CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU CÁC KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập [3]
1.1.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập
Tính tích cực học tập là hiện tượng sư phạm thể hiện nỗ lực cao trong nhiều khía cạnh của quá trình học Học tập được coi là một trường hợp đặc biệt của nhận thức, diễn ra dưới sự hướng dẫn của giáo viên Do đó, tích cực học tập thực chất là tích cực nhận thức, phản ánh trạng thái hoạt động nhận thức năng động.
HS đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
Con người chỉ thực sự hiểu và ghi nhớ những gì mình đạt được thông qua hoạt động tự thân Học sinh sẽ tiếp thu kiến thức tốt hơn khi tham gia vào các hoạt động nhận thức tích cực, đòi hỏi nỗ lực trí tuệ Khi đạt đến một trình độ nhất định, việc học tập tích cực không chỉ mang tính chất nghiên cứu khoa học mà còn giúp người học tạo ra kiến thức mới cho nhân loại.
1.1.2 Các biểu hiện của tính tích cực của học tập
Tính tích cực của học tập không chỉ thể hiện qua các hoạt động cơ bắp mà còn quan trọng hơn là qua hoạt động trí tuệ, và hai hình thức này thường gắn liền với nhau Theo G.I Sukina (1979), có thể nhận diện những dấu hiệu của tính tích cực trong hoạt động trí tuệ.
Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời câu hỏi của giáo viên, đồng thời bổ sung ý kiến của bạn bè và thích thể hiện quan điểm cá nhân về các vấn đề được nêu ra.
- HS nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa đủ rõ
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận ra vấn đề mới
HS mong muốn chia sẻ với thầy và bạn những thông tin mới mẻ từ nhiều nguồn khác nhau, vượt ra ngoài nội dung bài học.
Ngoài những biểu hiện dễ nhận thấy, giáo viên còn cần chú ý đến những biểu hiện cảm xúc khó nhận ra như thờ ơ, hào hứng, phớt lờ, ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán của học sinh trước nội dung bài học hoặc khi giải bài tập Những dấu hiệu này khác nhau ở từng cá nhân học sinh, thể hiện rõ ràng ở các lớp học nhỏ và kín đáo hơn ở các lớp học lớn G.I.Sukina cũng phân biệt các dấu hiệu của tính tích cực học tập về mặt ý chí.
- Tập trung vào vấn đề đang học
- Kiên trì làm xong bài tập
- Không nản trước những tình huống khó khăn
- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong hoặc vội vàng gấp vở chờ lệnh ra chơi
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 11
1.1.3 Các cấp độ của tính tích cực học tập
Có thể phân biệt ở ba cấp độ khác nhau từ thấp đến cao
Học sinh tích cực bắt chước các hoạt động của giáo viên và bạn bè, điều này không chỉ đơn thuần là sao chép mà còn đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thần kinh và cơ bắp Chẳng hạn, khi học sinh quan sát giáo viên thực hiện thí nghiệm, họ sẽ cố gắng làm theo để hiểu rõ hơn về quy trình và nội dung học tập.
Học sinh cần khám phá và tìm ra cách giải quyết bài tập một cách độc lập, thử nghiệm nhiều phương pháp khác nhau để xác định lời giải hợp lý nhất Chẳng hạn, học sinh có thể đề xuất các phương án thực hiện thí nghiệm và lựa chọn phương án khả thi để tiến hành.
Học sinh thể hiện sự sáng tạo qua việc nghĩ ra những cách giải độc đáo, thiết kế các bài tập mới, hoặc lắp đặt thí nghiệm mới để minh chứng cho bài học Mức độ sáng tạo của học sinh có thể được nâng cao thông qua những hoạt động này.
Học sinh có hạn chế, nhưng điều này lại là nền tảng cho sự phát triển trí sáng tạo trong tương lai Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện thí nghiệm, học sinh có thể đề xuất những phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu mới, từ đó mang lại kết quả chính xác hơn.
1.1.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực học tập
1.1.4.1 Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh
Học sinh chỉ thực sự tự giác và tích cực trong việc học tập khi họ đối mặt với những câu hỏi chưa có lời giải, tạo ra mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức mới và trình độ kiến thức hiện có Đây được gọi là "tình huống vấn đề" Trong giảng dạy Vật lý, có nhiều tình huống điển hình như tình huống phát triển, tình huống lựa chọn, tình huống bế tắc và tình huống “tại sao” mà giáo viên thường gặp phải.
