Luận văn
Trang 1CHUYEN DICH CO CAU KINH TẾ NÔNG THÔN
HUYEN TIEN HAI - TINH THAI BINH
(Kinh tế nông nghiệp)
ey
LA 423/99,
Mã số:5.02.05 :
LUAN AN PHO TIEN SY KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dân khoa học:
1.NGUYÊN TIẾN MẠNH - PTS khoa học kinh tế
_Viện kinh tế nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp và PTNT
2.NGUYÊN NGUYÊN CỰ - PTS khoa học kinh tế
Trường dại học NN I - Hà Nội
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc láp - tự do - Hạnh phúc
LOI CAM DOAN
Toi xin cam doan day là công trình nghiên cứu của riêng lôi
Các số liệu, kết qủa nêu trong luận án là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác /
NGUYEN XUAN LAI
Trang 3MUC LUC
Dat van dé
1 Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.1 Quan niệm về cơ cấu kinh tế
1.1.2 Quan niệm về cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.3 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn
1.1.4 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn
1.2.Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và nông nghiệp
1.2.1 Nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
1.2.2 Nhóm các nhân tố kinh tế xã - hội
1.2.3 Nhóm nhân tố về tổ chức và kỹ thuật
1.3 Những kinh nghiệm chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn của một số nước trong khu vực
1.4 Chỉ tiêu đánh giá trình độ và hiệu quả cơ cấu kinh tế nông thôn
1.4.1.Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu cơ cấu kinh tế
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu kinh tế và quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Trang 41.4.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn
1.5 Thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Việt Nam
1.5.1 Thực trạng kinh tế nông thôn Việt Nam
1.5.2 Đánh giá chung sự chuyển dịch cơ cấu nông lâm - ngư nhiệp
nước ta
Chương 2 Thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn huyện
Tiền Hải tỉnh Thái Bình
2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
2.1.3 Đặc điểm về đời sống dân cư và xã hội nông thôn
2.1.4 Những lợi thế tiềm năng và những trở ngại thử thách trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Tiền Hải
2.2 Thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn Tiền Hải
2.2.1 Tổng quan về cơ cấu kinh tế nông thôn Thái Bình
2.2.2 Thực trạng cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Tiền Hải
2.2.3 Cơ cấu kinh tế nội bộ của từng ngành
2.3 Đánh giá chung sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
huyện Tiền Hải
Trang 5Chuong 3
Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Tiền Hải
3.1 Những quan điểm vận dụng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn của huyện Tiền Hải
3.2 Những định hướng và các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tiền Hải từ 1996 đến 2000
3.2.1 Phương hướng chung:
3.2.2 Dự kiến các chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu của huyện
Tiền Hải giai đoạn 1996-2000
3.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
Kinh tế nóng thôn huyện Tiền Hải - Thái Bình
3.3.1 Các biện pháp về kinh tế sản xuất trong từng bước chuyển đổi
3.3.2 Biện pháp về kinh tế chính sách chủ yếu nhằm từng bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tiền Hải
Trang 6DAT VAN DE
1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu đã được Nghị quyết Đại hội VII; Nghị quyết Trung ương 6, Nghị
quyết Trung ương 7 khẳng định
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn là một
phạm trù mang tính khoa học và thực tiễn biểu hiện năng lực và trình độ tổ chức,
quản lý nền kinh tế trên từng địa bàn lãnh thổ và trên phạm vi cả nước, đồng thời
là nội dung quan trọng thực hiện chiến lược phát triển nông nghiệp và kinh tế
nông thôn của Đảng
Tiền Hải là một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, du lịch và địch vụ Nhiều năm qua, đặc biệt trong thời gian gần đây kinh tế nông nghiệp phát triển với tốc độ khá nhưng cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn vẫn là nền kinh tế thuần nông hàng hoá ít, hiệu quả thấp
Việc chọn đề tài: “Muững giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kính tế nông thôn huyện Tiền Hải - tỉnh Thái Bình " để nghiên cứu là nhầm góp phần thiết thực triển khai chiến lược phát triển kinh tế của Đảng trên địa bàn huyện Tiền Hải đáp ứng nhu cầu bức xúc hiện nay của địa phương Vì vậy đề tài mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Thực hiện đề tài nhằm ba mục đích chính:
2.1 Làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn
Trang 72.2 Đánh giá tình hình thực trạng và quá trình phát triển về cơ cấu kinh
tế nông thôn huyện Tiền Hải
2.3 Đề xuất các phương pháp và giải pháp khả thi nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Tiền Hải trong giai đoạn 1996 - 2000
3 DOI TUONG VA PHAM VI NGHIÊN CÚU
Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng và tiềm năng kinh tế tự nhiên của
huyện Tiền Hải - Thái Bình: nghiên cứu các cơ sở sản xuất kinh doanh của các
thành phần kinh tế trên địa bàn huyện: nghiên cứu các hộ nông dán, ngư dân điêm dân và các hộ tiểu thủ công nghiệp dịch vụ trong nông thôn và xem đó là đối tượng nghiên cứu quá trình chuyển dịch, đưa ra những định hướng và giải
pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nóng thôn Tiền Hải Thái Bình trong thời gian tới
Về phạm vi không gian chủ yếu tập trung nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trên địa bàn huyện Tiền Hải có đối chiếu so sánh với các vùng tương tự của tỉnh Thái Bình: có sử dụng số liệu
thống kê và phát triển nông nghiệp cả nước
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU
Phương pháp cơ bản được sử dụng nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp chính sau đây:
4.1 Phương pháp thống kê và kính tế:
Phương pháp thống kê - kinh tế được sử dụng trong luận án bao gôm:
- Sử dụng các tài liệu thống kê của Tổng cục Thống kế, của Chỉ cục Thống kê tỉnh Thái Bình, của phòng Thống kẽ huyện tiền Hải, các tài liệu thống
kế qua các cuộc điều tra chuyên đề của tỉnh và của huyện và xem đó là tài liệ sốc để tính toán các chỉ tiêu đáp ứng yêu cầu nghiên cứu Trong quá trình nghiên
2
Trang 8cứu căn cứ vào tài liệu hướng dẫn của Tổng cục Thống kê thực hiện tính toán
chuyển đổi theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA (System of National Acount) và tính giá theo giá cố định để có thể so sánh đối với một số chỉ tiêu nhằm nghiên
cứu quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế và tính toán các phương án chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn Tiền Hải đến năm 2000
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu tiến hành lựa chọn các hộ nông dân ở các vùng để điều tra thu thập tài liệu nhầm phân tích và làm căn cứ tính toán
- Sử dụng phương pháp phân tổ và phân tích Thống kê để phân tích đánh
giá tình hình
4.2 Phương pháp chuyên khảo, chuyên gia:
Phương pháp chuyên khảo chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu toàn
diện và chỉ tiết các hộ nông dân có các hệ thống canh tác điển hình đạt hiệu quả kinh tế cao tại các vùng sinh thái làm căn cứ cho việc đánh giá tiềm năng và định hướng cho việc phát triển trong tương lai Phương pháp chuyên gia được sử dụng nhằm tranh thủ ý kiến đóng góp của các chuyên gia về kinh tế và kỹ thuật thông qua các tài liệu nghiên cứu và ý kiến trực tiếp của họ trong đánh giá cũng như
trong hoạch định chiến lược phát triển của các vùng, các ngành và các thành phần kinh tế của huyện
4.3 Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (RRA: Rapid Rural Appraisal)
Trang 9- Đánh giá khả năng thực hiện trong đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn
Tiền hải đến năm 2000
~ Xác định các nội dung cần ưu tiên trong hoạt động phát triển
~ Tiến hành các hoạt động phát triển
4.4 Phương pháp toán kinh tế:
Sử dụng phương pháp toán trong nghiên cứu các quan hệ có tính hệ thống
chặt chẽ trong các mô hình cụ thể nhằm tối ưu hoá các chỉ tiêu kinh tế, chọn lọc các giải pháp, các phương án kinh tế - kỹ thuật nhờ máy tính để tính toán.
