1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng lý luận giá trị lao động của c mác trong việc hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

53 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 868,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với việc chuyển đổi này đã đem lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn: Chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế nước ta bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và đa dạng cá

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Tên đề tài:

VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC TRONG VIỆC HOÀN THIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Huỳnh Thị Phương Thảo Lớp : 12 SGC

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Phan Hiếu

Đà Nẵng, 5/2016

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Những đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6

1.1 Khái quát lý luận giá trị lao động của C.Mác 6

1.1.1 Hàng hóa 6

1.1.1.1 Định nghĩa hàng hóa 6

1.1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa 6

1.1.1.3 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và ý nghĩa của phát hiện này 8

1.1.1.4 Lượng giá trị của hàng hóa 11

1.1.2 Sản xuất hàng hóa, điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, các loại hình sản xuất hàng hóa 14

1.1.2.1 Sản xuất hàng hóa 14

1.1.2.2 Điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa 15

1.1.2.3 Các loại hình sản xuất hàng hóa phổ biến trong nền kinh tế 17

1.1.3 Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ 17

1.1.3.1 Sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hóa 17

1.1.3.2 Chức năng của tiền tệ 20

1.1.3.3 Quy luật lưu thông của tiền và vấn đề lạm phát 22

1.1.4 Các quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa 23

Trang 3

1.1.4.1 Quy luật giá trị 23

1.1.4.2 Quy luật cạnh tranh, quan hệ cung cầu và giá cả hàng hóa 25

1.2 Ý nghĩa của lý luận giá trị lao động của C.Mác đối với việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 26

1.2.1 Nhận thức điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa có ý nghĩa lý luận đối với đổi mới kinh tế ở Việt Nam 26

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC ĐỂ HOÀN THIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM 29

2.1 Khái quát kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 29

2.1.1 Bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 29

2.1.2 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 30

2.1.3 Các bộ phận cấu thành và cơ chế vận hành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 31

2.2 Vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác để hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 32

2.2.1 Lý luận giá trị lao động của C.Mác với việc hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 32

2.2.2 Lý luận giá trị của C.Mác với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 35

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong giai đoạn hiện nay 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 4

1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và Việt Nam có những biến đổi to lớn, đặc biệt là sự khủng hoảng trầm trọng của CNXH hiện thực và khủng hoảng kinh tế-

xã hội của đất nước Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt nhấn mạnh đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế Năm 1991, Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.1

Qua gần 30 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mặc dù thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhân dân

ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, với ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn phong phú và những thành tựu to lớn đã đạt được, một lần nữa chúng ta khẳng định rằng, nhờ được trang bị vũ khí lý luận bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống của dân tộc và nhân loại, Đảng Cộng sản Việt Nam suốt 85 năm qua đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn, làm cho đất nước ngày càng phát triển Đó là thực tế không thể phủ nhận và đồng thời cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta tiếp tục phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin

Những chủ trương, đường lối, chính sách trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và trong đó có lĩnh vực kinh tế Trên cơ sở nhận thức đó, Đảng ta đã chuyển đổi từ mô hình tập trung

1 Đảng Công sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.88

Trang 5

2

bao cấp, chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với việc chuyển đổi này đã đem lại cho Việt Nam nhiều thành tựu to lớn: Chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế nước ta bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh; trong đó, công ty cổ phần với sở hữu hỗn hợp ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển; nhận thức về phân phối đã được định hình, các hình thức phân phối được đa dạng hóa, phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được coi trọng Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, nhiều tồn tại hạn chế trong việc hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường như: hoàn thiện thể chế kinh tế còn chậm, thiếu kiên quyết; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, chất lượng không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu học thuyết kinh tế C.Mác nói chung và lý luận giá trị lao động nói riêng là vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn ở Việt

Nam Xuất phát từ thực tế đó tôi đã chọn đè tài “Vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong việc hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp cuối khóa

2 Tình hình nghiên cứu

Xóa bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự sáng tạo của Đảng ta Việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn là yêu cầu đặt ra và có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

- Vũ Công Chính “Cơ sở khoa học và thực tiễn hình thành giá cả sức lao động ở nước ta” Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, với một số quan điểm lý luận, thực trạng giá cả sức lao động ở nước ta hiện nay cúng như những giải pháp điều tiết giá cả và thị trường sức lao động ở nước ta hiện nay

- Đoàn Trọng Nhã “Học thuyết giá trị và vận dụng vào phát triển kinh tế thị trường

ở nước ta” (1994), Trung tâm bồi dưỡng cán bộ giảng dạy Mác – Lênin, Nxb Đại học

quốc gia Hà Nội

- Vũ Hữu Ngoạn “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định

hướng xã hội chủ nghĩa” (1991), Nxb thông tin lý luận Hà Nội

Trang 6

3

- Đỗ Thế Tùng “Những nguyên lý về hàng hóa tiền tệ trong tác phẩm Tư bản của

C.Mác và ý nghĩa thực sự của chúng” (1994), Trung tâm bồi dưỡng cán bộ giảng dạy

Mác – Lênin, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội

- PGS.TS Phạm Văn Dũng “Vận dụng học thuyết kinh tế Mác – Lênin trong xây

dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam”, Các vấn đề kinh tế và kinh doanh

(phần II) Bài viết phân tích khái quát quá trình nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế Mác – Lênin trong xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, đưa ra một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị liên quan đến vấn đề

- Nguyễn Hữu Thảo “ Phương pháp tiếp cận giá trị lao động của C.Mác trong nền

KTTT ở Việt Nam” Bài viết nêu lên một số suy nghĩ về cách tiếp cận học thuyết giá trị

lao động của C.Mác, chủ yếu những nhân tố cấu thành lượng giá trị và những biểu hiện mới, liên quan đến giá trị hàng hóa

- Phạm Văn Chiến và Phạm Quốc Trung “Bàn về điều kiện xuất hiện hàng hóa xuất

lao động”, Giáo dục lý luận Bài viết xuất hiện trên diễn đàn – tranh luận nhằm bảo vệ

tính khoa học, lịch sử của lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác Đặc biệt là những giả định về điều kiện xuất hiện hàng hóa sức lao động trong điều kiện ở Việt Nam

