Các viện bảo tàng tại Đà Nẵng mang đến cho du khách một cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa, tiến trình lịch sử của Đà Nẵng và các địa phương lân cận.. Các công trình nghiên cứu đánh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Lời cảm ơn!
Để hoàn thành nội dung khóa luận tốt nghiệp, trước hết tôi xin bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc đến Th.s Ngô Thị Hường, là người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi từ lúc bắt đầu cho đến khi hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Lịch sử đã giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi góp phần hoàn thành đề tài Xin góp phần cảm ơn Ban quản lý Bảo tang Nghệ thuật Điêu khắc Chăm, Bảo tang Đà Nẵng, Bảo tàng Đồng Đình, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu V đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc thu thập các tài liệu, tư liệu cần thiết để thực hiện và hoàn thành
Một lần nữa tôi xin cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 05/2016
Sinh viên Đoàn Thị Hồng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Các công trình đánh giá của khách du lịch tại bảo tàng ở Việt Nam 2
2.2 Các công trình nghiên cứu đánh giá của khách du lịch về các bảo tàng ở Đà Nẵng ……… 3
3.Mục đích nghiên cứu 4
4.Nội dung nghiên cứu 5
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5.1.Đối tượng nghiên cứu 5
5.2.Phạm vi nghiên cứu 5
6.Phương pháp nghiên cứu 5
6.1.Phương pháp luận 5
6.2.Phương pháp cụ thể 5
Trang 47.Nguồn tư liệu
6
8.Đóng góp của đề tài 6
9.Cấu trúc của đề tài 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG BẢO TÀNG ĐÀ NẴNG 8
1.1.Khái quát về bảo tàng 8
1.1.1 Khái niệm bảo tàng 8
1.1.2 Phân loại bảo tàng 11
1.1.3 Bảo tàng và du lịch 12
1.1.3.1 Tác động tích cực 14
1.1.3.2 Tác động tiêu cực 15
1.1.4 Tiêu chí đánh giá bảo tàng 16
1.2 Tổng quan hệ thống bảo tàng tại Đà Nẵng 18
1.2.1 Bảo tàng Đà Nẵng 18
1.2.1.1 Lịch sử hình thành 18
1.2.1.2 Cơ cấu bảo tàng 19
1.2.1.3 Thống kê lượt khách tham quan 21
1.2.2 Bảo tàng nghệ thuật Điêu khắc Chăm 22
1.2.2.1 Lịch sử hình thành 22
Trang 51.2.2.2 Cơ cấu bảo tàng 23
1.2.2.3 Thống kê lượt khách và doanh thu 25
1.2.3 Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Quân khu V 26
1.2.3.1 Cơ cấu bảo tàng 26
1.2.3.2 Thống kê lượt khách tham quan 27
1.2.4 Bảo tàng Đồng Đình 28
1.2.4.1 Cơ cấu bảo tàng 28
1.2.4.2 Thống kê lượt khách và doanh thu 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CỦA KHÁCH DU LỊCH VỀ HỆ THỐNG BẢO TÀNG TẠI ĐÀ NẴNG 32
2.1 Đối tượng khách tham quan 32
2.2 Đánh giá của khách du lịch về các bảo tàng tại Đà Nẵng 35
2.2.1 Đánh giá của khách du lịch về hệ thống kiến trúc 35
2.2.1.1 Quan điểm về giá trị thẩm mỹ 36
2.2.1.2 Quan điểm về các công trình phụ đi kèm 38
2.2.1.3 Quan điểm về kiến trúc gắn liền với nội dung được bảo tàng thể hiện 38
2.2.2 Đánh giá của khách du lịch về không gian bảo tàng 41
2.2.3 Đánh giá của khách du lịch về hệ thống hiện vật 43
2.2.4 Đánh giá của khách du lịch về công tác trưng bày 47
2.2.5 Đánh giá của khách du lịch về đội ngũ nhân viên thuyết minh 50
Trang 62.2.6 Các dịch vụ đi kèm 54
2.3 Đánh giá chung 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH KHI ĐẾN VỚI CÁC BẢO TÀNG ĐÀ NẴNG 58
3.1 Cơ sở đề ra giải pháp 58
3.2 Giải pháp cụ thể 62
3.2.1 Nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 62
3.2.2 Đổi mới, hiện đại hóa cách trưng bày và bảo quản hiện vật 63
3.2.2.1 Công tác trưng bày 63
3.2.2.2 Công tác bảo quản hiện vật 65
3.2.3 Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên 66
3.2.4 Xây dựng các hoạt động tại bảo tàng 68
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượng khách tham quan bảo tàng Đà Nẵng 21
Bảng 1.2 Thống kê số lượt khách và doanh thu bảo tàng 25
Bảng 1.3 Thống kê số lượt khách tham quan tại bảo tàng Quân khu V 27
Bảng 1.4 Thống kê số lượng khách tham quan và doanh thu bảo tàng Đồng Đình 30
Bảng 2.2 Số phiếu khảo sát tại các bảo tàng 32
Bảng 2.2 Nghề nghiệp của khách du lịch tại bảo tàng Đà Nẵng 33
Bảng 2.3 Nghề nghiệp của khách du lịch tại bảo tàng Đồng Đình 33
Bảng 2.4 Nghề nghiệp của khách du lịch tại bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm 34
Bảng 2.5 Nghề nghiệp của khách du lịch tại bảo tàng Quân khu V 35
Bảng 2.6 Đánh giá của khách du lịch về các công trình phụ đi kèm 38
Bảng 2.7 Đánh giá của du khách về không gian có sự kết cấu hài hòa, gần gũi và thống nhất 41
Bảng 2.8 Đánh giá của khách du lịch về quan điểm các kỹ thuật trưng bày như ánh sáng, màu sắc, nội dung hợp lý và bắt mắt 49
Bảng 2.9 Đánh giá của khách du lịch về quan điểm công tác thuyết minh gắn liền với nội dung và chủ đề của chuyên đề trưng bày 51
Bảng 2.10 Đánh giá của khách du lịch về dịch vụ đi kèm đa dạng, dễ tiếp cận 55
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Đánh giá của du khách về yếu tố thẩm mỹ của công trình 36 Biểu đồ 2.2 Kiến trúc gắn liền với nội dung được bảo tàng thể hiện 39 Biểu đồ 2.3 Đánh giá của khách du lịch về quan điểm hiện vật tại bảo tàng phong phú, đa dạng, giúp hiểu rõ về giá trị chung của bảo tàng 44 Biểu đồ 2.4 Đánh giá của khách du lịch về quan điểm công tác trưng bày hiện vật hấp dẫn, thu hút người xem 48 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của khách du lịch về quan điểm cán bộ thuyết minh có kiến thức vững chắc, gắn bó với công việc 53
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước khi đời sống của con người ngày được nâng cao Trong những năm gần đây du lịch Việt Nam đã góp phần lớn trong sự tăng trưởng kinh tế,
trở thành vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
Nhu cầu du lịch của con người là đa dạng, do đó loại hình du lịch cũng đa dạng theo để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Ngoài những loại hình du lịch tìm về với thiên nhiên thu hút thu khách bởi sự gần gũi, hoang sơ thì loại hình du lịch nhân văn cũng thu hút du khách bởi sự đa dạng, phong phú và mang tính truyền thống
Việt Nam có bề dày lịch sử lâu dài trong dựng nước và giữ nước, có nền văn hóa phong phú đa dạng Điều này được thể hiện qua hệ thống các di tích lịch sử văn hóa, hệ thống các bảo tàng thông qua những tài liệu, ghi chép, hiện vật được lưu trữ cho tới ngày nay
Bảo tàng là cầu nối giữ quá khứ và hiện tại, là nơi hội tụ, tập trung và thể hiện trực quan nhất về các sự kiện lịch sử quan trọng và văn hóa của địa phương hoặc quốc gia, dân tộc Đến với bảo tàng du khách sẽ có cái nhìn tổng thể về lịch
sử, văn hóa, phong tục tập quán của vùng đất đó Ở Việt Nam, bảo tàng là điểm tham quan du lịch hấp dẫn đối với khách du lịch đặc biệt là du khách quốc tế Hằng năm có hàng triệu khách du lịch đến với các bảo tàng trên khắp cả nước đem lại không chỉ giá trị về mặt tinh thần, hình ảnh cho đất nước mà còn là một kênh để mang lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp không khói
Tuy nhiên một vấn đề được đặt ra là trong khi các bảo tàng của các nước trên thế giới mỗi ngày thu hút hàng vạn lượt khách nhưng các bảo tàng lớn của nước ta
số lượng khách đến tham quan vẫn còn ít và không chung thủy, phần lớn du khách chỉ đến một lần và không trở lại Việc tìm hiểu đánh giá của khách du lịch về bảo tàng là rất quan trọng nhằm biết được cách nhìn nhận, thị hiếu và mong muốn của
Trang 11du khách Từ đó các ban quản lý sẽ đưa ra các giải pháp để tạo ấn tượng với du khách, đưa các giá trị được lưu giữ tại bảo tàng đến với mọi người
Du lịch Đà Nẵng ngoài các danh thắng kỳ thú thì các bảo tàng cũng là nơi đặt chân của du khách Các viện bảo tàng tại Đà Nẵng mang đến cho du khách một cái nhìn tổng quát về đời sống văn hóa, tiến trình lịch sử của Đà Nẵng và các địa phương lân cận Bảo tàng được đưa vào du lịch có sức hấp dẫn lớn với du khách mang lại hiểu quả du lịch cao Việc nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá đúng cách nhìn nhận những giá trị, sở thích và ý kiến của khách du lịch về các bảo tàng Đà, từ
