1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực phần động học chất điểm

105 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực phần động học chất điểm
Tác giả Phan Thị Quý
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Vật lý
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (6)
  • 2. Mục đích của đề tài (7)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (7)
  • 6. Cấu trúc và nội dung của luận văn (8)
  • CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC (9)
    • 1.1 Kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực (9)
    • 1.2 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo năng lực của học sinh (16)
    • 1.3 Những yêu cầu sư phạm của KTĐG theo định hướng phát triển năng lực . 16 (17)
    • 1.4 Xu hướng kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực (19)
    • 1.5 Vai trò của KTĐG theo định hướng phát triển năng lực (21)
    • 1.6 Các phương pháp thi, KTĐG kết quả học tập của học sinh phổ thông theo định hướng phát triển năng lực (22)
    • 1.7 Phương pháp trắc nghiệm (23)
    • 1.8 Cách xây dựng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực (24)
  • CHƯƠNG II XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở PHẦN “ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10 (CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN – BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO) (28)
    • 2.1 Vài nét lịch sử hình thành và phát triển phần “Động học chất điểm” (28)
    • 2.2 Vị trí phần “Động học chất điểm” trong chương trình vật lí phổ thông (28)
    • 2.3 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình vật lý lớp 10 ở chương “Động học chất điểm” theo hướng hình thành năng lực. .................................................. 28 2.4 Sự phát triển chương “Động học chất điểm” theo hướng hình thành năng lực. 38 (29)
    • 2.6 Lập bảng phân bố câu hỏi (60)
    • 2.7 Xây dựng đề trắc nghiệm với hình thức trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực (62)
  • CHƯƠNG III KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ BỘ CÂU HỎI (83)
    • 3.1 Mục đích của phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (83)
    • 3.2 Đối tượng của phương pháp lấy ý kiến chuyên gia (83)
    • 3.3 Thời gian lấy ý kiến chuyên gia (83)
    • 3.4 Ý kiến của các chuyên gia (83)
    • C. KẾT LUẬN (86)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (8)

Nội dung

Mục đích của đề tài

Nghiên cứu này nhằm xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho chương "Động học chất điểm" trong chương trình Vật lý 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Rút ra những kết luận sƣ phạm nhằm soạn câu hỏi trắc nghiệm phù hợp với trình độ, đồng thời phát triển đƣợc các năng lực của học sinh

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Hoạt động dạy và học của học sinh các lớp 10

Nội dung kiến thức chương “Động học chất điểm” – Vật lý 10 (Chương trình cơ bản – Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Kết quả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 10.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá (KTĐG) trong dạy học theo hướng phát triển năng lực là rất quan trọng Bài viết sẽ phân tích nội dung và cấu trúc chương trình Vật lý 10, đặc biệt là chương "Động học chất điểm", nhằm làm rõ cách thức KTĐG có thể hỗ trợ việc phát triển năng lực học sinh Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện trong môn học.

Nghiên cứu phương pháp kiểm tra bằng trắc nghiệm, soạn và phân tích câu hỏi trắc nghiệm theo các năng lực thành phần

Cách xây dựng đề kiểm tra bằng trắc nghiệm, cách bố trí phân phối đề kiểm tra và chấm bài

Thống kê và xử lý số liệu giúp đánh giá chất lượng câu hỏi và khả năng tiếp thu kiến thức vật lý của học sinh Qua đó, chúng ta có thể rút ra những kết luận sư phạm và đưa ra một số đề xuất cải tiến.

Thực nghiệm và đánh giá hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đã được xây dựng nhằm kiểm tra chất lượng bài thi và hiệu quả của các câu hỏi đã biên soạn Qua đó, chúng tôi rút ra một số câu hỏi có giá trị, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm việc đọc và nghiên cứu tài liệu liên quan đến kiểm tra đánh giá học tập, đặc biệt là nội dung kiến thức về chương “Động học chất điểm” trong sách giáo khoa Vật lý lớp 10 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng với các sách bài tập Vật lý 10.

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia là một bước quan trọng trong quá trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm Sau khi soạn thảo các câu hỏi, tôi đã gửi chúng đến các giáo viên có nhiều kinh nghiệm tại trường phổ thông để nhận được đánh giá, góp ý, và các chỉnh sửa cần thiết nhằm hoàn thiện nội dung câu hỏi.

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành kiểm tra 15 phút ở một số lớp để thu số liệu, phân tích, đánh giá câu hỏi

SVTH: Phan Thị Quý Trang 7

- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê và phân tích kết quả thực nghiệm.

Cấu trúc và nội dung của luận văn

6.1 Cấu trúc luận văn gồm:

Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục

Ngoài ra còn có sơ đồ, biểu bảng và hình vẽ

Chương 1: Cơ sở lí luận của kiểm tra đánh giá và xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực

Chương 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm ở chương “Động học chất điểm” - Vật lý 10 (Chương trình cơ bản- Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Chương 3: Khảo sát đánh giá bộ câu hỏi

SVTH: Phan Thị Quý Trang 8

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Khái niệm năng lực, xuất phát từ tiếng Latinh "competentia", hiện nay được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được định nghĩa là khả năng và sự tạo thành của cá nhân trong việc thực hiện một công việc cụ thể.

Năng lực của một cá nhân bao gồm kiến thức, kỹ năng, quan điểm và thái độ, cho phép họ hành động thành công trong các tình huống mới.

Năng lực là “khả năng giải quyết” và mang nội dung khả năng và sự sẵn sàng để giải quyết các tình huống

Theo John Erpenbeck, năng lực được hình thành từ tri thức, thể hiện như khả năng và được định hình bởi các giá trị Nó được củng cố thông qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa nhờ vào ý chí.

Năng lực được định nghĩa bởi Weinert (2001) là sự kết hợp giữa khả năng và kỹ xảo mà cá nhân đã học được hoặc vốn có, nhằm giải quyết các tình huống cụ thể Điều này bao gồm cả động cơ, yếu tố xã hội và khả năng áp dụng các giải pháp một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt.

Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, bao gồm nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động, trong đó năng lực hành động là một loại năng lực cụ thể Khi nói đến phát triển năng lực, người ta thường hiểu rằng điều này cũng đồng nghĩa với việc phát triển năng lực hành động.

Năng lực được định nghĩa là khả năng thực hiện các hành động một cách có trách nhiệm và hiệu quả, đồng thời giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề trong những tình huống thay đổi Điều này liên quan đến các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội và cá nhân, dựa trên sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động.

Mô hình thành phần năng lực phù hợp với trụ cột giáo dục theo UNESCO:

SVTH: Phan Thị Quý Trang 9

Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESCO

Năng lực chuyên môn Học để biết

Năng lực phương pháp Học để làm

Năng lực xã hội Học để cùng chung sống

Năng lực kiểm tra đánh giá Học để tự khẳng định

Giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ tập trung vào việc nâng cao năng lực chuyên môn như tri thức và kỹ năng, mà còn chú trọng đến năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Các năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ và không thể tách rời, với năng lực hành động được hình thành từ sự kết hợp của chúng.

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ tập trung vào tri thức và kỹ năng chuyên môn, mà còn bao gồm các nhóm nội dung nhằm phát triển đa dạng các lĩnh vực năng lực.

Học nội dung chuyên môn

Học phương pháp - chiến lƣợc

Học giao tiếp – xã hội

Học tự trải nghiệm - đánh giá

- Các tri thức chuyên môn (các

- Lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc

- Tự đánh giá điểm mạnh,

SVTH: Phan Thị Quý Trang 10 khái niệm, phạm trù, quy luật, mối quan hệ…)

- Các kỹ năng chuyên môn

- Úng dụng, đánh giá chuyên môn

- Các phương pháp nhận thức chung: Thu thập, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin

- Các phương pháp chuyên môn

- Tạo điều kiện cho sự hiểu biết về phương diện xã hội

- Học cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột điểm yếu

- Xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân

- Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức và văn hoá, lòng tự trọng …

Năng lực kiểm tra đánh giá

1.1.2 Năng lực chung, năng lực chuyên biệt

Dựa trên yêu cầu của mỗi nền kinh tế và xã hội, nhóm năng lực chung được xây dựng để phục vụ cho quá trình giáo dục Các nhà lí luận dạy học cụ thể hóa năng lực chung thành những năng lực chuyên biệt, và tiếp tục phân chia thành các năng lực thành phần Những năng lực thành phần này bao gồm các yếu tố liên quan đến kiến thức và kĩ năng, nhằm định hướng cho quá trình dạy học cũng như kiểm tra và đánh giá của giáo viên.

Trong việc xây dựng chuẩn năng lực chuyên biệt cho môn học, có hai quan điểm chính: một là cụ thể hóa các năng lực chung, hai là dựa trên đặc thù của từng môn học Đối với môn vật lý, việc xây dựng hệ thống năng lực thường dựa vào đặc điểm nội dung, phương pháp nhận thức và vai trò thực tiễn của môn học này Quan điểm này đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Môn Vật lí giúp hình thành các năng lực sau:

Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân

SVTH: Phan Thị Quý Trang 11

2 Năng lực giải quyết vấn đề

Nhóm năng lực về quan hệ xã hội

Nhóm năng lực công cụ

7 Năng lực sử dụng công nghệ thông tin

8 Năng lực sử dụng ngôn ngữ

Việc hình thành, phát triển và đánh giá các năng lực như một chỉnh thể là một quá trình phức tạp và cần thời gian Do đó, cần chia nhỏ các năng lực này thành các năng lực thành phần để dễ dàng quản lý và phát triển.

Cần xác định các thao tác liên quan đến từng năng lực thành phần, giúp nhận biết và đánh giá rõ ràng chất lượng của từng thao tác Chất lượng các thao tác có thể được đánh giá dựa trên sự thuần thục, tốc độ thực hiện và độ chính xác.

Để đánh giá một năng lực, cần xác định rõ nội hàm của nó bằng cách chỉ ra kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết làm nền tảng cho việc thể hiện và phát triển năng lực Sau đó, cần xây dựng các công cụ để đo lường những yếu tố này một cách hiệu quả.

Ví dụ để đánh giá năng lực thực nghiệm, một trong các năng lực quan trọng của

HS trong học tập vật lí, ta cần chỉ ra những thành tố làm nền tảng của năng lực thực nghiệm đƣợc trình bày ở Hình 1 [6]

SVTH: Phan Thị Quý Trang 12

+ Kiến thức vật lí liên quan đến quá trình cần khảo sát

+ Kiến thức về thiết bị, về an toàn + Kiến thức về xử lí số liệu, kiến thức về sai số

+ Kiến thức về biểu diễn số liệu dưới dạng bảng biểu, đồ thị

+ Thái độ kiên nhẫn + Thái độ trung thực + Thái độ tỉ mỉ + Thái độ hợp tác + Thái độ tích cực

Kĩ năng + thiết kế phương án thí nghiệm + chế tạo dụng cụ

+ lựa chọn dụng cụ + lắp ráp dụng cụ thí nghiệm + thay đổi các đại lƣợng + sử dụng dụng cụ đo: hiệu chỉnh dụng cụ đo, đọc số liệu

+ sửa chƣa các sai hỏng thông thường

+ quan sát diễn biến hiện tƣợng + ghi lại kết quả

+ biểu diễn kết quả bằng bảng biểu, đồ thị + tính toán sai số + biện luận, trình bày kết quả + tự đánh giá cải tiến phép đo

Hình 1: Các thành tố của năng lực thực nghiệm

Khi phát triển công cụ đánh giá, nên tập trung vào việc đánh giá từng thành tố riêng lẻ hoặc đồng thời nhiều thành tố của năng lực Tuy nhiên, để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy cao trong đánh giá, việc đánh giá càng ít thành tố càng tốt sẽ mang lại kết quả tốt hơn.