Ngoài ra, còn có một số luận án, luận văn: Bùi Thị Xuyến “Vận dụng lý luận hàng

hóa sức lao động của C.Mác vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;

Nguyễn Văn Dũng “Lý luận hàng hóa sức lao động và việc vận dụng lý luận đó vào phát

triển thị trường lao động ở nước ta”, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Kinh tế - ĐHĐN;

Đặng Thị Hồng “Lý luận hàng hóa của C.Mác và việc nâng cao năng lực cạnh tranh của

hàng hóa Việt Nam”, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Nông ngiệp Hà Nội; Nguyễn Thị Dậu

“Vai trò của quy luật giá trị đối với sự phát triển KTTT ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn

tốt nghiệp, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu khác ít nhiều có bàn đến vấn đề vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong việc hoàn thiện kinh tế thị trường Nhìn chung, các công trình trên đã kiến giải, làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến lí luận giá trị lao động của C.Mác vào hoàn thiện kinh tế thị trường ở Việt Nam Tất

cả các công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quý báu, gợi mở cho tôi hướng tiếp cận khi nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tôi chưa thấy có bài viết nào và công trình nào tập trung nghiên cứu lý luận giá trị lao động C.Mác trong việc hoàn

Trang 7

4

thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; ý nghĩa lý luận giá trị lao động với việc hình thành tư duy lý luận từ không thừa nhận đến thừa nhận sản xuất hàng hóa Vì vậy, đây là vấn đề tác giả thấy cần phải nghiên cứu, là lý do giúp em lựa chọn và cũng là động lực thúc đẩy em hoàn thành công trình nghiên cứu này

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu lý luận giá trị lao động của C.Mác, xác định cơ sở khoa học để vận dụng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ lý luận giá trị lao động của C.Mác và ý nghĩa của nó đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Nghiên cứu sự vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong việc hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Đề tài xác định những vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận giá trị lao động của

C.Mác

- Phạm vi nghiên cứu: vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác trong việc hoàn

thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc trưng của kinh tế chính trị học là phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp logic kết hợp với lịch sử Đồng thời

sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê đối chiếu, so sánh để nghiên cứu và trình bày bản chất của vấn đề

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2 chương:

Trang 8

5

Chương 1: Lý luận về giá trị lao động của C.Mác và ý nghĩa của nó đối với phát triển

kinh tế thị trường

Chương 2: Vận dụng lý luận giá trị lao động của C.Mác để hoàn thiện thể chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 9

6

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG CỦA C.MÁC VÀ Ý NGHĨA

CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Khái quát lý luận giá trị lao động của C.Mác

Học thuyết giá trị (giá trị lao động) là xuất phát điểm trong toàn bộ lý luận kinh tế của Mác Trong học thuyết này Mác nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người, có liên quan tới vật và biểu hiện dưới hình thái quan hệ giữa vật với vật Cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với người thông qua quan hệ giữa vật với vật ở đây chính là lao động, cái thực thể, yếu tố cấu thành giá trị của hàng hóa Đó chính là trọng tâm của học thuyết này Sự thực thì sản xuất hàng hóa và gắn liền với nó là các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ đã từng có trước chủ nghĩa tư bản Nó là những điều kiện tiền đề cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển Dựa trên nền tảng học thuyết giá trị, Mác đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư Vì vậy, nghiên cứu học thuyết giá trị của Mác cũng cần phải hiểu rằng: đó là ta đã bắt đầu nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng mới chỉ ở dạng đơn giản nhất và chung nhất

1.1.1 Hàng hóa

1.1.1.1 Định nghĩa hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người

và được sản xuất ra để trao đổi, mua để bán

Dấu hiệu quan trọng nhất của hàng hóa đó là trước khi đi vào tiêu dùng phải qua mua bán

Hàng hóa có thể ở dạng hữu hình: lương thực, quần áo, tư liệu sản xuất…hoặc ở dạng vô hình: dịch vụ vận tải, dịch vụ chữa bệnh…

1.1.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa

Hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

- Giá trị sử dụng của hàng hóa

Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm mà nhờ đó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu trực tiếp như: ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại, nhu cầu dán tiếp như: các tư liệu sản xuất…) Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng đó, làm cho nó có giá trị sử dụng Ví dụ như gạo

để ăn, áo để mặc, nhà để ở, xe để đi lại, máy móc để sản xuất…Cở sở của giá trị sử dụng của mỗi hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên của vật thể hóa đó quyết định Tuy

Trang 10

Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội, giá trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Nó buộc người sản xuất hàng hóa phải quan tâm đến nhu cầu xủa xã hội, làm cho sản phẩm của mình để đáp ứng được nhu cầu của xã hội Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những hàng hóa vật thể hữu hình còn có những hàng hóa vô hình, hàng hóa dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm sau:

+ Giá trị sử dụng của dịch vụ không có hình thái vật thể mà tồn tại dưới hình thái phi vật thể

+ Sản xuất ra hàng hóa dịch vụ hầu hết hướng vào phục vụ trực tiếp người tiêu dùng như chữa bệnh, dạy học, cắt tóc, chăm sóc sức khỏe, thẩm mỹ,… Và như vậy, thì quá trình sản xuất cũng đồng thời với quá trình tiêu dùng các hàng hóa dịch vụ đó

+ Dịch vụ với tư cách là hàng hóa đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất và đời sống hiện đại

Trong nền sản xuất hàng hóa, giá trị sử dụng đồng thời cũng là vật mang giá trị trao đổi

- Giá trị hàng hóa

Để hiểu giá trị của hàng hóa cần bắt đầu từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ mà theo đó một giá trị sử dụng này được trao đổi với những giá trị trao đổi khác Ví dụ: 1 rìu = 20 kg thóc, tức 1 rìu có giá trị trao đổi bằng 5

kg thóc

Hai hàng hóa khác nhau, có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng chúng lại có thể trao đổi được với nhau, vì giữa chúng có một cơ sở chung: đều là sản phẩm của lao động, đều được kết tinh bởi lao động Nhờ cở sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau Vì vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động của họ

ẩn dấu trong những giá trị sử dụng của hàng hóa ấy Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của việc trao đổi và tạo thành giá trị của hàng hóa