đó đưa biện pháp để gìn giữ những giá trị một cách hiệu quả, phát triển bảo tàng và giới thiệu rộng rãi trên thế giới về hình ảnh của địa phương, đất nước Xuất phát từ
những lí do đó tôi chọn đề tài “Đánh giá của khách du lịch về hệ thống bảo tàng tại Đà Nẵng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình đánh giá của khách du lịch tại bảo tàng ở Việt Nam
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, nhưng những đề tài đánh giá của du khách về một điểm du lịch còn khá ít Do đó, việc tìm hiểu các công trình liên quan đến đề tài rất khó khăn, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:
Trong công trình “Đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa đối với du lịch tỉnh Sóc Trăng” của ba tác giả Đinh Công Thành, Phạm Lê Nhung và
Trương Quốc Trưởng tại trường đại học Cần Thơ, được đăng trong tạp chí Khoa học 2011:20a 199-209 Công trình đã nghiên cứu, điều tra đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa với nhiều thang bậc khác nhau, giúp hiểu rõ hơn thực trạng du lịch của tỉnh Sóc Trăng Ngoài ra, công trình này cũng đã đề xuất ra những giải pháp hiệu quả thu hút khách du lịch Tuy nhiên, công trình chỉ dừng lại ở mức
độ đánh giá sự hài lòng của du khách mà chưa đi sâu và nghiên cứu nguyện vọng, nhu cầu để có thể đề ra những giải pháp đáp ứng nhiều đối tượng khách khác nhau
Trang 12của nhiều bảo tàng Công trình cũng đã đưa ra những giải pháp hợp lý, hiệu quả và những mục tiêu để thu hút sự quan tâm của khách
Công trình “Nghiên cứu đổi mới trưng bày và giới thiệu của Bảo tàng Lịch sử quốc gia” của tác giả Nguyễn Văn Cường đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất
lượng và hiệu quả trưng bày của bảo tàng
Khóa luận tốt nghiệp “Bảo tàng Hải Phòng trong phát triển du lịch thành phố” của Đoàn Thị Tuyết Anh Phần nội dung của khóa luận đã trình bày được
phương thức hoạt động của bảo tàng, vai trò của bảo tàng đối với du lịch Đồng thời cũng đã đưa ra những biện pháp nâng cao hoạt động của bảo tàng trong việc tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền thống, định hướng vào việc phát triển du lịch
Khóa luận “Bảo tàng Bắc Ninh trong phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Trung Hiếu thuộc trường Đại học Văn hóa Hà Nội, đây
cũng là một công trình nghiên cứu thành công về vấn đề này Khóa luận đã làm rõ mối quan hệ giữa du lịch văn hóa và bảo tàng Công trình còn đưa ra những nguyên nhân về sự hấp dẫn của bảo tàng đối với khách du lịch, những ý kiến để phát triển hoạt động du lịch của địa phương
2.2 Các công trình nghiên cứu đánh giá của khách du lịch về các bảo tàng ở Đà Nẵng
Các bảo tàng tại Đà Nẵng được đưa vào du lịch và khái thác có hiệu quả, việc nghiên cứu đánh giá của khách du lịch thực hiện ở bốn bảo tàng tại Đà Nẵng bao gồm, bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm (bảo tàng Chăm), bảo tàng Đà Nẵng, bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Quân khu 5 (bảo tàng Quân khu V) và bảo tàng Đồng Đình Với mỗi bảo tàng du khách sẽ có những đánh giá khác nhau, đề tài này chưa có công trình nào nghiên cứu, do vậy tác giả chọn những bài viết, công trình
Trang 13thường xuyên khi đi du lịch, hình thức đi du lịch, thời gian lưu trú của du khách, các điểm tham quan, sử dụng các dịch vụ du lịch và dịch vụ hỗ trợ, chi tiêu của du khách Đánh giá của du khách về điểm đến Đà Nẵng như: phong cảnh thiên nhiên, môi trường, dịch vụ và con người Mức độ hài lòng chung của du khách sau khi du lịch Đà Nẵng Đưa ra những giải pháp để đáp ứng được nhu cầu của từng đối tượng khách khi đến Đà Nẵng Đề tài cũng đã đánh giá được mức độ quan tâm của khách
du lịch nội địa đối với một số bảo tàng Đà nẵng như bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm ở mức độ cao, đặc biệt là du khách quốc tế, bảo tàng Đà Nẵng ở mức độ trung bình
Bài viết “Để du lịch Đà Nẵng phát triển” được đăng trên báo Đà Nẵng đã đưa
ra những giải pháp cần thiết để phát triển du lịch tại các bảo tàng tại Đà Nẵng Bài viết cũng đã chỉ rõ vai trò của các bảo tàng trong phát triển du lịch của thành phố
Bài viết “Để du lịch Đà Nẵng cất cánh” của tác giả Phan Tiến Dũng đã
khẳng định tiềm năng quan trọng của du lịch văn hóa thành phố Đà Nẵng trong đó
có các bảo tàng Ngoài ra bài viết còn cho rằng những bảo tàng tại Đà Nẵng có sức hút mạnh mẽ đối với khách du lịch trên thế giới, là điểm đến quan trọng không thể
bỏ qua trong hành trình
Bài viết “Giải pháp thu hút khách đến bảo tàng” của tác giả Văn Thắng đã
thống kê số lượng du lịch đến tham quan bảo tàng Bên cạnh đó đưa ra những thế mạnh mà bảo tàng có thể thu hút khách du lịch
Bài viết “Thực trạng sản phẩm du lịch thành phố Đà Nẵng với khả năng liên kết phát triển du lịch vùng duyên hải miền Trung” của tác giả Phùng Tấn Viết đã
đưa ra lợi thế của du lịch Đà Nẵng là loại hình du lịch văn hóa trên cơ sở hệ thống các bảo tàng, khẳng định vai trò của bảo tàng trong sự phát triển du lịch của thành phố
Trang 14thức trưng bày, trình bày nội dung, đa dạng hóa hoạt động của bảo tàng nhằm lưu giữ những giá trị truyền thống, phục vụ công chúng, mở rộng giao lưu hợp tác quốc
tế và góp phần vào sự phát triển du lịch ở thành phố, quốc gia
4 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan bảo tàng Đà Nẵng về lịch sử hình thành, kiến trúc không gian và cách thế hiện trình bày hiện vật
Đánh giá ý kiến, nhận định của khách du lịch tham quan tại bảo tàng trên tất
cả các phương diện
Đưa ra những đề xuất, giải pháp để lưu giữ, phát triển và giới thiệu bảo tàng
ra thế giới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá của khách du lịch về bốn bảo tàng tại Đà Nẵng bao gồm: Bảo tàng
Đà Nẵng, bảo tàng Điêu khắc Chăm, bảo tàng Quân khu 5 và bảo tàng Đồng Đình
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian bao gồm những bảo tàng trên địa bàn Đà Nẵng
Phạm vi thời gian thực hiện đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền giã: Đi đến các bảo tàng đề điều tra thu thập ý kiến đánh giá của du khách dựa trên những tiêu chí trong bảng hỏi
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các lãnh đạo, chính quyền, các cán
bộ nghiên cứu du lịch là những kinh nghiệm quý báu vận dụng vào quá trình nghiên cứu Công việc này giúp rút ngắn quá trình điều tra
Trang 15Phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết: Sau khi thu thập thông tin về hoạt động du lịch và đánh giá của khách du lịch về các bảo tàng Đà Nẵng dùng phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết để sắp xếp tài liệu thành một hệ thống logic chặt chẽ theo từng mặt giúp cho việc xử lý thông tin nhanh gọn và dễ dàng hơn
Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác
7 Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi có sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
- Tư liệu thành văn:
+ Các bài viết trên sách báo, tạp chí
+ Sách chuyên ngành
+ Khóa luận tốt nghiệp
+ Nguồn tư liệu trên Internet
- Tư liệu thực địa: Nguồn tư liệu lấy từ ban quản lý bảo tàng và du khách tham quan Ngoài ra, thông qua quá trình điều tra tiếp xúc thực tế giúp tôi có cái nhìn chính xác, sâu sắc và chân thực nhất về những vấn đề có liên quan đến đề tài
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài đóng góp một cái nhìn cụ thế, chân thực sự phát triển của bảo tàng thông qua ý kiến đánh giá của khách du lịch, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp hợp lý để lưu trữ, phát triển và giới thiệu bảo tàng đến các bạn bè năm châu Ngoài
ra đề tài có thể làm tài liệu thao khảo cho ban quản lý có quan tâm, bên cạnh đó còn cung cấp nguồn tài liệu phong phú, cung cấp kiến thức chuyên ngành bổ ích cho sinh viên ngành Việt Nam Học