Trang 10Chuong 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
1,1 QUAN NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG
THON
1.1.1 Quan niệm về cơ cấu kinh tế
Phát triển nền kinh tế có hiệu quả luôn luôn là mục tiêu của tất cả mọi
quốc gia Nền kinh tế thống nhất và phát triển là một trong những yếu tố quyết định sự ổn định và phát triển của mỗi nước Chính vì lẽ đó, công việc hàng đầu của mọi Nhà nước là phải chăm lo đến việc ổn định và phát triển nén kinh tế Để
có nền kinh tế phát triển, luôn luôn đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý,
trong đó cần xác định mối quan hệ siữa các ngành kinh tế quốc dân giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế Các mối quan hệ này phải được thể
hiện cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng và được xác lặp trone những
giai đoạn nhất định phù hợp với những đặc điểm tự nhiên kinh tế, xã hội cụ thể
của mỗi nước
Vê Cơ cấu kinh tế: Có nhiều quan niệm khác nhau nhưng tựu trung cơ
cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế gồm nhiều yếu tố có mối quan hé tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành cấu trúc bên trone của nền kinh tế được sắp dat theo
một tỷ lệ nhất định, trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể; Cơ cấu Kinh tế không cố định, luôn vận động và hoàn thiện
1.1.2 Quan niệm về cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một trong hai khu vực kinh tế đặc ưưng của nền kinh
tế quốc dân: Khu vực kinh tế nông thôn và khu vực kinh tế thành thị Kính tế
nông thôn được phân biệt với kinh tế thành thị không đơn thuần ở tính đặc trưng
của các ngành, hoặc phân ngành Sự phân biệt cụ thể về khu vue dia ly gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động xã hội Do vậy, kinh
5
Trang 11tế nông thôn là một khái niệm dùng để biểu đạt một tổng thể các hoạt động kinh
tế - xã hội diễn ra trên địa bàn (khu vực) nông thôn Nó bao gồm cả nông nghiệp
- lam nghiệp - ngư nghiệp và cả công nghiệp dịch vụ trên địa bàn đó (|54]
tr.8)
Khi nói nền kinh tế nông thôn, chúng ta thường liên tưởng tới một địa bàn
mà ở đó hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là bao trùm (nông nghiệp ở
đây là nông nghiệp theo nghĩa rộng) Nhưng ngày nay, với sự phát triển cao của
kinh tế xã hội, đặc biệt là sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao
động, nông thôn không chỉ đơn thuần là khu vực chỉ có hoạt động nông nghiệp
mà phải được phát triển cả công nghiệp và dịch vụ Có thể nói, kinh tế nông thôn
là khu vực kinh tế quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất vì nó trực
tiếp đóng sóp những của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu cơ bản của xã hội Kinh tế
nông thôn là khu vực sản xuất vật chất duy nhất cung cấp cho xã hội những sản
phẩm lương thực, thực phẩm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu, nuôi sống con
người Những nhu cầu này không gì có thể thay thế được Mặc dù rồi đây với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội của khu vực kinh tế
nông thôn có thể giảm đần (xu hướng chung bất buộc giảm dần), nhưng về khối lượng sản phẩm tuyệt đối vẫn không ngừng tăng lên Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, khu vực kinh tế nóng thôn đã và đang cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm nguyên liệu cho công nghiệp và chỉ viện lao động cho khu vực thành thị Tuy nhiên quá trình phát triển của mỗi đất nước luôn gấn với quá trình
đô thị hoá Song, không vì đô thị hoá, mà khu vực kinh tế nông thôn mất di Trai
lại, kình tế nông thôn đòi hỏi ngày càng phát triển mà phải là một nông thôn hiện
đại - nông thôn được đô thị hoá
Khu vực kinh tế nông thôn tồn tại và phát triển luôn gắn liền với tổng thể
các cơ cấu kinh tế nhất định Cơ cấu kinh tế nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ,
không tách rời nhau troig những tỷ lệ về mặt lượng cũng như về mặt chất Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế nông thôn không chỉ giới hạn về các quan hệ tỷ lệ giữa các
ngành, các phân ngành trong nông thôn Nó tồn tại khách quan nhưng không
mang tính bất biến mà luôn thay đổi, thích ứng với sự phát triển của lực lượng
Trang 12sản xuất và phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ Hiểu đây đủ khái niệm của nó để nhận thức đúng đắn nhằm định hướng cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo cho
khu vực kinh tế nông thôn đạt hiệu quả cao
Như vậy cơ cấu kinh tế nông thôn là cấu trúc kinh tế trong khu vực nông thôn, được thể hiện bằng những tỷ lệ nhất định về mật lượng và liên quan chặt chẽ về chất của các ngành và nội bộ ngành kinh tế trong nông thôn ( nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch .) Cùng với cơ cấu theo ngành có cơ cấu theo vùng và theo thành phần
kinh tế ([54], tr.9) Xác lập cơ cấu kinh tế nông thôn chính là giải quyết mối quan
hệ tương tác giữa những-yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa
tự nhiên với con người trong khu vực nông thôn, theo từng thời gian và những
điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể Các mối quan hệ trong cơ cấu kinh tế nông thôn
phần ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, của quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá, sự trao đổi lao động lẫn nhau dưới hình thức này hay hình thức khác Cơ cấu kinh tế nông thôn càng phức tạp cả về chiều rông và chiều sâu, càng phản ánh trình độ phát triển cao hay thấp của lực lượng sản xuất
và phân công lao động trong khu vực nông thôn
Đối với nước ta hiện nay, kinh tế nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Lao động trong nông nghiệp
và nông thôn chiếm trên 70% lực lượng lao động của cả nước Đây là yếu tố cc bản sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống toàn bộ xã hội Vì vậy, kinh tế nông thôn vẫn là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cé
ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội, không chỉ trước mắt mè còn rất lâu dài ở nước ta
Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông thon sé bao gor
cơ cấu các ngành nông - lâm - ngư nghiệp- công nghiệp - thủ công nghiệp - dict
vu nằm tại địa bàn nông thôn Trong cơ cấu ngành lại được hình thành các phâr
ngành chẳng hạn như ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, ngành chế biến Tront ngành trồng trọt có ngành cây lương thực, ngành cây công nghiệp, cây ăn quả
7
Trang 13và thậm chí còn được phân định thành các ngành chuyên sâu như: trong ngành trồng trọt có chuyên ngành trồng rau, ngành cao su, ngành cà phê , trong ngành chăn nuôi có ngành chăn nuôi bò sữa, ngành nuôi ong, ngành nuôi cá nước
ngọt
Cùng với cơ cấu ngành, do đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của từng
vùng có khác nhau nên việc hình thành cơ cấu kinh tế của các vùng lãnh thổ
Nông thôn ngày nay đã xuất hiện nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia vào quá trình sản xuất, lưu thông và vì vậy cũng xuất hiện cơ cấu các thành phần kinh
tế
Ngoài ra, do quy luật phát triển không đồng đều chỉ phối, xuất phát từ trình độ dân trí, trình độ quản lý, khả năng về vốn của từng vùng, của các thành phần kinh tế không giống nhau, do đó, việc tiếp thu, ứng dụng thiết bị kỹ thuật
công nghệ không như nhau, vì vậy tất yếu cũng diễn ra sự khác nhau về cơ cấu
kỹ thuật
Các cơ cấu trên hình thành, tồn tại, phát triển và chuyển địch theo hướng
ngày càng có hiệu quả, nếu có sự điều hành, chỉ đạo của Nhà nước với các chính sách và giải pháp thích ứng ở tầm vĩ mô Bản thân các cơ cấu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau trong quá trình
phát triển
1.1.3 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông thôn
Một là: cơ cấu kinh tế nông thôn mang tính khách quan và được hình
thành do sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội chỉ phối, ở một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, sẽ có một cơ cấu kinh tế cụ
thể tương ứng trong nông thôn Điều đó khẳng định rằng, việc xác lập cơ cấu
kinh tế nông thôn, cần tôn trọng tính khách quan của nó và càng không thể áp đặt
một cách chủ quan, duy ý chí Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và
phân công lao động xã hội, tự nó - các mối quan hệ kinh tế - đã có thể xác lập
những tỷ lệ nhất định mà ta gọi là cơ cấu C.Mác viết: "Trong sự phan cong lac
8
Trang 14động xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi Một tất yếu thăm kín, yên lặng" ([26] tr 25) Vì thế một cơ cấu kinh tế cụ thể trong nông thôn như thế nào và xu hướng chuyển dịch của nó ra sao là phụ thuộc và chịu chỉ phối của các điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên nhất định
