Những hoạt động nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trên quần đảo này đã được các chúa Nguyễn cũng như vua quan triều Nguyễn hết sức coi trọng, từ việc thành lập các đội Bắc Hải, đến xây dựng
Trang 1Ó Ó ỦA NHÂN DÂN QUẢNG NAM -
NG TRONG VIỆC KHẲ NH VÀ BẢO
Trang 2MỤC LỤC
L Á Ơ 1
MỞ ẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
3.1 ối ượng nghiên cứu 8
3.2 Phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Nguồn ư liệu nghiên cứu 8
5.2 Phương pháp nghiên cứu 9
6 óng góp của khóa luận 9
7 Bố cục 9
NỘI DUNG 10
ƯƠ 1: ỔNG QUAN VỀ QUẢNG NAM - NG VÀ QUẦ ẢO HOÀNG SA 10
1.1 Tổng quan về Quảng Nam - à ẵng 10
1.1.1 Vị rí địa lý, đi u kiện tự nhiên 10
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 13
1.1.3 Kinh tế, xã hội 15
1.1.4 Văn hóa, dân cư 18
1.1.4.1 Về văn hóa 18
1.1.4.2 Về dân cư 19
1.2 Khái quát về quần đảo Hoàng Sa 20
1.2.1 Tên gọi 20
1.2.2 Vị rí địa lý, đi u kiện tự nhiên 21
1.2.2.1 Vị trí địa lý 21
1.2.2.2 Điều kiện tự nhiên 23
1.2.2.3 Đặc điểm địa chất, địa mạo 25
1.2.3 Hệ thống các đảo v nhóm đảo 27
1.2.3.1 Cụm Lưỡi Liềm 27
1.2.3.2 Cụm An Vĩnh 29
Trang 31.2.4 Vai trò của quần đảo Hoàng Sa v lợi ích chiến lược, kinh tế 30
1.2.4.1 Lợi ích chiến lược của quần đảo Hoàng Sa 30
1.2.4.2 Lợi ích kinh tế 31
ƢƠ 2: Ó Ó ỦA NHÂN DÂN QUẢNG NAM - NG TRONG VIỆC KHẲNG NH VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA 33
2.1 Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt am đối với quần đảo Hoàng Sa 33
2.1.1 Từ thế kỷ XVII đến năm 1883 33
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1884 đến năm 1945 36
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 39
2.1.4 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 42
2.2 Những hoạt động của nhân dân Quảng Nam - à ẵng trong việc bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa 46
2.2.1 Tham gia vào lực lượng bảo vệ biển đảo 46
2.2.2 Chống hải tặc trên biển 52
2.2.3 Tham gia vào lực lượng tuần tra cứu hộ, cứu nạn 61
2.3 Những hoạt động vừa khai thác tài nguyên biển, vừa bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa của cƣ dân Quảng Nam - à ẵng 66
2.3.1 Khai hác, đánh bắt cá 66
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 1 80
PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH 83
Trang 4L Á Ơ
Được sự phân công của Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng và sự đồng ý của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Xuyên tôi đã thực hiện đề tài:
“Đóng góp của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ
chủ quyền Hoàng Sa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử của trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng, với lòng yêu nghề, sự tận tâm đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt bốn năm tôi học tập và rèn luyện dưới mái trường này Xin gửi lời cám ơn chân thành đến thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Xuyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn chu đáo để tôi có thể hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, tốt nhất, tuy nhiên nguồn kiến thức thì vô tận và thời gian làm khóa luận thì có hạn, cùng với đó là buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên bài làm vẫn còn nhiều hạn chế và sai sót
mà bản thân không thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô để khóa luận của mình được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cám ơn!
Trang 5MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam với bao sử tích và kì tích về sự phát triển của dân tộc như một chuỗi dài đấu tranh sinh tồn, cũng từ những trang sử hào hùng đó đã để lại bao kí ức đẹp trong người dân Việt qua các thế hệ Hình ảnh của một biển Đông như là một không gian sinh tồn, một không gian văn hóa từ bao đời nay của người Việt Trong đó, Hoàng Sa và Trường Sa mãi trường tồn cùng dân tộc
Cùng với chủ quyền lãnh thổ trên đất liền là chủ quyền lãnh thổ của nước ta trên biển Đông Biển đảo, qua nhiều đời vẫn luôn gắn chặt với đời sống của dân cư nước Việt, chính vì vậy mà biển đảo trong tâm thức người Việt là đất nước, là cuộc sống, là thiêng liêng Trong đó, quần đảo Hoàng Sa là quần đảo quan trọng, tiền tiêu của Tổ quốc trên biển Đông, gắn với chủ quyền quản lý và khai thác của nước
ta qua nhiều thế kỷ, nhiều giai đoạn lịch sử của dân tộc Từ thế kỷ XVII đến đầu thế
kỷ XIX, quần đảo Hoàng Sa đã được các triều đại phong kiến Việt Nam (từ thời chúa Nguyễn cho đến triều Nguyễn) chiếm hữu và xác lập chủ quyền qua các thời
kỳ lịch sử Những hoạt động nhằm bảo vệ chủ quyền của mình trên quần đảo này đã được các chúa Nguyễn cũng như vua quan triều Nguyễn hết sức coi trọng, từ việc thành lập các đội Bắc Hải, đến xây dựng lực lượng thủy binh mạnh mẽ với tên gọi Hoàng Sa nhằm thực hiện nhiệm vụ tuần tra và bảo vệ chủ quyền vùng biển Hoàng
Sa, Trường Sa Ngoài ra, những hoạt động khác của triều đình phong kiến như đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ hay cắm mốc chủ quyền, xây dựng các chùa miếu trên đảo cũng nhằm khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nhà nước ta đối với quần đảo này Năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, và trở thành huyện đảo trực thuộc thành phố Đà Nẵng vào tháng 1 năm 1997 Với việc khẳng định quyền quản lý hành chính của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, cùng với công cuộc bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo này qua nhiều giai đoạn lịch sử đã góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này
Trang 6Trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân hai tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng Góp phần làm sáng tỏ tính lịch sử
và tính pháp lý, chủ quyền thực sự của quần đảo, cũng như việc bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa Qua đó, giáo dục ý thức chủ quyền lãnh thổ đối với nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, phục vụ tốt quá trình đấu tranh lâu dài nhằm bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Cũng từ đó, bồi dưỡng tinh thần yêu quê hương đất nước, yêu biển đảo quê hương, có thái độ cương quyết, cứng rắn đối với việc bảo vệ đất nước, bảo vệ biển đảo nói chung và Hoàng Sa nói riêng
Với những lí do trên, tôi chọn đề tài “ óng góp của nhân dân Quảng Nam -
Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quy n Hoàng Sa” làm khóa luận
tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những vấn đề liên quan đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa luôn là đề tài thu hút sự quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu của nhiều học giả, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đã có rất nhiều những công trình đi sâu nghiên cứu các nguồn sử liệu, thư tịch cổ nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa dựa trên các nguồn sử liệu, những chứng cứ lịch sử đã được các nhà sử học, các nhà nghiên cứu lịch sử nghiên cứu và đưa ra như sau:
Trong “Phủ biên tạp lục” (năm 1972) của Lê Quý Đôn, bản dịch của tác giả
Lê Xuân Giao, mô tả chi tiết về các hoạt động của đội Bắc Hải, đội Hoàng Sa, minh chứng cho sự xác lập chủ quyền và bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Dưới thời kỳ triều Nguyễn, có nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền
của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (năm 1821) và sách Hoàng Việt
Địa Dư Chí (năm 1833) đều có nội dung về Hoàng Sa với nhiều điểm tương tự như
trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII Đại Nam Thực Lục
phần tiền biên, quyển 10 tiếp tục khẳng định xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng
bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ
nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in
Trang 7xong năm 1879) có tất cả 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tài liệu rất quí giá là Châu bản triều
Nguyễn (thế kỷ XIX), ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của đình thần
các bộ như Bộ Công và các cơ quan khác hay những dụ của các vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc Năm Thiệu Trị thứ 5 (năm 1845)
có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục Đặc biệt, trong bộ chính sử “Đại
Nam thực lục chính biên” (năm 2007), “Đại Nam nhất thống chí”(năm 1992) hay
bộ “Minh Mệnh chính yếu” (năm 1994) cũng đã đề cập rất nhiều đến việc dựng bia,
cắm mốc chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đó cũng chính là bằng chứng cho việc quan tâm và bảo vệ chủ quyền của vua quan triều đình phong kiến Việt Nam đối với Hoàng Sa
Hiện nay, có nhiều sách tập hợp từ những báo cáo khoa học, những nghiên
cứu từ các cứ liệu lịch sử, những tư liệu quý từ các thư tịch cổ như: “Hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa bộ phận lãnh thổ Việt Nam” của tác giả Vũ Phi Hoàng, nhà
xuất bản Quân đội nhân dân, phát hành năm 1988; cuốn “Hoàng Sa, Trường Sa là
của Việt Nam” do NXB Trẻ phát hành năm 2009, cuốn của tác giả Nguyễn Đình
Đầu (2014); Chủ quyền Việt Nam trên biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa hay cuốn
“Hoàng Sa, Trường Sa lãnh thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế” (2008) của
tác giả Nguyễn Quốc Thắng cũng đã đưa ra được những chứng cứ, cung cấp được những nguồn tư liệu nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc khẳng