Nhu cầu hứng thú có thể được tạo ra thông qua các yếu tố kích thích bên ngoài, chẳng hạn như sự khen thưởng, sự ngưỡng mộ từ bạn bè và gia đình, cũng như những hứa hẹn về một tương lai tươi sáng.
Nhu cầu hứng thú có thể phát sinh trong quá trình học tập và nghiên cứu một môn học hoặc bài học, thể hiện sự mâu thuẫn nội tại trong nhận thức.
Trước khi học quang học, nhiều học sinh thường quan sát hiện tượng chiếc que thẳng nhúng vào nước bị gãy khi nhìn từ trên xuống, hoặc cảm giác suối nông hơn khi lội qua, dẫn đến nhầm tưởng về độ sâu thực sự Những trải nghiệm này phổ biến trong cuộc sống hàng ngày nhưng ít ai hiểu rõ nguyên nhân Khi giáo viên đưa ra những ví dụ này và yêu cầu học sinh giải thích, họ đã tạo ra một "tình huống bế tắc", từ đó kích thích sự tò mò, tính tự giác và tích cực trong việc tìm hiểu kiến thức của học sinh.
1.1.4.2 Xây dựng logic nội dung phù hợp với đối tượng học sinh
Vật lý học trong chương trình giáo dục phổ thông không được trình bày theo cách hiện đại nhất của khoa học, do học sinh thường chưa đủ khả năng để tiếp thu Để giúp học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên cần tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ của học sinh.
Tổng quan về kỹ thuật dạy học tích cực [3] [9]
1.2.1 Khái niệm về kỹ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học (KTDH) bao gồm các hành động và phương pháp của giáo viên và học sinh trong các tình huống cụ thể nhằm điều khiển quá trình dạy học Mặc dù các KTDH chưa phải là phương pháp dạy học độc lập, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tính tích cực và sáng tạo của người học Một số KTDH tiêu biểu có thể kể đến như kỹ thuật công não, kỹ thuật thông tin phản hồi, kỹ thuật bể cá và kỹ thuật tia chớp.
1.2.2 Các kỹ thuật dạy học tích cực
2 KT động não không công khai
5 KT Tranh luận ủng hộ – phản đối
6 Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học
13 KT chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 15
20 KT “Trình bày một phút”
22 KT “Hỏi và trả lời”
24 KT “Hoàn tất một nhiệm vụ”
26 KT “Đọc tích cực” (Đọc hợp tác)
28 KT phân tích phim Video
29 KT tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
1.2.3 Ưu điểm và hạn chế của các kỹ thuật dạy học
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;
- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;
- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng
- Rất dễ gây tình trạng lạc đề nếu chủ đề không rõ ràng
- Việc lựa chọn các ý kiến tốt nhất có thể sẽ mất thời gian
- Nếu nhóm trưởng không đủ bản lĩnh sẽ gây ra tình trạng một số thành viên nhóm quá năng động nhưng một số khác không tham gia
- Việc lưu trữ kết quả thảo luận là khó khăn và dễ gây lãng phí.
Một số kỹ thuật dạy học điển hình ở trường phổ thông [9]
1.3.1 Kỹ thuật khăn phủ bàn
Kỹ thuật khăn phủ bàn là phương pháp tổ chức hoạt động học tập hợp tác, kết hợp giữa cá nhân và nhóm Học sinh sẽ sử dụng phiếu học tập được sắp xếp như khăn trải bàn, tạo điều kiện cho sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học.
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 16
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
Bước 1: Giao nhiệm vụ học sinh
- Chia học sinh thành các nhóm, giao nhiệm vụ thảo luận có tính mở và phát cho mỗi nhóm một phiếu học tập (dạng một tờ giấy A0)
- Sơ đồ phiếu học tập được thể hiện qua hình 2.1
Do phiếu học tập được bố trí như hình ảnh một chiếc khăn phủ bàn nên nó có tên gọi là lĩ thuật “Khăn phủ bàn”
Hình 1.1 Cấu trúc một phiếu học tập của kĩ thuật khăn phủ bàn
Bước 2: Làm việc cá nhân
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, ghi câu trả lời vào phần giấy của mình trên giấy A0
Bước 3: Thảo luận, thống nhất ý kiến chung
- Trên cơ sở ý kiến cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của phiếu học
* Tác dụng đối với học sinh
Khi sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn” thì có tác dụng:
Học sinh được trang bị kỹ năng tiếp cận đa dạng với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau, nhờ vào việc giải quyết các vấn đề mở với nhiều phương án khác nhau.
Rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập và kỹ năng giải quyết vấn đề là rất quan trọng Ý kiến cá nhân 1 cho rằng việc này giúp nâng cao khả năng tự chủ Ý kiến cá nhân 3 nhấn mạnh rằng kỹ năng giải quyết vấn đề là chìa khóa để vượt qua thách thức trong công việc Ý kiến cá nhân 4 bổ sung rằng việc phát triển những kỹ năng này sẽ tạo ra sự tự tin trong môi trường làm việc Ý kiến cá nhân 2 cho rằng sự phối hợp và chia sẻ ý kiến trong nhóm cũng góp phần vào việc rèn luyện các kỹ năng này Ý kiến chung của cả nhóm là việc cải thiện kỹ năng làm việc độc lập và giải quyết vấn đề sẽ mang lại lợi ích lớn cho sự nghiệp của mỗi cá nhân.
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 17
- Sự phối hợp làm việc giữa cá nhân và làm việc theo nhóm tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa
Nâng cao mối quan hệ giữa học sinh thông qua việc tăng cường sự hợp tác và giao tiếp Học sinh sẽ học cách chia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời học hỏi từ nhau qua các bước thảo luận để thống nhất ý kiến chung.
Trong quá trình làm việc nhóm tại trường phổ thông hiện nay, một số hạn chế đáng chú ý bao gồm việc giáo viên không thể kiểm soát hiệu quả quá trình làm việc của từng cá nhân, dẫn đến khó khăn trong việc đánh giá sự tham gia và đóng góp của từng học sinh vào kết quả chung của nhóm Thêm vào đó, tình trạng ỉ lại của số đông cũng góp phần làm giảm hiệu quả của hoạt động nhóm.
HS khi chỉ một vài HS của nhóm làm việc…,
Với kĩ thuật khăn phủ bàn được sử dụng vào hoạt động làm việc nhóm hoàn toàn khắc phục được những hạn chế trên Cụ thể là:
+ Giáo viên kiểm soát được hoạt động của cá nhân qua “Vết” ghi lại tại phần ý kiến cá nhân
Giáo viên có thể đánh giá mức độ tham gia của học sinh thông qua việc so sánh ý kiến cá nhân với ý kiến chung, điều này thể hiện tác dụng quan trọng của kỹ thuật này trong quá trình giảng dạy.
Trong quá trình dạy học vật lý, giai đoạn đề xuất dự đoán và phương án thí nghiệm kiểm tra là hai giai đoạn quan trọng nhất, đòi hỏi sự tư duy và sáng tạo của học sinh Điều này tạo điều kiện cho giáo viên đưa ra những vấn đề mở, từ đó vận dụng kỹ thuật khăn phủ bàn hiệu quả.
Dùng kĩ thuật khăn phủ bàn trong bước đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra định luật BôiLơ-MaRiÔt
- Phương án có thể là:
Cần có một lượng khí xác định, cần thay đổi thể tích và đo áp suất tương ứng
Có thể sử dụng một xi lanh có vạch chia độ kết nối với áp kế để đo áp suất Bằng cách ấn pit-tông để thay đổi thể tích khí, ta có thể đọc giá trị áp suất và xác định mối quan hệ giữa thể tích và áp suất.
- Sau đó các cá nhân thảo luận chia sẻ ý kiến của nhau và thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa
- Giáo viên cho học sinh trình bày kết quả trước lớp
* Một số lưu ý khi tổ chức dạy học áp dụng kĩ thuật “khăn phủ bàn”
- Câu hỏi thảo luận là câu hỏi mở
Để quản lý nhóm đông học sinh hiệu quả, giáo viên có thể phát cho từng học sinh những mảnh ghép nhỏ để ghi lại ý kiến cá nhân Sau đó, các mảnh ghép này sẽ được đính lên xung quanh khăn phủ bàn, tạo nên một không gian học tập sáng tạo và khuyến khích sự tham gia của mọi người.
- Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, đính những ý kiến thống nhất vào phần giữa “khăn phủ bàn” Các ý kiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 18
KWL, do Donna Ogle giới thiệu vào năm 1986, là một phương pháp dạy học nhằm nâng cao kỹ năng đọc hiểu Học sinh bắt đầu bằng cách ghi lại những kiến thức hiện có về chủ đề bài đọc vào cột K Tiếp theo, các em sẽ liệt kê những câu hỏi về những điều muốn tìm hiểu thêm vào cột W Cuối cùng, trong quá trình đọc hoặc sau khi hoàn thành, học sinh sẽ tự trả lời các câu hỏi này và ghi nhận thông tin vào cột L.
Ogle đã bổ sung cột H vào biểu đồ KWL để khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu Sau khi hoàn tất nội dung ở cột L, học sinh có thể muốn tìm hiểu thêm thông tin và sẽ nêu ra các biện pháp để mở rộng kiến thức Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.
Bảng KWL (KWLH) dành cho học sinh
Bảng KWL (KWLH) dành cho giáo viên
- Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích
- Tạo bảng KWL - Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em Có thể sử dụng mẫu sau
Đề nghị học sinh tư duy nhanh và liệt kê các từ, cụm từ liên quan đến chủ đề Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận các ý tưởng này vào cột K Hoạt động kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả ý tưởng, sau đó tổ chức thảo luận về những gì đã ghi nhận.
Hãy hỏi học sinh về những điều các em muốn tìm hiểu thêm về chủ đề Cả giáo viên và học sinh sẽ ghi lại các câu hỏi vào cột W Hoạt động này sẽ kết thúc khi học sinh đã đưa ra tất cả ý tưởng của mình Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu thông thường, hãy chuyển đổi nó thành câu hỏi trước khi ghi vào cột W.
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 19
Học sinh cần đọc tài liệu và tự điền câu trả lời vào cột L Trong khi đọc, các em cũng sẽ tìm ra câu trả lời của mình và ghi nhận vào cột W Việc điền vào cột L có thể thực hiện trong quá trình đọc hoặc sau khi hoàn thành việc đọc.
Chuẩn bị những câu hỏi kích thích tư duy cho học sinh là rất quan trọng Đôi khi, để khởi động hiệu quả, giáo viên cần cung cấp nhiều hơn chỉ là yêu cầu học sinh nói về những gì các em đã biết.
- Khuyến khích học sinh giải thích Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường
Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học theo định hướng áp dụng các
1.4.1 Vai trò của giáo viên
Nghiên cứu chỉ ra rằng giáo viên (GV) đóng vai trò quan trọng trong chất lượng giáo dục, đặc biệt trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Trong dạy học theo các kiểu dạy học tích cực, vai trò của GV trong lớp học có sự khác biệt rõ rệt so với phương pháp dạy học truyền thống trước đây.
+ GV không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống
Khung chương trình ban hành giúp giáo viên lựa chọn nội dung và chủ đề phù hợp, từ đó tổ chức dạy học theo các Kỹ thuật Dạy học Tích cực (KTDHTC) nhằm đáp ứng sự đa dạng trong học tập của học sinh.
+ Tạo môi trường học tập thân thiện, phong phú, đa dạng và có sự tương tác tích cực giữa GV với HS và giữa HS với HS
+ Người thiết kế, tổ chức điều khiển, hướng dẫn, hỗ trợ, phản hồi, tạo các cơ hội để
HS khám phá và trải nghiệm thành công Thể chế hóa kiến thức
1.4.2 Vai trò của học sinh
Học sinh được khuyến khích tham gia tích cực vào các hoạt động khám phá nhiệm vụ do giáo viên thiết kế, qua đó phát triển năng lực cá nhân và khả năng hợp tác trong nhóm.