chứ không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của con người
Tuy nhiên, không giống như các quy luật tự nhiên, các quy luật kinh tế lại
biểu hiện và vận động thông qua hoạt động của con người Vì vậy, có thể nói quá
trình xác lập và biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn ở mỗi thời kỳ khác nhau, ít nhiều đều chịu sự tác động, chi phối của con người
ai là: cơ cấu kinh tế nông thôn bao giờ cũng mang tính lịch sử và xã hội nhất định Cơ cấu kinh tế nông thôn như đã phân tích trên, là tổng thể các mối
quan hệ kinh tế được xác lập theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng trong
những thời gian cụ thể nhất định Tại thời điểm đó, do những điều kiện cụ thể về
kinh tế - xã hội và tự nhiên, các tỷ lệ đó được xác lập và hình thành theo một cơ
cấu kinh tế nhất định Song một khi có những biến đổi trong những điều kiện nói
trên thì lập tức các mối quan hệ này cũng thay đổi và hình thành một cơ cấu kinh
tế mới thích ứng
Ba là: cơ cấu kinh tế nông thôn không ngừng vận động, biến đổi, phát
triển theo hướng ngày càng hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả Quá trình phát
triển và biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn luôn luôn gắn bó chặt chẽ với sự phát
triển của các yếu tố về lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Lực lượng sản xuất càng phát triển con người càng văn mình, khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, phân công lao động ngày càng tỷ mỷ và phức tạp, tất yếu dẫn đến
cơ cấu kinh tế cũng ngày càng hoàn thiện Sự vận động và biến đổi của cơ cấu
kinh tế nông thôn luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi không ngừng của các
yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như trong nền
kinh tế nông thôn nói riêng Cơ cấu kinh tế nông thôn cũng sẽ vận động, biến đổi
và phát triển thông qua sự chuyển hoá của ngay bản thân nó Cơ cấu cũ hình thành và mất đi để ra đời cơ cấu mới Cơ cấu mới ra đời lại tiếp tục vận động và
Trang 15phát triển và trở thành lỗi thời, lạc hậu, nó lại được thay thế bằng một cơ cấu mới, tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn Sự vận động, biến đổi đó là tất yếu, phản ánh sự phát
triển không ngừng của văn minh nhân loại [29]
Bốn !à: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một quá trình Và cũng
không có một cơ cấu nào hoàn thiện và bất biến Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng sẽ vận động và chuyển hoá từ cơ cấu kinh tế cũ
sang cơ cấu kinh tế mới đòi hỏi phải có thời gian và qua các bậc thang nhất định của sự phát triển Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi lượng đã được tích luỹ đến
độ nhất định tất yếu dẫn đến sự biến đổi về chất Đó là quá trình chuyển hoá đần
cơ cấu kinh tế cũ thành cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có hiệu quả hơn Tất
nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nhanh hay chậm còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó sự tác động của con người có ý nghĩa quan
trọng Đặc biệt là, phải có được các giải pháp chính sách và cơ chế quản lỷ thích ứng để định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu Mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ, trì trệ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đều gãy phương hai đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung và kinh tế nông thôn nói
riêng Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải là một quá trình, không thể khác phục được, nhưng không phải là một quá trình tự phát mà con người phải có thể và
nhất thiết phải thúc đẩy quá trình chuyển dịch này nhanh hơn Trên cơ sở nhận
thức nắm bắt các quy luật vận động khách quan của chúng để tác động theo
đúng các mục tiêu đã được hoạch định Vấn đề quan trọng là phải bất đầu từ đáu
và với những biện pháp nào mà tác động vào nó sẽ gây phản ứng đây chuyền tạo
ra bước phát triển mới lên tổng thể kinh tế nông thôn nói riêng và nền kinh tế
quốc dân nói chung Đúng như V.] Lê Nin đã kết luận: "Trong các giai đoạn đặc biệt cần tìm ra các mắt xích đặc biệt mà người ta mang toàn lực ra nấm lấy để giữ
vững được toàn bộ những mắt xích và chuẩn bị để chuyển sang mắt xích kế bên”
Trang 161.1.4 Nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn
Cũng như cơ cấu kinh tế nói chung, nội dung cơ cấu kinh tế nông thôn bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế và cc cấu kỹ thuật
1.1.4.1 Cơ cấu ngành
Trong quá trình phát triển loài người đã trải qua 3 lần phân công lao động
xã hội, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp địch vụ lưu thông tách khỏi sản xuất
Như vậy sự phân công lao động theo ngành là cơ sở để hình thành cơ cất
ngành Sự phân công lao động phát triển ở trình độ cao, càng tỷ mỷ thì su phar chia ngành càng đa dạng và sâu sắc Cùng với sự phát triển của lực lượng sắt xuất và tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt với sự phát triển của công nghiệp hiệt đại, cơ cấu kinh tế nông thôn được cải biến nhanh chóng theo hướng công nghiệT
hoá và hiện đại hoá ([59] tr 20)
Cơ cấu kinh tế ngành của kinh tế nông thôn bao gồm 3 nhóm: Nôn:
nghiệp (theo nghĩa rộng: nông, lâm và ngư nghiệp), công nghiệp nông thôn (bac
gồm công nghiệp khai thác, chế biến, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyềr thống) và dịch vụ nông thôn (bao gồm dịch vụ sản xuất và địch vụ đời sống) Trong từng nhóm ngành lại được phân chia nhỏ hơn, chẳng hạn trong nôn; nghiệp (theo ngành hẹp) được phân thành: trồng trọt và chăn nuôi Ngành tron;
trọt được phân chia tiếp thành: Cây lương thực, cây công nghiệp, rau đậu, cây ăi
quả, cây dược liệu, cây thức ăn gia súc
Phân công lao động thực hiện càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được
phân chia tỷ mỷ và đa dạng Tiền đề của sự phân công lao động là năng suất lac
động nông nghiệp, trước hết và chủ yếu là năng suất lao động của khu vực sải xuất lương thực phải đạt ở mức nhất định đảm bảo số lượng và chất lượng lươn;
thực cần thiết cho xã hội mới tạo nên sự phân công giữa những người sản xuã lương thực với những người sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp, làm chải
l1
Trang 17nuôi tạo nên sự phân công lao động giữa những người làm nông nghiệp va những người là các ngành khác Một số quốc gia không thể làm giàu bằng nông
nghiệp mà phải làm giàu bằng công nghiệp và dịch vụ Nhưng muốn làm giàu
bằng công nghiệp và dịch vụ có hiệu quả thì trước hết phải coi trọng nông
nghiệp, nghĩa là nông nghiệp phải đảm bảo phát triển đến mức độ nhất định tạo
tiền đề và điều kiện quan trọng cho sự phát triển công nghiệp và dịch vụ với nhịp
độ cao và vững chắc
1.1.4.2 Cơ cấu vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công theo lãnh thổ,
đó là hai mặt của quá trình gấn bó hữu cơ với nhau, thúc đấy quá trình tiến hoá của nhân loại Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên vùng
lãnh thổ nhất định, như vậy cơ cấu các vùng lãnh thổ chính là bố trí các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thế nhầm khai thác mọi ưu thế, tiềm nãns, sẵn có ở đây Xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ theo hướng đi vào chuyên
môn hoá và tập trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất
hàng hoá lớn, tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khác, gắn với cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cả nước Trong từng vùng lãnh thổ cần coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển
tổng hợp và đa dạng Theo kinh nghiệm lịch sử, để hình thành cơ cấu vùng lãnh
thổ hợp lý, trước hết căn hướng vào các khu vực có lợi thế so sánh, đó là những
khu vực có điều kiện đất đai khí hậu tốt, có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi - là
những vùng gần với các trục đường giao thông, huyết mạch, cửa sông, cửa biển, gần các thành phố và khu công nghiệp lớn, sôi động có điều kiện phát triển và
mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng bên trong và bên ngoài, có khả năng tiếp
cận và hoà nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên,
so với cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ có tính trì trệ hơn, có sức ì hơn cho
nên việc xây dựng các vùng chuyên môn hoá nông - lâm nghiệp cần được nghiên cứu và xem xét cụ thể, thận trọng nếu phạm sai lầm sẽ khó khắc phục và chịu sự tổn thất lớn ([29] tr 18)
12
Trang 18Trên phạm vi cả nước, cũng như từng địa phương trong quá trình sản xuất hàng hoá đã từng bước hình thành các vùng và tiểu vùng sản xuất chuyên môn hoá, sản xuất ra những nông sản hàng hoá ngày một lớn với chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Cơ cấu kinh tế nông thôn của mỗi vùng thường có những đặc trưng rất khác nhau phụ thuộc vào 2 nhóm nhân