định và bảo về chủ quyền Hoàng Sa Và vào năm 2014, cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa”
do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa
xuất bản, đưa ra những thông tin, cung cấp những nguồn tư liệu cổ cũng như những
tư liệu từ những nhân chứng sống từng hoạt động và làm việc ở Hoàng Sa, nhằm khẳng định lại chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam đối với quần đảo này
Có rất nhiều công trình nghiên cứu, những hội thảo, những triển lãm trưng bày
về việc xác lập chủ quyền của nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa Tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về sự đóng góp của hai địa phương Quảng Nam, Đà Nẵng trong việc khẳng định chủ quyền và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa Tuy vậy, những tư liệu quan trọng
Trang 8trên đều có thể giúp tôi đưa vào thực hiện được đề tài khóa luận “Đóng góp của
nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa” của mình
3 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự đóng góp của nhân dân 2 tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa
Về không gian: Với đề tài này, phạm vi nghiên cứu mà chúng tôi nghiên cứu là
hai tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ khi Việt Nam khẳng định chủ
quyền trên quần đảo Hoàng Sa cho đến nay
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, góp phần vào việc tuyên truyền và tác động vào nhận thức của mọi người, nhất là thế hệ trẻ thấy được việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là quan trọng và luôn được đặt lên hàng đầu
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành sưu tầm, tìm kiếm tài liệu, tư liệu ở thư viện Khoa Học - Tổng Hợp Đà Nẵng, phòng học liệu khoa Lịch Sử, trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng, trên các sách báo, các tạp chí liên quan, cũng như khai thác nguồn tư liệu từ các website có nguồn tin đảm bảo tính chính thống
về tư liệu Đặc biệt là những nguồn tư liệu khai thác tại chổ ở hai địa phương Quảng Nam và Đà Nẵng
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nghiên cứu dựa
trên quan điểm sử học Mácxit như phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá vấn đề
Về phương pháp nghiên cứu: Với đề tài này, chúng tôi kết hợp giữa hai
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử là phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp logic
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp sưu tầm, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, để rút ra những tư liệu có độ chính xác, khái quát cao Ngoài ra, công tác điền dã, thực địa cũng được chú ý và coi trọng
6 óng góp của khóa luận
Nghiên cứu thành công đề tài “Đóng góp của nhân dân Quảng Nam - Đà
Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn to lớn
Thứ nhất, đề tài góp phần làm sáng tỏ những đóng góp to lớn của nhân dân 2 tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa Thứ hai, đây là nghiên cứu khoa học có tác động mạnh mẽ đến nhận thức, thái
độ của nhân dân ta đối với việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa nói riêng
và biển đảo quê hương nói chung
Thứ ba, từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc khẳng định và bảo vệ biển đảo trong tình hình hiện nay
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, nhất là việc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông của Trung Quốc ngày càng lộ rõ bản chất và trở nên quyết liệt như hiện nay, đề tài này có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn lao trong việc khẳng định cho các nước trên thế giới một lần nữa chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
7 Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung gồm 2 chương như sau:
hương 1: Tổng quan về Quảng Nam - Đà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa
hương 2: Đóng góp nhân dân của Quảng Nam - Đà Nẵng trong việc khẳng định
và bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa
Trang 10NỘI DUNG
ƢƠ 1: ỔNG QUAN VỀ QUẢNG NAM - NG VÀ QUẦ ẢO
HOÀNG SA
1.1 Tổng quan về Quảng Nam - à ẵng
1.1.1 Vị rí địa lý, đi u kiện tự nhiên
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía Đông giáp biển Đông với trên
125 km bờ biển; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Quảng Nam có 14 huyện và 2 thị xã, trong
đó có 08 huyện miền núi là Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức và Tiên Phước Diện tích tự nhiên 10.406,83 km2, dân số xấp xỉ 1.5 triệu người Quảng Nam ở vào vị trí trung độ của đất nước, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và đường biển và đường hàng không, có đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyên; trong tương lai gần sẽ nối với hệ thống đường xuyên Á tạo vị trí thuận lợi cho tỉnh về giao lưu kinh tế với bên ngoài Hơn thế nữa Quảng Nam nằm
ở địa thế phía Bắc là thành phố Đà Nẵng - Trung tâm kinh tế lớn của khu vực miền Trung, phía Nam là khu vực phát triển công nghiệp dịch vụ Chu Lai - Dung Quất đang được hình thành và phát triển, có cảng Kỳ Hà, sân bay Chu Lai Cùng với diện tích mặt bằng đất cát ven biển rộng, gần hệ thống lưới điện quốc gia, có nguồn nước ngọt dồi dào, gần trục giao thông đường bộ, đường sắt, tạo thuận lợi cho việc hình thành các khu công nghiệp, dịch vụ du lịch, các đô thị mới
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành 3 vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; mặt khác bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, đã tạo nên các tiểu vùng có những nét đặc thù như: Vùng đồng bằng nhỏ, hẹp thuộc hạ
Trang 11lưu các sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, được phù sa bồi đắp hàng năm, nhân dân
có truyền thống thâm canh lúa nước và cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm Vùng ven biển đa phần là đất cát, sản xuất chủ yếu là hoa màu, trồng rừng chống cát bay, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, Trong quá trình công nghiệp hoá thì vùng này có lợi thế về mặt bằng xây dựng thuận lợi, gần các sân bay, bến cảng, các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và lưới điện quốc gia Vùng Trung du với độ cao trung bình 100m, địa hình đồi bát úp xen kẽ các dải đồng bằng, thuộc miền Tây các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn Nhân dân có truyền thống trồng lúa, màu, cây công nghiệp, chăn nuôi, trồng rừng, khai thác khoáng sản nhỏ Vùng miền núi gồm 08 huyện phía Tây của tỉnh, là vùng núi cao, đầu nguồn các lưu vực sông, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người Nhân dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông lâm nghiệp với phương thức canh tác lạc hậu Thế mạnh của vùng là rừng, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia súc Vùng có các khu rừng đặc sản như: sâm Trà Linh, quế Trà My, Phước Sơn, có những khu vực đất đai thuận lợi cho phát triển cây cao su (Hiệp Đức), tiêu (Tiên Phước) và các cây công nghiệp dài ngày khác tạo điều kiện để hình thành các vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm
Thành phố Đà Nẵng, gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045‟ đến 17015‟ vĩ độ Bắc, 1110
đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, cách thành phố Huế 108km về hướng Tây Bắc Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng
Trang 12không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một
số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (> 400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: Rừng đặc dụng: 22.745
ha, trong đó đất có rừng là 15.933 ha; Rừng phòng hộ: 20.895 ha, trong đó đất có rừng là 17.468 ha; Rừng sản xuất: 23.508 ha, trong đó, đất có rừng là 18.176 ha Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở cánh Tây huyện Hòa Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng
3 triệu m3 Phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thiên nhiên đã ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải Vân
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác; và nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặc khác Vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có độ sâu từ 50-200m (chiếm
Trang 1348,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%), vùng nước sâu trên 200m (chiếm 20,6%) Hàng năm có khả năng khai thác trên 150.000 -200.000 tấn hải sản các loại Đà Nẵng còn
có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà
có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Lần theo lịch sử, một phần phía Bắc vùng đất Quảng Nam ngày nay được sáp nhập vào Đại Việt vào năm 1306, theo sự thoả thuận giữa Thượng Hoàng Trần Nhân Tông với Vua Chiêm Thành là Chế Mân trong việc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa với Chế Mân Kể từ đầu thế kỷ XV, khu vực Quảng Nam đã chính thức thuộc vào quyền lực của nhà nước Đại Việt sau khi nhà Hồ (1400 - 1407) thương thảo với triều đình Chiêm Thành, họ đã thuận giao nộp cả Chiêm động (bắc Quảng Nam) và Cổ Lũy động (Quảng Ngãi ngày nay) cho người Việt Từ đó, nhà
Hồ chia đất Chiêm động và Cổ Lũy thành 4 châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, rồi đặt
lộ Thăng Hoa thống lĩnh 4 châu, đưa dân từ Nghệ An, Thuận Hóa vào khai khẩn và cho người cai quản