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 28
+ Trình bày kết quả học tập của mình (hay nhóm) trước tập thể lớp, trao đổi, thảo luận với bạn, tự đánh giá và đánh giá HS khác
+ Cộng tác, phân công làm việc hiệu quả trong nhóm nêu nhiệm vụ tại các vòng cần thực hiện theo nhóm
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 29
Chương II : THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC CHƯƠNG “
Phân tích chương “Mắt Các dụng cụ quang” – 11 Cơ bản
Hình 2.1 Cấu trúc chương “Mắt Các dụng cụ quang học”
Quang hình học là phần khó nhất đối với học sinh trong chương trình vật lí lớp 11
Học sinh thường thiếu kiến thức cần thiết về nguồn sáng, đường truyền của tia sáng và quá trình tạo ảnh Để cải thiện việc học tập của học sinh trong lĩnh vực này, cần phân tích kỹ lưỡng nội dung kiến thức trong chương "Mắt và các".
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 30 dụng cụ quang học” nói riêng và quang hình học nói chung để làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp giảng dạy
2.1.2.1 Phân loại các nguồn sáng
Mắt chỉ có thể nhìn thấy các vật khi chúng phát sáng hoặc khuếch tán ánh sáng Nguồn sáng được chia thành hai loại: nguồn sơ cấp, là vật tự phát ra ánh sáng mà không cần chiếu sáng, và nguồn thứ cấp, là vật không tự phát sáng mà cần được chiếu sáng để mắt có thể nhìn thấy.
2.1.2.2 Khái niệm về vật và ảnh khi qua dụng cụ quang học
Vật khi qua một dụng cụ quang học được coi là giao của chùm tia sáng tới dụng cụ đó Vật được chia thành hai loại:
+ Vật thật: chùm tia tới sẽ cắt nhau ở phía trước dụng cụ quang học (chùm tia tới phân kì).
Vật ảo là hiện tượng xảy ra khi chùm tia tới hội tụ và cắt nhau ở phía sau dụng cụ quang học Ảnh được tạo ra khi ánh sáng đi qua dụng cụ quang học được xác định bởi giao của chùm tia phản xạ, trong trường hợp gương, hoặc chùm tia khúc xạ qua dụng cụ Ảnh có thể được phân loại thành hai loại khác nhau.
+ Ảnh thật: chùm tia phản xạ cắt nhau ở phía trước gương (chùm tia phản xạ hội tụ)
+ Ảnh ảo: chùm tia phản xạ cắt nhau ở phía sau gương (chùm tia phản xạ phân kì)
Đối với các dụng cụ quang học trong suốt, ảnh thật được tạo ra khi chùm tia khúc xạ cắt nhau ở phía sau dụng cụ, theo đường truyền của chùm tia sáng, tức là chùm tia khúc xạ hội tụ.
+ Ảnh ảo: chùm tia khúc xạ cắt nhau ở phía trước dụng cụ theo đường truyền của chùm tia sáng (chùm tia khúc xạ phân kì)
- Cấu tạo là khối chất trong suốt, đồng chất, được giới hạn bởi hai mặt phẳng không song song.
- Đường đi của tia sáng qua lăng kính: tia sáng đơn sắc khi truyền qua lăng kính thì đều bị lệch
Các công thức của lăng kính:
SVTH: Võ Thị Thúy Minh 31
Hình 2.2 Đường truyền của tia sáng qua lăng kính
Tại I: sini 1 =nsinr 1 Tại J: sini 2 = nsinr 2 n: chiết suất tỉ đối của lăng kính và môi trường
Khi có góc lệch cực tiểu thì i 1 = i 2 = i; r 1 = r 2 = A/2
Góc lệch cực tiểu: D min = 2i – A
Nội dung về thấu kính trong sách giáo khoa được trình bày đầy đủ với các khái niệm quan trọng như quang tâm, đường kính mở, trục chính, trục phụ, tiêu điểm, tiêu diện và tiêu cự Bên cạnh đó, bài viết cũng đề cập đến điều kiện cần thiết để coi thấu kính là thấu kính mỏng.
Các tính chất đặc biệt của tia sáng khi đi qua thấu kính được trình bày thông qua các thí nghiệm minh họa, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt và hiểu rõ hơn về hiện tượng này.
Hình 2.3 Hình mô tả đường truyền của ánh sáng qua thấu kính rìa dày và rìa mỏng
- Các công thức của TK được trình bày rất rõ ràng Độ tụ :
- Công thức xác định vị trí ảnh:
Vật thật: d>0, vật ảo: d0, ảnh ảo: d’0: ảnh và vật cùng chiều k