Sau khi phân chia năng lực thành các thành phần, chúng ta có thể xác định nhóm các năng lực cần hình thành và phát triển trong môn Vật lý, đặc biệt là ở cấp THPT, như được thể hiện trong bảng 2.

Bảng 1: Năng lực chuyên biệt môn Vật lí

Nhóm năng lực thành phần

Năng lực thành phần trong môn Vật lí

Nhóm NLTP liên quan đến sử dụng kiến

- K1: Trình bày đƣợc kiến thức về các hiện tƣợng, đại lƣợng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng

SVTH: Phan Thị Quý Trang 13 thức vật lí số vật lí

- K2: Trình bày đƣợc mối quan hệ giữa các kiến thức vật lí

- K3: Sử dụng đƣợc kiến thức vật lí để thực hiện các nhiệm vụ học tập

- K4: Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp … ) kiến thức vật lí vào các tình huống thực tiễn

Nhóm NLTP về phương pháp nhận thức vật lí

(tập trung vào năng lực thực nghiệm và năng lực mô hình hóa)

- P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lí

- P2: Mô tả đƣợc các hiện tƣợng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tƣợng đó

- P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin từ các nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học tập vật lí

- P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây dựng kiến thức vật lí

- P5: Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp trong học tập vật lí

- P6: Chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lí

- P7: Đề xuất đƣợc giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể kiểm tra đƣợc

- P8: Xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét

- P9: Biện luận tính đúng đắn của kết quả thí nghiệm và tính đúng đắn các kết luận đƣợc khái quát hóa từ kết quả thí nghiệm này

Nhóm NLTP liên quan đến giao tiếp trong

- X1: Trao đổi kiến thức và ứng dụng vật lí bằng ngôn ngữ vật lí và các cách diễn tả đặc thù của vật lí

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo năng lực của học sinh

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, phân tích và xử lý thông tin nhằm hiểu rõ thực trạng đạt được mục tiêu giáo dục Quá trình này giúp tìm ra nguyên nhân và đưa ra quyết định sư phạm, từ đó hỗ trợ học sinh tiến bộ trong việc học tập.

Theo quan điểm phát triển năng lực, đánh giá kết quả học tập không chỉ tập trung vào việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức, mà còn chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong các tình huống khác nhau.

Về mục tiêu của kiểm tra, đánh giá là:

Công khai nhận định về năng lực và kết quả học tập của từng học sinh, nhóm học sinh và tập thể lớp giúp tạo cơ hội cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá Điều này không chỉ giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của bản thân mà còn khuyến khích và động viên việc học tập hiệu quả hơn.

Giúp giáo viên nhận diện rõ ràng những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó tự hoàn thiện phương pháp giảng dạy và không ngừng nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả trong quá trình dạy học.

Đánh giá không chỉ để nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của trò, mà còn giúp thầy nhận diện thực trạng và điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình.

Về phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, có 5 phương pháp và hình thức, cụ thể:

- Đánh giá kết quả và đánh giá quá trình

- Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí

SVTH: Phan Thị Quý Trang 16

- Tự suy ngẫm và tự đánh giá

- Đánh giá qua thực tiễn

Về công cụ đánh giá theo hướng phát triển năng lực:

- Xây dựng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubric)

Ngoài ra còn có một số công cụ đánh giá theo hướng phát triển năng lực khác nhƣ:

- Ghi chép ngắn là việc đánh giá thường xuyên thông qua quan sát HS trong lớp học

- Thẻ kiểm tra nhằm đánh giá kiến thức của HS trước, trong và sau mỗi bài học hoặc sau mỗi chủ đề học tập

- Tập san có thể đƣợc sử dụng để đánh giá quy trình học tập và sự phát triển của

HS Chúng có thể ở dạng mở hoặc GV viên cung cấp các câu hỏi, hướng dẫn cách làm.[6]

Những yêu cầu sư phạm của KTĐG theo định hướng phát triển năng lực 16

Để KTĐG kết quả học tập của học sinh đạt hiệu quả cao, giáo viên cần giữ thái độ khách quan, công bằng và trung thực, tránh thiên vị và trù dập Điều này giúp học sinh tin tưởng và làm bài một cách khách quan, từ đó hình thành ý thức đúng mực khi thực hiện bài kiểm tra Đặc biệt, đối với học sinh lớp dưới, giáo viên nên tìm nhiều cách động viên và khen thưởng kịp thời Đây là nguyên tắc sư phạm quan trọng mà mọi giáo viên cần lưu ý trong quá trình KTĐG kết quả học tập.

1.3.2 Đảm bảo tính khách quan

Khi tiến hành kiểm tra đánh giá (KTĐG), cần đảm bảo tính khách quan và phản ánh đúng thực chất về trình độ, năng lực của học sinh Để đạt được điều này, cần tạo ra những điều kiện giống nhau cho tất cả học sinh, giúp mỗi em có cơ hội tự bộc lộ khả năng của mình một cách trung thực.

SVTH: Phan Thị Quý Trang nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học sinh nhận thức được kết quả học tập của mình một cách thực tế và khách quan Cần phải ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực và tình trạng thiếu trung thực trong quá trình làm bài Giáo viên nên khuyến khích học sinh phát triển tâm thế tự tin và khẳng định bản thân một cách đúng đắn.

Kiến thức trong kiểm tra đánh giá (KTĐG) cần phải phù hợp với mục tiêu giảng dạy của môn học, bám sát chương trình và thực tiễn giảng dạy tại trường Cần tránh việc kiểm tra những kiến thức vượt quá chương trình hoặc quá dễ dãi, vì điều này sẽ không phản ánh đúng kết quả học tập một cách khách quan.

Kết quả học tập của học sinh cần phản ánh trung thực và đầy đủ quá trình tu dưỡng của các em, bao gồm cả những tiến bộ và sai sót để có biện pháp phát huy và khắc phục Cần phân biệt rõ giữa kết quả tạm thời và kết quả lâu dài Để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá, cần cải tiến các phương pháp và hình thức kiểm tra từ khâu ra đề đến chấm điểm, lựa chọn hình thức thi phù hợp với đặc trưng môn học Việc "lượng hóa" nội dung môn học theo các đơn vị kiến thức để làm chuẩn cho việc đánh giá và cho điểm là vô cùng quan trọng.