tố:
- Thứ nhất: Yêu cầu của thị trường tác động đến cơ cấu của vùng
- Thứ hai: Khả năng, điều kiện riêng của từng vùng, nhằm tìm kiếm những lợi thế trong sản xuất kinh doanh để thoả mãn, đáp ứng nhu cầu của thị trường Đương nhiên, việc xác định cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ không hoàn toàn thụ động chỉ biết lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện đặc thù mà dẫn đến
sự khiếm khuyết trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế, mà phải kết hợp lợi dụng tổng hợp các yếu tố để khắc phục những mặt hạn chế, lấy mục tiêu hiệu quả tổng hợp làm định hướng cho cơ cấu kinh tế mới
1.1.4.3 Cơ cấu thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng ở nước ta Trong một thời gian tương đối dài, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết Hướng vào nền kinh tế thuần nhất với hai loại hình kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Từ đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định việc
chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế chỉ huy, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước và coi trọng phát triển nhiều thành phần kinh
tế Thực ra các thành phần kinh tế được hiểu như thế nào cũng đang là vấn đề
được tiếp tục làm rõ thêm, vì vấn đề sở hữu cho đến nay chưa đủ lý giải toàn bộ
bức tranh phức tạp của nền kinh tế Điều đáng chú ý trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu các thành phần kinh tế nổi lên các xu thế sau: Đó là sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế trong đó kinh tế hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh lực
lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản cho nền kinh tế
quốc dân Trong quá trình đó đang diễn ra xu thế chuyển dịch kinh tế hộ tự cung
13
Trang 19tự cấp sang sản xuất hàng hoá, từng bước giảm tỷ lệ hộ thuần nông, tăng tỷ lệ số
hộ kiêm và các hộ chuyên làm ngành nghề thủ công dịch vụ Để có sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn, nông nghiệp nước ta không dừng lại ở kinh tế hộ sản
xuất hàng hoá nhỏ mà phải tiến lên xây dựng kinh tế nông trại với quy mô liên
hộ Đặc trưng của kinh tế nông trại là sản xuất hàng hoá lớn Tỷ trọng khu vực quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn có xu thế giảm, cần rà soát lại, sắp
xếp và củng cố để các đơn vị kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp phát triển có
hiệu quả Những đơn vị yếu kém cần phải có giải pháp tích cực hoặc có thể chuyển sang hình thức sở hữu khác phù hợp Đối với khu vực kinh tế hợp tác, cần thiết đổi mới cơ bản các hợp tác xã kiểu cũ chuyển từ chức năng điều hành sản xuất sang hoạt động địch vụ Trên cơ sở nguồn vốn và quỹ hiện có Ban quản lý hợp tác xã điều hành hoạt động này có hiệu quả, coi đó là thước đo của việc đổi mới các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ Đồng thời khuyến khích mở rộng và
phát triển các hình thức hợp tác xã kiểu mới, đó là các hợp tác xã có hình thức và
tính chất đa dạng, quy mô và trình độ khác nhau, hợp tác xã và hộ nông dân cùng tồn tại và phát triển trên cơ sở tự nguyện của các hộ thành viên và đảm bảo lợi
ích thiết thực
1.1.4.4 Cơ cấu kỹ thuật
Khác với khu vực kinh tế thành thị, cơ cấu kỹ thuật trong khu vực kinh tế nông thôn mang nặng tính chất của nông thôn cổ truyền và nông nghiệp truyền thống
Trong nhiều thế kỷ, nông thôn là khu vực kinh tế lạc hậu, phân tán, manh mún và có tính bảo thủ Về kỹ thuật mang tính cha truyền con nối, tự đào tạo và
truyền khẩu những kinh nghiệm truyền thống trong phạm vi từng gia đình, thôn,
xóm, làng, xã, ít vượt khỏi luỹ tre làng của quê hương Với những tư tưởng trọng nông, trọng ruộng đất khinh thương nghiệp - dịch vụ, tư tưởng quý nghĩa khinh
lợi, đặt nghĩa tình lên trên, ít tính toán đến hiệu quả kinh tế, tư tưởng hà tiện
nhưng không tiết kiệm và bình quân trong việc làm cũng như hưởng thụ Chính những tư tưởng truyền thống đó đã chỉ phối các phương thức kinh doanh của các
14
Trang 20hộ nông dân, làm cho họ mang tính bảo thủ, ít thay đổi về Kỹ thuật, lệ thuộc
nhiều vào tự nhiên
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng của khoa học và
công nghệ, ngành công nghiệp ở nhiều nước đã phát triển ở trình độ cao, với sự phát triển đó đã tác động vào nông nghiệp và nông thôn, phá vỡ tính cổ truyền lạc hậu và trì trệ, những kỹ thuật và công nghệ mới từng bước được hoà nhập vào
nông nghiệp tỷ lệ thuần nông giảm xuống nhanh, nông nghiệp và nông thôn được công nghiệp hoá và hiện đại hoá nhanh chóng, bộ mặt nông thôn được thay
đổi và xích lại gần với đô thị Những tỉnh hoa của kỹ thuật truyền thống của khu
vực nông nghiệp và nông thôn được giữ lại và nắng lên, đan xen với kỹ thuật tiến tiến và hiện đại Cơ gi
ới hoá, điện Khí hoá nong thon, mang lưới giao thông nông 4hông được phát triển đưa nhanh công nghệ sinh học và hoá học nông nghiệp vào nông thôn phát triển mạnh công nghệ chế biến nông sản là điều kiện để thực hiện cong nghiệp hoá có hiệu quả
1.2 NHŨNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ANH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ CHUYỀN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Nhóm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Nhóm này gồm: XỊ trí địa lý của các vùng lãnh thô; Điều kiện đất đái của
eác vùng: Điều kiện khí hậu thời tiết: Các ngưồn tài nguyên khác của các vùng
lãnh thổ như ngưồn nước, rừng, biển, quỹ gen, khoáng sản Các nhân tố tự nhiên
trên có tác động một cách trực tiếp tới sự hình thành, vận động và biến đối của cơ
cấu kinh tế nông thôn Tuy nhiên sự tác động và ảnh hưởng của các điều Riện tư
nhiên tới mỗi nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn không phải như nhau Trong
các nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn thì cơ cấu các ngành và cơ cầu các vùng chịu sự ảnh hưởng lớn nhất bởi điều Kiện tự nhiên, còn cơ cấu các thành
phần kinh tế và cơ cấu kỹ thuật thường chịu ảnh hưởng ít hơn Trong các điều
kiện tự nhiên nêu trên, các điều kiện về đất đai, khí hậu, vị trí địa lý, tài nguyên
có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của nông nghiệp (theo nghĩa rộng) và qua nông nghiệp ảnh hưởng gián tiếp tới các ngành khác [29]
15
Trang 21Trong cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn
và ảnh hưởng rất lớn đến các ngành khác Trong mỗi quốc gia các vùng lãnh thổ
với vị trí địa lý khác nhan có điều kiện khí hậu (chế độ mưa, ẩm đó, chế độ nhiệt, chế độ gió, ánh sáng ), điều kiện đất đai (nông hoá, thổ nhưỡng, địa chất ) các
nguồn tài nguyên tự nhiên khác (nguồn nước, rừng, biển, quỹ gen, khoáng sắn )
và hệ sinh thái khác nhau về số lượng và quy mô các ngành kinh tế trong nông
thôn Sự khác nhau đó còn làm cho số lượng và quy mô của các phân ngành và
chuyên ngành sâu của nông, lâm, ngư nghiệp giữa các vùng cũng có sự khác
nhau dẫn tới sự khác nhau về cơ cấu ngành Điều này được thể hiện rõ nét trong
sự phân biệt về cơ cấu các ngành kinh tế trong nông thôn giữa các vùng lãnh thổ
nước ta, đặc biệt là giữa các vùng đồng bằng châu thổ và các vùng trung du, miền
núi Ngay giữa các vùng cơ cấu ngành kinh tế cũng có sự khác nhau khá rõ do tính đa đạng và phong phú của tự nhiên nước ta và sự phát triển không đều của
ngưồn lực Một số vùng có điều kiện đặc biệt thuận lợi để phát triển một số
ngành sản xuất, tạo ra các lợi thế so với những vùng khác của đất nước Đây là cơ
sở tự nhiên để hình thành các vùng kinh tế nói chung và các vùng kinh tế nông
thôn nói riêng trong mỗi quốc gia
Ngoài sự tác động và ánh hưởng của điều kiến tự nhiên, cơ cấu kính tế vùng lãnh thổ còn chịu ảnh hưởng tới cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu thành phần kỹ thuật của khu vực kinh tế nông thôn Vị trí địa lý thuận lợi và các tiềm
năng tự nhiên phong phú của môi vùng lãnh thổ là nhân tố thuận lợi cho các
thành phần kinh tế phát triển Thông thường ở những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các điều kiện kinh tế: quốc doanh, tập thể, cá thể tư nhân và kinh tế
hộ phát triển với quy mô lớn hơn các vùng ít có điều kiện tự nhiên thuận lợi
1.2.2 Nhóm các nhân tố kinh tế xã - hội
Nhóm này luôn có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi của cơ
cấu kinh tế nông thôn Các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu thành
phần kinh tế nông thôn bao gồm: thị trường (cả thị trường trong nước và ngoài
nước), hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng
Trang 22trong nông thôn, sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị, kinh nghiệm tập quán và truyền thống sản xuất của dân cư [29]
Trong nền kinh tế hàng hoá các quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua
thị trường Các yếu tố cơ bản của thị trường là: cung, cầu và giá cả Theo tính chất của sản phẩm trao đổi thị trường có thể được phân thành thị trường hàng hoá
tiêu dùng và dịch vụ và thị trường các yếu tố sản xuất Thị trường nông thôn không chỉ thực hiện chức năng tiêu thụ sản phẩm của các ngành kinh tế nông thôn (đầu ra) mà còn góp phần quan trọng thu hút các yếu tố "đầu vào" của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nông thỏn như: vốn, sức lao động, vật tư
công nghệ.([60], tr 20)
Tuy nhiên, thị trường với các quy luật vốn có luôn chứa đựng khả năng tự phát và dẫn đến những rủi ro cho người sản xuất cũng như sây lãng phí các nguồn lực của xã hội nói chung và khu vực kinh tế nông thôn nói riêng Để hạn chế khả năng tự phát này cần có sự tác động hợp lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô để định hướng sự vận động và biến đổi của thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế mẻ cần chú trong sự tác động và ảnh hưởng
của thị trường quốc tế tới cơ cấu kinä tế nông thôn của mỗi nude Ne’y nay quá trình giao lưu và hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng Hầu hết các quoc gia đều
thực hiện chiến lược kinh tế mở Thông qua quan hệ giao thương quốc tế các
quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác và phân công quốc tế
Day là một nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới guá trình biến đổi cơ cấu
kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông thôn ở mỗi quốc gia Việc tham gia
ngày càng sâu vào quá trình hợp tác và phân công quốc tế sẽ làm cho mọi quốc gia khai thác và sử dụng các nguồn lực của mình có lợi nhất trên cơ sở phát huy tối đa các lợi thế so sánh Mặt khác, thông qua quá trình tham gia thị trường quốc
tế mà mỗi quốc gia tăng thêm các cơ hội tìm kiếm những công nghệ và kỹ thuật mới cũng như các nguồn vốn đầu tư để phát triển các ngành kinh tế các vùng
kinh tế Nâng cao trình độ công nghệ và kỹ thuật, đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
TH
LLA 445/47 | 17
Trang 23Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng chính sách kinh tế
và các công cụ khác để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô
Chính sách kinh tế là hệ thống các biện pháp kinh tế được thực hiện bằng các văn bản quy định, tác động cùng chiều vào nền kinh tế nhằm thực hiện các
mục tiêu đã định Chức năng chủ yếu của các chính sách kinh tế vĩ mô là tạo ra
động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi ích kinh tế của người sản xuất (các chủ thể kinh tế) vì lợi ích kinh tế của mình mà tiến hành các hoạt động kinh tế phù hợp với
các định hướng của Nhà nước trong kế hoạch kinh tế quốc dan Dé tạo điều kiện
cho các chủ thể kinh tế hoạt động phù hợp với định hướng của Nhà nước, đồng
thời để đảm bảo lợi ích kinh tế của các chủ thể, Nhà nước thông qua pháp luật
kinh doanh xác lập hành lang và khuôn khổ cho các chủ thể kinh tế hoạt động
Pháp luật kinh doanh cũng là chỗ dựa pháp lý của các chủ thể kinh tế trong các hoạt động của mình Các chính sách kinh tế vĩ mô thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo các yêu cầu của thị trường để các quy luật của thị trường phát huy những tác động tích cực hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực nhằm mục đích tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng cường và phát
triển với tốc độ cao và ốn định [52]
Để đạt mục đích trên một trong những hướng tác động quan trọng nhất của các chính sách kinh tế Nhà nước là tác động đến cơ cấu kinh tế nói chung và
cơ cấu kinh tế nông thôn, nếu chỉ có sự tác động của các quy luật thị trường thì
cơ cấu kinh tế chỉ hình thành và vận động một cách tự phát và tất yếu sẽ dân đến
sự lãng phí trong việc sử dụng các nguồn lực của đất nước Để thực hiện chức năng kinh tế của mình Nhà nước không còn cách nào khác phải ban hành một hé thống các chính sách kinh tế cùng với các công cụ quản lý vĩ mô khác thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu các vùng kinh tế, cơ cấu các thành phần kinh tế hợp
lý và trình độ công nghệ kỹ thuật ngày càng được nâng cao nhằm khai thác có
hiệu quả nhất các nguồn lực, các lợi thế của đất nước nói chung và của khu vực kinh tế nông thôn nói riêng
Để hình thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông thôn đòi hỏi phải
có những điều kiện vật chất nhất định, tương ứng với yêu cầu hình thành và
Trang 24chuyển đổi cơ cấu kinh tế Để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất
thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư Các nguồn vốn đầu tư chủ yếu để hình thành hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gồm:
- Nguồn vốn tự có của các chủ thể kinh tế trong nông thôn
~ Nguồn vốn ngân sách
- Nguồn vốn cho vay của các ngân hàng, kể cả ngân hàng tư nhân
~ Ngưồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng
- Ngưồn vốn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài
Các nguồn vốn trên có ảnh hưởng trực tiếp và rất lớn tới sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh
tế và sự nâng cao trình độ công nghệ kỹ thuật trong nông thôn và qua đó ảnh hưởng tới sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Kinh nghiệm bước đầu ở nước ta cho thấy giải quyết tốt vấn đề vốn là một trong những điều
kiện quan trọng nhất để phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng cơ cấu kinh tế
nông thôn hợp lý phù hợp với yêu cầu khai thác tốt các ngưồn lực
Xây dựng và tăng cường cơ sở hạ tầng nông thôn là điều kiện tiên quyết phát triển nông thôn Cơ sở hạ tăng phát triển sẽ đắm bảo cho nền kinh tế hàng hoá phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tỉnh thần cho dân cư nông thôn Cơ sở
hạ tầng trong nông thôn bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội thuộc sở hữu của nhiều thành phần kinh tế, phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt văn hoá xã hội của cộng đồng
dân cư nông thôn
Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông thôn
+ Sự phát triển của các khu công nghiệp và đô thị tạo ra khả năng cung cấp kỹ thuật và công nghệ ngày càng tiên tiến và tạo ra các nguồn vốn đầu tư ngày càng đồi dào cho khu vực kinh tế nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình
hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn
19
Trang 25Ngoài các nhân tố kinh tế - xã hội chủ yếu được trình bày ở trên, kinh
nghiệm tập quán và truyền thống của dân cư ở các vùng nông thôn cũng có sự ảnh hưởng tới sự hình thành va phát triển của các ngành sản xuất trong môi vùng
và qua đó ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế nông thôn
1.2.3 Nhóm nhân tố về tổ chức và kỹ thuật có ảnh hưởng tới cơ cấu
kinh tế nông thôn là: Các hình thức tổ chức sản xuất trong nông thôn: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
tế nông thôn Các chủ thể kinh tế trong nông thôn tồn tại và hoạt động qua các
hình thức tổ chức sản xuất với các mô hình tổ chức tương ứng Do vậy các hình thức tổ chức sản xuất trọng nông thôn với các mô hình tương ứng là một trong
những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế
nông thôn
Từ năm 1989 đến nay trong nông thôn nước ta kinh tế hộ được thừa nhận
hộ đang trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế tư nhân được tạo điều kiện để
phát triển, kinh tế quốc doanh và tập thể được cải biến theo nội dung mới Sự
thay đổi về các mô hình tổ chức sản xuất nêu trên đã tạo ra những điều kiện cho
nông nghiệp và nông thôn phát triển mạnh mẽ, tạo ra những thay đổi bước đầu
đáng kể trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tỷ trọng của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và địch vụ trong nông thôn tăng lên Trong nông nghiệp tỷ trọng của chăn nuôi tăng, của trồng trọt giảm, trong trông trọt tỷ trọng cây công
nghiệp, cây ăn quả tăng, cây lương thực giảm đã và đang hình thành một số vùng
chuyên canh tập trung cây công nghiệp dài ngày Tỷ trọng kinh tế hộ và hộ tư
Trang 26nhân ngày càng tăng, kỹ thuật mới và công nghệ tiến bộ ngày càng được ứng
dụng rộng rãi
Ngày nay khoa học kỹ thuật đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng chúng vào sản xuất có vai trò ngày càng to lớn đối với sự phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nông thôn và
cơ cấu kinh tế nông thôn nói riêng Ở đây vai trò của khoa học kỹ thuật được ứng