Trang 11

8

Như vậy, giá trị của hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Còn giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở trên, chẳng qua là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa Cũng chính vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, nó tồn tại trong kinh tế hàng hóa

Vì giá trị là lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, nên nếu không kể đến tính chất có ích của sản phẩm thì mọi hàng hóa đều giống nhau, đều không có sự phân biệt Nhờ giá trị của hàng hóa mà quan hệ kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa được diễn ra

Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính trên vì lao động sản xuất ra nó có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng Trong đó, lao động cụ thể tạo ra thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hóa, còn lao động trừu tượng tạo ra thuộc tính giá trị của hàng hóa

* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính

Hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn nhau

Thống nhất vì cùng tồn tại trong cùng một hàng hóa Một vật phẩm chỉ khi có đầy

đủ hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị mới được gọi là hàng hóa

Mâu thuẫn giữa hai thuộc tính hàng hóa thể hiện ở chỗ: với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất với chất Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị, các hàng hóa lại đồng nhất về chất, đều là “kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi”, tức đều là sự kết tinh của lao động hay là lao động đã được vật hóa, nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau cả về mặt không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước – trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau – trong lĩnh vực tiêu dùng Do đó, nếu giá trị của hàng hóa không thực hiện được, tức hàng hóa không bán được, thì giá trị sử dụng của nó không được thực hiện Giá trị sử dụng vận động cùng chiều với sức sản xuất của lao động, còn giá trị thì vận động ngược chiều với sức sản xuất của lao động

1.1.1.3 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và ý nghĩa của phát hiện này

* Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

Lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng

- Lao động cụ thể: là lao động có ích biểu hiện dưới một hình thức cụ thể của những

nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích, phương pháp lao động, đối tượng lao

Trang 12

9

động và kết quả lao động riêng Ví dụ, hoạt động của người thợ mộc, thợ xây, thợ may…là những lao động cụ thể

Mỗi lao động cụ thể tạo ra những sản phẩm nhất định, tức là tạo ra một loại giá trị

sử dụng nhất định Lao động cụ thể giúp ta phân biệt sự khác nhau giữa những người sản xuất hàng hóa

Lao động cụ thể biểu hiện là một nghề chuyên môn nên nó phụ thuộc vào phân công lao động xã hội, tức là vào trình độ của lực lượng sản xuất Khoa học, công nghệ và lực lượng sản xuất càng phát triển càng có nhiều hình thức cụ thể của lao động, do đó xã hội càng sản xuất ra nhiều loại hàng hóa, cơ cấu hàng hóa ngày càng phong phú đa dạng hơn Năng suất lao động càng tăng, trình độ khoa học – công nghệ càng hiện đại thì số lượng hàng hóa sản xuất ra càng nhiều với chất lượng ngày càng tốt hơn

- Lao động trừu tượng: là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ

những hình thức cụ thể của nó, hay đó chính là sự tiêu phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa

Giá trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Nhờ lao động trừu tượng mà tìm thấy sự đồng nhất giữa những người sản xuất, thấy được cơ sở quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng là

cơ sở để người sản xuất trao đổi sản phẩm với nhau

Lao động cụ thể và lao động trừu tượng vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau Mặt thống nhất biểu hiện ở chỗ, chúng là hai mặt của cùng một lao động sản xuất hàng hóa Mặt mâu thuẫn thể hiện ở chỗ, với tư cách là lao động cụ thể, lao động của người sản xuất hàng hóa đã tạo ra một giá trị sử dụng với số lượng và chất lượng nhất định cho

xã hội, những với tư cách là lao động trừu tượng, sự hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa có thể không phù hợp so với mức hao phí lao động của xã hội

Lực lượng xã hội càng phát triển, năng suất lao động càng tăng thì sự tiêu hao sức lực của người sản xuất vào hàng hóa càng giảm, do đó, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa ngày càng giảm xuống Trong trường hợp này giá cả của hàng hóa ngày càng rẻ hơn Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có quan hệ với tính chất tư nhân

và tính chất xã hội của lao động Lao động tư nhân là lao động riêng của từng cá nhân chủ thể kinh tế, của người sản xuất hàng hóa Họ làm gì, làm như thế nào, hao phí bao nhiêu là hoạt động tư nhân của họ Nhưng đồng thời, hoạt động sản xuất của họ lại là một

bộ phận nằm trong sự phân công xã hội, do đó, lao động của họ cũng đang lao động cho

Trang 13

10

xã hội Lao động xã hội là sự thừa nhận của xã hội đối với lao động tư nhân, tức là xã hội cũng thừa nhận sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai Tức là, hàng hóa do tư nhân sản xuất ra có thể được xã hội thừa nhận hoặc không thừa nhận Nếu hàng hóa bán được tức

là xã hội thừa nhận việc sản xuất của tư nhân Ngược lại, nếu hàng hóa không bán được, tức là hàng hóa của tư nhân không được xã hội thừa nhận Lao động tư nhân và lao động

xã hội, do đó có mâu thuẫn với nhau Đây là mâu thuẫn cơ bản của kinh tế hàng hóa

* Ý nghĩa của việc phát hiện này

C.Mác là người phát hiện ra tính chất hai mặt của sản xuất hàng hóa Nhờ phát hiện này mà Mác đã tìm ra cơ sở để giải quyết triệt để lý luận giá trị - lao động Trước Mác, tuy đã có một số nhà kinh tế đã tìm ra được nguồn gốc của giá trị hàng hóa là lao động, nhưng họ chỉ mới nhận thấy rằng đó là lao động không chỉ tạo ra giá trị mà còn tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Họ chưa thể tìm ra được thực thể của giá trị, chưa thể hiểu nguồn gốc cuối cùng của giá trị hàng hóa, nên lý luận của họ bị bế tắc

Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Mác đã vạch rõ nguồn gốc của giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa Với tư cách là lao động trừu tượng, mọi hàng hóa đều giống nhau, không có sự phân biệt Số lượng giá trị của hàng hóa được quyết định bởi số lượng lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh vào hàng hóa, đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Số lượng lao động trừu tượng tiêu dùng vào sản xuất hàng hóa càng nhiều thì lượng giá trị của nó càng lớn và ngược lại Lao động trừu tượng là cơ sở để những người sản xuất hàng hóa thiết lập quan hệ kinh tế, tiến hành trao đổi sản phẩm cho nhau Thực chất trao đổi hàng hóa là trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau với lượng giá trị bằng nhau