1.3.3 Đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống và tính thường xuyên

Kiểm tra và đánh giá kiến thức của học sinh cần được thực hiện thường xuyên, có hệ thống và theo kế hoạch, kết hợp nhiều hình thức kiểm tra Bài kiểm tra cần được sắp xếp từ dễ đến khó, bao gồm các câu hỏi đa dạng, giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản và hệ thống hóa thông tin Qua quá trình này, giáo viên nhận được phản hồi chính xác từ học sinh, theo dõi sự tiến bộ và tạo điều kiện cho học sinh rèn luyện kỹ năng Thực tiễn cho thấy, việc kết hợp đánh giá thường xuyên, định kỳ và tổng kết cuối học kỳ giúp giáo viên có cơ sở đánh giá kết quả học tập của học sinh và hiệu quả giảng dạy của mình.

1.3.4 Đảm bảo tính công khai

Trước khi tiến hành kiểm tra đánh giá, giáo viên cần thông báo cho học sinh về thời gian kiểm tra Việc này giúp học sinh không bị bất ngờ và có đủ thời gian chuẩn bị, từ đó làm bài một cách thoải mái và tự tin hơn.

Tổ chức KTĐG cần công khai và kịp thời công bố kết quả để học sinh có thể tự đánh giá và xếp hạng trong tập thể Việc này đòi hỏi các biện pháp kích thích học sinh tự kiểm tra lẫn nhau, từ đó đề ra những phương pháp học tập hiệu quả nhất.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 18 đồng thời giúp giáo viên cải tiến phương pháp dạy học phù hợp để nâng cao chất lƣợng giảng dạy

1.3.5 Yêu cầu đảm bảo tính phát triển của KTĐG

Trong quá trình kiểm tra đánh giá, giáo viên cần theo dõi và phát hiện kịp thời những tiến bộ của học sinh, dù là nhỏ nhất Việc nâng niu và trân trọng sự cố gắng của học sinh là rất quan trọng, đồng thời đánh giá cao những tiến bộ trong học tập sẽ tạo động lực cho các em Giáo viên cũng cần tạo điều kiện thuận lợi để những tiến bộ này có thể phát triển hơn nữa.

Xu hướng kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực

Theo chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, cần đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo của người học Việc đổi mới này phải gắn liền với việc cải tiến đánh giá quá trình dạy học và kiểm tra thành tích học tập Đánh giá kết quả học tập không chỉ dựa vào khả năng tái hiện kiến thức mà cần chú trọng đến khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong các tình huống khác nhau Điều này giúp xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học và đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh, đánh giá không chỉ kiến thức mà còn kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa.

Đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức, kỹ năng không mâu thuẫn mà đánh giá năng lực là bước phát triển cao hơn Để chứng minh năng lực của học sinh, cần tạo cơ hội cho họ giải quyết vấn đề trong bối cảnh thực tiễn, vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học cùng với kinh nghiệm cá nhân từ gia đình và cộng đồng Qua việc hoàn thành nhiệm vụ thực tế, có thể đánh giá kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và các giá trị, tình cảm của người học Đánh giá năng lực không chỉ dựa vào chương trình giáo dục mà còn là sự tổng hòa kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và chuẩn mực đạo đức, hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và sự phát triển xã hội của cá nhân.

Có thể so sánh đánh giá theo định hướng năng lực và đánh giá theo định hướng chú trọng nội dung qua một số tiêu chí nhất định.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 19

Tiêu chí so sánh Đánh giá nội dung Đánh giá năng lực

1 Mục đích chủ yếu nhất

- Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng theo mục tiêu của chương trình giáo dục

- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học với nhau

- Đánh giá khả năng HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống

- Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ

Gắn với nội dung học tập (những kiến thức, kỹ năng, thái độ) được học trong nhà trường

Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc sống của HS

- Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở một môn học

- Quy chuẩn theo việc người học có đạt đƣợc hay không một nội dung đã đƣợc học

Những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh (HS) tích lũy từ nhiều môn học và hoạt động giáo dục, cùng với những trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống xã hội, đều tập trung vào việc phát triển năng lực thực hiện.

- Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực của người học

Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong tình huống hàn lâm hoặc tình huống thực

Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực

Đánh giá trong quá trình dạy học thường diễn ra ở những thời điểm cụ thể, đặc biệt là trước và sau khi giảng dạy Việc đánh giá không chỉ tập trung vào các giai đoạn này mà còn chú trọng đến quá trình đánh giá diễn ra trong khi học.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 20

- Năng lực người học phụ thuộc vào số lƣợng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành

- Càng đạt đƣợc nhiều đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng đƣợc coi là có năng lực cao hơn

- Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành

- Thực hiện đƣợc nhiệm vụ càng khó, càng phức tạp hơn sẽ đƣợc coi là có năng lực cao hơn.

Vai trò của KTĐG theo định hướng phát triển năng lực

Qua việc đánh giá kết quả học tập, học sinh có thể nhận biết khả năng tiếp thu kiến thức của bản thân, xác định những kiến thức cần bổ sung, sửa đổi sai sót và các kỹ năng chưa đạt để rèn luyện thêm.

1.5.1.2 Về mặt phát triển năng lực nhận thức

Thông qua các đợt kiểm tra đánh giá định kỳ và tổng kết, học sinh có cơ hội phát triển năng lực tư duy và rèn luyện các hoạt động trí tuệ từ mức độ nhận biết, thông hiểu đến áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá.

Qua việc rèn luyện tính kiên trì và bền bỉ, học sinh sẽ biết vượt qua khó khăn, củng cố niềm tin và khả năng học tập của bản thân Điều này cũng giúp các em phát triển tinh thần tự giác, ý thức rèn luyện, ham học hỏi và tích cực trong học tập cũng như sinh hoạt.