dụng vào sản xuất góp phần quyết định hoàn thiện các phương pháp sản xuất nhầm khai thác sử dung hợp lý, hiệu quả hơn các nguồn lực của xã hội và khu
vực nông thôn Đồng thời việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng làm tăng
lực lượng sản xuất trong nông thôn, thông qua đó thúc đẩy sự phát triển của các
ngành sản xuất, các vùng kinh tế trong nông thôn, đặc biệt là những ngành,
những vùng có nhiều lợi thế
1.3 NHŨNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TE NONG THON CUA MOT SO NƯỚC TRONG KHU VUC
Ở mỗi nước có những điều kiện và đặc điểm riêng, ở vào những thời điểm
và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nhưng ở các nước đều coi trọns kinh tế nông
nghiệp và phát triển nông thôn trong mỗi bước di của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước Trong quá trình đó các nước đã có những bước chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cả
¡ tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở mỗi nước với cách tiến hành và kết quả khác
nhau, nhưng có thể khái quát thành một số kinh nghiệm có tính phổ biến có thể
vận dụng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của vùng Những
kinh nghiệm đó là:
1.3.1.Giảm tỷ trọng sản phẩm và lao động trong khu vực nông nghiệp trong tổng sản phẩm và lao động xã hội
Trong 30 năm Từ 1950 - 1980 ở các nước thuộc khu vực Đông Á tỷ trọng
sản phẩm và lao động nông nghiệp giảm khá nhanh, năm 1950 GDP của nông nghiệp toàn khu vực chiếm 20,4% đến năm 1980 giảm xuống 13,7% trong GDP
21
Trang 27xã hội Riêng Nhật Bản tỷ trọng GDP nông nghiệp từ 22,3% xuống 4,0%; tỷ
trọng lao động từ 45,2% xuống 11,0%; Đài Loan từ 33,3% xuống 7,6% và từ 56% xuống 19,5% [44]
Trong quá trình phát triển, năng suất ruộng đất và năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, sản phẩm nông nghiệp, trước hết là lương thực - thực phẩm
vượt qua nhu cầu cần thiết của con người, một bộ phận lao động đôi ra được chuyển sang phát triển các ngành khác, trước hết là công nghiệp Như vậy tỷ
trọng sản phẩm tất yếu và lao động tất yếu giảm xuống là xu thế có tính chất quy
luật để tăng sản phẩm thặng dư - nguồn của cải đẩy nhanh sự giầu có của toàn xã
hội
1.3.2 Chuyển nền nông nghiệp độc canh lấy sản xuất lương thực là chủ yếu sang nền nông nghiệp đa canh có cả nông - lâm - thuỷ hải sản
Điều đáng chú ý là các nước trong khu vực đã khai thác lợi thế tự nhiên
để phát triển những cây có giá trị kinh tế cao và giá trị xuất khẩu như: cao su, cọ
đầu, cà phê, chè, xoài ở Thái Lan trong 10 năm (1977 - 1987), sản lượng cây có
hạt hàng năm tăng bình quân 3,0% trong đó lúa tăng 2,4%, ngô tăng 6,1% Sản
lượng cao su của Thái Lan năm 1977 mới đạt 431 nghìn tấn đã tảng lên 860.0 nghìn tấn năm 1987 tăng bình quân hàng năm của thời kỳ này là 6,9% Sản lượng
cà phê tăng bình quân hàng năm 16,0%; chè 21,9%; đặc biệt cây cọ đầu tuy quy
mô sản xuất chưa lớn lắm nhưng nhịp độ tăng hàng năm khá cao, đạt mức 39,4%,
(20], trang 61) nhờ sự phát triển nông nghiệp theo hướng đa canh gắn với xuất
khẩu cho nên giá trị nông lâm thuỷ sản xuất khẩu tăng lên nhanh Nếu năm 1970
giá trị xuất khẩu nông - lâm - thuỷ của Thái Lan mới đạt 522,67 triệu USD thì
năm 1989 tăng lên 6.727 triệu USD, tăng 14,8 lần, trong đó giá trị xuất khẩu nông
sản tăng lên 12,2 lần Đặc biệt thuỷ sản tăng 91,6 lần, có thể thấy ở biểu 1
Ở năm đầu công nghiệp hoá, Thái Lan cũng như nhiều nước khác, nông,
lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn tron tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó
giảm dần cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước
Trang 28Biểu 1: GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU NÔNG -LAM-THUY SAN CUA THAI LAN
Don vi tinh : 1000 USD
20, hàng năm Thái Lan đã xuất khẩu trên 1 triệu tấn sao, đến năm 1989 Thái Lan
đã xuất khẩu 7,53 triệu tấn hạt cốc, trong đó có 6,3 triệu tấn gạo, xếp hàng thứ nhất về xuất khẩu gạo trên thế giới Bên cạnh hạt cốc, Thái Lan còn xuất khẩu trén 1 triệu tấn mủ cao su khô, 52 nghìn tấn cà phê nhân, 157 nghìn tấn tơ tầm
[20]
Inđônêxia thời gïan này tập trung giả quyết vấn đề lương thực Đến năm
1985 cơ bản giải quyết được nhu cầu về gạo cho nhân dân Sản lượng hạt cốc năm 1977 đạt 26,5 triệu tấn, lên 43,6 triệu tấn năm 1984 và lên 50.9 triệu tấn năm 1989, trong đó lúa gạo từ 23,3 triệu tấn tăng lên 38,1 triệu tấn và lên 44.7
triệu tấn trong thời gian tương ứng Cùng với việc giải quyết vấn đề lương thực Indonexia đã chú ý phát triển các loại cây có giá trị xuất khẩu Năm 1977 sản
lượng cọ đầu đạt 502 nghìn tấn tăng lên 1.174 nghìn tấn năm 1985 và lên 1.942
nghìn tấn năm 1989, tốc độ bình quân năm đạt 11,2% Sản lượng cao su hàng năm đạt tir 1-1,2 triệu tấn, chè 130 - 150 nghìn tấn, trên 400 nghìn tấn cà phê Giá trị nông sản xuất khẩu từ 2,3 tỷ USD năm 1977 tăng lên 3,18 tỷ USD năm
1989, cùng thời gian đó giá trị xuất khẩu lâm sản từ 1,85 tỷ USD lên 3,68 ty USD
và thuỷ sản từ 0,184 tỷ USD lên 0,624 tỷ USD
23
Trang 291.3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển
mạnh công nghiệp nông thôn với nhiều hình thức đa dạng
Trên cơ sở các ngành nghề truyền thống và các làng nghề, các nước đã
coi trọng việc đưa những tiến bộ kỹ thuật để đổi mới và nâng cao kỹ thuật những sản phẩm truyền thống, hiện đại các làng nghề để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn
hơn, chất lượng cao hơn Đồng thời các nước đã chú ý việc đầu tư vốn để xây
dựng công nghiệp nông thôn nhằm khai thác ngưồn nguyên liệu địa phương, thu
hút lao động phong phú ở nông thôn và đáp ứng nhu cầu sản phẩm công nghiệp tiêu dùng cho khu vực nông thôn Trong những năm gần đây nông thôn Trung Quốc đã và đang phát triển mạnh xí nghiệp "Hương Trấn" với nhiều hình thức đa
dạng ở các khu vực khác nhau Phát triển xí nghiệp "Hương Trấn" do các xã hoặc
thôn quản lý, phát triển Xí nghiệp do các hộ gia đình hoặc liên hộ quản lý và phát
triển xí nghiệp liên doanh giữa các thôn, xã với các hộ tư nhân Nhờ khai thác các hình thức đa dạng đó với cơ chế chính sách phù hợp đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy công nghiệp nông thôn phát triển Các xí nghiệp này đã thu hút một bộ phận lớn lao động dư thừa, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Trong vòng 10 năm (1980 - 1991) nhờ phát triển các xí nghiệp "Hương Trấn" với phương chăm "Ly nông bất ly hương”, nông thôn Trung Quốc đã có sự
chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế tại chỗ, năm 1980 giá trị nông nghiệp chiếm 68.8% và giá trị công nghiệp nông thôn chiếm 34,1% thì đến năm 1991 giá trị
nông nghiệp giảm xuống còn 42,9% và giá trị công nghiệp nông thôn tăng 57.1%
xu hướng có tính quy luật Khi nông nghiệp hàng hoá phát triển, đời sống vật chất
va tinh thần được nâng cao thì nhu cầu địch vụ đòi hỏi phải được mở rộng Lĩnh vực hoạt động này một mặt thu hút một bộ phận lao động đáng kể còn dư thừa từ
Trang 30hoạt động nông nghiệp và mặt khác tăng thu nhập cho dân cư nông thôn, thúc
đẩy sản xuất nông - công nghiệp nông thôn phát triển, góp phần nâng cao đời
sống cho nhân dân Hoạt động dịch vụ đầu vào cho nông nghiệp, các nước coi trọng các khâu chủ yếu cung ứng phân hoá học, dịch vụ tưới tiêu, cung ứng giống cây và con, dịch vụ tín dụng và địch vụ đầu ra như: Chế biến nông sản, tiêu thụ
nông sản phẩm ở Thái Lan với 2,1 triệu tấn phân bón được sử dụng trong năm
1989, trong đó có 27% được cung ứng qua các khu vực công cộng và 73%
chuyển qua các kênh phân phối, các đại lý tư nhân và dịch vụ tư nhân Các hợp
tác xã nông nghiệp ở Thái Lan làm dịch vụ các khâu cho xã viên vay tín dụng, nhận tiền gửi của xã viên, thu mua nông sản cho xã viên, cung ứng vật tư nông nghiệp bao gồm: máy móc, hạt giống dịch vụ khâu làm đất, tưới tiêu [44]
1.3.5 Cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp và nông thôn của các nước thuộc khu vực đã gắn phương thức truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại
hoẩ Nông nghiệp ở các nước Châu Á, nghề trồng lúa nước đã gắn bó chặt chẽ với người nông dân Vì thế các nước này rất coi trọng công tác thuỷ lợi
Năm 1980 tỷ lệ diện tích tưới tiêu nước của Trung Quốc đạt 47.2%, Indonexia đạt 35,5%, Bắc Triều Tiên 70,2%, Nam Triều Tiên đạt 63,6% Pakistan đạt 73.2%, Nhật Bản 61,9%, Tân Tây Lan 55.2% trong khi đó toàn thế giới đạt
15.8% Lượng phân vô cơ bón trên I ha đất nông nghiệp ngày càng lớn Nếu thời
kỳ 1970 - 1971 mức phân vô cơ bón cho 1 ha của thế giới là 49,3 kg thì đến thời
kỳ 1989 - 1990 đã tăng lên 97,4kg, trong đó các nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương là 190,3 kg, Inđônêxia đạt 116,6 kg, Việt Nam dat 84,1 kg [1]