Nhờ phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Mác đã chỉ ra xu hướng vận động ngược chiều nhau giữa khối lượng hàng hóa với lượng giá trị của nó khi

có sự biến đổi về năng suất lao động Khi năng suất lao động tăng lên thì khối lượng hàng hóa được sản xuất ra tăng lên, những lượng giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa lại giảm xuống

Nhờ phát hiện tính chất hai mặt của sản xuất hàng hóa, Mác đã phát hiện ra tính chất tư nhân và tính chất xã hội cũ nền kinh tế hàng hóa và mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế này

Nhờ phát hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, Mác đã giải thích đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư, chỉ ra giá trị thặng dư thực chất là giá trị của hàng

Trang 14

11

hóa kéo dài quan điểm thời gian lao động cần thiết của công nhân Qua đó, chỉ ra bản chất đích thực của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa đối với lao động làm thuê

1.1.1.4 Lượng giá trị của hàng hóa

Lượng giá trị của hàng hóa là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa, được đo bằng thời gian lao động hao phí để sản xuất hàng hóa bao gồm lao động vật hóa (tư liệu sản xuất) và lao động sống

Mỗi chủ thể kinh tế có một lượng hao phí lao động thực tế nhất định trong quá trình sản xuất hàng hóa, đó là thời gian lao động cá biệt Thời gian này, xác định giá trị cá biệt của hàng hóa Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt của hàng hóa để tiến hành trao đổi, mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa

* Thời gian lao động xã hội cần thiết

Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội, trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị của hàng hóa phải tính theo lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Lượng lao động hao phí đó được tính bằng thời gian lao động Vậy, lượng giá trị phải tính theo thời gian lao động, nhưng không phải tính theo thời gian lao động cá biệt

Nếu như vậy “thì người ta có thể lầm tưởng rằng người sản xuất ra hàng hóa càng lười biếng hay càng vụng về bao nhiêu thì lượng giá trị hàng hóa của anh ta lại càng lớn bấy nhiêu Nhưng cái lao động tạo thành thực thể của giá trị là thứ lao dộng giống nhau của con người, là chi phí của cùng một sức lao động của con người…, nó có tính chất một sức lao động xã hội trung bình…, do đó, để sản xuất ra một hàng hóa nhất định, nó chỉ dùng một thời gian lao động trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết”2 Lượng giá trị của hàng hóa không phải do mức hao phí lao động cá biệt hay, mà

nó được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất trung bình của xã hội: với một trình độ thành thạo trung bình, với một trình độ trang thiết bị trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó

Thực chất thời gian lao động xã hội cần thiết chính là mức hao phí lao động xã hội trung bình để sản xuất hoặc tái sản xuất ra hàng hóa đó Thông thường thời gian lao động

2 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.1993, tập 23, tr.67,68,69

Trang 15

Thời gian lao động xã hội cần thiết lại thay đổi theo sự thay đổi trong sức sản xuất của lao động Sức sản xuất của lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, trong đó có

“trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học và trình độ áp dụng của khoa học vào quá trình công nghệ, sự kết hợp của quá trình sản xuất, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện thiên nhiên”

Nói chung, sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một vật phẩm đó càng ít, khối lượng lao động kết tinh trong vật phẩm

đó càng nhỏ thì lượng giá trị của vật phẩm đó càng ít và ngược lại Như vậy, đại lượng giá trị của một hàng hóa thay đổi theo tỷ lệ thuận với lượng lao động kết tinh trong hàng hóa đó và tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó

* Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa

Nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa có ba nhân tố chủ yếu: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động

- Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của người lao động Nó được đo bằng số

lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống, hoặc cũng trong một thời gian lao động như vậy, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì lượng giá trị của một hàng hóa giảm xuống và ngược lại Như vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Sự vận động trái ngược đó là do tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Năng suất lao động là kết quả hoạt động của sức sản xuất của lao động, nhưng năng suất lao động cũng có thể là kết quả của tăng cường

độ lao động, nhất là khi năng suất lao động chưa đạt mức trung bình của xã hội hoặc do giảm bớt tiêu dùng sức lao động một cách không sản xuất Như vậy, năng suất lao động

là kết quả của cả sức sản xuất của lao động và cường độ lao động

Trang 16

13

- Cường độ lao động: là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương lao động trong một

đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ nặng nhọc hay căng thẳng của lao động trong một khoản thời gian nhất định

Cường độ lao động tăng lên là mức hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên, vì tăng cường độ lao động, thực chất cũng giống như việc kéo dài thời gian lao động, để có nhiều sản phẩm hơn, đồng thời hao phí lao động trừu tượng cũng tăng lên Do đó, khi tăng cường độ lao động thì hầu như lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm không đổi

Như vậy, tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau ở chỗ: đều dẫn đến số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng khác nhau ở chỗ: tăng năng suất lao động không chỉ làm cho số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, mà còn làm cho lượng giá trị của một hàng hóa giảm xuống Tăng năng suất lao động dựa trên cơ sở vận dụng nhiều nhân tố, do đó, nó gần như một yếu tố sức sản xuất vô hạn, còn tăng cường độ lao động là hao phí thêm lao động trừu tượng để có số lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều Do đó, nếu năng suất lao động không đổi mà chỉ tăng cường độ lao động thì lượng giá trị của một hàng hóa không giảm Hơn nữa, tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào huy động thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là một yếu tố sức sản xuất có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh

tế

- Mức độ phức tạp của lao động

Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng khác nhau đến số lượng giá trị của hàng hóa, theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

+ Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động có sức khỏe bình thường, không cần phải trải qua đào tạo, tích lũy kinh nghiệm cũng có thể thực hiện được

+ Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được

Trong cùng một thời gian tự nhiên, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Xét về mặt lượng giá trị, thì lao động phức tạp là lao động giản đơn được

Trang 17

14

nhân bội lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động giản đơn trung bình Tỷ lệ quy đổi được tiến hành một cách tự phát sau lưng những người sản xuất hàng hóa, thông qua cạnh tranh, quan hệ cung cầu mà tự xác định trên thị trường