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông sau khi chiếm vùng đất phía nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông đã lập Thừa tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định), Quảng Nam trở thành một bộ phận của Đại Việt, và danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đó Trong thời điểm Trịnh - Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn từ năm 1570, góp phần vào tiến trình mở nước của dân tộc và tạo lập cuộc sống phồn vinh của một vùng xứ Quảng Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân Quảng Nam đã đi đầu, lập công ngay từ khi chúng đặt chân đến vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, và tự hào là nơi phát tích các phong trào đấu tranh kháng Pháp, đồng thời là quê hương của những chí sĩ yêu nước như: Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Nguyễn Thành, Trần Văn Dư… Quảng Nam còn là địa phương sớm có tổ chức Đảng Cộng sản ra đời và hoạt động Trong kháng chiến chống Mỹ, Quảng Nam đã lập được nhiều chiến công Những chiến thắng của quân và dân Quảng Nam trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng
Trang 14tháng 3 năm 1975 đã góp phần đưa đến đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước Sau ngày giải phóng đến nay, Đảng bộ
và nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã sát cánh hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ngày càng phát triển
Là một trong những cửa sông lớn của miền Quảng Nam (mở rộng về phương Nam), từ nhiều thế kỷ trước, kể cả khi Hội An còn đang trong thời kì phát triển rực
rỡ vào thế kỉ XVII, cửa biển Đà Nẵng đã được đánh giá rất cao, vì ưu thế vượt trội của vịnh Đà Nẵng là nước sâu và có độ an toàn cao Đầu thế kỷ XVIII, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi
kỹ thuật đóng tàu ở châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng Năm 1858, cuộc xâm lược của Pháp tại Việt Nam mở đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng Sau khi thành lập Liên bang Đông Dương thì Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam với tính chất là một nhượng địa và đổi tên thành Tourane Đơn vị hành chính này chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương thay vì triều đình Huế - tuy thị trấn này năm trong xứ Trung Kỳ Đầu thế kỉ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương Cơ sở hạ tầng xã hội, kỹ thuật sản xuất được đầu tư Các ngành nghề sản xuất và kinh doanh hình thành và phát triển: sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hàng xuất khẩu, sữa chữa tàu thuyền, kinh doanh dịch vụ Cùng với Hải Phòng và Sài Gòn, Tourane trở thành trung tâm thương mại quan trọng của
cả nước
Tháng 3 năm 1965, Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân
sự hỗn hợp lớn Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định
là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh Mặc dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt được nhiều thành quả, nhất là thời kỳ đổi mới sau năm 1986
Trang 15Ngày 6 tháng 11 năm 1996 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết cho phép tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương Về địa giới hành chính, thành phố Đà Nẵng mới bao gồm thành phố Đà Nẵng trước đây, huyện Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa
1.1.3 Kinh tế, xã hội
Ở Quảng Nam hiện nay có nhiều khu kinh tế và khu công nghiệp đã và đang hoạt động Trong đó, khu kinh tế mở Chu Lai thuộc địa bàn thành phố Tam Kỳ và huyện Núi Thành, được thành lập theo Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 05 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ có quy mô lớn và đi vào hoạt động sớm nhất của tỉnh Khu kinh tế mở Chu Lai bao gồm tiểu khu thuế quan và phi thuế quan Tiểu khu phi thuế quan gắn với cảng Kỳ Hà bao gồm các hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác Khu thuế quan có các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu dịch vụ, khu dân cư và hành chính Bên cạnh khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam còn có các khu công nghiệp như: Điện Nam - Điện Ngọc, Thuận Yên, Trảng Nhật, Đại Hiệp, Đông Quế Sơn, Đông Thăng Bình, Tây An; Bắc Chu Lai, Nông Sơn, Trường Xuân Những khu công nghiệp này hiện đang thu hút các nhà đầu tư, là điều kiện để Quảng Nam ngày càng phát triển
Quảng Nam hiện nay có 2 di sản được công nhận là di sản văn hóa thế giới là thành địa Mỹ Sơn và Khu phố cổ Hội An, cùng khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm Với những thế mạnh đó, Quảng Nam xác định du lịch là ngành mũi nhọn, nên trong nhiều năm qua tỉnh đã đề ra nhiều chính sách phù hợp khuyến khích các ngành và các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành du lịch Cơ sở vật chất
kỹ thuật cũng như nguồn nhân lực làm việc trong ngành du lịch đã tăng lên đáng kể Trên cơ sở những lợi thế của mình, Quảng Nam đã có những kế hoạch và chính sách phù hợp để tạo cho mình một nền tảng vững chắc nhằm phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại Phấn đấu phát triển ngành công nghiệp giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế của tỉnh Phấn đấu đưa tỉ trọng khu vực
Trang 16dịch vụ lên khoảng 45% trong GDP vào năm 2015 Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 20% hàng năm Ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thu hút lượng khách quốc tế đến Quảng Nam năm 2015 khoảng 2,5 triệu lượt, tăng bình quân trên 12% Phát triển ngành nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản chất lượng cao Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, đời sống kinh tế phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại Khuyến khích phát triển kinh tế đa sở hữu, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần và hợp tác xã để trở thành phổ biến trong nền kinh tế Tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển nhanh hơn nữa
Đà Nẵng, từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực Trong hơn những năm qua, Đà Nẵng đã liên tục thay đổi
bộ mặt thành phố của mình Chưa bao giờ trong quá trình phát triển, Đà Nẵng quyết liệt như thế trong nhu cầu tự làm mới mình Sự phát triển Đà Nẵng vừa là nhu cầu
tự thân, vừa là để đáp ứng yêu cầu của một thành phố đầu tàu có sứ mệnh liên đới trách nhiệm đối với miền Trung trong giai đoạn mới của đất nước Với một vị trí đặc biệt thuận lợi về giao thông đường biển, là thương cảng lớn thứ 3 của Việt Nam, cảng Đà Nẵng có độ sâu trung bình từ 15 - 20m, có khả năng tiếp nhận các tàu lớn có trọng tải đến 28.000 tấn và có chiều dài 220m Vịnh Đà Nẵng rộng và kín gió, là nơi neo đậu tàu thuyền rất an toàn trong mùa mưa bão Vào những năm đầu thế kỉ XXI, khi cảng Liên Chiểu với công suất 20 triệu tấn/năm được xây dựng xong thì hệ thống cảng Đà Nẵng được nối liền với cảng Kỳ Hà, Dung Quất ở phía Nam sẽ trở thành một cụm cảng liên hoàn lớn nhất nước, giữ vị trí quan trọng trên tuyến hàng hải Đông Nam Á và Đông Bắc Á
Chỉ trong mấy năm trở lại đây, Đà Nẵng đã khác trước nhiều Những vận động nội lực đã khiến Đà Nẵng ngày càng mở rộng tầm vóc của mình Bắt đầu từ kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở về hạ tầng giao thông, tiến hành chỉnh trang đô thị, xây dựng một môi trường mới hiểu theo nghĩa rộng, tạo điều kiện cho công cuộc phát triển mới Khai thác tốt những lợi thế sẵn có, trong những năm qua
Đà Nẵng đã có những biến đổi rõ rệt về nhịp độ và khí thế phát triển Tốc độ GDP
Trang 17bình quân tăng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, giá trị sản xuất các mặt hàng công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản phát triển toàn diện … kim ngạch xuất khẩu tăng, các ngành du lịch thương mại, dịch vụ chuyển biến tích cực Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Đà Nẵng là nơi hội tụ các công ty lớn của các ngành dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng…Ngành công nghiệp của thành phố Đà Nẵng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/năm Thành phố đang đề ra mục tiêu trở thành một trong những địa phương đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam, trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020 Đà Nẵng hiện được xem là một trong ba trung tâm bưu chính lớn nhất nước với tất cả các loại hình phục vụ hiện đại và tiện lợi, như điện thoại cố định, điện thoại di động, điện thoại thẻ, máy nhắn tin, Internet…, chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh, điện hoa…Tính đến nay, trên địa bàn Đà Nẵng nhiều dự
án du lịch được cho phép đầu tư với tổng vốn đầu tư hàng tỷ USD Trong đó, nhiều
dự án thu hút nhiều tập đoàn lớn như Vina Capital, Indochina Capital…đầu tư vào các sân golf, khách sạn, resort cao cấp …
Đầu tư cho y tế, giáo dục bảo đảm cuộc sống có chất lượng cao cho người dân
là một mục tiêu quan trọng trong những nỗ lực của thành phố này Trong thời điểm hiện tại, Đà Nẵng hiện có 18 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, 11 bệnh viện và trung tâm y tế quận huyện, 47 trạm y tế xã phường với hơn 900 phòng khám chữa bệnh tư Đặc biệt, trong một quyết tâm rất cao, Đà Nẵng đã xây dựng và đưa vào hoạt động Bệnh viện Phụ nữ, kêu gọi sự đóng góp của nhiều thành phần xã hội đầu