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1 Khái quát hệ thống bảo tàng Đà Nẵng
Chương 2 Đánh giá của du khách về bảo tàng Đà Nẵng
Trang 16Chương 3 Giải pháp nâng cao sự hài lòng của du khách khi đến với các bảo tàng Đà Nẵng
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG BẢO TÀNG ĐÀ NẴNG
1.1.Khái quát về bảo tàng
1.1.1 Khái niệm bảo tàng
Thuật ngữ bảo tàng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “mouseion” Mouseion là tên
của một thung lũng nhỏ nằm giữa hai ngọn núi Panasse và Helicon ở thủ đô Aten
Hy Lạp thời cổ đại con người đã bắt đầu có những hoạt động thu thập cất giữ các đối tượng khác nhau trong thiên nhiên và trong đời sống xã hội, để làm bằng chứng cho một sự kiện nào đó, hoặc nhằm đáp ứng những nhu cầu về thẩm mỹ, tình cảm, hoạt phục vụ mục đích chính trị nhất định Cho đến này có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo tàng:
Hội đồng Bảo tàng thế giới (ICOM) định nghĩa bảo tàng như sau:
“Bảo tàng là một tổ chức (cơ quan) không lợi nhuận, tồn tại lâu dài để phục
vụ cho sự phát triển của xã hội, mở rộng đón nhận công chúng Bảo tàng thu thập, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và tuyên truyền nhằm mục đích giáo dục, học tập
và thưởng thức Bảo tàng là một bằng chứng vật chất xác thực về con người và môi trường xung quanh con người”.[20]
Định nghĩa này có thể thích ứng với mọi bảo tàng không tính đến giới hạn tính chất của cơ quan lãnh đạo bảo tàng, đặc điểm vùng lãnh thổ, cơ cấu mang tính chức năng hoặc phương hướng của các sưu tập hiện vật của mỗi bảo tàng
Cùng với các cơ quan được chỉ định rõ là “các bảo tàng”, định nghĩa này có
mục đích chỉ các cơ quan có những đặc tính sau đây giống như những đặc tính của
“bảo tàng”:
- Các công trình và địa điểm tự nhiên, địa điểm khảo cổ và dân tộc học của một bảo tàng tự nhiên, có nhiệm vụ thu nhận, bảo quản và tuyên truyền các nhân chứng vật chất về con người và môi trường xung quanh con người
- Các cơ quan lưu trữ và trưng bày mẫu thực vật, động vật sống, chẳng hạn các khu vực thực vật và vườn thú, khu thủy sinh hay các khu nuôi dưỡng thú tự nhiên khác
- Các trung tâm khoa học và mô hình vũ trụ
Trang 18- Các học viện bảo quản và Gallery trưng bày cố định do các thư viện và trung tâm lưu trữ quản lý
- Các khu bảo tồn tự nhiên
- Các cơ quan khác như Ủy ban điều hành, sau khi Ban cố vấn thông báo kết quả xem xét, được công nhận có một số hoặc tất cả các đặc trưng của một bảo tàng, hoặc có sự hổ trợ cho các bảo tàng và cán bộ bảo tàng qua các hoạt động nghiên cứu, giáo dục hoặc đào tạo chuyên ngành bảo tàng học
Định nghĩa của hiệp hội Bảo tàng Anh (The Museum Association United Kingdom):
“Bảo tàng là cơ quan thu thập, lập hồ sơ (tư liệu), trưng bày và giới thiệu những bằng chứng vật chất và những thông tin đi kèm với nó vì lợi ịch xã hội”.[16]
Định nghĩa của Hiệp hội các Bảo tàng Mỹ (The American Association of Museums):
“Bảo tàng là một cơ quan thành lập hợp thức, hoạt động lâu dài và không có lợi nhuận, không chỉ nhằm mục đích thực hiện các chương trình đương đại, được miễn thuế thu nhập quốc gia và liên bang, mở cửa đón công chúng Có mục đích bảo quản bà bảo tồn nghiên cứu, giới thiệu, tập hợp và trưng bày có hướng dẫn phục vụ cho nhu cầu thưởng thức của người xem Những hiện vật trưng bày phải có giá trị văn hóa và giáo dục, bao gồm những tác phẩm nghệ thuật, những công trình khoa học (cả hiện vật gốc và những hiện vật vô tri vô giác), những hiện vật lịch sử
và những hiên vật khoa học ứng dụng”[1] Do vậy các bảo tàng sẽ bao gồm cả
những khu vườn thực vật, những sở thú, những khu thủy sinh, các cung thiên văn, những di tích và những tòa nhà lịch sử hay lịch sử xã hội,…đáp ứng những nhu cầu đưa ra ở trên
Ở Việt Nam bảo tàng được hiểu như sau:
Theo Điều 47 của Luật di sản văn hóa công bố năm 2001, khái niệm bảo tàng
dược định nghĩa “Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập lịch sử, tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân”[15]
Trang 19Từ khái niệm trên, có thể khẳng định bảo tàng ở Việt Nam hiện nay là nơi thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng, đó là bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật không chỉ liên quan đến lịch sử xã hội mà còn liên quan đến cả lịch sử tự nhiên Tuy nhiên, đó chỉ là quy định về bảo tàng một cách chung chung, còn trong thực tế tùy thuộc vào từng nội dung chủ đạo của từng bảo tàng mà việc thực hiện việc bảo quản
và trưng bày hiện vật về lịch sử tự nhiên hay lịch sử xã hội (ngoại trừ bảo tàng tổng hợp ở các địa phương nhất thiết phải thực hiện cả hai lĩnh vực trên)
Quy chế tổ chức và hoạt động của các bảo tàng do Bộ trưởng Bộ Văn hóa –
Thông tin ban hành năm 1998 định nghĩa: “Bảo tàng là một thiết chế văn hóa có chức năng nghiên cứu và giáo dục khoa học thông qua hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền và phát huy tác dụng của các di tích lịch sư – văn hóa và thiên nhiên phù hợp với loại hình, tính chất và nội dung của bảo tàng”.[15]
Theo đó với tư cách là một thiết chế văn hóa các bảo tàng phải thực hiện hai chức năng quan trọng và mang tính truyền thống, đó là nghiên cứu khoa học và giáo dục khoa học Muốn hoàn thành được hai chắc năng trên, các bảo tàng phải thực hiện các nhiệm vụ cần thiết như: Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê và đặc biệt phải tiến hành khảo sát tốt các di sản văn hóa để chúng có thế tồn tại với thời gian nhằm phục
vụ các lợi ích của xã hội Tuy nhiên, bảo quản và giữ gìn tốt các di sản văn hóa là điều cần thiết nhưng chưa đủ, có điều quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để mọi người biết được các di sản văn hóa đó có giá trị như thế nào, hay nói cách khác
là phải làm thế nào để công chúng hiểu được giá trị của các di sản văn hóa nói chung và hiện vật bảo tàng nói riêng Để thực hiện được điều đó, nhất là trong bối cảnh toàn cần hóa về nhiều mặt như hiện nay thì các bảo tàng phải đa dạng các hình thức trưng bày theo hướng quan tâm đến công chúng, đồng thời chủ động tiến hành tuyên truyền, quảng bá dưới nhiều hình thức khác nhau để công chúng đến với bảo tàng càng ngày càng nhiều hơn
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Bảo tàng là cơ quan sưu tầm, trưng bày tài liệu hiện vật, di tích lịch sử tự nhiên, văn hóa vật chất và tinh thần của một
Trang 20tộc người, một đất nước, một ngành, một thời đại để mọi người hiểu và để giáo dục truyền thống”.[15]
1.1.2 Phân loại bảo tàng
Trong thực tế, các bảo tàng khác nhau về loại hình, đặc điểm và nhiệm vụ cụ thể do xã hội quy định Trong hoạt động của mình, mỗi bảo tàng có quan hệ trực tiếp tới một ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật cụ thể Các ngành đó không hoàn toàn giống nhau, nên nội dung và hình thức hoạt động của các bảo tàng cũng khác nhau
Phân loại theo các sưu tập:
- Các bảo tàng tổng hợp
- Các bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Khảo cổ học, bảo tàng nghệ thuật, Bảo tàng lịch sử và xã hội, Bảo tàng dân tộc học, các bảo tàng quân đội…
Phân loại theo đối tượng chủ quan:
- Các bảo tàng trung ương
- Các bảo tàng địa phương
- Các bảo tàng của trường đại học
- Các bảo tàng quân đoàn
- Các bảo tàng tư nhân hoặc hoạt động độc lập
- Các bảo tàng của các cơ quan thương mại
Phân loại theo phạm vi mà bảo tàng bao quát
- Các bảo tàng quốc gia
- Các bảo tàng vùng
- Các bảo tàng địa phương
Phân loại theo đối tượng khách tham quan bảo tàng
- Các bảo tàng giáo dục
- Các bảo tàng chuyên ngành
- Các bảo tàng phục vụ khách tham quan nói chung
Phân loại theo các phương pháp trưng bày sưu tập của bảo tàng
- Bảo tàng truyền thống
- Bảo tàng ngoài trời
Trang 21- Các bảo tàng là các tòa nhà, các bảo tàng lịch sử
Trong cuốn “Tìm hiểu quy định về pháp luật di sản văn hóa”, Bảo tàng Việt