Đến đây, có thể hiểu giá trị hàng hóa một cách đầy đủ là: giá trị của hàng hóa là lao động xã hội, trừu tượng, giản đơn trung bình của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Giá trị là quan hệ xã hội ẩn chứa, kết tinh trong hàng hóa Còn lượng giá trị của một hàng hóa là: Thời gian lao động xã hội cần thiết của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với thời gian lao động xã hội cần thiết và tỷ lệ nghịch với sản xuất của lao động để làm ra hàng hóa đó Lượng giá trị hàng hóa còn phải tính đến mức độ phức tạp của lao động sản xuất ra loại hàng hóa đó

1.1.2 Sản xuất hàng hóa, điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, các loại hình sản xuất hàng hóa

1.1.2.1 Sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để trao dổi thông qua mua bán Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, mà để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán

So với sản xuất tự túc, sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn đó là:

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất, do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội,kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương.Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng càng tạo điều kiện để mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình cho phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô, tính chất tổ chức sản xuất không giới hạn chật hẹp mà nó được xã hội hóa ngày càng cao dựa trên cơ sở ngày càng tăng nhu cầu và khả năng thảo mãn đáp ứng nhu cầu của xã hội Điều đó tạo điều kiện ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Thứ ba, trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động cần những quy luật vốn có của nó như quy luật giá trị ,cung-cầu,cạnh tranh… , buộc người sản xuất phải luôn luôn năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất,nâng cao năng xuất, chất

Trang 18

1.1.2.2 Điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa

Hai điều kiện của sản xuất hàng hóa

Để có sản xuất hàng hóa cần có hai điều kiện:

Thứ nhất, có sự phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau

Phân công lao động xã hội làm cho mỗi người, mỗi cơ sở chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định Phân công lao động xã hội chuyên môn hóa sản xuất làm cho năng xuất lao động tăng lên, sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều và trao đổi sản xuất ngày càng trở nên phổ biến Chính sự phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất chỉ sản xuất ra một số sản phẩm, thậm chí một chi tiết nào đó của sản phẩm, nhưng cuộc sống tự nhiên họ cần đến nhiều thứ, do đó, họ phải sống dựa và nhau, phụ thuộc vào nhau, có mối quan hệ kinh tế với nhau

Song, chỉ có phân công lao động xã hội không thôi thì chưa đủ điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hóa Khi nhấn mạnh phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hóa C.Mác đồng thời chỉ rõ rằng, trong các công xã Ấn Độ và trong các công xưởng hiện đại, tuy lao động đã có sự phân công, nhưng sản phẩm của lao động không trở thành hàng hóa Vì vậy, phải có điều kiện thứ hai nữa thì sản phẩm của lao động mới trở thành hàng hóa

Thứ hai, có sự tách biệt về mặt kinh tế của những người sản xuất Theo C.Mác: “chỉ

có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa” Người lao động tư nhân, độc lập có thể là một người lao động cá thể, có thể là một người lao động tổng thể, mà chỉ sản phẩm của cả tổng thể mới trở thành hàng hóa Lao động tư nhân không đồng nhất với tư hữu C.Mác

Trang 19

16

đã từng nêu: ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, của vua chúa như ở Châu Á Ở đây,

“không có quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất, mặc dù vẫn còn quyền chiếm hữu ruộng đất và quyền sử dụng ruộng đất, quyền này hoặc là của tư nhân hoặc là của công cộng”3 Lênin cho rằng: “khi giả định rằng nông nghiệp sản xuất theo lối tư bản của chủ nghĩa, tất nhiên cũng bao hàm cả cái ý giả định rằng tất cả ruộng đất đều bị các doanh nghiệp tư nhân riêng rẽ chiếm giữ: nhưng tuyệt nhiên không bao hàm cả cái ý giả định rằng toàn bộ ruộng đất là tài sản tư hữu của những nghiệp chủ đó hay của những người khác, họ giả định rằng đó là sở hữu tư nhân nói chung”4 Như vậy, lao động tư nhân độc độc lập không chiếm hữu và quyền sử dụng riêng lẽ Cùng là công hữu hay tư hữu, nhưng quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tách biệt, độc lập tương đối với nhau thì muốn sử dụng sản phẩm của nhau, những người sản xuất phải công nhận nhau là những chủ thể tư nhân đối với những vật thể trao đổi, chuyển nhượng hàng hóa

Theo dòng lịch sử, thoạt đầu, trao đổi hàng hóa được diễn ra giữa các bộ lạc, về sau, chế độ công xã nguyên thủy mới xuất hiện sở hữu tư nhân Đó là một trong những nhân

tố càng làm cho lao động của người sản xuất tách biệt nhau thành lao động tư nhân, độc lập Và cùng với sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, sự tách biệt đó càng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất này mà nảy sinh xu hướng tách biệt về mặt pháp lý với quyền chiếm hữu, sử dụng đối với tư liệu sản xuất C.Mác đã chỉ ra sự phân biệt sở hữu về mặt pháp lý với chiếm hữu thực tế: Ở đây, người sản xuất chỉ có thể là người sở hữu danh nghĩa Sự tách biệt về quyền sử dụng, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế đối với tư liệu sản xuất đã dẫn đến sự tách biệt

về quyền chiếm hữu kết quả sản xuất, đó là cơ sở tồn tại thứ hai của trao đổi và sản xuất hàng hóa Về mặt pháp lý, có thể thuộc quyền sở hữu công cộng (nhà nước, tập thể), có thể thuộc quyền sở hữu tư hữu, song người chiếm hữu, sử dụng tư liệu sản xuất ấy vẫn có thể độc lập với tư cách là người sản xuất hàng hóa Ví dụ, ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước đại diện, thống nhất quản lý, nhưng giao quyền sử dụng lâu dài cho từng chủ thể hộ nông dân, hợp tác xã., nông trường quốc doanh…đều có thể là sản xuất hàng hóa

Khi nghiên cứu sự chuyển biến từ nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa, V.I.Lênin viết: sản xuất hàng hóa chính là cách tổ chức của kinh tế xã hội, trong đó sản

3 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002,tập 23, tr.72, 132-133