tư cho bệnh viện Ung thư, từng bước tạo điều kiện cho người dân thành phố và khu vực lân cận giảm nhẹ những gánh nặng về chi phí chữa bệnh khi đối đầu với những căn bệnh hiểm nghèo vốn lâu nay chỉ trông đợi vào những trung tâm y tế lớn ở hai đầu đất nước Cùng với sự hình thành của khoa Y Dược - Đại học Đà Nẵng và trường Đại học Kỹ thuật Y tế trên địa bàn thành phố, Đà Nẵng đang hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước, cung cấp nguồn nhân lực và dịch vụ y tế chất lượng cao, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và thứ 3 cả nước (sau Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh), hiện nay, Đà Nẵng có 15 trường Đại học, học viện, 17 trường cao đẳng;
Trang 18nhiều trường trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm dạy nghề và hơn 200 trường học
từ bậc học phổ thông tới ngành học mầm non Đà Nẵng chú trọng hơn trong công tác giáo dục và đào tạo, tập trung công tác giáo dục đào tạo từ các cấp, nhằm phát triển một thành phố văn minh, hiện đại, phát triển một cách bền vững
1.1.4 Văn hóa, dân cư
1.1.4.1 Về văn hóa
Vùng văn hóa xứ Quảng (Quảng Nam - Đà Nẵng) được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung, dựa trên nền tảng văn hóa Sa Huỳnh và nền văn hóa Chămpa rực rỡ, từ xa xưa đã hiện hữu trên mảnh đất Hóa Châu - vùng đất cực Nam của Đại Việt (từ phía Nam Thừa Thiên Huế đến bờ Bắc sông Thu Bồn hiện nay) Vì thế, khi nói đến giá trị văn hóa Xứ Quảng, không chỉ những người Quảng Nam - Đà Nẵng mà còn bao gồm những con người thuộc các dân tộc sống trên mảnh đất này
từ thuở khai hoang, dựng nghiệp cho đến nay đã đồng tâm hiệp lực tạo nên diện mạo đặc trưng của một vùng
Nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, Quảng Nam - Đà Nẵng là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho vùng đất này giàu truyền thống và độc đáo về bản sắc văn hóa … Quảng Nam - Đà Nẵng cũng là nơi lưu giữ hàng trăm công trình kiến trúc Việt cổ như đình, chùa, văn miếu, lăng miếu, nhà ở,… có niên đại cách đây 300 - 500 năm Các di tích này không chỉ có giá trị về mặt văn hóa, nghệ thuật là còn có ý nghĩa lịch sử quan trọng, thể hiện sự phát triển lâu đời của một vùng văn hóa Đàng Trong Những kinh đô cổ Trà Kiệu, các tháp chàm Khương
Mỹ, Chiên Đàn, Bàng An, Phật viện Đồng Dương là những nơi ghi lại dấu ấn rực
rỡ của nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Đại Việt Giá trị văn hóa xứ Quảng không chỉ tỏa sáng từ những công trình kiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hóa độc đáo ẩn chứa trong các phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc sinh sống trên quê hương nặng nghĩa tình này Đây chính là tài sản vô giá, là niềm
tự hào của cộng đồng các dân tộc Quảng Nam - Đà Nẵng
Văn hóa xứ Quảng tuy có những nét đặc trưng riêng, nhưng vẫn nằm trong loại hình văn hóa nông nghiệp Việt Nam Nơi đây chứa đựng một nền văn hóa có giá trị vật chất rực sáng và giá trị tinh thần hào hùng Văn hóa xứ Quảng ở Quảng
Trang 19Nam - Đà Nẵng không chỉ đặc trưng ở văn hóa cư trú người Kinh vùng đồng bằng
và tộc người Cơtu, Giẻ - Triêng ở vùng cao, ở các di tích lịch sử - văn hóa như thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, thắng cảnh Hải Vân, Sơn Trà, ở truyền thuyết Tiên Sa, Non Nước, Trà Kiệu, khu thánh địa Mỹ Sơn, Hội An mà còn thể hiện ở văn hóa
ẩm thực, đó là mì quảng, bánh tráng đập, bánh ít lá gai, bánh tráng cuốn thịt heo…với những hương vị rất riêng không lẫn với những sản vật của nơi khác Đặc trưng văn hóa của miền đất này còn lắng đọng trong lễ hội, trong phong tục tập quán, tâm linh truyền thống; được kết tinh từ lao động sáng tạo, lối suy nghĩ, lối sống và cả cách ứng xử của các tộc người cùng cộng cư trên vùng đất này, qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử Lễ hội cũng là nét đặc trưng của văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng, bao gồm nhiều yếu tố dân tộc, lịch sử, phong tục, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo…mặc dù so với những vùng đất khác thì không gian lễ hội hẹp hơn, thời gian ngắn hơn, song cũng khá đa dạng và phong phú Có lễ hội dân gian truyền thống như lễ hội đình làng, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội Quán Thế Âm, lễ hội văn hóa như Lễ hội thi bắn pháo hoa quốc tế… Văn hóa vùng đất này còn là các làn điệu dân ca, hát hò khoan, bài chòi, lý hò vè độc đáo, chân chất đồng hành cùng các câu hát đồng dao, hát bả trạo, hát sắc bùa, các trò diễn dân gian như múa lân, các vũ đạo có đường nét kinh điển của nghệ thuật Tuồng truyền thống mà người xưa gọi là hát Bội Người dân xứ Quảng cũng rất tự hào vì nơi đây từng được mệnh danh là cái nôi của loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo này Văn hóa xứ Quảng còn là sức sống, sức sáng tạo của người dân được thể hiện ở kinh nghiệm, tri thức được tích lũy trong quá trình lao động và đấu tranh bền bỉ với thiên nhiên, với
kẻ thù Tri thức và năng lực sáng tạo đó còn biểu hiện qua hàng ngàn câu ca dao, tục ngữ, hàng trăm sản phẩm độc đáo của làng nghề truyền thống
Tất cả đã nói lên tài hoa và sự khéo léo, tinh xảo của người Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng và con người xứ Quảng nói chung
1.1.4.2 Về dân cư
Ngoài dân tộc Kinh, Quảng Nam có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng, người Xê Đăng và một số tộc người thiểu số mới di cư đến với tổng số dân trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu chắc chắn nào về nguồn gốc cũng như
Trang 20thời điểm xuất hiện các dân tộc này tại miền núi Quảng Nam, do bản thân họ trước đây đều không có chữ viết Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km2 Với 81,4% dân số sinh sống
ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước.Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km2 Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của
cả nước
Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,468 người, đến năm 2010 là 926.018 người, đạt tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1997 - 2010 là 2,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng dân số bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn là 1,2%/năm; trong đó tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong cả giai đoạn 1997 - 2010 là 12,470/00.Do tốc độ đô thị hóa nhanh nên tỉ lệ tăng dân số cao
và mật độ dân số cũng tăng theo, từ 539 người/km2
năm 1997 lên mức 721 người/km2 năm 2010 Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều giữa các quận, huyện; trong đó dân số tập trung cao nhất ở hai quận nội thành là Thanh Khê (19.064 người/km2) và Hải Châu (9.185 người/km2) và thấp nhất là ở huyện Hòa Vang với mật độ 164 người/km2 Về cơ cấu giới tính, năm 2010, tỉ lệ dân số nam của thành phố Đà Nẵng chiếm 48,68%, nữ chiếm 51,32%; tỉ lệ này không có sự thay đổi nhiều
Trang 21sớm, còn tên gọi “Hoàng Sa” là do giới nho sĩ dịch và viết ra về sau Quần đảo mang tên Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng cũng là do có vô số hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo với mực nước thủy triều lên xuống, vì thế mà số lượng đảo cũng tùy theo cách đếm mà kể nhiều hay ít
Đối với phương Tây, ở thế kỉ XVI người Bồ Đào Nha, Hà Lan gọi quần đảo này là Parcel hay Pracel (theo tiếng Bồ Đào Nha, Parcel có nghĩa là đá ngầm - ám tiêu) Vào đầu thế kỉ XVII - XVIII, người Pháp, Anh gọi quần đảo là Paracel trên các bản đồ hàng hải Mãi đến năm 1787 - 1788, khi đoàn khảo sát Kergariou Locmaria xác định rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Paracel như hiện nay, người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Paracel ở phía Bắc với quần đảo
ở phía Nam mà sau này vào thập niên 40 của thế kỉ XX, người Pháp mới gọi quần đảo này là Spratley chỉ chung cho quần đảo Trường Sa
Còn đối với người Việt, khi đã kiểm soát vùng biển Đông tới tận Hà Tiên từ đầu thế kỉ XVII, Lê Quý Đôn đã viết trong Phủ Biên Tạp Lục cho thấy rằng Đội Bắc Hải trực thuộc đội Hoàng Sa đã phụ trách riêng các đảo phía Nam tới tận Côn Lôn, Hà Tiên Tuy sang thế kỉ XIX đã thấy địa danh Vạn Lý Trường Sa ở phía Nam cùng với đội Hoàng Sa ở phía Bắc trong Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, song vẫn chưa phân biệt rõ rệt hai quần đảo mà vẫn chỉ chung một quần thể Ngay vào thời của Ngô Đình Diệm năm 1956, cũng thể hiện khái niệm “hai quần đảo là một” khi trong văn bản ghi Hoàng Sa chỉ cả hai quần đảo Paracel và Spratley
1.2.2 Vị rí địa lý, đi u kiện tự nhiên
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Quần đảo Hoàng Sa là một quần đảo san hô, phân bố rải rác trong phạm vi từ khoảng kinh tuyến 111o Đông đến 113o Đông; từ vĩ tuyến 15o45‟ Bắc đến 17o15‟ Bắc, ngang với Huế và Đà Nẵng, phía ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, ở khu vực phía Bắc Biển Đông Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30.000 km2 Phạm vi quần đảo được giới hạn bằng các đảo, bãi ở các cực Bắc, Nam, Đông, Tây như sau:
Trang 22Bảng 1.1 Vị trí các điểm cực của quần đảo Hoàng Sa
Vị trí các cực của quần đảo Vỹ độ Bắc Kinh độ ông
Cực Bắc: đảo Đá Bắc 17o 06' 0" 111o 30' 8"
Cực Nam: Bãi ngầm Ốc Tai Voi 15o 44' 2" 112o 14' 1"
Cực Đông: Bãi cạn Gò Nổi 16o 49' 7" 112o 53' 4"
Cực Tây: đảo Tri Tôn 15o 47' 2" 111o 11' 8"
Tổng diện tích phần nổi khoảng 10 km2, đảo lớn nhất là Phú Lâm, có diện tích khoảng 1,5km2 Khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc vùng biển rộng khoảng 30.000
km2, nằm ngang bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và một phần tỉnh Quảng Ngãi Phạm vi quần đảo này được giới hạn bởi đảo Đá Bắc ở cực Bắc, bãi ngầm Ốc Tai Voi ở cực Nam, bãi cạn Gò Nổi ở cực Đông và đảo Tri Tôn ở cực Tây
