác giả: Quốc sử quán Triều Nguyễn (Viện sử học Việt Nam dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1969
35. Quốc sử quán Triều Nguyễn (Viện sử học Việt Nam dịch) (1969). “Thời Duy Tân”. Đại Nam Nhất thống chí. Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thời Duy Tân”
Tác giả: Quốc sử quán Triều Nguyễn (Viện sử học Việt Nam dịch)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1969
1. Phan Thuận An (1999). Kinh thành Huế. Nxb Thuận hoá, Huế Khác
2. Phan Thuận An (2005). Quần thể di tích Huế. Nxb Trẻ Khác
3. Báo cáo kỹ thuật của P.Pichard – UNESCO 1978 Khác
4. Bảo tồn và trùng tu các di tích Kiến trúc (2002). PGS TS KTS Nguyễn Khởi. Nxb Khoa học Kỹ thuật Khác
5. Bảo tồn Di sản Kiến trúc và Đô thị (2008). GS TS KTS Phạm Đình Việt. Nxb Khoa học Kỹ thuật Khác
6. Bộ Văn hóa – thông tin, Cục Bảo tồn bảo tàng, Bảo tàng lịch sử: Cổ vật việt Nam Khác
7. Cao Văn Chiểu (1944). Huế qua các thời đại. Tạp chí Những người bạn Cố đô Huế, tr. 277-288 Khác
8. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (1995). Các triều đại Việt Nam. Nxb Thanh niên Khác
9. Dự án Phục hồi, Tu bổ & thích nghi khu Di tích Duyệt Thị Đường, Đại nội Huế - Công ty Thiết kế và Tư vấn Xây dựng ADC, 1999 Khác
10. Đại Nam nhất thống chí, tập Kinh sư. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1900, tr. 68 Khác
11. Lê Quý Đôn (1964). Phủ Biên tạp lục. Nxb Khoa học Khác
12. Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu (2004). Nxb Xây dựng Khác
13. Trần Trọng Kim (2000). Việt Nam sử lược. Quyển 1 và Quyển 2. Nxb TP HCM Khác
14. Thái Văn Kiểm (1960). Cố Đô Huế - Sài Gòn: Nha Văn hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục Khác
15. Khoa học công nghệ Bảo tồn trùng tu di tích Kiến trúc (2003). Nxb Xây dựng Khác
16. Đặng Hoàng Lan (2013). Hoạt động bảo tồn các di sản văn hóa trong phát triển du lịch. Tạp chí Văn hoá và Du lịch. Số 11 Khác
17. Vũ Tam Lang (2002). Kiến trúc cổ Việt Nam. Nxb Xây dựng, Hà Nội Khác
18. Đinh Xuân Lâm. Trương Hữu Quýnh (2006). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w