vụ cán bộ nghiên cứu của cơ quan mình, và cán bô nghiên cứu của một số ngành khoa học hữu quan Sự khác biệt về chức năng xã hội của các bảo tàng biểu hiện qua việc sắp xếp hiện vật trong phần trưng bày Có bảo tàng trưng bày theo hệ thống Có bảo tàng trưng bày theo chuyên đề Có bảo tàng kết hợp cả hai nguyên tắc trưng bày trên
Như vậy, căn cứ vào nội dung và hình thức hoạt động của các bảo tàng, có thể phân chia bảo tàng thành hai loại cơ bản gồm: loại hình bảo tàng khoa học tự nhiên và loại hình bảo tàng khoa học lịch sử
Loại hình bảo tàng khoa học tự nhiên gồm các bảo tàng tương ứng với các ngành khoa học tự nhiên như: bảo tàng động vật học, thực vật học, địa chất học,…
Loại hình bảo tàng khoa học lịch sử gồm các bảo tàng liên quan đến các ngành khoa học xã hội như bảo tàng Lịch sử, bảo tàng Cách mạng, bảo tàng Quân đội, bảo tàng Dân tộc học, bảo tàng kỹ thuật,…
1.1.3 Bảo tàng và du lịch
Sự ra đời của bảo tàng là một tất yếu, nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của
xã hội Con người đến với bảo tàng là để nâng cao kiến thức phổ thông, nghiên cứu
Trang 22khoa học hay chỉ vì mục đích giải trí, nhưng tất cả là đều tìm về quá khứ, hướng tới cội nguồn, tự hào về lịch sử, văn hóa, con người của dân tộc
Mặc khác, bảo tàng không chỉ thỏa mãn nhu cầu cần thiết của con người mà còn là một trong những tài nguyên quan trọng trong phát triển du lịch Những bảo tàng đã và đang được khai thác cho hoạt động du lịch và trở nên hiệu quả Ở nước ta bảo tàng là một trong những địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách quốc tế, nhất là khách Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Bắc Á… Trong các chương trình du lịch, bảo tàng là một điểm đến không thể thiếu, thu hút khách du lịch và đem lại nguồn thu lớn cho bảo tàng
Một số quốc gia có nhiều bảo tàng cho thấy được truyền thống lịch sử văn hóa, nghệ thuật, công nghệ của mình sẽ được các du khách nước ngoài trân trọng hơn Những đất nước như Nhật Bản, Ý, Đức, Pháp hay Anh… đã tạo ra được ấn tượng về một nền văn hóa vĩ đại chính nhờ các bảo tàng Và đó cũng là lý do Bảo tàng Dân tộc học trở thành địa điểm thu hút khách du lịch mạnh mẽ nhất và không thể thiếu trong chương trình du lịch tham quan tại Hà Nội
Bảo tàng gắn với du lịch, phục vụ du lịch và cũng để tự phát triển mình, đó là phương thức hoạt động phổ biến hiện nay ở khắp các bảo tàng trên thế giới Đó là
sự cộng sinh hữu hiệu, đem lại không chỉ giá trị về tinh thần, hình ảnh cho đất nước
mà còn đem lại một nguồn lợi nhuận đáng kể
Việt Nam đang là điểm đến hấp dẫn thu hút bạn bè quốc tế, lý do thu hút khách du lịch chính là hàng hóa dịch vụ thấp, phong cảnh thiên nhiên đẹp, văn hóa phong phú, đa dạng, du lịch mạo hiểm đặc sắc và con người thân thiện Ngày nay, những người làm du lịch đang cố gắng đưa hình ảnh của Việt Nam ra thế giới không chỉ về vẻ đẹp tự nhiên mà vẻ đẹp về văn hóa dân tộc cũng mang những giá trị lớn, và điều đó được thể hiện qua hệ thống bảo tàng
Nhưng hoạt động du lịch có tác động đa chiều đến bảo tàng Thông qua du lịch bảo tàng sẽ được biết đến nhiều hơn, có sức lan tỏa rộng hơn Phát triển du lịch gắn với bảo tàng còn phát huy được những giá trị ẩn chứa trong di sản, và khi được phát huy thì mới có cơ sở, căn cứ và làm điều kiện để bảo tồn di sản Mặc dù vậy, môi trường du lịch cũng đem lại nhiều khó khăn cho bảo tàng, do đó đòi hỏi phát
Trang 23triển du lịch bảo tàng cần có những phương án đúng đắn để tạo ra sự phát triển bền vững
Trong phát triển du lịch tại địa phương thì bảo tàng chính là một thành tố quan trọng, một địa chỉ có ý nghĩa cho hành trình du lịch của mỗi du khách đến với các vùng miền, quê hương Tiến trình của lịch sử dân tộc về con người, văn hóa đều được tái hiện trong bảo tàng, sẽ giúp du khách có cái nhìn toàn cảnh về nơi du khách tham quan
Với tài nguyên du lịch văn hóa ở Việt Nam thì bảo tàng được coi là tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn độc đáo, đây là cơ sở góp phần tạo nên loại hình du lịch văn hóa phong phú Bảo tàng là một thiết chế văn hóa tham gia vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, điều đó được thể hiện qua hệ thống hiện vật trưng bày Từ những bộ sưu tập hiện vật, công tác bảo tàng sẽ thổi hồn vào những bộ sưu tập đó bằng những bài thuyết minh giới thiệu, kỹ thuật màng hình cảm ứng, ánh sáng, hình ảnh Tất cả được chuyển tải tới du khách thông qua các cuộc trưng bày Những giá trị vật chất được bảo tàng bảo quản, gìn giữ qua nhiều thế hệ và trở thành di sản văn hóa vô giá, trở thành yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách
Tác động của du lịch đến bảo tàng: Bảo tàng ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu của con người mà còn trở thành một nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc, hấp dẫn Song, hoạt động của du lịch vừa có tác động tích cực, vừa tiêu cực đến bảo tàng
1.1.3.1 Tác động tích cực
Một trong những ý nghĩa của du lịch là góp phần giáo dục con người ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ các di tích, danh lam thắng cảnh, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Nhu cầu nâng cao nhận thức về văn hóa ngày càng được khách du lịch quan tâm, do đó các công ty lữ hành luôn ý thức được việc đưa các tài nguyên du lịch nhân văn vào chương trình du lịch, trong đó bảo tàng luôn được quan tâm để thu hút du khách Du lịch là phương tiện quảng bá tốt hình ảnh của bảo tàng đến với công chúng, giúp bảo tàng càng được biết đến rộng rãi hơn và khẳng định giá trị của bảo tàng mang lại
Đối với khách du lịch, khi được tham quan tại bảo tàng họ sẽ có một cái nhìn chân thực về một đề tài nào đó Việc trực tiếp tiếp cận với các di sản, tác phẩm cũng
Trang 24giúp con người lưu trữ được thông tin về chúng lâu hơn, và có thể sẽ trở thành nguồn cảm hứng và động viên vô tận đối với bất kì sáng tạo nào Bên cạnh đó, khẳng định tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về những giá trị truyền thống của dân tộc, con người mới có thể ý thức giữ gìn phát huy truyền thống quý giá, tốt đẹp của quê hương
Đối với bảo tàng, việc hợp tác với các công ty du lịch thể hiện một phần quan trọng thiết yếu của hoạt động bảo tàng Khi hoạt động du lịch phát triển sẽ kích thích, thúc đẩy hoạt động của bảo tàng, việc khai thác có hiệu quả các bảo tàng
để thu hút du khách một phần mang lại nguồn lợi lớn cho địa phương, một phần mang lại công ăn việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư Đồng thời du lịch kích thích nghiệp vụ trong bảo tàng ngày càng nâng cao hơn để có được kết quả phục vụ khách tốt nhất
1.1.3.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực, hoạt động du lịch cũng để lại nhiều hệ
quả đến hoạt động của bảo tàng
Hoạt động của du lịch mang tính mùa vụ, do đó việc số lượng khách tham quan đến bảo tàng cũng không ổn định Vào mùa chính vụ của du lịch, sự tập trung một lượng khách lớn trong một khoảng thời gian ngắn có thể gây quá tải sức chứa tại bảo tàng, làm giảm khả năng cảm nhận giá trị các hiện vật, giảm chất lượng phục
vụ khách Nghiêm trọng hơn, khi số lượng khách du lịch tăng nhanh, việc quản lý, thực hiện nội quy bị lỏng lẻo, nhiều du khách chưa ý thức được việc bảo vệ các hiện vật sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiện vật trưng bày và công tác bảo quản
Bản chất của du lịch là quá trình giao lưu, tiếp xúc của con người với các cá thể nhất định Quá trình giao tiếp này cũng là môi trường để các thành phân tiêu cực xâm nhập vào xã hội và ảnh hưởng đến hoạt động của bảo tàng Hiện nay, một số đối tượng đã thông qua con đường du lịch đến với bảo tàng thực hiện hành động tìm kiếm, mua bán trái phép các di vật, cổ vật quý giá Trong khi đó, một mặt nước ta chưa có những chính sách pháp luật dành cho những đối tượng trên, một mặt việc
quản lý, thắt chặt an ninh của bảo tàng còn yếu nên xảy ra hiện tượng “chảy máu cổ