4 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1995,tập 5,tr.139

Trang 20

17

phẩm đều do những người sản xuất cá thể, riêng lẻ, sản xuất ra mỗi người chuyên làm ra

ra một thứ sản phẩm nhất định, thành thử muốn thõa mãn nhu cầu của xã hội thì cần có mua bán sản phẩm trên thị trường

Sự ra đời, tồn tại, phát triển của sản xuất hàng hóa là một bước tiến lớn trong sự phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng mông muội, xóa dần kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất

1.1.2.3 Các loại hình sản xuất hàng hóa phổ biến trong nền kinh tế

Sản xuất chàng hóa có thể được xem xét theo các loại hình cơ bản: sản xuất hàng hóa giản đơn, sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa và

sự đan xen giữa các loại hình sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1.3 Nguồn gốc, bản chất, chức năng của tiền tệ

1.1.3.1 Sự phát triển của các hình thái giá trị hàng hóa

* Bốn hình thái giá trị hàng hóa

Nếu giá trị sử dụng của hàng hóa có thể nhận biết được bằng các giác quan, thì giá trị của hàng hóa chỉ có thể nhận biết được qua giá trị trao đổi, tức là qua các hình thái giá trị Trong lịch sử phát triển của trao đổi hàng hóa, hình thái giá trị cũng đã từng phát triển

từ thấp đến cao, từ hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên, hình thái mở rộng, hình thái giá trị chung tới hình thái tiền tệ

Giá trị không tự bộc lộ, mà phải được thể hiện thông qua giá trị trao đổi, mua bán giữa những người sản xuất hàng hóa Nghiên cứu quá trình phát triển của các hình thái biểu hiện của giá trị mới hiểu nguồn gốc, bản chất của tiền tệ Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị

- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị

Hình thái này là những “mầm mống đầu tiên của trao đổi, khi mà các sản phẩm của lao động chỉ biến thành hàng hóa trong những hành vi đơn nhất và ngẫu nhiên”5

Công thức tổng quát xH1 = yH2 Ở hình thái này, hàng hóa H1 biểu hiện giá trị của nó ở H2 H1 là hình thái giá trị tương đối,còn H2 đóng vai trò là vật ngang giá

Ví dụ: 1 cái áo = 5 đấu thóc Ở đây giá trị của hàng hóa này (cái áo) chỉ biểu hiện đơn nhất ở một hàng hóa khác (thóc), và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi cũng ngẫu nhiên được hình thành Hàng hóa

5 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2002, tập 23, tr.106

Trang 21

18

thứ nhất (áo) đóng vai trò hình thái giá trị tương đối Hình thái thứ hai (thóc) đóng vai trò hình thái vật ngang giá Hình thái giá trị tương đối đóng vai trò chủ đạo, thể hiện giá trị qua so sánh với hàng hóa khác

Lượng của hình thái giá trị tương đối tỷ lệ thuận với lượng giá trị của chính hàng hóa đó và tỷ lệ nghịch với lượng giá trị hàng hóa vật ngang giá

Hình thái vật ngang giá không tự nói được giá trị của nó nhưng với hình thái giá trị sử dụng của nó, vật ngang giá lại thể hiện giá trị của hàng hóa khác so sánh với vật ngang giá đó

Mặc dù, lúc đầu quan hệ trao đổi mang tính ngẫu nhiên, nhưng sự trao đổi đó dần dần trở thành một quá trình xã hội đều đặn, thường xuyên thúc đẩy sản xuất hàng hóa

ra đời và phát triển Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai – hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị

- Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị

Khi có nhiều hàng hóa trao đổi trên thị trường thì một hàng hóa có thể đem trao đổi với nhiều hàng hóa khác, làm ra đời hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị Phương trình:

Ở đây giá trị tương đối của một hàng hóa (1 cái áo) được biểu hiện ở nhiều hàng hóa khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá, nhờ đó, tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lượng hao phí lao động quy định Vì ở đây ngay từ đầu, người ta sản xuất ra với mục đích là để trao đổi, do đó, trong trao đổi họ phải tính toán đến mức lao động hao phí

1 cái áo =

Trang 22

19

Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn, đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung, xuất hiện hình thái thứ ba – hình thái chung của giá trị

- Hình thái chung của giá trị

Khi sản xuất hàng hóa phát triển, quan hệ trao đổi trở nên thường xuyên rộng rãi hơn, thì có một hàng hóa tách ra làm vật ngang giá chung, làm ra đời hình thái chung của giá trị Vật ngang giá chung có thể trao đổi trực tiếp với một hàng hóa bất kỳ Nó trở thành môi giới và phương tiện để trao đổi Phương trình:

xH1

hoặc yH2

hoặc zH3

hoặc v.v H5 là vật ngang giá chung

Lúc đầu, mỗi dân tộc hoặc mỗi địa phương có một loại sản phẩm được quy định làm vật ngang giá chung

đó khắc phục được nhược điểm của hình thái trước đó, vật ngang giá chung trở thành môi giới, mục đích thành phương tiện trong trao đổi hàng hóa Tuy nhiên, ở hình thái này, vật ngang giá chung chưa thật sự cố định ở một hàng hóa nào cả và vẫn trao đổi trực tiếp, hàng đổi hàng (H – H’)

Sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa thì vật ngang giá chung được cố định, “gắn một cách vững chắc với một số loại hàng hóa đặc biệt”, khi đó xuất hiện hình thái thứ tư – hình thái tiền tệ

- Hình thái tiền tệ của giá trị: Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn

nữa,thị trường được mở rộng thì vật ngang giá chung dần dần được cố định ở vàng hoặc bạc,làm xuất hiện tiền Phương trình trao đổi

xH1

= nH5

= 5 đấu thóc

Trang 23

Tiền ra đời làm cho thế giới hàng hóa chia thành 2 cực: một bên là vàng với tư cách

là vật ngang giá chung, còn một bên là các hàng hóa khác, chúng soi mình vào vàng để xác định giá trị

* Nguồn gốc và bản chất của tiền

Tiền tệ ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa

Tiền là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cố định cho tất cả các hàng hóa Đó là nguồn gốc của tiền Hình thái tiền tệ chính là sự thể hiện chung của giá trị, nó biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Đó chính là bản chất của tiền tệ Với sự xuất hiện của hình thái tiền tệ, thì thế giới hàng hóa được chia làm hai: một bên là tất thảy mọi hàng hóa và dịch vụ, một bên là tiền Giá trị hàng hóa thể hiện bằng tiền gọi là giá cả của hàng hóa đó