Về khoảng cách đến đất liền, từ đảo Tri Tôn đến mũi Ba Làng An, tỉnh Quảng Ngãi là 135 hải lý, đến huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) tỉnh Quảng Ngãi 123 là hải
lý
Quần đảo Hoàng Sa là một thế giới san hô với hơn 100 loài đã tạo thành một phần của vòng cung san hô ngầm dọc bờ biển Đông Nam của lục địa châu Á Hình thái địa hình các đảo trong quần đảo Hoàng Sa tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới Đa số các đảo có độ cao dưới 10 m, và có diện tích nhỏ hẹp dưới 1 km2 Ngoài các đảo, còn có các cồn san
hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành một đầm nước giữa biển khơi,
có cồn dài tới 30km, rộng 10 km như cồn Cát Vàng
Trong số đó, đảo Phú Lâm (nằm ở khoảng 16o50,2‟ độ vĩ Bắc và 112o20‟ độ kinh Đông) có chiều dài 1,7 km, chiều rộng 1,2 km và giữ vị trí quan trọng nhất trong cụm đảo An Vĩnh và cả quần đảo Hoàng Sa Đảo Linh Côn (ở vị trí khoảng
16o40,3‟ độ vĩ Bắc và 112o43,6‟ độ kinh Đông) có độ cao trung bình khoảng 8,5 m,
Trang 23trên đảo có nước ngọt quanh năm Đặc biệt, đảo Hoàng Sa, tuy có diện tích không lớn nhưng có giá trị về quân sự và hậu cần nghề cá Trên đảo này từng có bia chủ quyền, Miếu Bà,… cùng một trạm khí tượng do chính quyền bảo hộ Pháp và nhà Nguyễn (Việt Nam) xây dựng, hoạt động từ năm 1938, được Tổ chức Khí tượng thế giới (WVO) công nhận và đặt số hiệu 48860 trong mạng lưới khí tượng quốc tế Ngoài các đảo, còn có các cồn và vành đai san hô bao bọc, tạo thành một đầm nước lớn giữa biển; trong đó có cồn dài tới 30 km, rộng khoảng 10 km như cồn Cát Vàng Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngự đường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Vùng biển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản, thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, quan trọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chế đường giao thông trên biển và trên không trong khu vực phía Bắc Biển Đông
1.2.2.2 Điều kiện tự nhiên
Hoàng Sa có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù và
có nhiều giông bão So với các vùng đất cùng vĩ độ trong lục địa, khí hậu tại Hoàng
Sa khá điều hòa, không quá nóng về mùa hè, không quá lạnh về mùa đông
- Độ ẩm tương đối trung bình ở Hoàng Sa 80 - 85% và hầu như không bị biến động nhiều theo mùa Các quan sát cho thấy trong các tháng 1 (đặc trưng cho mùa Đông), tháng 7 (đặc trưng của mùa hè), tháng 4 và tháng 10 (các thời kỳ chuyển tiếp), độ ẩm tương đối đều không đổi và bằng 80 - 85%
- Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trong khoảng 2.400 - 2.600 giờ/năm, trong đó mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10) có thời gian chiếu sáng khoảng 1.300 giờ, lớn hơn so với mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) Trong các tháng mùa hè thời gian chiếu sáng ở quần đảo Hoàng Sa luôn lớn hơn ở quần đảo Trường Sa
- Nhiệt độ không khí ở vùng biển Hoàng Sa có giá trị thấp nhất 22o - 24oC trong tháng 1, tăng dần đạt cực đại 28.5o - 29oC trong tháng 6, 7 và giảm từ từ tới
25oC vào tháng 12 Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng nhiệt độ cao nhất và thấp nhất là 5.5oC - 6oC
Trang 24- Chế độ gió vùng quần đảo Hoàng Sa phức tạp và thể hiện ảnh hưởng của địa hình lục địa Việt Nam và Trung Quốc Vào mùa hè hướng gió Tây Nam chiếm ưu thế 57%, các hướng gió Tây, Nam, Đông - Nam khoảng 10 - 12% Các hướng gió Đông, Đông - Bắc và Bắc đều xuất hiện với tần suất thấp Vận tốc gió trong mùa hè trung bình 5 - 7 m/s Trong mùa Đông gió Đông - Bắc chiếm ưu thế với tần suất 48
- 50% và tốc độ 7 – 10 m/s Hướng gió Bắc có tần suất 27 - 30% và tốc độ 7 – 10 m/s Các hướng gió Đông, Đông Nam, Nam và Tây Bắc đều xuất hiện trong mùa Đông với tần suất thấp và vận tốc cực đại đạt 7 - 10 m/s
- Lượng mưa trung bình nằm ở quần đảo Hoàng Sa khoảng 1.200 - 1.600 mm, thấp hơn nhiều so với mưa ở vùng đảo Trường Sa và các vùng khác trên đất liền Mưa chủ yếu tập trung vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10) lượng mưa trung bình hàng tháng 100 - 200 mm, đạt 200 - 400 mm trong tháng 10 Lượng mưa trung bình trong mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 4) 200 - 300 mm với lượng mưa hàng tháng
20 - 25 mm (tháng 1,2,3) và đạt đến 50 - 100 mm trong tháng 12 đến tháng 4
- So với quần đảo Trường Sa thì Hoàng Sa nằm gần đại lục hơn và vì vậy các trường sóng, gió chịu ảnh hưởng của địa hình các lục địa Trong mùa Đông, sóng Đông Bắc chiếm ưu thế với tần suất 70 - 72% với độ cao cực đại đạt tới 4 - 6 m Các hướng sóng Đông và Bắc có tần suất 10 - 15% và có độ cao cực đại 3 - 4 m Trong mùa hè, hướng sóng Tây - Nam chiếm ưu thế, 53 - 55% Độ cao sóng 3- 4m, chiếm 12% và cực đại 4 - 6 m, chiếm 1 - 2% Sóng hướng Nam chiếm 23 - 25% và
có độ cao cực đại 3 - 4 m Các hướng sóng khác có tần suất thấp và độ cao nhỏ hơn
3 - 4 m
Trong các thời kỳ chuyển đổi mùa, tháng 4 và tháng 10, trong khi ở quần đảo Trường Sa, sóng Đông Bắc có tần suất giảm xuống 20 - 25% thì ở Hoàng Sa hướng sóng này vẫn chiếm ưu thế 50 - 60% và độ cao sóng vẫn có thể đạt tới 4 - 5 m
- Đặc điểm phân bố của trường nhiệt đã được nghiên cứu theo diện và theo chiều sâu Vào mùa hè, nhiệt độ nước biển bề mặt thay đổi trong giới hạn 29oC Mùa Đông, trong dải độ sâu 0 - 10 m trường nhiệt ít biến động với các giá trị 25o
C -
26oC
- Trong mùa hè độ mặn nước biển bề mặt ở vùng quần đảo Hoàng Sa biến đổi phức tạp với các giá trị lớn hơn 34‰ Trong mùa Đông, ở tầng sâu 0 - 10 m độ mặn
Trang 25nước biển có xu hướng tăng dần từ Đông sang Tây, từ các giá trị 33‰ - 34‰ Độ mặn nước biển tăng dần theo độ sâu đạt các giá trị 33.9‰ - 34‰ và 34.5‰ - 34.6‰
ở các độ sâu 50 và 100 m Dưới những độ sâu này, từ 100 - 300 m, độ mặn ít biến đổi và ổn định trong giới hạn 34.5‰ - 34.7‰ Đồng thời trên hầu hết các tầng sâu
xu hướng tăng dần độ mặn từ Đông sang Tây cũng luôn được thể hiện
Hoàng Sa còn có nguồn tài nguyên có thể tái sinh lớn Theo nhà nghiên cứu
La Fontaine, quần đảo là nơi sinh sống của các sinh vật như rùa, chim… và điều thú
vị là các loài này đều có mặt ở Việt Nam, không có nhiều liên hệ với sinh vật ở Trung Quốc Tại đây còn có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồn hải sản phong phú với nhiều loài có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm… Theo các khảo sát về thảo mộc tại Hoàng Sa, hầu hết các loài thảo mộc ở đây đều du nhập từ đất liền của Việt Nam như cây mù u, cây bàng có nhiều ở Cù Lao
Ré Điều này không khó lý giải, vì sử sách thời Nguyễn ghi chép rõ, theo lệnh vua Minh Mạng binh lính Việt Nam đã trồng nhiều cây cối trên hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa, để ngày sau cây cối cao to giúp người đi biển nhận biết mà tránh mắc cạn
1.2.2.3 Đặc điểm địa chất, địa mạo
Quần đảo Hoàng Sa là một thế giới san hô với hơn 100 loài đã tạo thành một phần của vòng cung san hô ngầm dọc bờ biển Đông Nam của lục địa châu Á
Hình thái địa hình các đảo trong quần đảo Hoàng Sa tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc của địa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới Đa số các đảo nổi có
độ cao dưới 10m: đảo Hoàng Sa 9 m, Linh Côn 8.5 m, Hữu Nhật 8 m, Quang Ảnh 6
m Riêng đảo Bạch Quy (Bàn Thạch) đạt độ cao 15 m Phần lớn các đảo có diện tích nhỏ hẹp dưới 1 km2: đảo Quang Ảnh (Tiền) 0.7 km2, Hữu Nhật 0.6 km2, Hoàng Sa 0.5 km2, Quang Hoà (Đun Can) 0.5 km2, Duy Mộng 0.5 km2, đảo Đá 0.4 km2
, riêng đảo Phú Lâm diện tích đạt 1.5 km2
Các đảo nêu trên dù ít hay nhiều đều biểu hiện dạng vành khuyên cổ của các atoll (đảo san hô) Thái Bình Dương Dạng vành khuyên này là kết quả phát triển của san hô cộng với sự lún chìm của vỏ trái đất tại các khu vực đảo
Trang 26Trên thực tế các ám tiêu san hô ở Hoàng Sa phân bố không theo một định hướng rõ rệt: nhóm đảo Lưỡi Liềm kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nhóm đảo An Vĩnh kéo dài theo hướng Bắc Nam, đảo Quang Ảnh hướng Đông Tây, đảo Bạch Quy, Bông Bay có trục kéo dài hướng Tây Nam-Đông Bắc, đảo Chim Én hướng Đông Tây, Linh Côn và bãi ngầm Bình Sơn có hướng Bắc Nam, nhóm đảo
An Vĩnh kéo dài hướng Tây Bắc - Đông Nam
Về mặt hình thái, đảo thường có cấu tạo 3 phần khác nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềm san hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng
- Đảo nổi được cấu tạo từ các vật liệu mảnh vụn san hô và sò ốc, có kích thước khác nhau Độ cao trung bình của đảo thường không vượt quá 10 m so với mực nước triều thấp nhất Đa phần các đảo nổi hiện là những phần nhô cao của các
bờ atoll bao quanh hoặc là các hồ nước, ví dụ : Atoll Bông Bay, Đá lồi, Atoll Duy Mộng
- Các bãi triều (thềm san hô) là hành lang bao quanh đảo có chiều rộng khác nhau từ vài chục đến vài trăm mét thậm chí hàng ngàn mét Khi triều cao bề mặt bãi thường ngập sâu dưới nước từ 1.0 - 1.9 m và chúng chỉ lộ ra khi thủy triều xuống
Bề mặt bãi tương đối thoải, có độ dốc nghiêng từ chân đảo ra phía biển Hệ thống lạch triều ít phát triển vì thành phần vật chất cấu tạo bề mặt chủ yếu là các vật liệu thô cuội, sỏi, tảng, nhiều nơi xuất hiện các bề mặt mài mòn Bãi triều đóng vai trò là một hành lang chắn sóng, làm giảm năng lượng của sóng khi truyền từ biển khơi vào chân đảo