Trang 25vật ra nước ngoài” Vì vậy, du lịch có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác gìn giữ,
bảo tồn di sản văn hóa của các bảo tàng
Trong việc khai thác các tài nguyên nhân văn phục vụ cho hoạt động du lịch thì bảo tàng là một trong những thành tố tiêu biểu và đặc sắc, khả năng khai thác cho phục vụ du lịch là rất lớn và có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch Bảo tàng chứa đựng tinh thần, truyền thống, tình cảm, trách nhiệm, tài năng, bản lĩnh của con người Việt Nam trước biến cố của thiên nhiên và lịch sử Chính nhờ bảo tàng đã và đang giữ gìn kho tàng di sản văn hóa của dân tộc mà chúng ta cà các thế
hệ mai sau có thể tiếp thu được những tinh hoa văn hóa dân tộc
Mối quan hệ giữa du lịch và bảo tàng ngày càng được thắt chặt, mở ra nhiều
cơ hội giao lưu văn hóa, quảng bá hình ảnh của quê hương đất nước đến với khách
du lịch trong nước và quốc tế Bảo tàng ngày càng được khai thác tốt cho hoạt động
du lịch, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, kinh
tế, xã hội của cộng đồng
1.1.4 Tiêu chí đánh giá bảo tàng
Điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để mỗi địa phương, mỗi quốc gia tiến hành phát triển, quản lý, bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên cũng như lập quy hoạch phát triển du lịch Việc điều tra đánh giá của khách
du lịch về hệ thống bảo tàng tại Đà Nẵng cũng không nằm ngoài mục đích đó Những tiêu chí để khách du lịch đánh giá về bảo tàng chưa được xác định cụ thể, do
đó tác giả đã sử dụng những tiêu chí để đánh giá một tài nguyên du lịch nhân văn tài nguyên du lịch nhân văn
Để tiến hành điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên cần phải dựa vào hệ thống phân loại nhất định, hệ thống phân loại này cần có ích cho việc định lựa đánh giá tài nguyên sau khi điều tra Căn cứ vào hệ thống phân loại tài nguyên nhất định
mà tiến hành điều tra, kiểm kê tài nguyên du lịch, sau đó đánh giá vị trí, đẳng cấp và
sự đặc sắc của tài nguyên từ đó tiến hành quy hoạch phát triển du lịch Việc điều tra thường được tiến hành với từng loại tài nguyên, còn việc đánh giá phải được tiến hành với từng loại tài nguyên và tổng hợp các loại tài nguyên trong lãnh thổ quy hoạch phát triển du lịch
Trang 26Đánh giá các loại tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó có bảo tàng là một việc làm khó và phức tạp vì có liên quan tới yêu cầu, sở thích, đặc điểm tâm lý, sinh
lý của con người rất khác nhau, đặc điểm của tài nguyên và các điều kiện kỹ thuật
Vì vậy các nội dung và phương pháp đánh giá phải không ngừng hoàn thiện
Các nhà nghiên cứu chỉ ra các kiểu đánh giá tài nguyên du lịch:
Kiểu tâm lý – thẩm mỹ: Kiểu đánh giá này thường dựa vào cảm nhận, sở thích của du khách, dân cư đối với các loại tài nguyên môi trường du lịch như hệ thống kiến trúc, không gian, giá trị thẩm mỹ,… thông qua việc điều tra thống kê và điều tra xã hội
Kiểu sinh khí hậu: Nhằm đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu, thời gian thích hợp nhất của sức khỏe con người, hoặc một kiểu hoạt động nào đó khi đi du lịch.Kiểu đánh giá này chủ yếu dựa trên các chỉ số khí hậu, định giá trị của các loạ tài nguyên du lịch đối với một số loại hình du lịch nào đó, hoặc làm cơ sở để xác định các điểm du lịch, các khu du lịch, các trung tâm du lịch
Kiểu đánh giá kỹ thuật: Là kiểu sử dụng các tiêu chí và các phương tiện kỹ thuật vào việc đánh giá số lượng và chất lượng của tài nguyên du lịch nhằm xác định giá trị của tài nguyên du lịch đối với các loại hình phát triển du lịch hoặc trong quá trình lập và thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch tại các hệt thống lãnh thổ du lịch nhất định Đối với bảo tàng, kiểu đánh giá kỹ thuật dược xem là hệ thống giá trị của hiện vật mà bảo tàng thể hiện, qua đó làm nổi bật lên giá ý nghĩa tổng quát của bảo tàng
Kiểu đánh giá kinh tế: Là vận dụng các phương pháp và các tiêu chí nhằm xác định hiệu quả về kinh tế - xã hội hiện tại và trong tương lai của các khu vực có nguồn tài nguyên có thể khai thác bảo vệ cho phát triển du lịch Về phương pháp đánh giá tài nguyên được tiến hành với từng loại và tổng thể các loại tài nguyên bao gồm cả số lượng, chất lượng, thực trạng khai thác và bảo vệ, phát triển, khả năng phát triển các loại hình du lịch hiện tại và trong tương lai Việc đánh giá tổng thể các loại tài nguyên thường bao gồm các nội dung như: độ hấp dẫn, sức chứa du khách, thời gian khai thác, độ bền vững, vị trí khả năng tiếp cận, cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kỹ thuật du lịch, sự phù hợp giữa tài nguyên du lịch với các phân hệ
Trang 27khác của hệ thống lãnh thổ du lịch cần quy hoạch, hiệu quả khai thác tài nguyên về kinh tế - xã hội và môi trường, khả năng phát triển các loại hình du lịch và tổ chức không gian lãnh thổ du lịch.Trong việc đánh giá tài nguyên du lịch của mỗi vùng, mỗi địa phương cần xem xét, tính toán việc kết hợp bảo vệ khai thác tổng hợp các loại tài nguyên trong từng hệ thống lãnh thổ và với các hệ thống lãnh thổ khác trong mối quan hệ biện chứng Ngoài ra, trong kiểu đánh giá này còn xác định được những yếu tố nào mang lại hiện quả kinh tế cho loại tài nguyên đó để tăng nguồn thu, phục vụ trực tiếp cho điểm du lịch
Kiểu đánh giá về nguồn nhân lực: Kiểu đánh giá này sử dụng các tiêu chí xác định hiệu quả làm việc của nguồn nhân lực về số lượng và cả chất lượng của các tài nguyên du lịch Bao gồm các nội dung: trình độ, kiến thức tổng quát về tài nguyên,
kỹ năng giao tiếp với du khách,… phù hợp với tâm lý và thị hiếu của khách du lịch Kiểu đánh giá này đem lại sự hài lòng cho du khách khi tham quan một tài nguyên
du lịch nhân văn.[9]
Cụ thể khi đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn phải tuân thủ các nguyên tắc
về kiểm kê đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn cần kiểm kê đánh giá các giá trị của từng di tích, từng loại tài nguyên sau đó mới đánh giá chung.Từ các kiểu đánh giá trên, tác giả đã hệ thống, phân tích và đưa ra những yếu tố để đánh giá sự hài lòng của khách du lịch tại các bảo tàng ở Đà Nẵng
1.2 Tổng quan hệ thống bảo tàng tại Đà Nẵng
1.2.1 Bảo tàng Đà Nẵng
1.2.1.1 Lịch sử hình thành
Bảo tàng Đà Nẵng tọa lạc ở địa chỉ 24 Trần Phú, quận Hải Châu Đây là một công trình, thiết chế văn hóa tiêu biểu, quan trọng của thành phố Đà Nẵng và là một trong những bảo tàng khang trang, hiện đại của miền Trung Việt Nam Nội dung trưng bày của Bảo tàng đa dạng về chủ đề, phong phú về hiện vật, sống động với các không gian tái tạo, được thể hiện dưới góc nhìn và phương pháp của bảo tàng học hiện đại Nhiều tài liệu, hiện vật gốc có giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, những bộ sưu tập cổ vật quý hiếm lần đầu tiên được đưa ra giới thiệu Tất cả đã tái hiện khái quát và tiêu biểu tiến trình lịch sử - văn hóa của mảnh đất và con người
Trang 28Đà Nẵng từ buổi đầu khai phá mở mang bờ cõi, chống giặc ngoại xâm, giành độc lập cho đến thời kỳ hòa bình, đổi mới, hội nhập và phát triển thành một đô thị năng động nhất miền Trung
Ngày 02 tháng 5 năm 1989, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ban hành Quyết định số 1047/QĐ-UB về việc thành lập Bảo tàng tỉnh Quảng Nam -
Đà Nẵng trên cơ sở Phòng Bảo tồn Bảo tàng trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Bảo tàng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các di tích và hai Bảo tàng trên địa bàn thành phố: Bảo tàng Lịch sử
và Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Trụ sở ban đầu của Bảo tàng đóng tại số
24 Thống Nhất (nay là 78 Lê Duẩn, Đà Nẵng)
Sau khi chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng vào năm 1997, Bảo tàng Đà Nẵng được thành lập lại theo Quyết định số 901/QĐ-UB ngày 09 tháng 4 năm 1997 của Uỷ ban nhân dân lâm thời thành phố Đà Nẵng
Sau gần hai năm triển khai thi công trưng bày, vào ngày 26 tháng 4 năm