Các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh rất quan trọng để xác định trình độ và năng lực của từng học sinh trong lớp Điểm số thu được giúp giáo viên hiểu rõ hơn về năng lực của học sinh, từ đó có thể đưa ra biện pháp hỗ trợ phù hợp Đồng thời, việc đánh giá cũng cung cấp thông tin tổng quát về thành quả học tập, giúp giáo viên nhận biết các lĩnh vực mà học sinh cần cải thiện, thiết lập các mục tiêu giảng dạy cụ thể và hỗ trợ những học sinh yếu hơn trong quá trình tự đánh giá và điều chỉnh học tập của mình.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 21

Qua kết quả KTĐG, giáo viên có thể nhận diện rõ ràng điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, từ đó cải thiện phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng học tập Đồng thời, thông tin chính xác về năng lực của học sinh được cung cấp cho gia đình và nhà trường, giúp tạo sự phối hợp hiệu quả trong quá trình giáo dục.

1.5.3 Đối với cán bộ quản lý giáo dục

Kết quả học tập của học sinh cung cấp thông tin quan trọng cho cán bộ quản lý giáo dục về thực trạng dạy và học trong nhà trường, giúp đánh giá hệ thống tổ chức của trường, giáo viên và cán bộ phục vụ Điều này cho phép đưa ra chỉ đạo kịp thời và xây dựng các chương trình đào tạo hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục của nhà trường Ngoài ra, cần đề ra yêu cầu rõ ràng đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy, học, kiểm tra và thi cử.

Các phương pháp thi, KTĐG kết quả học tập của học sinh phổ thông theo định hướng phát triển năng lực

Giáo viên cung cấp cho học sinh các mô hình, biểu tượng và hình ảnh để giúp họ quan sát các hiện tượng thực tế Học sinh được yêu cầu dự đoán diễn biến của các hiện tượng, tìm nguyên nhân và xác lập mối quan hệ, đồng thời vận dụng kiến thức đã học để giải thích những gì quan sát được thông qua bài kiểm tra Trong quá trình này, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát tỉ mỉ từng chi tiết, giúp họ xây dựng một dự đoán ban đầu chính xác.

Phương pháp quan sát thường yêu cầu học sinh phải chuẩn bị trước, dẫn đến việc tốn nhiều thời gian và thiếu tính đa dạng Thêm vào đó, do dựa vào hồi tưởng kiến thức, phương pháp này có thể bị sai lệch do không nhớ đầy đủ và logic các sự kiện Vì vậy, độ chính xác và tính khách quan của việc kiểm tra bằng phương pháp quan sát không cao.

Phương pháp vấn đáp là hình thức đối thoại trực tiếp giữa giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên đặt câu hỏi và học sinh trả lời, giúp giáo viên đánh giá kết quả học tập Phương pháp này khuyến khích tính tích cực và độc lập trong học tập, đồng thời bồi dưỡng khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói Học sinh cần phải nắm vững kiến thức tổng hợp để có thể trả lời hiệu quả.

Phương pháp này giúp hạn chế tình trạng quay cóp và trao đổi không chính thức giữa học sinh, đồng thời khuyến khích tính tự giác và rèn luyện sự trung thực trong học tập Giáo viên có thể đánh giá khách quan khả năng tiếp thu và diễn đạt của học sinh, từ đó đi sâu vào kiến thức cụ thể Tuy nhiên, một số học sinh có thể gặp khó khăn trong việc đối thoại trực tiếp nhưng lại có khả năng viết bài rất tốt để trả lời câu hỏi.

Do đó cần kết hợp nhiều tình huống trong kiểm tra

SVTH: Phan Thị Quý Trang 22

1.6.3 Phương pháp tự luận trong kiểm tra Đây là phương pháp mà học sinh phải trả lời bằng một bài viết về vấn đề được nêu ở trong câu hỏi giáo viên đƣa ra Tuỳ thuộc vào mục đích dạy học mà giáo viên có thể soạn những câu hỏi phù hợp với hoc sinh, với thời điểm kiểm tra và thời gian quy định

Phương pháp kiểm tra tự luận cho phép giáo viên đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh ở mức độ cụ thể, đồng thời giúp học sinh diễn đạt tư tưởng và câu văn dựa trên kiến thức và kinh nghiệm học tập Tuy nhiên, việc chấm bài tự luận thường tốn thời gian và kết quả phụ thuộc vào người ra đề cũng như người chấm Hơn nữa, học sinh có thể học vẹt, học tủ, và trao đổi bài trong quá trình làm bài kiểm tra, dẫn đến độ chính xác thấp và thiếu tính khách quan, không phản ánh đúng kết quả học tập của học sinh.

Phương pháp trắc nghiệm

Học sinh trả lời câu hỏi thông qua việc lựa chọn, dựa vào kiến thức đã tích lũy để phân tích và nhận diện ý đúng, từ đó đưa ra câu trả lời theo quan điểm cá nhân.

Trắc nghiệm bao gồm nhiều dạng câu hỏi nhƣ: Đúng - Sai, ghép đôi (xứng hợp), điền khuyết (trả lòi ngắn), diễn giải và nhiều lựa chọn

1.7.1 Câu hỏi dạng Đúng – Sai

Câu hỏi đúng/sai yêu cầu học sinh chọn giữa hai phương án: Đúng (Đ) hoặc Sai (S), giúp kiểm tra khối lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn và không phụ thuộc vào sự chủ quan của người chấm Tuy nhiên, loại câu hỏi này khuyến khích học thuộc lòng và đoán mò, dẫn đến độ tin cậy thấp, khó đánh giá trình độ hiểu biết ở các mức độ nhận thức cao.