- Sườn bờ ngầm của các đảo thể hiện rất khác nhau, những đảo riêng biệt như Tri Tôn, Đá Bắc, Đá Tây, Đá Nam, ngoài diện tích bãi triều hẹp là chuyển tiếp đột ngột xuống biển sâu 1.000 - 1.500 m bằng một vách dốc 20 - 45o hoặc hơn Đối với các đảo là các atoll điển hình như Đá Lồi, Bông Bay, sườn bờ ngầm phía trong của atoll bao giờ cũng thoải hơn sườn phía biển khơi Các hồ nước nông bên trong atoll
có độ sâu thường từ 5 - 50 m có nơi 70 m là nơi tích tụ các sản phẩm phá huỷ của đảo và do đó sườn bờ ngầm có xu hướng giảm dần độ dốc xuống đáy hồ
- Hồ nước nông hay là vụng nước nông được hình thành do các đảo san hô tạo thàmh các ám tiêu san hô vòng ngăn cách với biển, hoặc chúng chỉ thông với biển bằng các cửa hẹp
Trang 27Ở quần đảo Hoàng Sa, hồ nước nông thường có độ sâu từ 5 - 50 m, diện tích các hồ lớn gấp từ 3 - 5 lần đảo nổi Hồ quanh đảo Hữu Nhật có diện tích tới 150 ha
Do tính chất cô lập với biển khơi nên các hồ và vụng thường lặng sóng, sự trao đổi nước giữa hồ, vụng với biển khơi thông qua cửa thoát triều
Nếu như Biển Đông được coi là "vịnh Ba Tư thứ hai" với trữ lượng dầu khí được Cục Quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA) dự báo là nhiều hơn các nguồn tài nguyên chưa được khai thác của cả Châu Âu thì hầu hết trữ lượng dầu khí đó lại tập trung ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đặc biệt, Hoàng Sa còn được đánh giá là khu vực có tiềm năng về băng cháy (có tên khoa học là Natural hydrate hoặc Gas Hydrate), một nguồn năng lượng có hiệu suất cao, sạch và có khả năng
thay thế các nguồn nhiên liệu hóa thạch truyền thống vốn đã gần cạn kiệt
Trên thực tế, Hoàng Sa có nhiều mỏ phốt - phát có giá trị kinh tế cao Các mỏ này được hình thành từ hỗn hợp chất đất gốc carbonate vôi kết hợp với các chất có gốc axit photphoric từ phân chim trong điều kiện khí hậu ẩm ướt Tầng phốt - phát
có hàm lượng từ 23 - 25% thậm chí 42%, có độ dày đến hơn một mét Từ năm 1924
- 1926, các xí nghiệp Nhật Bản đã khai thác phốt - phát tại một số mỏ Tuy nhiên, trữ lượng phốt phát tại đây vẫn còn khá nhiều
1.2.3 Hệ thống các đảo v nhóm đảo
1.2.3.1 Cụm Lưỡi Liềm
Cụm Lưỡi Liềm có hình cánh cung hay lưỡi liềm, nằm về phíaTây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08 đảo chính là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn và các bãi ngầm, mỏm đá
- Đảo Đá Bắc: có toạ độ địa lý 17o06' 0" vĩ độ Bắc và 111o30' 8" kinh độ Đông
- Đảo Hoàng Sa: nằm ở tọa độ 16o 32' 0" vĩ độ Bắc và 111o36' 7" kinh độ Đông, có hình bầu dục, độ cao 9 m, diện tích 0,5 km2, dài khoảng 950 m, rộng khoảng 650 m, có vòng san hô bao quanh Tuy không phải là đảo lớn nhất nhưng Hoàng Sa là đảo chính của quần đảo, có vị trí quân sự quan trọng nhất cho việc phòng thủ bờ biển Việt Nam Trên đảo Hoàng Sa từng có bia chủ quyền của Việt Nam với dòng chữ khắc trên bia: Ripublique Francise - Empire d' Annam- Archipel
Trang 28des Paracel (Cộng hoà Pháp - Vương triều An Nam - Quần đảo Hoàng Sa) Ngoài ra trên đảo còn có Miếu Bà, một số ngôi mộ của binh lính triều Nguyễn ra canh giữ đảo bị chết tại đây
- Đảo Hữu Nhật: mang tên Đội trưởng của một suất đội thủy quân triều Nguyễn được vua Minh Mạng phái ra Hoàng Sa đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền của Việt Nam Đảo Hữu Nhật nằm về phía Nam và cách đảo Hoàng
Sa 3 hải lý, ở tọa độ 16o 30' 3" vĩ độ Bắc và 111o 35' 3" kinh độ Đông, dáng đảo hình tròn, đường kính 800m, độ cao 8m, diện tích 0,6 km2, có vòng đai san hô bao ngoài, giữa là vùng biển lặng
- Đảo Duy Mộng: nằm về phía Đông Nam đảo Hữu Nhật và phía Đông Bắc đảo Quang Hoà, ở tọa độ 16o27'6" vĩ độ Bắc và 111o44'4" kinh độ Đông, do san hô cấu tạo thành, bãi san hô nằm xa đảo, nhô lên khỏi mặt nước khoảng 4 m, có hình bầu dục, diện tích 0,5 km2
- Đảo Quang Hòa: nằm ở tọa độ 16o 26'9" vĩ độ Bắc và 111o 42'7" kinh độ Đông, do san hô cấu tạo thành, là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm, diện tích gần 0,5 km2, trên đảo có nhiều cây cối, xung quanh đảo là một bãi san hô màu vàng nhạt, nhô ra rất xa đảo, nối với một số đảo nhỏ khác thành đảo Quang Hoà Đông và Quang Hoà Tây
- Đảo Quang Ảnh: mang tên nhân vật lịch sử Phạm Quang Ảnh - Đội trưởng Đội Hoàng Sa thời Nguyễn, theo lệnh vua Gia Long ra Hoàng Sa để thu hồi hải vật Đảo nằm ở tọa độ 16o 27'0" vĩ độ Bắc và 111o 30'8" kinh độ Đông do san hô cấu tạo thành, độ cao 6 m Chung quanh đảo là bờ biển có nhiều đá ngầm sắc nhọn rất nguy hiểm, tàu lớn không thể thả neo gần đảo mà phải neo ở ngoài khơi, muốn vào đảo phải sử dụng thuyền nhỏ Đảo có hình bầu dục, diện tích khoảng 0,7 km2
- Đảo Bạch Quy: nằm ở tọa độ 16o 03'5" vĩ độ Bắc và 111o 46'9" kinh độ Đông, đây là đảo có độ cao 15 m, cao nhất trên quần đảo Hoàng Sa
- Đảo Tri Tôn: nằm ở tọa độ 15o47'2" vĩ độ Bắc và 111o11'8" kinh độ Đông, nằm gần bờ biển Việt Nam nhất, có nhiều hải sâm, ba ba San hô ở đây phát triển mạnh và đa dạng
Trang 29Ngoài ra, ở cụm Lưỡi Liềm còn có một số đảo nhỏ, đá và bãi như: Đảo Ốc Hoa, Đảo Ba Ba, Đảo Lưỡi Liềm, Đá Hải Sâm, Đá Lồi, Đá Chim Én, Bãi Xà Cừ,
Bãi Ngự Bình, Bãi ngầm Ốc Tai Voi
- Đảo Phú Lâm: nằm ở tọa độ 16o50'2" vĩ độ Bắc và 112o20'0" kinh độ Đông,
là đảo quan trọng nhất của cụm đảo An Vĩnh và quần đảo Hoàng Sa, là đảo duy nhất từ xa có thể nhìn thấy được Đảo có chiều dài đến 1,7 km, chiều ngang 1,2 km Trên đảo có nhiều chim biển cư trú nên có một lớp phân chim khá dày, đã từng có một công ty Nhật Bản đến khai thác phân chim tại đây
- Đảo Linh Côn: mang tên một con tàu bị đắm ở đây, có tọa độ 16o 40'3" vĩ độ Bắc và 112o 43'6" kinh độ Đông, cao chừng 8,5 m, trên đảo có nước ngọt Vùng san
hô bao quanh đảo kéo dài về phía Nam đến 15 hải lý
- Đảo Cây: (còn có tên là Cù Mộc) nằm ở tọa độ 16o 59'0" vĩ độ Bắc và
112o 15'9" kinh độ Đông
- Đảo Trung: (còn gọi là đảo Giữa) nằm ở tọa độ 16o 57'6" vĩ độ Bắc và
112o 19'1" kinh độ Đông
- Đảo Bắc: nằm ở tọa độ 16o 58'0" vĩ độ Bắc và 112o 18'3" kinh độ Đông
- Đảo Nam: nằm ở tọa độ 16o 57'0" vĩ độ Bắc và 112o 19'7" kinh độ Đông
- Đảo Đá: nằm ở tọa độ 16o 50'9" vĩ độ Bắc và 112o 20'5" kinh độ Đông, diện tích 0,4 km2
Ngoài các đảo trên, cụm An Vĩnh còn có nhiều đá, bãi và cồn cát khác như:
Đá Trương Nghĩa, Đá Sơn Kỳ, Đá Trà Tây, Đá Bông Bay, Bãi Bình Sơn, Bãi Đèn Pha, Bãi Châu Nhai, Cồn cát Tây, Cồn cát Nam, Hòn Tháp, Bãi cạn Gò Nổi, Bãi Thủy Tề, Bãi Quang Nghĩa
Trang 301.2.4 Vai trò của quần đảo Hoàng Sa v lợi ích chiến lược, kinh tế
1.2.4.1 Lợi ích chiến lược của quần đảo Hoàng Sa
Đối với Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng, chẳng những là vị trí tiền tiêu bảo vệ sườn phía Đông của đất nước, bảo vệ vùng biển và các hải đảo mà còn giống như những chiếc tàu nổi theo dõi các con đường hàng hải quốc tế và các hoạt động của các nước trên vùng biển quốc tế Dường như không vô ích khi nhắc lại rằng nếu Việt Nam ít quan tâm đến việc khai thác lợi ích từ các đảo thuộc Hoàng Sa thì các thế lực khác ở khu vực Viễn Đông nay cũng sẽ thực hiện điều này
Theo thuyền trưởng tàu “La Marne” và Đại úy Kaufman thủ trưởng hàng không quốc gia Pháp, quần đảo Hoàng Sa có vai trò chiến lược lớn: thứ nhất là về vị trí tuyệt vời của các nhóm đảo này trong việc giám sát bờ biển Đông; thứ hai là những lợi ích của những vùng tàu đậu của mặt trong nhóm đảo Lưỡi Liềm, nơi mà một sân bay có thể kết nối một cách thuận lợi tứ giác Fort Bayard - Hà Nội - Đà Nẵng - Hoàng Sa
Không một vùng biển nào trên thế giới với diện tích tương đương 3/4 Địa Trung hải mà lại có tầm mức quan trọng về phương diện giao thông như biển Đông Muốn từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, tàu thuyền phải chạy qua biển Đông Nếu đi vòng sẽ tốn kém và mất thời gian hơn rất nhiều Biển Đông là thủy đạo nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca Mọi di chuyển bằng hàng hải giữa các quốc gia thuộc Vòng đai Thái Bình Dương với vùng Đông Nam
Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải và xuống châu Úc đều thường xuyên đi qua vùng biển này Hoàng Sa là một quần đảo nằm trên thủy lộ đó
Những tranh chấp căng thẳng đã và đang xảy ra tại Hoàng Sa cho thấy việc kiểm soát Hoàng Sa vô cùng quan trọng trong việc nắm quyền kiểm soát thuỷ đạo quan trọng của Đông Nam Á và của thế giới Điều này ảnh hưởng đến quyền tự do hàng hải của tất cả các quốc gia trên thế giới chứ không chỉ liên quan đến lợi ích riêng của các nước tham gia tranh chấp quần đảo Hoàng Sa
Ngoài ra, quần đảo Hoàng Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại Biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm
Trang 31rađa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè Các nhà chiến lược phương Tây cho rằng quốc gia nào kiểm soát được quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sẽ khống chế được cả Biển Đông
1.2.4.2 Lợi ích kinh tế
Khu vực biển đảo Hoàng Sa có tiềm năng lớn về hải sản và trữ lượng dầu khí Việc di chuyển bằng hàng hải giữa các quốc gia thuộc vành đai Thái Bình Dương với vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải và cả châu Úc cũng thường xuyên đi qua khu vực biển này Khu vực biển mà quần đảo Hoàng Sa án ngữ có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của khu vực Đông Nam Á và thế giới qua lại
Bên cạnh đó, khu vực đáy biển của quần đảo Hoàng Sa còn chứa đựng một trữ lượng dầu khí và các mỏ khoáng sản sunphat đa kim, kết nguội sắt mangan Ngoài