Bản chất của tiền còn được thể hiện rõ qua 5 chức năng của nó:

1.1.3.2 Chức năng của tiền tệ

Tiền có 5 chức năng: thước đo giá trị, phương tiện lưu thong, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền thế giới

- Thước đo giá trị: dùng tiền để đo lường giá trị của các hàng hóa khác Với chức

năng này, tiền chỉ cần là một lượng vàng tưởng tượng, không cần vàng thật Nó được thể hiện bằng giá cả thị trường

= 0,2 gram vàng

= n gram vàng (vàng trở thành tiền)

Trang 24

21

Giá cả thị trường là hình thức tiền tệ của giá trị hàng hóa, là kết quả của sự thỏa thuận giữa người mua và người bán hàng hóa trên thị trường Giá trị là cở sở của giá cả Tuy nhiên,do tác động của các quy luật thị trường nên tại một thời điểm nào đó,mức giá

cả hàng hóa có thể thay đổi lên xuống; cao hơn hoặc thấp hơn giá trị của nó Mặc dù vậy,

về xu hướng,giá cả vận động xoay quanh giá trị, tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị của các hàng hóa

- Phương tiện lưu thông: tiền làm vật môi giới trong lưu thông hàng hóa Công thức

xH1 – T –yH2 Với chức năng này, phải có một lượng tiền thật (vàng hoặc đại diện của vàng là tiền giấy)

Với chức năng là phương tiện lưu thông, lúc đầu xuất hiện trực tiếp dưới hình thức vàng thoi, bạc nén, sau đó là tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy ra đời Tiền giấy chỉ là kí hiệu giá trị do nhà nước phát hành và buộc xã hội công nhận Tiền giấy không có giá trị thực

Thực hiện chức năng này, tiền làm cho quá trình mua, bán diễn ra được thuận lợi, nhưng nó cũng làm cho việc mua bán tách rời nhau về cả không gian, thời gian và số lượng, do đó đã bao hàm khả năng khủng hoảng kinh tế

- Phương tiện cất trữ: khi sản xuất kém phát triển, tiền được rút khỏi kênh lưu

thông trở thành phương tiện cất trữ Với chức năng này, nhất thiết tiền phải có đủ giá trị, tức phải là vàng Tiền giấy muốn làm chức năng này, nó phải chuyển hóa ra vàng Điều

đó có nghĩa vì sao giá vàng tăng lên khi lạm phát tiền giấy và giúp ta phân biệt được tác dụng khác nhau giữa tiền vàng và tiền giấy Khi sản xuất phát triển, tiền lại được tung ra lưu thông, giúp tiêu thụ sản phẩm và trở thành điều kiện sản xuất

- Phương tiện thanh toán: dùng tiền để thực hiện mua, bán chịu Khi đó tiền tệ có

chức năng là phương tiện thanh toán, thực hiện trả tiền mua chịu trả nợ v.v Chức năng này được thực hiện thông thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng bằng tiền mặt Trong đó, thanh toán không dùng tiền mặt phát triển nhanh và mang tính phổ biến

Sự phát triển chức năng này làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể hàng hóa

- Tiền tệ thế giới: dùng tiền để thực hiện thanh toán các khoản chênh lệch về mậu

dịch và phi mậu dịch Với chức năng này, tiền phải là vàng thỏi, vàng nén hoặc các ngoại

tệ mạnh Tiền giấy muốn thực hiện chức năng này, phải chuyển đổi thành vàng và ngoại

tệ mạnh Điều đó làm cho giá vàng trên thị trường thay đổi, thường tăng lên và tỷ giá hối

Trang 25

Năm chức năng của tiền có mối quan hệ với nhau, phản ánh bản chất của tiền

1.1.3.3 Quy luật lưu thông của tiền và vấn đề lạm phát

- Quy luật lưu thông của tiền

Quy luật lưu thông của tiền là quy luật xác định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa trong một thời kỳ nhất định

Công thức tổng quát:

Trong đó: M là lượng tiền cần thiết phát hành cho lưu thông, P là mức giá cả, Q là khối lượng hàng hóa, dịch vụ đem ra lưu thông trên thị trường, V là số vòng chu chuyển trung bình của tiền cùng loại

Khi có quan hệ mua bán chịu, thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức:

Trong đó: P,Q là tổng giá cả hàng hóa đem bán, P,Q1 là tổng giá cả hàng hóa bán chịu; P,Q2 là tổng giá cả hàng hóa khấu trừ cho nhau; P,Q3 là tổng giá cả đến kỳ thanh toán

Việc xác định quy luật lưu thông của tiền có ý nghĩa to lớn đến việc quản lý nền kinh tế thị trường Nó là căn cứ khoa học làm chổ dựa để chính phủ phát hành lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong từng thời kỳ; căn cứ để ngân hàng giúp nhà nước tiến hành điều hòa mức cung tiền; và để ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động kinh doanh

- Vấn đề lạm phát

Lạm phát là hiện tượng kinh tế xuất hiện khi mức giá chung tại thời điểm này cao hơn với thời điểm trước (tháng trước, quý trước hoặc năm trước) Mức lạm phát được tính theo tỷ lệ phần trăm giữa mứa tăng giá chung tại thời điểm cần xác định với mức giá chung ở thời điểm trước Để xác định mức lạm phát người ta thường căn cứ vào chỉ số giá cả sản xuất (PPI) hoặc chỉ số giá cả hàng tiêu dùng (CPI)

Trang 26

23

Nguyên nhân lạm phát: sự gia tăng mức cung của tiền nhanh hơn sự gia tăng mức cung của hàng hóa và dịch vụ Nó có thể do phát hành hoặc do hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại hoặc do tâm lý người dân mất lòng tin vào tiền

Lạm phát có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế như có thể làm biến dạng cơ cấu ngành kinh tế theo hướng bất lợi trong dài hạn gây khó khăn cho hạch toán kinh tế, phân phối lại thu nhập gây bất lợi cho những người có thu nhập bằng tiền ổn định… vì vậy, để ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhà nước phải có cơ chế và chính sách kiểm soát lạm phát