Câu hỏi ghép đôi bao gồm hai dải thông tin: câu dẫn và câu đáp, yêu cầu học sinh phải kết hợp đúng các cặp thông tin sao cho phù hợp về nội dung Đây là loại câu hỏi hiệu quả trong việc đánh giá khả năng nhận biết, giúp giảm thiểu khả năng đoán mò của học sinh Tuy nhiên, nếu số lượng câu hỏi ở hai cột bằng nhau, khả năng loại trừ vẫn có thể xảy ra Do đó, khi thiết kế câu hỏi, cần có số lựa chọn nhiều hơn ở cột đáp án so với cột câu dẫn, điều này có thể khiến học sinh tốn nhiều thời gian đọc các lựa chọn và làm giảm hiệu quả làm bài Thông thường, số phương án ở cột bên trái không bằng số phương án ở cột bên phải, nhằm tránh việc hai phương án cuối tự động được ghép với nhau mà không cần lựa chọn.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 23

1.7.3 Câu hỏi điền khuyết hay câu trả lời ngắn

Hai loại câu hỏi này thực chất chỉ khác nhau về hình thức, và khi được trình bày dưới dạng câu phát biểu chưa đầy đủ, chúng được gọi là câu điền khuyết Dù ở dạng nào, chúng đều khuyến khích học sinh đưa ra những câu trả lời độc đáo hoặc suy luận mới, dẫn đến việc chấm điểm không rõ ràng và thiếu tính khách quan, trừ khi có một câu trả lời duy nhất Loại câu hỏi này giúp học sinh tránh được việc đoán mò, tăng độ tin cậy, và phù hợp để đánh giá các vấn đề liên quan đến tính toán dữ kiện, giải thích hiện tượng, cũng như diễn đạt ý kiến và thái độ của bản thân.

1.7.4 Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn (MCQ: Multipe Choice Question)

Loại câu hỏi này là loại trắc nghiệm phổ biến nhất, nó gồm hai phần: phần gốc và phần lựa chọn

Phần gốc là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn tất, nhằm nêu ra vấn đề cụ thể Nó cung cấp thông tin cần thiết để học sinh hiểu rõ nội dung câu trắc nghiệm, từ đó giúp họ lựa chọn câu trả lời phù hợp.

Phần lựa chọn thường bao gồm 4 đến 5 câu trả lời đã được chuẩn bị sẵn, nhằm giúp học sinh chọn ra câu trả lời đúng và hợp lý nhất Những câu trả lời còn lại thường là những “câu nhiễu” hay còn gọi là “câu mồi nhử”, được thiết kế để thử thách khả năng phân tích và nhận diện của học sinh.

Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn giúp học sinh phát huy tính tích cực và chủ động trong học tập Phương pháp này không chỉ kiểm tra lượng kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng làm bài, giúp học sinh nhận diện sai sót và cải thiện kết quả học tập Đồng thời, giáo viên có thể phân loại và lựa chọn học sinh để áp dụng biện pháp hỗ trợ phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy Loại câu hỏi này cũng hạn chế khả năng đoán mò của học sinh, đảm bảo tính công bằng, khách quan và chính xác trong đánh giá.

Cách xây dựng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực

Để xây dựng câu hỏi trắc nghiệm theo định hướng phát triển năng lực cần tuân thủ theo 4 bước:

Bước 1: Xây dựng các chủ đề của bộ môn đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Bước 2 là xác định các chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của chủ đề theo chương trình hiện hành, với quan điểm mới nhằm định hướng phát triển năng lực cho học sinh.

Bước 3 là xây dựng tiến trình tổ chức dạy học theo chủ đề thông qua các câu hỏi, bài tập và nhiệm vụ, nhằm phát triển các năng lực đã được xác định (PHỤ LỤC 1).

SVTH: Phan Thị Quý Trang 24

Bước 4: Thiết lập một hệ thống các câu hỏi, bài tập và nhiệm vụ nhằm yêu cầu học sinh thực hiện, từ đó có thể kiểm tra và đánh giá mức độ phát triển năng lực của học sinh sau khi hoàn thành chủ đề học tập.

Để tạo ra một bài trắc nghiệm chất lượng, cần đầu tư thời gian và công sức trong việc soạn thảo Các câu hỏi về kiến thức cơ bản thường dễ viết hơn so với những câu hỏi đánh giá mức độ hiểu biết, khả năng tổng quát hóa và áp dụng nguyên tắc học tập Do đó, để viết một bài trắc nghiệm hiệu quả, cần thực hiện hai bước quan trọng.

Xác định rõ ràng mục tiêu và năng lực thành phần cần đánh giá là bước đầu tiên và quan trọng trong quá trình giảng dạy Mục tiêu cần được định hình dưới dạng hành vi, cử chỉ, kiến thức và thái độ mà học sinh cần đạt được vào cuối chương trình Điều này giúp tập trung vào những gì học sinh biết, có thể làm, suy nghĩ và giải quyết, thay vì chỉ dựa vào mong muốn của giáo viên hay người khác Việc phát biểu và xác định mục tiêu giảng dạy là một nhiệm vụ khó khăn nhưng rất cần thiết cho việc thiết kế trắc nghiệm hiệu quả.

Bước thứ hai trong quá trình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm là gắn kết chúng với các mục tiêu giảng dạy cụ thể Giáo viên cần lập bảng phân bố câu hỏi theo đề mục, nội dung và mục tiêu giảng dạy một cách chi tiết trước khi tiến hành soạn thảo Để tạo ra các câu hỏi trắc nghiệm hiệu quả, cần tuân thủ các hướng dẫn cụ thể.

Hướng dẫn chung cho mọi dạng câu hỏi:

+ Lời lẽ đơn giản và tập trung Khả năng đọc yếu nhất cũng hiểu đƣợc

+ Câu dẫn nên là một câu hỏi đầy đủ

Trong các đề trắc nghiệm, cần tránh làm lộ đáp án giữa các câu hỏi để không gây nhầm lẫn cho thí sinh Đặc biệt, phương án đúng có thể khó nhận ra đối với những thí sinh chưa vững kiến thức, do đó cần thiết lập cấu trúc câu hỏi một cách hợp lý để đảm bảo tính công bằng và thử thách.