2011, Bảo tàng Đà Nẵng mới đã chính thức khánh thành và đi vào hoạt động phục
vụ khách tham quan Đây là một thành quả lớn, bước tiến mới trong sự nghiệp bảo tàng của thành phố Đà Nẵng.[31]
1.2.1.2 Cơ cấu bảo tàng
Không gian trưng bày với diện tích hơn 3000m2 gồm 3 tầng giới thiệu hơn 2.500 tư liệu, hình ảnh, hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa của thành phố Đà Nẵng và vùng phụ cận, trong đó có hơn 1.900 hiện vật gốc được sưu tầm từ sau ngày giải phóng đến nay, đặc biệt có nhiều tư liệu hiện vật quý, lần đầu tiên ra mắt công chúng
Mở đầu không gian trưng bày của Bảo tàng Đà Nẵng là gian trưng bày tổng quan về Đà Nẵng được bố trí trang trọng, thiết kế theo hình vòng cung, lấy ý tưởng
từ thế đất Đà Nẵng như một vòng tay lớn ôm lấy biển khơi Trung tâm của không gian này là hình ảnh 5 cánh buồm, tượng trưng cho thành phố biển đang vươn ra biển lớn, trên đó khắc họa các bức phù điêu với nội dung: Đà Nẵng trong tiến trình lịch sử của đất nước Tại đây trưng bày các hiện vật lịch sử với các chủ đề như: Địa
Trang 29lý tự nhiên, Đà Nẵng thời tiền sơ sử, các bộ sưu tập cổ vật, đời sống của ngư dân biển và cảng biển, đô thị Đà Nẵng trước năm 197, Đà Nẵng hội nhập và phát triển, các làng nghề thủ công truyền thống,…
Tầng hai trưng bày chuyên đề Đà Nẵng mở đầu mặt trận chống thực dân Pháp 1858 - 1860; các phong trào yêu nước trước năm 1930; kháng chiến chống Pháp, Mỹ Đặc biệt nơi đây chọn lọc trưng bày lại các bộ sưu tập của Bảo tàng chứng tích chiến tranh trước đây Gian trưng bày đã tái hiện lại cuộc đấu tranh của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ hào hùng của dân tộc Tại đây, bằng các tranh ảnh và hiện vật, một số sự kiện chính đã được thuật lại như sự kiện quân Mỹ đổ bộ và xây dựng căn cứ, cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Đà Nẵng, chiến tích tội ác của Đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh Viêt Nam
Toàn bộ khu vực tầng ba là nơi tái hiện lại bức tranh sinh động về Khảo cổ học, văn hóa Sa Huỳnh và dân tộc học Quảng Nam- Đà Nẵng Bước đến gian bên phải chính là không gian trưng bày văn hóa của một số dân tộc thiểu số ở Quảng Nam như: Cơ Tu, Xơ Đăng, Co ,Giẻ Triêng… mà chủ yếu tập trung ở dân tộc Cơ
Tu - gương mặt văn hóa tiêu biểu cho các tộc người nơi đây Trong gian trưng bày này, người tham quan được trực tiếp khám phá đời sống tinh thần của các dân tộc thiểu số Các hiện vật được trưng bày đã nói lên phong cách sống, nếp sống những phong tục cũng như tư duy của con người đối với xã hội Ấn tượng ban đầu được khắc họa bởi hai bức tượng đặt ở cổng làng của người Ca dong (thuộc dòng Xơ Đăng) Hai bức tượng dữ dằn được làm từ cây thuộc họ dương xỉ một tay cầm quạt, một tay cầm roi nhằm xua đuổi tà ma đã thể hiện sự tôn nghiêm của con người đối với môi trường sống Nếu như biểu tượng làng của dân tộc Kinh là cây đa, bến nước, sân đình thì đối với người Ca dong, làng hiện hữu trong tâm thức họ trước hết chính là hai bức tượng gỗ này.[31]
Bảo tàng Đà Nẵng được đầu tư phương tiện trưng bày, thiết bị nghe nhìn và
hệ thống chiếu sáng hiện đại, cùng đội ngũ thuyết minh, hướng dẫn khách tham quan được đào tạo bài bản Nhờ vậy, bên cạnh chức năng trưng bày hiện vật, bảo tàng còn thực hiện các cuộc trưng bày chuyên đề, mời nhân chứng kể chuyện lịch
Trang 30sử, nhằm giới thiệu đến người xem lịch sử của thành phố ở hình thức phi vật thể Đặc biệt, nhiều trường học đã phối hợp với bảo tàng tổ chức các chương trình học tập ngoại khóa, vui chơi giải trí, cho học sinh; tổ chức hướng dẫn học sinh tham gia bảo vệ, chăm sóc, trồng cây lưu niệm tại di tích Thành Điện Hải, qua đó giáo dục cho các em về ý thức, trách nhiệm trong việc gìn giữ các giá trị của di tích lịch
sử, văn hóa mà cha ông để lại
Có thể nói, bảo tàng Đà Nẵng không chỉ là nơi lưu giữ, tôn vinh các giá trị văn hóa, dân tộc mà còn là một địa chỉ giúp nhân dân thành phố và du khách hiểu rõ hơn lịch sử hình thành, phát triển và đấu tranh của thành phố Hiện nay Bảo tàng Đà Nẵng là điểm đến thu hút nhiều đối tượng tham quan, từ người dân thành phố, khách du lịch, học sinh, sinh viên đến tham quan, tìm hiểu, học tập về lịch sử thành phố Đà Nẵng
1.2.1.3 Thống kê lượt khách tham quan
Bất cứ bảo tàng nào khi được xây dựng và đưa vào hoạt động đều phải đảm bảo được số lượng khách nhất định Nếu tình trạng vắng khách xảy ra thì bảo tàng
ấy sẽ trở thành “nhà kho” Nhận thức được điều đó, việc thực hiện các công tác
truyền thông và hướng dẫn phục vụ khách tham quan luôn được quan tâm chú ý để thu hút khách du lịch tại các bảo tàng tại Đà Nẵng
Bảng 1.1 Thống kê số lượng khách tham quan bảo tàng Đà Nẵng
(Nguồn: Ban quản lý bảo tàng Đà Nẵng)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy khách đến với bảo tàng Đà Nẵng chưa đạt được con số cao, duy trì ở mức dưới 50.000 nghìn lượt Năm 2013, tổng số
Trang 31khách đạt 36.315 lượt với số khách nước ngoài là 8.081 lượt Năm 2014 vừa qua, tổng số khách đến Bảo tàng đạt 48.967 lượt, tăng gần 135% so với năm 2013 Trong
đó, khách quốc tế cũng tăng mạnh lên 17.723 lượt, đạt hơn 219% so với năm 2013
Có thể lý giải rằng, bảo tàng Đà Nẵng là bảo tàng trẻ nhất của thành phố nên chưa trở thành điểm tham quan thường xuyên của du khách Hầu hết khách du lịch đến với Đà Nẵng chưa biết địa điểm này Tuy nhiên, đây là những con số tương đối cao của một bảo tàng trẻ Để đạt được thành công này, cũng giống như bảo tàng Quân khu V, bảo tàng Đà Nẵng thường xuyên phối hợp với các trường học trên địa bàn thành phố để học sinh, sinh viên tìm hiểu về lịch sử và văn hóa con người Đà Nẵng
Bảo tàng Đà Nẵng là điểm tham quan thu hút khách du lịch quốc tế vậy nên khách quốc tế luôn chiếm số lượng cao hơn khách nội đại Khách nội địa chiếm số lượng ít hơn nhưng luôn tăng qua các năm Để có thể tạo sức hút hơn nữa đối với du khách bảo tàng Đà Nẵng nên nâng cao công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của bảo tàng không chỉ ở trong nước mà còn ra thế giới
1.2.2 Bảo tàng nghệ thuật Điêu khắc Chăm
Vào cuối thế kỷ 19, công sứ tỉnh Quảng Nam là Charles Lemire, người Pháp,
đã tiến hành công tác khảo cổ các di tích văn hóa Chăm và đem các di vật tìm được đem về trưng bày tại Đà Nẵng Sau đó, năm 1900, Trường Viễn Đông Bác cổ tiến hành khai quật khảo cổ ở quy mô lớn hơn Từ đó, nảy sinh nhu cầu xây dựng một nhà bảo tàng tại Đà Nẵng cho các cổ vật Chăm Năm 1902, Henri Parmentier của
Trang 32Trường Viễn Đông Bác cổ chính thức đề cử dự án kiến thiết rồi được hai kiến trúc
sư người Pháp là Delaval và Auclair thực hiện Kết quả là một tòa nhà có một số nét kiến trúc Chăm
Công trình nay là Bảo tàng Chàm được Trường Viễn Đông Bác cổ cho khởi xây năm 1915 đến năm 1919 thì hoàn tất và khánh thành với 160 cổ vật điêu khắc
Bộ sưu tập nguyên thủy là do nhà khảo cổ Henri Parmentier thu thập từ thế kỷ 19 được bổ túc thêm bằng những phát hiện sau Năm 1927 kiến trúc sư J Y Claeys thuộc trường Viễn Đông Bác cổ đề xướng khuếch trương nhà bảo tàng nhưng dự án trì trệ đến năm 1936 mới hoàn tất Ngày 11 tháng 3 nhân việc tái khánh thành viện bảo tàng có sự hiện diện của Parmentier, Viện Bác cổ vinh danh ông bằng cách đổi tên Viện Bảo tàng Chàm thành Musée Henri Parmentier Diện tích mới được dùng
để thu nhận thêm bộ sưu tập cổ vật khai quật ở Trà Kiệu và Tháp Mẫm ở Bình Định
Năm 1946 khi chiến tranh Pháp-Việt lan rộng thì Viện Bảo tàng Chàm bị cướp phá Thư khố và nhiều cổ vật bị trộm Đến năm 1948 thì thu thập lại được 150 món, có thứ lưu lạc sang tận bên Lào
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa cơ sở này mang tên Viện Bảo tàng Chàm Vào thập niên 1950 và 1960 kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thuộc Viện Khảo cổ cho nới rộng diện tích các sảnh trưng bày một cách hài hòa, bắt nhịp với phần kiến trúc nguyên thủy Nguyễn Xuân Đồng, người từng làm việc với Parmentier được bổ làm giám đốc Năm 1972 thì Nguyễn Khôn Liêu đảm nhiệm