Ngày nay việc sử dụng hoá học để bảo vệ thực vật và bảo hiểm vật nuôi, để điều khiển sự sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây trồng và vật nuôi được sử
dụng rộng rãi và có hiệu quả
Các nước trong khu vực rất coi trọng công nghiệp chế biến, hạ thấp tỷ lệ
sản phẩm sơ chế, nâng tỷ lệ sản phẩm tính chế, nhất là các mặt hàng xuất khẩu
25
Trang 311.3.6 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn liền với việc bảo vệ
môi trường sinh thái
Trong một thời gian dài do nhận thúc không đúng, coi thiên nhiên là vô tận và là điều kiện cần có cho cuộc sống của con người Vì thế xã hội loài người
đã ít quan tâm đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên Gần đây chúng ta đã nhận thức được sự huỷ hoại môi trường tự nhiên đã đến mức nghiêm trọng, trong đó
những người hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn có vai trò hết sức quan trọng Từ nhận thức đó, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo sự kết hợp hiệu quả kinh tế - xã hội với báo vệ môi trường tự hiên, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái
1.4 CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ VA HIEU QUA CO CAU KINH
TẾ NÔNG THÔN
Có thể hiểu cơ cấu kinh tế nông thôn là tỷ lệ giữa các ngành, các lĩnh vực
kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong những điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất định được thể hiện cả định tính và định lượng
1.4.1.Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu cơ cấu kinh tế
+ Chỉ tiêu về kết quả sản xuất:
- Tổng giá trị sản xuất (GO) và cơ cấu giá trị sản xuất
Tong gid tri sản xuất của các ngành sản xuất dịch vụ được tính bằng cách
lấy khối lượng sản phẩm từng loại và đơn vị khối lượng dịch vụ nhân với đơn giá
Để thống nhất nội dung kinh tế và bảo đảm có thể so sánh được các chỉ tiêu
nghiên cứu, toàn bộ số liệu các năm được tính toán theo giá cố định, theo các tỷ
giá do Tổng cục Thống kê ban hành
Tổng giá trị sản xuất (GO) sẽ được nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện, phạm vi từng vùng, từng ngành và từng thành phần kinh tế và cuối cùng là xem
xét cơ cấu của chúng (%) trong tổng số
Trang 32- Tổng giá trị gia tăng (GDP) là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian Như vậy trong tổng giá trị gia tăng bao gồm thu
nhập của người lao động, các khoản thuế phải nộp và lãi tiền vay (nếu có) và
khấu hao tài sản cố định
Giá trị gia tăng cũng được nghiên cứu cho từng đối tượng và tính cơ cấu
Ngoài hai chỉ tiêu trên, các chỉ tiêu về hiện vật các loại sản phẩm và khối lượng các loại dịch vụ cũng được nghiên cứu sử dụng nhằm phản ánh kết quả sản xuất của từng ngành, từng đối tượng
+ Chỉ tiêu phản ánh phân bổ nguồn lực:
- Vốn đầu tư cơ bản bao gồm toàn bộ giá trị các tài sản và dịch vụ đầu tư
để xây dựng các công trình, các cơ sở hạ tầng và mua sắm tài sản cố định Vốn đầu tư cơ bản được xem %ét trên phạm vi toàn huyện và từng vùng và cơ cấu của
chúng trong tổng số
- Chi phí trung gian bao gồm toàn bộ chỉ phí vật chất và lao động thuế
mướn đầu tư thường niên cho quá trình sản xuất kinh doanh Đối với các hộ
nông dân do tiến hành sản xuất phần lớn bằng công cụ thủ công, chỉ phí trung, gian được xem là phần vốn đầu tư sản xuất chủ yếu của nông dân cho từng loại đối tượng Việc nghiên cứu chỉ phí trung gian và cơ cấu của chúng cũng có ý
nghĩa đánh giá phân bổ ngưồn lực sản xuất
- Lao động quy và diện tích canh tác phân bố cho các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế cũng là chỉ tiêu quan trọng để nghiên cứu cơ cấu kinh tế trên phương diện phân bố nguồn lực
+ Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất
- Chỉ tiêu tỷ suất giá trị gia tăng (GDP/GO) là chỉ tiêu được xem xét đề
phần ánh hiệu quả sản xuất chung
27
Trang 33~ Các chỉ tiêu về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng tính trên 1 ha, ] người
lao động, một ngàn đồng vốn đầu tư sẽ phản ánh hiệu quả sản xuất về sử dụng nguồn lực
- Các chỉ tiêu lương thực bình quân đầu người, giá trị gia tăng trên một người sẽ phản ánh phần thu nhập của người dân trên địa bàn nghiên cứu
Để đánh giá trình độ và hiệu quả kinh tế của cơ cấu kinh tế nông thôn và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, cần thiết phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu sau:
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu kinh tế và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, bao gồm:
- Cơ cấu giá trị thu nhập các loại sản phẩm và dịch vụ
- Cơ cấu giá trị các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ
- Co cau lao dong
~ Cơ cấu vốn đầu tư
- Cơ cấu sử dụng đất
Các chỉ tiêu trên có thể sử dụng để đánh giá trình độ cơ cấu kinh tế và
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cho cả nước, từng vùng lãnh thổ
và các thành phần kinh tế Tuỳ thuộc vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứu mà sử
dung các chỉ tiêu và sử dụng các phương pháp tính toán thích hợp Theo ching
tôi, hai chỉ tiêu cơ cấu giá trị sản phẩm, sản xuất và dịch vụ và cơ cấu lao động
phản ánh rõ nhất trình độ cơ cấu kinh tế nông thôn, thông thường mức độ chuyển
địch cơ cấu giá trị các loại sản phẩm nhanh hơn, mạnh hơn còn cơ cấu lao động
chuyển dịch chậm hơn
1.4.3 Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn bao gồm:
- Năng suất cây trồng và năng suất vật nuôi
- Giá trị các loại sản phẩm và dịch vụ
~ Giá trị tổng thu nhập
Trang 34- Hiéu qua v6n dau tu va chi phi vat chat
- Nang suất ruộng đất tính theo giá trị
~ Năng suất lao động nông thôn và một số ngành chủ yếu
Các chỉ tiêu trên có thể sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế của quá trình
chuyển dịch trong cả nước, từng vùng theo cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và
cơ cấu vùng lãnh thổ Có thể so sánh theo thời gian và không gian Mức độ khác
nhau về hiệu quả kinh tế sẽ phản ánh tính hợp lý hay không của cơ cấu kinh tế
nông thôn của cả nước và từng vùng ở từng thời kỳ nhất định Song việc tính toán các chỉ tiêu trên tuỳ thuộc vào nguồn thông tỉn là rất quan trọng để cho phép tính
toán và đánh giá một cách thoả đáng, chính xác
1.5 THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG THÔN VIỆT NAM
1.5.1 Thực trạng kinh tế nông thôn Việt Nam
Từ Đại hội Đảng lần thứ VỊ và đ
thứ VII, Đảng ta đã thật sự đổi mới cả về nhận thức và quan điểm, đã chủ trương
ặc biệt là sau Đại hội Đảng toàn quốc lần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Thời gian để thực hiện những chủ trương định hướng trên chưa nhiều, nhưng kết quả đạt được vài ba năm gần đây đã chứng tỏ tính đúng đắn của nó Nông nghiệp, công nghiệp liên tục tăng trưởng, tình hình kinh tế ổn định, kim ngạch xuất khẩu tăng, nền kinh tế đã khác phục được nhiều mặt đình đốn, đã chặn đứng được tình trạng sa sút của nền kinh tế Chỉ tính trong 3 năm 1991 -
1993 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân hàng năm 7,25%; giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 4,5%; kim ngạch xuất khẩu năm 1993 tăng trên
20% so với năm 1992 va trong 3 nam 1991 - 1993 da dat 7,6 ty USD Đặc biệt đã chấm dứt được tình trạng thiếu đói lương thực triền miên và đã xuất khẩu bình quân hàng năm 1,5 - 2 triệu tấn gạo, đứng vào hàng thứ 3 trên thế giới Hệ thống quan điểm của Đảng, hàng loạt chính sách và luật pháp được ban hành tương đối đồng bộ đã tạo ra những biến đổi quan trọng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
29
Trang 35ngành nông - lâm - ngư nghiệp Dưới đây là những nét cơ bản về thực trạng các ngành cơ cấu nông thôn, cơ cấu các ngành của bản thân nông nghiệp, cơ cấu các vùng kinh tế và cơ cấu các thành phần kinh tế
1.5.1.1- Về cơ cấu các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ nông
thôn
Xem xét cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp trước hết phải xem xét cơ cấu kinh tế nông thôn về mặt tổng thể trong mối quan hệ giữa nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ vì cơ cấu ngành nông - lâm - ngư nghiệp là một nội dung quan
trọng của cơ cấu kinh tế nông thôn và hơn nữa nó chỉ có thể biến đối trong mối quan hệ tất yếu của công nghiệp và dịch vụ nông thôn
Để đánh giá cơ cấu nông thôn toàn diện đòi hỏi phải sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau Tuy nhiên ở đây chỉ giới hạn xem xét qua một số chỉ tiêu tổng hợp như: cơ cấu giá trị tổng sản lượng, cơ cấu thu nhập, cơ cấu lao động
* Về cơ cấu giá trị tổng sản lượng:
Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê bình quán của năm 1990 -
1993 tỷ trọng nông nghiệp (bao gồm ca nông - lâm - ngư nghiệp) từng vùng chiếm từ 71% - 89.3% so với giá trị tổng sản lượng Trong khi đó, giá trị sản