1.1.4 Các quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa

1.1.4.1 Quy luật giá trị

- Nội dung quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa.Ở

đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động

Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian hao phí lao động cá biệt để sản xuất hàng hóa

phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết

Nhìn bề ngoài sản xuất và trao đổi hàng hóa như là việc riêng của từng chủ thể, họ độc lập và hình như không chịu sự chia phối nào Nhưng thực tế, những hoạt động đó đều chịu sự chia phối của quy luật giá trị Nếu ai có chi phí thấp hơn so với chi phí mà xã hội thừa nhận thì người đó tồn tại và phát triển; ngược lại, họ sẽ thua lỗ và phá sản

- Biểu hiện của quy luật giá trị

Quy luật giá trị hoạt động được biểu thị ở sự biến đổi lên, xuống của giá cả thông qua sự biến đổi của quan hệ cung – cầu về hàng hóa trên thị trường Sự biến đổi giá cả một cách tự phát là do sự phản ánh hoạt động của quy luật giá trị

Khi cung bằng cầ thì giá cả bằng giá trị

Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị

Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả lớn hơn giá trị

Xét tổng thể thì tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị

- Tác dụng của quy luật giá trị

Quy luật giá tri tồn tại, hoạt động ở mọi phương thức có sản xuất hàng hóa Tuy có những đặc điểm hoạt động riêng tùy thuộc vào quan hệ sản xuất thống trị, nhưng nhìn chung, quy luật giá trị có 3 tác dụng:

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN” (2008), Nxb chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: Đinh Văn Ân “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2008
5. Nguyễn Thị Thúy Cường “Ý nghĩa lý luận giá trị thặng dư của C.Mác đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa lý luận giá trị thặng dư của C.Mác đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
6. Lê Quang Diên “Sự cần thiết và những hướng khai thác khi vận dụng học thuyết giá trị thặng dự của C.Mác trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, tập 72B, số 3, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cần thiết và những hướng khai thác khi vận dụng học thuyết giá trị thặng dự của C.Mác trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
7. PGS.TS Phạm Văn Dũng“Vận dụng học thuyết kinh tế Mác – Lênin trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng học thuyết kinh tế Mác – Lênin trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
8.Vũ Văn Hân và Trần Bình Trọng “Kinh tế thị trường, lý luận thực tiễn và vận dụng ở Việt Nam” (1993), Nxb Thống Kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường, lý luận thực tiễn và vận dụng ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Văn Hân và Trần Bình Trọng “Kinh tế thị trường, lý luận thực tiễn và vận dụng ở Việt Nam”
Nhà XB: Nxb Thống Kê Hà Nội
Năm: 1993
9. TS Vũ Văn Hậu và TS Nguyễn Thị Như Hà “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO” (2009), Nxb chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: TS Vũ Văn Hậu và TS Nguyễn Thị Như Hà “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO”
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
10. TS Nguyễn Mạnh Hùng “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phát triển bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phát triển bền vững
11. An Như Hải “Phương cách làm bài thi môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương cách làm bài thi môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”
Nhà XB: Nxb Lao động
13. Đặng Xuân Kỳ “Sự nghiệp đổi mới – thành tựu và bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra hôm nay”. Nxb chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp đổi mới – thành tựu và bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra hôm nay
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
14. Đặng Xuân Kỳ “Chủ nghĩa Mác – Lênin và thời đại của chúng ta” (1993), Đề tài KH.KX.10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chủ nghĩa Mác – Lênin và thời đại của chúng ta”
Tác giả: Đặng Xuân Kỳ “Chủ nghĩa Mác – Lênin và thời đại của chúng ta”
Năm: 1993
15. Nguyễn Văn Kỷ “Vai trò kinh tế chính trị Mác – Lênin trong thời đại ngày nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò kinh tế chính trị Mác – Lênin trong thời đại ngày nay
16. Vũ Hữu Ngoạn “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (1991), Nxb thông tin lý luận Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Tác giả: Vũ Hữu Ngoạn “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Nhà XB: Nxb thông tin lý luận Hà Nội
Năm: 1991
17. Đoàn Trọng Nhã “Học thuyết giá trị và vận dụng vào phát triển kinh tế thị trường ở nước ta” (1994), Trung tâm bồi dưỡng cán bộ giảng dạy Mác – Lênin, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Học thuyết giá trị và vận dụng vào phát triển kinh tế thị trường ở nước ta”
Tác giả: Đoàn Trọng Nhã “Học thuyết giá trị và vận dụng vào phát triển kinh tế thị trường ở nước ta”
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
18. PhanThanh Phố “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam
19. Phan Thanh Phố “Khoa học công nghệ và kinh tế thị trường ở Việt Nam” (1994), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khoa học công nghệ và kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Tác giả: Phan Thanh Phố “Khoa học công nghệ và kinh tế thị trường ở Việt Nam”
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1994
20. Việt Phương “Học thuyết của nền kinh tế thị trường” (1995), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Học thuyết của nền kinh tế thị trường”
Tác giả: Việt Phương “Học thuyết của nền kinh tế thị trường”
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1995
21. Nguyễn Phúc Sa “Học thuyết kinh tế”, Viện đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Học thuyết kinh tế”
22. Lê Văn Sang “Các mô hình kinh tế thị trường thế giới” (2004), Nxb Thống Kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình kinh tế thị trường thế giới
Tác giả: Lê Văn Sang “Các mô hình kinh tế thị trường thế giới”
Nhà XB: Nxb Thống Kê Hà Nội
Năm: 2004
23. Nguyễn Hữu Thảo “Phương pháp tiếp cận giá trị lao động của C.Mac trong kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế, số 87, Tháng 1/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp cận giá trị lao động của C.Mac trong kinh tế thị trường ở Việt Nam
24. Nguyễn Hữu Thảo “Trao đổi về phương pháp giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin trong tình hình hiện nay” (1991), Nội san nghiên cứu sáng tạo, số 1, trường ĐH Tài chính – kế toán Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo “Trao đổi về phương pháp giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin trong tình hình hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Hữu Thảo “Trao đổi về phương pháp giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin trong tình hình hiện nay”
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w