Sau năm 1975 chính quyền mới tiếp thu và đến cuối thập niên 1980 thì bị kẻ gian đột nhập lấy mất một số cổ vật Hơn 40 năm sau, năm 2002 chính quyền nhà nước đã cho xây dựng một tòa nhà 2 tầng với diện tích 2000 m2 để trưng bày và 500m2 phía sau làm kho lưu trữ cổ vật Hiện nay, bảo tàng là một địa điểm du lịch khá hấp dẫn đối với du khách quốc tế, vì đây là bảo tàng văn hóa Chăm Pa duy nhất trên thế giới.[26]
1.2.2.2 Cơ cấu bảo tàng
Hiện nay, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng lưu giữ gần 2.000 hiện vật lớn nhỏ, hầu hết các tác phẩm điêu khắc là những tác phẩm nguyên bản trên 3 chất liệu
Trang 33chính là sa thạch, đất nung và đồng, phần lớn là sa thạch, có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau Phía ngoài khuôn viên của Bảo tàng, các mảng đài thờ, tượng đá được xếp đặt rải rác, hài hòa với không gian thoáng mát và trong lành, xen kẽ giữa những cây cổ thụ, làm tăng thêm
vẻ cổ kính, bí ẩn của Bảo tàng Bên trong tòa nhà Bảo tàng trưng bày gần 500 hiện vật, được phân chia thành các phòng trưng bày: Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định Hơn 1.200 hiện vật còn lại được lưu giữ cẩn thận trong kho
Hiện vật điêu khắc chất liệu đá chiếm số lượng lớn nhất và quan trọng nhất trong các sưu tập của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Các hiện vật này bao gồm các đài thờ, các bộ phận kiến trúc hoặc chi tiết trang trí của các tháp Chăm, các tượng thần, vật linh của người Chăm cổ
Tên gọi các hiện vật căn cứ theo hình dáng và chức năng, ví dụ đài thờ, phù điêu, tượng thần, trụ cửa tiếp theo là một chi tiết về địa danh tìm thấy hiện vật hoặc tên vị thần Việc xác định tên vị thần dựa vào các đặc trưng của vị thần miêu tả trong thần thoại Ấn Độ như hình dạng, vật cưỡi của thần hoặc các vật dụng vị thần cầm trên tay hoặc đeo trên người Cách xác định niên đại hiện nay đối với các hiện vật điêu khắc Chăm chủ yếu dựa vào mối liên hệ giữa hiện vật và một công trình kiến trúc nào đó mà nhờ qua văn bia người ta có thể xác định thời gian xây dựng Tuy nhiên có khá nhiều hiện vật được phát hiện rải rác và việc xác định niên đại cũng chỉ là sự đoán định tương đối của những nhà khảo cổ và chưa thể kiểm chứng.[33]
Bảo tàng Điêu khắc Chăm với kho tàng văn hóa phong phú, độc đáo không chỉ của thành phố Đà Nẵng, của Việt Nam, mà còn của cả thế giới Bảo tàng tái hiện lại quá khứ vàng son của một dân tộc và khả năng sáng tạo nghệ thuật đều ở một trình độ rất cao Thế giới thần linh kỳ bí, những câu chuyện bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáo, tất cả đều sống động, chi tiết
Trang 341.2.2.3 Thống kê lượt khách và doanh thu
Bảng 1.2 Thống kê số lượt khách và doanh thu bảo tàng
Nghệ thuật Điêu khắc Chăm
Năm 2014 Năm 2015
Tổng lượt khách tham quan Lượt khách 209.233 187.251 205.997
Khách quốc tế Lượt khách 191.713 168.626 180.763
Tổng doanh thu Triệu đồng 5.816,36 7.242,415 7.719,41
(Nguồn: Báo Cáo V/v cung cấp số lượng khách tham quan tại Bảo tàng Điêu
Khắc Chăm)
Dựa vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm hàng năm có lượt khách du lịch rất đông tuy nhiên có sự giảm nhẹ qua các năm Năm 2014 giảm gần 12.000 lượt khách so với năm 2014, cụ thể là từ 209.233 lượt còn 187.251 lượt Đến năm 2015, số lượt khách tăng đạt 205.997 lượt Số lượt khách quốc tế tại bảo tàng luôn cao hơn khách du lịch nội địa Trong đó, cùng với
sự suy giảm của tổng lượt khách thì khách du lịch quốc tế cũng giảm theo các năm Tuy nhiên, không thể phủ định được sức hút của bảo tàng Chăm đối với du khách quốc tế bởi số lượt khách luôn đạt trên 160.000 lượt Điều này là dể hiểu, bởi nội dung trưng bày của tàng chủ yếu là những hiện vật của nền văn hóa Chăm - pa, một nền văn hóa đặc sắc, đòi hỏi người thưởng thức phải có một trình độ nhất định và
hiểu biết về nhiều cổ vật của nền văn hóa này
Đối với khách du lịch nội địa tại bảo tàng tuy không cao nhưng không ngừng tăng mạnh qua các năm Cụ thể, năm 2013 đạt 15.250, đến năm 2015 đạt trên 25.000 lượt khách Cùng với học vấn của người dân trong nước được cải thiện thì trình độ thưởng thức các nền văn hóa cũng được nâng cao Nền văn hóa Chăm – pa
là một nền văn hóa đặc sắc, có sức ảnh hưởng đến nền văn hóa Việt Nam Với sự hấp dẫn đó, khi xã hội càng hiện đại thì càng kích thích sự tìm hiểu, học hỏi của
Trang 35người dân, do vậy bảo tàng không chỉ thu hút khách quốc tế mà đối với du khách nội địa đây là nơi không thể bỏ qua khi đến với Đà Nẵng
Trong các bảo tàng tại Đà Nẵng thì bảo tàng Chăm có doanh thu cao nhất và không ngừng tăng qua các năm, năm 2015 trên 7,7 tỉ đồng Sự tăng giảm của doanh thu được quyết định bởi sự tăng giảm số lượng khách mỗi năm Hiện nay tại bảo tàng doang thu chủ yếu từ hai nguồn đó là từ hoạt động bán vé và hoạt động bán hàng lưu niệm Doanh thu này phần lớn phục vụ cho những hoạt động cần thiết của bảo tàng
1.2.3 Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Quân khu V
1.2.3.1 Cơ cấu bảo tàng
Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5, tọa lạc tại số 01 đường Duy Tân, được khởi công xây dựng vào năm 1976 tại thành phố Đà Nẵng Ngày 19 tháng 5 năm 1977, Bảo tàng chính thức đi vào hoạt động, và được xếp hạng là bảo tàng Quốc gia hạng hai vào năm 1995 Nơi đây, theo nguyện vọng của nhân dân và lực lượng vũ trang Quân khu 5, ngôi Nhà sàn và ao cá Bác Hồ được dựng lại theo tỷ
lệ 1/1 đúng với di tích ở Thủ đô Hà Nội
Bảo tàng được chia làm hai phần chính là khu trưng bày ngoài trời và các phòng trưng bày bên trong Khu trưng bày ngoài trời bao gồm khuôn viên Nhà sàn với vườn cây, ao cá Bác Hồ, và khu vực trưng bày các vũ khí thể khối lớn như: máy bay, xe tăng, xe bọc thép, các khẩu pháo từ 75mm đến 175mm…, các loại vũ khí của quân đội Pháp, Mỹ bị bộ đội Khu 5 thu được và sử dụng đánh địch trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc
Khu nhà trưng bày gồm 4 phòng trưng bày giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Hồ Chí Minh; cùng 8 nhà trưng bày hàng ngàn hình ảnh, hiện vật về sự ra đời, chiến đấu và chiến thắng của các lực lượng vũ trang Khu V Đặc biệt có nhiều hình ảnh, hiện vật quý hiếm được trưng bày thể hiện sự sáng tạo, độc đáo, hiệu quả của sức mạnh chiến tranh nhân dân địa phương Khu V trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
Mỹ, thể hiện tấm lòng son sắt, thuỷ chung của đồng bào, cán bộ và chiến sĩ Khu V
Trang 36đối với Bác Hồ và tình cảm sâu nặng của Bác Hồ đối với đồng bào, chiến sĩ Khu V Mỗi hiện vật tại Bảo tàng là một chiến tích, một câu chuyện cảm động về cuộc đấu tranh, hy sinh vì dân tộc của cán bộ chiến sĩ, lực lượng vũ trang Khu V.[32]
Bảo tàng Hồ Chí Minh không chỉ là nơi người dân, du khách được tìm hiểu
về con người, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn giúp các thế hệ sau có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng trong quá trình bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như tình cảm của nhân dân nơi này dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
1.2.3.2 Thống kê lượt khách tham quan
Bảng 1.3 Thống kê số lượt khách tham quan tại bảo tàng Quân khu V
Tổng lượt khách tham quan Lượt khách 59.174 92.890 120.485
(Nguồn: Nghị quyết đại hội chi bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bảo tàng Quân Khu
V, nhiệm kì 2015 – 2020)
Bảo tàng Quân khu V là một trong những bảo tàng thu hút khách du lịch tại
Đà Nẵng Có thể thấy rằng khách du lịch đến bảo tàng khá đông và không ngừng tăng Năm 2014 tăng 56% so với năm 2013, từ 59.174 lượt khách lên 92.890 lượt khách Năm 2015 tăng 23% so với năm 2014, từ 92.890 lượt khách lên 120.485 lượt khách Đạt được kết quả này là do những năm qua bảo tàng đã chủ động phối hợp
với các trường học tổ chức “giờ học lịch sử tại bảo tàng”, tổ chức các cuộc triển