lượng công nghiệp, dịch vụ mới chiếm từ 10,7% - 29%
* Về cơ cấu thu nhập:
Cũng theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, thu từ nông nghiệp
chiếm tỷ trọng cao, từ 54,6% -75,7% trong tổng thu nhập của dân cư nông thôn
Còn theo điều tra "giàu, nghèo trong nông thôn” của Bộ Nông nghiệp và CNTP,
đối với hộ nghèo thu từ nông nghiệp chiếm tới 70%, còn đối với hộ giàu 56%,
ngành nghề 29,2%, dịch vụ 12,6% Dịch vụ trong nông thôn chỉ mới chiếm 5-7%
tổng giá trị các ngành sản xuất và dịch vụ trên địa bàn nông thôn [57]
* Về cơ cấu lao động:
Trang 36Số liệu điều tra của Tổng cục thống kê cho thấy lao động nông nghiệp vẫn
chiếm tới 82,2% so với tổng lao độns xã hội trên địa bàn nông thôn Trong đó, có tới 91% lao động nông nghiệp tập trung vào ngành trồng trọt Số hộ thuần nông
có khác nhau giữa các vùng nhưng cả nước có tới 70,4% số hộ thuần nông, chỉ mới có 29% hộ có thêm ngành nghề phụ bên cạnh sản xuất nông nghiệp
Có thể nói, trong những năm qua mặc dầu trong nông thôn nền kinh tế đã
có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp, nhưng nhìn chung còn chậm Cho đến nay nền kinh tế nông thôn vẫn là nền kinh tế nông nghiệp thuần nông là chủ yếu
1.5.1.2 Về cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp
Qua số liệu thống kê về cơ cấu giá trị sản lượng của ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ năm 1988 - 1993 cho thấy, tỷ trọng nông nghiệp chiếm ưu thế và
dao động từ 82 - 85% Trong khi ngư nghiệp tăng lên một chút ít, còn lâm
nghiệp lại có chiều hướng giảm
Nhìn chung những năm gần đây tốc độ phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp đạt mức tăng trưởng nhanh tới 6% năm nhưng xét về cơ cấu thì sự chuyển
Trang 37- Về cơ cấu thu nhập của các khu vực dân cư cũng thấy rõ tỷ trọng của
nơng - lâm - ngư nghiệp cịn quá thấp trong cơ cấu thu nhập từ nơng - lâm - ngư nghiệp
Số liệu thống kê cho thấy: Trong cơ cấu thu nhập của dân cư thì nơng
nghiệp chiếm 55,7%; lâm nghiệp 6,3% và ngư nghiệp chiếm 7,1% Ngay ở địa bàn các tỉnh miền núi và Tây Nguyên, tỷ trọng thu từ lâm nghiệp cũng chỉ đạt từ
11 - 15% Số hộ làm giàu từ nghề rừng cịn quá ít so với số hộ làm nghề nơng và nghề cá Theo tài liệu điều tra năm 1992 cả Bộ Nơng nghiệp và CNTP: Tỷ trọng hàng hố của các hộ giầu thì nơng nghiệp chiếm 69%, ngư nghiệp 3,5%; lâm nghiệp 0,2%; ngành nghề 22,3%
1.5.1.3 Về cơ cấu trồng trot và chăn nuợ
Cơ cấu trồng trọt và chăn nuơi là nội dung cốt lõi của cơ cấu nơng nghiệp
Những năm qua ngành chăn nuơi đã cĩ bước phát triển đáng kể và cĩ xu hướng
tăng tỷ trọng so với trồng trọt Cơ cấu giữa trơng trọt và chăn nuơi về cơ bản ít
biến đổi và đao động xung quanh 75% và 25%
Nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt với hai chỉ tiêu
cơ cấu diện tích và cơ cấu giá trị sản lượng cho thấy:
- Cơ cấu diện tích: Số liệu từ 1986 - 1993 cĩ xu hướng giảm tỷ trọng diện tích cây ngắn ngày từ 91,2% (1986) xuống cịn 89,6% (1993) Trong khi đĩ tỷ trọng diện tích cây dài ngày tăng từ 8,8% (1986) lên 10,4% (1993), tăng 1,6%
Trong gần 10 năm diện tích cây dài ngày chỉ tăng 1,6% là quá chậm
- Xét về cơ cấu giá trị sản lượng các nhĩm cây trồng chủ yếu cho thấy cây lương thực luơn chiếm tỷ trọng lớn và cĩ xu thế gia tăng từ 61,8% (1987) lên
68% (1992), trong khi đĩ rau đậu và cây ăn quả vẫn chưa cĩ vị trí xứng đáng và
đang cĩ chiều hướng giảm về tỷ trọng
Trang 38Biéu 3: CG CAU GIA TRI TONG SAN LUONG NONG NGHIỆP
Từ những kết quả phân tích trên cho ta một phần nhận định tổng quát là:
cơ cấu nông nghiệp chậm chuyển biến, ngành chăn nuôi có tốc độ tăng trưởng
khá nhưng còn rất thấp so với yêu cầu và tiềm nãng hiện có, tỷ trọng thuỷ sản mới chiếm 8 - 10% trong cơ cấu giá trị sản lượng Cơ cấu cây trông chuyển biến thậm chí còn xuất hiện xu hướng ít tích cực
1.5.1.4 Cơ cấu các vùng kinh tế
Xét theo vùng lãnh thổ cho thấy:
Kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh và chủ yếu tập trung ở 3 vùng: Đồng bằng sông Hồng, Đông - Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Sự biến đổi có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là đã hình thành và phát triển những vùng sản xuất hàng hoá, nhất là những mặt hàng nông sản xuất khẩu Gia tăng tỷ trọng hàng hoá trong tổng sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp cùng với sự phát triển kinh tế của từng vùng
Theo sự vận động của thị trường đang hình thành cơ cấu nông nghiệp gắn
liền với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm: sản xuất mía với chế biến
đường, trồng cao su với công nghiệp chế biến cao su, trồng chè với công nghiệp chế biến chè, sản xuất lúa với công nghiệp chế biến lúa gạo, nuôi và đánh bắt thuỷ sản với công nghiệp đông lạnh
33
Trang 39Thực tế khi chuyển sang nền kinh tế thi trường ở vùng nào có lợi thế so sánh và có sự năng động tích cực chủ quan của con người, có cơ sở hạ tầng bước
đầu thuận lợi, thì vùng đó sẽ có bước tăng trưởng kinh tế khá Đối với hai vùng: Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên cơ cấu kinh tế nông thôn có tiến bộ
hơn các vùng khác: tỷ trong công nghiệp dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn
ở đây là 30% Tây nguyên là 20,5% trong khi bình quân chung của cả nước là 15%
1.5.1.5 Cơ cấu thành phần kinh tế nông thôn
Cơ cấu các thành phần kinh tế nông thôn đã có bước biến đổi rất cơ bản
Từ chỗ chủ yếu là quốc doanh và tập thể, thực hiện cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, kém hiệu quả sang hệ thống kinh tế nhiều thành phần lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, đã tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn
Kinh tế hộ đã trở thành đơn vị tự chủ trong sản xuất kinh doanh Người nông dân bắt đầu tính toán và quyết định cơ cấu sản xuất cây, con, ngành nghề gấn với đất đai đồng ruộng, vườn đồi Điều đó cho phép tận dụng năng lực sản
xuất một cách triệt để nhất, hợp lý nhất
Việc thừa nhận kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ một mặt làm
bộc lộ rõ sự bất hợp lý của mô hình tập thể hoá, mặt khác làm xuất hiện nhu cầu
hợp tác mới giữa các hộ nông dân với nhau và giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế khác Bức tranh tổng quát về hình thức kinh tế hợp tác đang vận động trong nông thôn nước ta là:
Trên cơ sở phát huy mạnh mẽ kinh tế hộ, các hộ đang vận động để hợp tác lại với nhau trên những lĩnh vực, những khâu công việc mà kinh tế hộ làm không được hoặc làm không hiệu quả Dựa trên nguyên tắc tự chủ, tự nguyện, cùng có
lợi đã thành lập các tổ hợp trên từng lĩnh vực, tổ hợp liên gia, liên hộ, tổ hợp dịch
vụ và các tổ chức hội nghề nghiệp mang nội dung kinh tế - kỹ thuật Đối với kinh
tế thị trường dịch vụ đầu vào, đầu ra, kinh tế hộ hợp tác với kinh tế tập thể, kinh
tế quốc doanh sản xuất, quốc doanh chế biến, quốc doanh dịch vụ hình thành
Trang 40một hệ thống quan hệ sản xuất mới phù hợp với ý nguyện của nông dân đang đần
thay thế cho mô hình tổ chức và cơ chế quản lý hợp tác xã kiểu cũ
Cùng với sự đổi mới trong khu vục kinh tế nông thôn, các doanh nghiệp
Nhà nước trong nông nghiệp đã tìm tòi nhiều hình thức, gắn đất đai, cây trồng, vật nuôi và quỹ tiền lương đến hộ nông dân và công nhân trons vùng, thu hút vốn của kinh tế hộ, dùng vốn, kỹ thuật, công nghệ thị trường để tác động đến chế biến của kinh tế hộ, thúc đẩy kinh tế hộ công nhân, nông đân, ngư dân, đồng bào các dân tộc trong vùng phát triển và giải quyết lợi ích trên quan hệ sòng phẳng
Sự đổi mới doanh nghiệp Nhà nước đã tạo ra hiệu quả nâng cao đời sống cho công nhân nông nghiệp, nông dân trong vùng Giá trị sản lượng bình quân
một công nhân lao động'tăng từ 503.000 đồng (1988) lên 1.522.000 đồng (1990)
và lên 2.457.000 đồng (1992)
Nhờ đổi mới nhiều doanh nghiệp đã thu hút thêm lao động, mở mang
ngành nghề, thúc đẩy kinh tế nhiều vùng phát triển trù phú, sống động
1.5.2 Đánh giá chung sự chuyển dịch cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp nước ta
1.5.2.1 Những thành tựu đạt được
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông - lâm - ngư nghiệp thời
gian qua có thể thấy rõ trên các mặt:
Một là: sản xuất nông nghiệp đã đạt tốc độ phát triển khá, đặc biệt sản xuất
lượng thực phát triển nhanh, ổn định và tương đối vững chắc, tạo điều kiện cho quá trình đổi mới nền kinh tế được thắng lợi
Từ năm 1989 có thể đánh dấu một bước quan trọng trong sản xuất lượng thực ở nước ta, chẳng những lương thực sản xuất ra đã tự trang trải được nhu cầu
đời sống nhân dân và có một phần dự trữ và xuất khẩu ngày một nhiều vươn lên đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo
35