ra, phân chim - một loại phôtphat vôi rất tốt có trữ lượng rất lớn (khoảng hơn 10 triệu tấn) cũng là một tài nguyên quý giá Trên các đảo Hoàng Sa còn có nhiều nguồn hải sản khác có giá trị như rùa, đồi mồi, ốc tai vua, ốc hương
Từ khi có sự thăm dò cụ thể dầu khí ở biển Đông, các nước trong khu vực bắt đầu quan tâm nhiều hơn trước, dẫn đến các tranh chấp chủ quyền với Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Trước năm 1957, đã có nhiều công ty nước ngoài khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò ở thềm lục địa Nam Việt Nam, trong đó có hai giếng đã phảt hiện dầu thương mại Vào cuối những năm 1970, có nhiều công ty như Agip (Ý), Diminex (Cộng hòa liên bang Đức), Bow Valley (Canada) đã thăm dò 5 lô dầu ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam Sau đó đến năm 1979, các công ty trên chấm dứt hoạt động Tháng 9 năm 1975, Tổng cục dầu khí Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm và thăm dò dầu khí Trong phạm vi thềm lục địa Việt Nam có nhiều bồn trầm tích đệ tam có triển vọng chứa dầu khí Cho đến cuối những năm 80, trên toàn thềm lục địa Việt Nam mà chủ yếu là ở phía Nam đã khảo sát trên 100km tuyến địa vật lý, khoan thăm giò hàng chục giếng và đã phát hiện được ba mỏ dầu khí là Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng Từ năm 1986, mỏ Bạch Hổ bắt đầu được khai thác, năm 1988 trữ lượng ước tính vào khoảng 113 triệu tấn dầu có khả năng thu
Trang 32triệu tấn nâng tổng số trữ lượng dầu đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 đạt 402 triệu tấn
Việc thăm dò và khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam đã cho thấy tiềm năng triển vọng về dầu khí ở vùng biển này rất lớn
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật mà nhiều tài nguyên thiên nhiên quý giá dần được khai thác từ lòng biển, nhất là khi tài nguyên thiên nhiên trên đất liền ngày càng bị khai thác cạn kiệt, lãnh hải càng ngày càng có thêm giá trị Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tuy diện tích bề mặt nổi trên nước không lớn, song lại rải rác, chiếm diện tích rộng Ai chiếm được nhiều hải đảo thì có thể kiểm soát nhiều lãnh hải và khai thác nhiều tài nguyên dưới lòng biển
Như vậy, cùng với tài nguyên từ lòng biển nhất là dầu khí và nguồn tài nguyên hải sản phong phú, vùng biển đảo Hoàng Sa có lợi ích rất lớn về kinh tế, đặc biệt là việc phát triển tài nguyên dầu khí khi mà vấn đề khai thác nguồn tài nguyên dầu khí trở nên cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước
Trang 33ƢƠ 2: Ó Ó ỦA NHÂN DÂN QUẢNG NAM - NG TRONG VIỆC KHẲ NH VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN HOÀNG SA
2.1 Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt am đối với quần đảo Hoàng Sa
âm lịch vào cửa Eo hay Tư Hiền rồi nộp sản vật tại chính dinh ở Phú Xuân
Đội Hoàng Sa đã hoạt động kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan hay Nguyễn Phúc Tần đến hết thời kì chúa Nguyễn, tất cả là 7 đời chúa, gần một thế kỉ rưỡi Trong suốt thời kì chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một, luôn được quản lý hành chính bởi Thừa tuyên Quảng Nam, Quảng Nghĩa hay Quãng Ngãi lúc là Phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của xứ Đàng Trong tùy theo thời kì lịch sử Quãng Nghĩa (hay Ngãi) có huyện Bình Sơn quản lý xã An Vĩnh
Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay An Nam Lộ đã ghi “Bãi Cát Vàng (Hoàng
Sa) trong phủ Quảng Nghĩa” Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn chép “Hoàng Sa
ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh” Địa Dư
Chí của Phan Huy Chú chép “Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa” Tại phủ Quảng
Nghĩa, nhân dân hai làng An Vĩnh và An Hải đã di dân ra Cù Lao Ré lập hai
Trang 34phường An Hải và An Vĩnh, hai làng này trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa
Khi phong trào Tây Sơn nổi dậy, chúa Nguyễn chạy vào đất Gia Định thì đội Hoàng Sa được đặt dưới sự kiểm soát của nhà Tây Sơn mà trong tài liệu còn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré đã xin chính quyền Tây Sơn cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại Đến những năm cuối cùng của Tây Sơn, hoạt động của đội Hoàng Sa cũng bị ảnh hưởng nên đến khi năm Gia Long thứ 2 (năm 1803) mới cho đội Hoàng Sa hoạt động trở lại
Theo Đại Nam Thực Lục chính biên, đệ nhất kỉ, quyển 52, từ năm 1816 vua Gia Long đã bắt đầu cho thủy binh đi công tác Hoàng Sa, cùng với đội dân binh Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình Sang đến thời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình nhất là cắm mốc chủ quyền chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm thực hiện và thuê thuyền của dân và người lái thuyền ở Quảng Ngãi đi ra Hoàng Sa và trường Sa Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỉ,
quyển 165 chép: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn
phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quãng Ngãi, giao cho hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, thuê bốn chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa” [59, tr.34]
Đo đạc thủy trình hay hải trình là đo đạc đường đi ngoài biển Đây là một trong những nhiệm vụ của Bộ Công cốt để đảm bảo an toàn cho các thuyền bè đi trên biển, trong đó có vùng biển Hoàng Sa Mỗi lần đi đo đạc phải chọn được thợ lái
có năng lực, biết được các nơi đường biển nông sâu, khó dễ, cát ngầm, đá mỏm mà tránh, còn phải biết lấy núi nào làm chuẩn, biết chiều trời, tiết giá để chuyển phương hướng, nên tiến hay dừng Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 220, cũng
chép: “Như trong một năm, sai phái đường bể nhiều lần, được xong xuôi ổn thoả
cả, hoặc trong một lần mà đi ngoại quốc, cũng là không phái ra ngoại quốc mà hằng gặp sóng gió khác thường, thuyền rất nguy khốn, mà tự mình chủ trì tiến ngừng phải tốt, rốt cuộc được xong xuôi yên ổn thì đều là hạng ưu Phàm trong năm ấy sai phái đường bể hai lần, không cứ xa gần, được xong xuôi yên ổn cả thì là hạng bình Sai phi đường bể một lần xong xuôi yên ổn là hạng thứ Phái đi không được xong xuôi yên ổn là hạng liệt” [59, tr 35]
Trang 35Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh Kỹ thuật đo đạc và vẽ bản đồ Hoàng Sa của Việt Nam vào thời kỳ nhà Nguyễn tuy có
kỹ lưỡng, chu đáo hơn trước, song vẫn còn lạc hậu so với kỹ thuật tân tiến của phương Tây lúc bấy giờ, nhất là chưa xác định được toạ độ theo kinh độ và vĩ độ trên toàn địa cầu Vì thế, các hải đồ tuy có nhiều chi tiết, song không phải chỉ có hải
đồ là có thể đi biển chính xác mà lúc nào cũng cần đến những người từng trải đã từng lái thuyền đến các vùng biển đã đi qua Các hải đồ về Hoàng Sa vốn được các giám thành vẽ hoặc được lưu ở vệ giám thành, hoặc ở thủy quân Lực lượng thủy quân làm nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền này là một “lực lượng đặc nhiệm” gồm kinh phái, tỉnh phái và dân binh địa phương trong đó có dân binh Đội Hoàng
Sa Nhiệm vụ của “lực lượng đặc nhiệm” luôn được Hoàng đế Việt Nam theo sát và
ra chỉ dụ cụ thể, nhất là dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho ta thấy nhiệm vụ của lực lượng đặc nhiệm này quan trọng đến chừng nào Các chuyến đi công tác ở Hoàng Sa cũng được tổ chức chuẩn bị kỹ lưỡng Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thủy quân là chính, phối hợp với vệ giám thành và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ, ngoài nhiệm vụ đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ
16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy phía Tây Nam đảo có ngôi
cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình” Như vậy, trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu rồi Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm
Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền Đại Nam thực lục
chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165, cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17
(1836), Bộ công tâu Vua, cứ hàng năm, cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia Mỗi năm cột mốc đều khắc rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy “lực lượng thủy quân đặc nhiệm”, được phụng mệnh ra Hoàng Sa và ghi dấu để nhớ Các vị vua chúa Việt Nam, nhất
là thời vua Minh Mạng, rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần
Trang 36đảo Hoàng Sa Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian, bằng đá
Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu
phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải
đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc" Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của
Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bia khắc những chữ: “Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)” (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).[59, tr.41]
Như thế suốt gần ba thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn, Đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải, đã làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với Hoàng Sa và Trường Sa Những hoạt động này
đã được các văn bản nhà nước như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, bằng cấp hiện đang được lưu giữ tại các Cơ quan lưu trữ có liên quan
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1884 đến năm 1945
Năm 1883 - 1884, với hai Hiệp ước Hác - măng và Pa - tơ - nốt, thực dân Pháp