lãm tại chổ qua đó thu hút được lượng lớn khách du lịch Ngoài ra, bảo tàng còn kết hợp với các cơ quan tổ chức các buổi lễ dâng hoa, báo công, kết nạp Đảng, Đoàn, Đội nhân các ngày lễ lớn
Trang 37Với phần lớn đối tượng khách tham quan thuộc các trường học, cơ quan trong thành phố và cả nước nên bảo tàng chú yếu là khách nội địa, khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 3% của tổng lượt khách Khách quốc tế đến với bảo tàng chủ yếu
là những cựu chiến binh nước ngoài có hoặc không tham gia vào chiến tranh tại Việt Nam Khách du lịch thuần túy đến với bảo tàng là tương đối ít
1.2.4 Bảo tàng Đồng Đình
1.2.4.1 Cơ cấu bảo tàng
Bảo tàng Đồng Đình là bảo tàng tư nhân đầu tiên ở Miền Trung được UBND thành phố Đà Nẵng cấp giấy phép hoạt động từ đầu năm 2011 tại khu vực thượng lưu suối Bụt (bán đảo Sơn Trà) phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng Đây là bảo tàng tổng hợp trưng bày nhiều sưu tập do chủ dự án là NSUT Đoàn Huy Giao thực hiện Đồng Đình là loại cây họ cau (caryota mitislour) mọc phổ biến ở Rừng cấm quốc gia Sơn Trà Loại cây nầy mọc tự nhiên và được trồng thêm chung quanh khu vực bảo tàng như một điểm nhấn cho cảnh quan sinh thái chung và được lấy làm tên là bảo tàng Đồng Đình
Bảo tàng Đồng Đình được bố trí theo một quần thể kiến trúc hài hoà, thân thiện với thiên nhiên Rừng Quốc Gia Sơn Trà (trên vùng đồi suối Bãi Bụt) Đây là công trình sử dụng tối đa lợi thế địa hình tự nhiên, giới hạn tối thiểu sự phá vỡ hoặc làm biến dạng đến cảnh quan chung vốn là giá trị tự thân của quần thể địa lý tự nhiên bán đảo Sơn Trà
Bảo tàng như một khu nhà vườn trung du truyền thống của xứ Quảng, toát lên vẻ thân mật quen thuộc với cây cỏ chung quanh, tạo ra một không gian yên tĩnh cho khách đến tham quan bảo tàng
Về phần trưng bày các bộ sưu tập gồm có:
- Hai ngôi nhà rường cổ theo phong cách kiến trúc của thợ Kim Bồng, với một không gian thấm đượm chất cổ kính
Ngôi nhà rường truyền thống xứ quảng này nguyên là Nhà của cụ Lê Tuất, người được xem là cha đẻ của nghề gốm xứ Quảng Nam, thân sinh của nghệ nhân làm gốm Lê Đức Hạ ở làng An Quán xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Trang 38Ngôi nhà rường của cụ Nguyễn Nhân ở thôn 3, xã Bình Quý huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Theo cụ Nhân thì ngôi nhà này được thân sinh của ông là một giáo thụ xây dựng trong những năm 30 của thế kỷ trước
Hai ngôi nhà này trưng bày các sưu tập gốm cổ theo các chuyên đề như sau : Sưu tập văn hoá Sa Huỳnh, một nền văn hoá cổ đại, đã cùng với văn hoá Đông Sơn
ở phía Bắc và văn hoá Óc Eo ở phía Nam tạo thành tam giác hình thành nên nền văn hoá cổ của Việt Nam
Sưu tập gốm Chăm - pa, đây là bộ sưu tập gốm thời cổ đại được tìm thấy trong lòng đất kinh thành Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam) hiện là mối quan tâm của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước Ngoài ra còn khá nhiều hiện vật gốm
sứ có tên gọi là gốm Gò Sành (Bình Định) vốn được coi là một trong những trung tâm gốm khá phồn thịnh của Châu Á từ thế kỹ thứ 13 đến thế kỹ thứ 15 của người Chăm cổ
Sưu tập gốm Đại Việt là bộ sưu khá đa dạng về chủng loại và niên đại kéo dài từ đầu công nguyên đến nửa đầu thế kỹ 20 Không gian nguồn gốc của bộ sưu tập gần như kéo dài từ bắc chí nam Trong đó số nhiều là gốm các triều đại Lý, Trần, Lê sơ, Lê-Mạc và triều Nguyễn Các hiện vật nói lên sự phồn thịnh về gốm sứ của tiền nhân
Sưu tập gốm sứ mậu dịch là bộ sưu tập có niên đại kéo dài từ đầu công nguyên đến thế kỹ thứ 17, phần lớn được tìm thấy trong lòng đất và đặt trong lòng biển Đông, nơi nhiều thời từng là con đường gốm sứ nhộn nhịp của các nước trong vùng
Các bộ sưu tập cổ vật trên được chọn lọc để trung bày những hiện vật tiêu biểu đã được Hội Đồng Giám Định (gồm các chuyên gia cổ vật ở Trung ương và địa phương) lập phiếu xác nhận
Một ngôi nhà kiến trúc hiện đại vận dụng không gian sinh thái rừng để xây dựng trên một ngọn đồi thoai thoải Công trình kiến trúc độc đáo nầy đã được các nhà sinh thái học, các kiến trúc sư trong và ngoài nước có dịp đến thăm đều đánh giá cao khả năng biểu cảm của nó Ba phòng trong ngôi nhà có nền cao thấp khác nhau tuỳ theo địa thế của khu đất, và đặt biệt là cho những tảng đá lớn thâm nhập
Trang 39vào bên trong nội thất như một sự tham dự của chính thiên nhiên và ngôi nhà Đây
là công trình dùng trưng bày các tác phẩm mỹ thuật Ngôi nhà này cũng là nơi trưng bày luân phiên các tác phẩm mỹ thuật của các tác giả khác trong tương lai
Ngoài ra tại các kiến trúc phụ trợ gồm nhà quản lý và nhà làm việc của chủ
dự án còn trưng bày một sưu tập dân tộc học khá độc đáo của các dân tộc thiểu số Miền Trung – Tây Nguyên Các hiện vật này rất đáng được chú ý bởi lẽ ngoài chất khám phá nó còn làm tôn lên một cách hài hoà với không gian rừng chung quanh khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.[25]
Nét chung nhất mà bảo tàng Đồng Đình đem lại cho du khách là một không gian văn hoá nghệ thuật kết hợp hài hoà với không gian sinh thái làm cho du khách đến đây có được cảm giác vừa bổ ích vừa thư thái sau những ngày bận bịu với đời thường Bảo tàng Đồng Đình không chỉ thu hút giới nghiên cứu, nhà khoa học mà còn là nơi thư giãn cuối tuần của nhiều bạn trẻ trong tour du lịch khám phá vùng rừng sinh thái bán đảo Sơn Trà
1.2.4.2 Thống kê lượt khách và doanh thu
Bảng 1.4 Thống kê số lượng khách tham quan và doanh thu bảo tàng Đồng
(Nguồn: Ban quản lý bảo tàng Đồng Đình)
Có thể thấy rằng, bảo tàng Đồng Đình có lượng khách tương đối khiêm tốn, chỉ đạt trung bình hơn 5000 lượt khách trên một năm Tuy nhiên số lượng khách
Trang 40không ngừng tăng, năm 2013 từ 4.530 lượt khách đến năm 2014 đạt 5.326 lượt, năm 3015 đạt 5.862 lượt Như vậy có thể khẳng định rằng, bảo tàng Đồng Đình càng ngày càng có sức hút đối với du khách trong và ngoài nước Khách du lịch đến với bảo tàng chủ yếu là khách nội địa, bởi lẽ nội dung trưng bày của bảo tàng thể hiện những giá trị cổ xưa với sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn không gian sinh thái rừng với không gian văn hóa nghệ thuật Mặc khác để không làm phá vỡ không gian văn hóa của bảo tàng nên chỉ mở cửa vào hai ngày cuối tuần, các ngày lễ lớn và các tour du lịch đặt trước, do vậy khách du lịch đến đây ít hơn so với các bảo tàng tại
Đà Nẵng Hằng năm, bảo tàng là nơi tổ chức các sự kiện như trại sáng tác mỹ thuật
và luân phiên trưng bày các tác phẩm mỹ thuật của các tác giả trong và ngoài nước nên thu hút đông du khách tham quan
Doanh thu từ hoạt động bán vé của bảo tàng tương ứng với số lượng khách tham quan tại đây, đạt trên 100 triệu trên năm Vì là bảo tàng tư nhân nên doanh thu phần lớn phục vụ vào công tác xây dựng, trùng tu và sử dụng trực tiếp trong các hoạt động của bảo tàng Để nâng cao nguồn doanh thu và hoạt động bảo tàng có hiện quả cần cải thiện cơ sở vật chất, bên cạnh đó có thể mở cửa hàng lưu niệm để phục vụ nhu cầu của khách du lịch
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bảo tàng là một hệ thống thiết chế văn hóa, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là nơi hội tụ, tập trung và thể hiện trực quan nhất về các sự kiện lịch sử quan trọng và văn hóa của địa phương hoặc quốc gia, dân tộc Ngày nay, bảo tàng là một điểm du lịch hấp dẫn đối với khách du lịch khi muốn tìm hiểu lịch sử, văn hóa, con người ở từng địa phương và trở thành một điểm tham quan không thể thiếu trong chuyến hành trình của du khách
Nắm bắt tình hình đó, các bảo tàng tại Đà Nẵng cũng đang từng bước khẳng định mình Việc tìm hiểu đánh giá của khách du lịch khi tham quan tại những bảo tàng ở Đà Nẵng sẽ có một cách nhìn khách quan để tìm hiểu được nhu cầu và thị hiếu của du khách Từ đó các bảo tàng sẽ có những chính sách điều chỉnh, nâng cao
sự hài lòng của khách du lịch