+ Nhấn mạnh các từ quan trọng (ví dụ: không, hầu hết, ít nhất, ngoại trừ,…) + Có đồng nghiệp xem xét lại các câu hỏi

Trước khi chấm điểm, cần kiểm tra kỹ lưỡng các đáp án Đối với câu hỏi đúng/sai, câu trả lời phải hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai, không được kết hợp hai loại Đối với câu hỏi ghép đôi, cũng cần tuân thủ các quy tắc tương tự để đảm bảo tính chính xác.

+ Chỉ rõ yêu cầu để ghép đôi

+ Không quá nhiều phương án để ghép đôi ( a = - 2,5 m/

SVTH: Phan Thị Quý Trang 71

Câu 7: Chọn C Vì khối lƣợng khác nhau

Câu 8: Chọn C Vì vật bị ném thẳng đứng sẽ chuyển động rơi tự do nên có gia tốc g không đổi

Theo giả thiết ta có v = 50 km/h, = 2km, = 0

Thay vào phương trình tổng quát x = + v(t- ), ta có x = 2 + 50t

Câu 10: Chọn B Thực tế, vệ tinh nhân tạo chuyển động tròn đều quanh Trái Đất, khi đó tốc độ góc = =

Sử dụng thang điểm 10, mỗi câu trắc nghiệm làm đúng cho 1 điểm

KIỂM TRA 15 PHÚT Môn: Vật lý

Thời gian làm bài: 15 phút

1 Nhóm NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí

Câu 1 : Chỉ ra câu sai ?

Chuyển động tròn đều có các đặc điểm sau:

A Quỹ đạo là đường tròn

B Vectơ vận tốc không đổi

C Tốc độ góc không đổi

D Véctơ gia tốc luôn hướng vào tâm

Câu 2: Phát biểu nào sau đây là không đúng khi nói về vận tốc của chuyển động thẳng đều: Đề số 2

SVTH: Phan Thị Quý Trang 72

A Tốc độ không đổi theo thời gian

B Tại mọi điểm vectơ vận tốc là nhƣ nhau

C Vận tốc luôn có giá trị dương

D Vectơ vận tốc luôn có hướng không đổi

Câu 3: Liên hệ giữa tốc độ góc và tốc độ dài thông qua công thức:

Hai vật được thả rơi tự do từ hai độ cao khác nhau, trong đó khoảng thời gian rơi của vật thứ nhất gấp đôi khoảng thời gian rơi của vật thứ hai Khi bỏ qua lực cản của không khí, ta cần xác định tỉ số độ cao giữa hai vật.

Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời theo quỹ đạo tròn với bán kính 1,5 triệu km, trong khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất với bán kính 3,8 triệu km Chu kỳ quay của Trái Đất là 365,25 ngày, còn của Mặt Trăng là 27,25 ngày Để tính quãng đường mà Trái Đất vạch được trong thời gian Mặt Trăng hoàn thành một vòng quanh Trái Đất, ta cần xác định thời gian này và tính toán theo công thức quỹ đạo.

Câu 6: Nếu chọn 7 giờ 30 phút làm gốc thời gian thì thời điểm lúc 8 giờ 15 phút theo giờ đồng hồ có giá trị

Câu 7: Chuyển động của vật nào dưới đây sẽ được coi là rơi tự do nếu được thả rơi?

A Một cái lá cây rụng

Câu 8: Kết quả đo đạc khi một đứa bé trƣợt xuống một cầu tuột nhƣ sau:

SVTH: Phan Thị Quý Trang 73

Dạng cầu tuột nào phù hợp với các số đo trên ?

2 Nhóm NLTP về phương pháp

Hai bến sông A và B cách nhau 18 km theo đường thẳng Vận tốc của canô khi nước không chảy là 16,2 km/h, trong khi vận tốc của nước so với bờ sông là 1,5 m/s Để tính thời gian canô đi từ A đến B và quay trở về A, cần xác định vận tốc thực tế của canô khi đi xuôi và ngược dòng.

Câu 10 : Tại sao trạng thái đứng yên hay chuyển động của một chiếc ô tô có tính tương đối ?

A Vì chuyển động của ô tô đƣợc quan sát ở các thời điểm khác nhau

B Vì chuyển động của ô tô được xác định bởi những người quan sát khác nhau đứng bên lề đường

C Vì chuyển động của ô tô không ổn định: lúc đứng yên, lúc chuyển động

D Vì chuyển động của ô tô đƣợc quan sát trong các hệ quy chiếu khác nhau (gắn với đường và gắn với ô tô)

3 Đáp án và hướng dẫn chấm (Đề số 2)

Câu 2: Chọn C Vì còn tuỳ thuộc vào chiều chuyển động

SVTH: Phan Thị Quý Trang 74

Câu 6: Chọn C Khoảng thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 8 giờ 15 phút là 45 phút, tương đương với 45/60 = 0,75 h

Sử dụng thang điểm 10, mỗi câu trắc nghiệm làm đúng cho 1 điểm

KIỂM TRA 15 PHÚT Môn: Vật lý

Thời gian làm bài: 15 phút

1 Nhóm NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí

Câu 1: Câu nào dưới đây nói về chuyển động thẳng biến đổi đều là không đúng ?

A Vận tốc tức thời của một vật chuyển động thẳng biến đổi đều có độ lớn tăng hay giảm đều theo thời gian

B Gia tốc của vật chuyển động thẳng biến đổi đều luôn có độ lớn không đổi

C Gia tốc của vật chuyển động thẳng biến đổi đều luôn cùng phương, cùng chiều với vận tốc Đề số 3

SVTH: Phan Thị Quý Trang 75

D Quãng đường đi được của vật chuyển động thẳng biến đổi đều luôn tính bởi công thức s =

Câu 2: Có ba vật (1), (2), (3) Áp dụng công thức cộng vận tốc có thể viết đƣợc phương trình nào kể sau ?

C = + D Cả ba đáp án trên

Hai chất điểm A và B chuyển động trên hai đường tròn đồng tâm, luôn nằm trên đường thẳng đi qua tâm O Mối quan hệ giữa chúng được xác định qua các thông số chuyển động cụ thể.