đã chính thức áp đặt chế độ thuộc địa lên đất nước ta Từ đây, trên thực tế Pháp nắm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam từ đất liền cho đến hải đảo Với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại theo hai Hiệp ước, chính quyền thuộc địa Pháp đã có những hành động cụ thể để củng cố, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Bức thư của lãnh sự Pháp Beauvais ở Quảng Châu gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp ngày 4 tháng 5 năm 1909 đã nêu ý đồ của Trung Quốc xâm phạm chủ
quyền Hoàng Sa của Việt Nam đã viết: "Như tôi đã trình bày với ông khi kết thúc
bản báo cáo gần đây của tôi (số 86 ngày 01/5/1909) về vấn đề các đảo Pratas, vấn
đề này khiến chính phủ Trung Quốc chú ý đến các nhóm đảo khác nằm dọc bờ biển
Trang 37của Thiên Triều và tới một mức độ nhất định có thể được coi như một bộ phận của Thiên triều, trong đó có quần đảo Paracels" [59, tr.44] Năm 1925, theo Khâm Sứ
Trung kỳ LeFol viết trong thư ngày 22 tháng 1 năm 1926 gởi cho Toàn quyền Đông Dương, người Pháp bắt đầu nghiên cứu sâu quá trình xác lập chủ quyền của "vương quốc Việt Nam" tại quần đảo Hoàng Sa, trước khi cử ông Giám đốc Viện Hải dương học và Nghề cá ở Nha Trang - ông M.A Krempt đi thám sát Hoàng Sa Người Pháp cho rằng Hoàng Sa vốn đã thuộc chủ quyền Việt Nam, không cần một hành động chiếm hữu chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa nữa, nên Viện Hải dương học và Nghề cá Nha Trang đã thực hiện cuộc khảo sát đầu tiên năm 1925 bởi tàu khảo sát kéo lưới Chalutier De Lanessan do M.A Krempt, giám đốc, cùng các nhà khoa học như De La Cour, Jabouille Các cuộc khảo sát chủ yếu nghiên cứu về những ám tiêu của các bãi ngầm ở Hoàng Sa Từ đó tác giả đưa ra lập luận giải thích về sự hình thành các ám tiêu cùng với ảnh hưởng của gió mùa
Ngày 8 tháng 3 năm 1925, Toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp
Tiếp sau cuộc khảo sát của Viện Hải Dương học Nha Trang ở quần đảo Hoàng
Sa năm 1925, lực lượng hải quân Pháp lần lượt triển khai quân đội trú đóng ở một
số đảo quan trọng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm 1930 -
1933, đồng thời xâu dựng mạng lưới tổ chức quản lý hành chính trên cả hai quần đảo Riêng đối với quần đảo Hoàng Sa, ngày 15 tháng 6 năm 1932, Pháp thiết lập một đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, lấy tên là Đại lý hành chính Hoàng Sa Đây là đơn vị hành chính ở xa tỉnh lỵ, do Phó Công sứ hoặc
sĩ quan Pháp phụ trách, lực lượng quân đội cai quản Hằng năm, viên đại diện chính quyền Trung ương Nam triều ở Huế chịu trách nhiệm ra kinh lý Hoàng Sa Chế độ phụ cấp và kinh phí trợ cấp cho các viên chức hành chính đại diện và đi kinh lý Hoàng Sa được quy định cụ thể, trích từ ngân sách xứ Trung Kỳ
Với việc thiết lập Đại lý hành chính Hoàng Sa, người Pháp càng quan tâm nghiên cứu và đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hoạt động quản lý ở đó Như vào năm
1937, Pháp cho nghiên cứu khả năng xây dựng một hải đăng trên đảo Hoàng Sa (Pháp gọi là Pattle) là hòn đảo nằm trong quần đảo Hoàng Sa Những thay đổi trong cung cách quản lý của người Pháp đối với quần đảo Hoàng Sa càng đạt đến sự đồng
Trang 38bộ, về phía Nam triều, vào ngày 30 tháng 3 năm 1938, Hoàng đế Bảo Đại kí dụ cho
“tháp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy” Tờ dụ còn nói rõ:
“Các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền
triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam - Ngãi; đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) vẫn để y như cũ, là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam - Ngãi phụ trách Nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải, nên việc giao thông ngày nay có thay đổi; vả lại viên đại diện Chính phủ Nam triều ủy phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đại diện Chính phủ Bảo
hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa thiên thời được thuận tiện hơn” [58, tr.24]
Sau chuyển động của Nam triều, tháng 6 năm 1938, một đơn vị lính bảo an người Việt được của ra trấn đóng các đảo ở Hoàng Sa để quản lý, Pháp xây dựng tại Hoàng Sa một hải đăng, một trạm khí tượng, một trạm vô tuyến TSF (điện báo vô tuyến); trên đảo Phú Lâm (Boisée) cũng đặt một trạm khí tượng Đặc biệt, một tấm bia chủ quyền Pháp - Nam dựng lên trên đảo Hoàng Sa, khó khắc dòng chữ Pháp: République Francaise - Royaume d‟Annam - Archipels des Paracels 1816 - Ýle de Pattle 1938 (Cộng hòa Pháp - Vương quốc Đại Nam - Quần đảo Hoàng Sa 1816 - Đảo Hoàng Sa 1938) Tiếp đó, Pháp quy định quản lý cụ thể hơn rằng việc thành lập hai đại lý hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên là Đại lý hành chính Nguyệt Thiềm và phụ cận và Đại lý hành chính An Vĩnh và phụ cận Những phái viên hành chính đứng đầu hai đại lý này với tư cách đại diện của Công sứ Pháp tại tỉnh Thừa Thiên đóng trụ sở tại đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm
Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản đã rắp tâm biến các quần đảo trong Biển Đông trở thành bàn đạp để mở rộng sự chiếm đóng của mình xuống khu vực Đông Nam châu Á, ngày 31 tháng 3 năm 1939, Nhật tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong Biển Đông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng Ngày 4 tháng 4 năm 1939, Chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật và bảo lưu các quyền của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngày 26 tháng 11 năm 1943, Tuyên bố Cairo về việc kết thúc chiến tranh với Nhật
và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước khác bị
Trang 39quân Nhật chiếm đóng: „Mục đích của 3 nước là Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các quần đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật Bản đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914… Ngày 26 tháng 8 năm 1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đế quốc Nhật sau một thời gian chiếm đóng trên quần đảo Hoàng Sa đã phải rút lui Tuy nhiên, vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26 tháng 10 năm 1946, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các Bộ và 59 binh sĩ cảnh vệ của Hải quân lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa
Ngày 13 tháng 1 năm 1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa; trong đó, Pháp đã nêu lên những bảo lưu về hậu quả pháp lý từ việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của quân đội Trung Hoa Dân Quốc, đồng thời nhắc lại đề nghị tìm giải pháp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài quốc tế và ngày 17 tháng 10 năm 1947 thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Trung Quốc rút khỏi đảo Phú Lâm Pháp gửi một phân đội lính, gồm 10 lính Pháp và 17 lính Việt Nam đổ bộ đóng một đồn ở đảo Hoàng Sa và quyết định lập đài khí tượng trên đảo này Chính phủ Trung Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành
từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947 tại Paris Tại đây, chính phủ Trung Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ Trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề nghị
Tháng 4 năm 1950, quân lính Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi hết quần đảo Hoàng Sa Ngày 14 tháng 10 năm 1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa Ngày 7 tháng 9 năm
1951, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại tuyên bố
Trang 40hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Và cũng vì cần
phải lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa), tạo thành một bộ phận của Việt Nam”, và
không có ý kiến phản đối nào từ Trung Quốc
Việc Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20 tháng 7 năm
1954, buộc quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam tháng 4 năm 1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) và Philippines, cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam Cộng hòa đã tích cực tổ chức các hoạt động nhằm quản lý và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Ngày
22 tháng 8 năm 1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để chiếm giữ, bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa, như: Tổ chức đoàn nghiên cứu thủy văn do Saurin dẫn đầu; cho phép
kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa Từ năm 1957,
Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã cử một đại đội thủy quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn
142 Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm
ban hành sắc lệnh số 174 NV, trong đó ấn định: “Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh
Quảng Nam Một đơn vị hành chính xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập
và lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang, xã Định Hải đặt dưới quyền một phái viên hành chính” Ngày 11 tháng 4 năm 1967, Việt Nam Cộng hòa
ban hành Nghị Định số 809 - NĐ - DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức Phái viên hành chính xã Định Hải,quận Hòa Vang, Quảng Nam [59, tr.55]
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC tại Manila, Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 20 tháng 1 năm 1974, trận hải chiến giữa lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và lực lượng Hải, Lục, Không quân, Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa, xảy