Mối liên hệ đúng giữa hai chuyển động này là:

A I, II B I, III C I, II, III D I, III, IV K3

Câu 4: Một vật nặng rơi từ độ cao 45 m xuống đất Lấy g = 10 m/ Vận tốc của vật lúc chạm đất là:

Câu 5: Một vật chuyển động thẳng đều với vận tốc v = 2 m/s Và lúc t = 2s thì vật có toạ độ x = 5 m Phương trình toạ độ của vật là

Khi ô tô di chuyển với vận tốc 10m/s trên đường thẳng và tài xế tắt máy, hãm phanh, ô tô sẽ giảm tốc độ và chạy thêm 20m trước khi dừng lại Để tính gia tốc của ô tô trong quá trình này, ta cần áp dụng công thức chuyển động chậm dần đều.

Một con kiến di chuyển dọc theo một miếng chén hình tròn có bán kính R Khi con kiến đi được nửa đường tròn, ta có thể xác định đường đi và độ dời của nó trong quá trình chuyển động.

SVTH: Phan Thị Quý Trang 76

Một phi công muốn máy bay bay về hướng Tây trong khi gió thổi từ hướng Nam với tốc độ 50 km/h Khi không có gió, máy bay có vận tốc 200 km/h Để tính vận tốc của máy bay so với mặt đất, cần xem xét sự ảnh hưởng của gió.

2 Nhóm NLTP về phương pháp

Chất điểm sẽ chuyển động thẳng nhanh dần đều nếu:

Câu 10: Để xác định vị trí tâm bão ở vùng biển Đông, người ta chọn hệ trục tọa độ và gốc thời gian nào dưới đây là thích hợp nhất ?

A Khoảng cách tâm bão đến ba nơi là Thành phố Hồ Chí Minh, Manila, Bru- nây và gốc thời gian t = 0 là lúc tâm bão đi qua nơi khảo sát

B Vĩ độ địa lí và t = 0 là lúc tâm bão đi qua nơi khảo sát

C Vĩ độ, kinh độ và t = 0 là lúc tâm bão đi qua nơi khảo sát

D Vĩ độ, kinh độ và t = 0 là 0 giờ quốc tế

3 Đáp án và hướng dẫn chấm (Đề số 3)

Trong chuyển động thẳng biến đổi đều, gia tốc luôn cùng phương và cùng chiều với vận tốc khi vật chuyển động nhanh dần đều Do đó, câu trả lời cho câu hỏi là chọn C.

Câu 4: Chọn B Vật rơi tự do chuyển động thẳng nhanh dần đều với vận tốc ban đầu băng 0:

SVTH: Phan Thị Quý Trang 77

Câu 9: Chọn B Nếu a < 0 và > 0 thì chất điểm sẽ chuyển động thẳng chậm dần đều

Sử dụng thang điểm 10, mỗi câu trắc nghiệm làm đúng cho 1 điểm

KIỂM TRA 15 PHÚT Môn: Vật lý

Thời gian làm bài: 15 phút

1 Nhóm NLTP liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí

Câu 1: Điều khẳng định nào dưới đây chỉ đúng cho chuyển động thẳng nhanh dần đều:

A Gia tốc của chuyển động không đổi

B Chuyển động có vectơ gia tốc không đổi

C Vận tốc của chuyển động là hàm bậc nhất của thời gian

D Vận tốc của chuyển động tăng đều theo thời gian

Câu 2: Vận tốc tuyệt đối là:

A Vận tốc của vật đối với hệ quy chiếu đứng yên

B Vận tốc của vật đối với hệ quy chiếu chuyển động cùng chiều

C Vận tốc của hệ quy chiếu chuyển động đối với hệ quy chiếu đứng yên

D Vận tốc của vật đối với hệ quy chiếu chuyển động ngƣợc chiều

SVTH: Phan Thị Quý Trang 78

Câu 3: Một chuyển động thẳng đều có phương trình x = -4(t – 2) + 10 (cm; s) (t

) Một học sinh thực hiện biến đổi và viết lại phương trình dưới dạng: x = -4t +18 (cm; s) Trị số 18 có ý nghĩa nào kế sau?

A Thời điểm lúc vật ở gốc toạ độ

B Toạ độ của vật tại thời điểm gốc

C Không có ý nghĩa vật lý mà chỉ do biến đổi toán học

Câu 4: Một hòn đá thả rơi tự do từ một độ cao nâo đó Nếu độ cao tăng lên 3 lần thì thời gian rơi sẽ:

Một máy bay bay từ điểm A đến điểm B, cách nhau 900 km, mất 2 giờ 30 phút khi bay theo chiều gió Nếu vận tốc của máy bay khi không có gió là 00 km/h, cần xác định vận tốc của gió, giả sử các vận tốc đều không đổi.

Câu 6: Tốc độ góc của cánh quạt máy là 20 rad/s Tính số vòng quay của cánh quạt trong 10 phút

Vật chuyển động thẳng nhanh dần đều không có vận tốc đầu trên đoạn đường AB trong thời gian 9 giây Thời gian để vật đi hết quãng đường đầu là một yếu tố quan trọng cần được xác định.

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ BỘ CÂU HỎI

Ngày đăng: 17/05/2021, 00:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. [1] Đặng Đức Trọng – Nguyễn Đức Tấn – Vũ Minh Nghĩa ,(2009), Bồi dƣỡng năng lực tự học vật lý 10, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 2. [2] Mai Trọng Ý (2013), Phân loại và phương pháp giải nhanh vật lý 10,NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
6. [6] Bộ Giáo dục và đào tạo (2014), Hướng dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh cấp trung học phổ thông môn Vật Lý, Vụ giáo dục trung học Khác
7. [7] Vũ Đình Chuẩn, Nguyễn Trọng Sửu, (2010), Tài liệu bồi dƣỡng cán bộ giáo viên về biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thƣ viện câu hỏi và bài tập môn Vật lí cấp trung học phổ thông, Vụ giáo dục trung học Khác
8. [10] Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học sư phạm Khác
9. [11] Lâm Quang Thiệp (2012), Đo lường và đánh giá hoạt động học tập trong nhà trường, NXB Đại học sư phạm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w