Luận văn
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP I
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS NGUYÔN V¡N §ÜNH
Hµ NéI - 2007
Trang 2LờI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đ0 đ−ợc cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ0 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tỏc giả
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành tốt đề tài này, tôi đ0 nhận được sự hướng dần, giúp đỡ và
hỗ trợ của thầy hướng dẫn, các tổ chức và cá nhân nơi triển khai đề tài
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS Nguyễn Văn Đĩnh người thầy hết sức tận tình và chu đáo Thầy truyền đạt cho tôi những kiến thức
và kinh nghiệm quý báu, chỉ dẫn cho tôi từng bước đi để tập làm và hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Hà Quang Hùng, tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học Trường Đại học Nông Nghiệp I, đ0 trực tiếp, gián tiếp góp ý sâu sắc trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban l0nh đạo Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai, đặc biệt Kỹ sư Nguyễn Văn Dũng, chú Trần Văn Đệ đ0 giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, Dự án Phe Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nôi và bà con nông dân nơi tôi tiến hành thực hiện đề tài đ0 luôn động viên, giúp đỡ rất nhiều cả về tinh thần
và vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2007
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tần
Trang 4MụC LụC
2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của để tài 4
3 Vật liệu, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
4.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình phòng chống dịch hại chè tại
nông trường chè phong hải, huyện bảo thắng, tỉnh lào cai 34
Trang 54.3 Quy luật phát sinh gây hại của nhện đỏ Oligonychus coffeae
Nietner tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 43 4.3.1 Tập tính sinh sống và gây hại của nhện đỏ Oligonychus coffeae
4.3.2 Biến động số lượng quần thể nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner
trên nương chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 45 4.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của quần thể nhện
đỏ Oligonychus coffeae Nietner tại Nông trường chè Phong Hải,
4.4 Điều tra, thu thập thành phần thiên địch của nhện hại chè tại
4.6 Bước đầu đề xuất quy trình phòng trừ nhện đỏ Oligonychus
coffeae Nietner ước đầu đề xuất quy trình phòng trừ nhện đỏ 63
Trang 6DANH MôC C¸C CH÷ VIÕT T¾T
Trang 7DANH MụC CáC BảNG
4.1 Thực trạng phòng chống các đối tượng dịch hại trên chè bằng
biện pháp hoá học tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 37 4.2 Thành phần nhện hại chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 38 4.3 Mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner ở các tuổi lá khác
4.4 Mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner ở mặt trên và mặt
dưới của lá tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 44 4.5 Mức độ phát sinh gây hại của nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner
trên một số giống chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 48 4.6 Mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner ở các tuổi cây khác
4.7 ảnh hưởng của lượng mưa đến mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae
Nietner trên nương chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 51 4.8 ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae
Nietner trên nương chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 52 4.9 ảnh hưởng của điều kiện canh tác đến mật độ nhện đỏ
Oligonychus coffeae Nietner trên nương chè tại Nông trường chè
4.10 Mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner trên các kiểu đốn
chè khác nhau tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 54 4.11 Thành phần thiên địch của nhện hại chè tại Nông trường Phong
4.12 Hiệu quả kinh tế áp dụng mô hình phòng trừ dịch hại tổng hợp
Trang 8DANH MụC CáC HìNH
4.6 Biến động số lượng quần thể nhện đỏ Oligonychus coffeae
Nietner tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 46 4.7 Mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner nơi có cây che bóng
4.14 Hiệu quả áp dụng mô hình phòng trừ tổng hợp đến mật độ nhện đỏ
Oligonychus coffeae Nietner tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai 62
Trang 91 Mở ĐầU
1.1 TíNH CấP THIếT CủA Đề TàI
Cây chè Camellia sinensis (L.) O Kuntze được trồng ở nước ta từ rất lâu
đời Chè Việt Nam được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, vùng trung
du, Tây Nguyên và là cây trồng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế - x0 hội
ở nước ta, nó được coi là loại cây trồng góp phần tích cực trong việc xoá đói, giảm nghèo; phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái
Trong những năm gần đây, ngành chè Việt Nam đ0 thu được nhiều thành tựu, sản lượng và giá trị cây chè nước ta không ngừng tăng lên Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO), Việt Nam được xếp thứ 7 về sản lượng và
đứng thứ 6 về khối lượng trên thế giới trong xuất khẩu chè Hiện nay, Việt Nam có 125.000ha với sản lượng 577 ngàn tấn thô/năm Trong cả nước có 635 cơ sở, nhà máy chế biến của 34 tỉnh, thành tham gia trồng và sản xuất chè Mục tiêu của ngành chè Việt Nam đến năm 2010 là: sản xuất đủ để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, định hình khoảng 130.000ha chè và sản lượng tiêu thụ 150.000 tấn; xuất khẩu từ 110 - 120.000 tấn đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm là 200 triệu USD; phát triển chè ở nơi có điều kiện và giải quyết việc làm cho khoảng 1 triệu lao động [16]
Lào Cai là một trong những tỉnh có nhiều lợi thế để phát triển ngành công nghiệp chè như: điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và những chính sách ưu
đ0i của tỉnh thuận lợi cho việc phát triển cây chè Với chủ trương phát triển kinh tế toàn diện, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lào Cai đ0 phê duyệt dự án quy hoạch phát triển vùng chè giai đoạn 2006 - 2010 là: về diện tích cần đạt 4.800ha nhưng hiện nay chỉ đạt 2.924,66ha; về năng suất cần đạt 6 - 8 tấn/ha, nay chỉ
được 5 tấn/ha Trong đó tập trung phát triển mạnh ở hai vùng chè là Nông trường Phong Hải (huyện Bảo Thắng) và Nông trường Thanh Bình (huyện
Trang 10Mường Khương) nơi có nhiều lợi thế để phát triển cây chè [34][35]
Tuy nhiên, ngành chè Việt Nam nói chung cũng như sản xuất chè Lào Cai nói riêng đang phải đối mặt với một thực trạng là chất lượng sản phẩm chè kém Chè Việt Nam được xuất khẩu tới hơn 60 nước trên thế giới song giá xuất khẩu của chè Việt Nam hiện bằng 50 - 60% giá bình quân của các nước công nghiệp chè Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chất lượng chè Việt Nam trên thế giới ngày càng xuống thấp là do việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu dẫn
đến tình trạng người trồng chè không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật như
đốn, thu hái nguyên liệu, bón phân, thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến hiện nay nhiều nương chè đang phải chịu cảnh “trên đau dưới đói” và một nguyên nhân khá quan trọng phải kể đến, đó là các tác hại do dịch hại gây nên [16]
Dịch hại luôn là những mối đe doạ thường xuyên cho việc sản xuất chè búp tươi ở nước ta cũng như các nước trồng chè trên thế giới Theo thống kê hàng năm, chúng ta có thể bị mất 15 - 30% sản lượng do sâu, bệnh phá hại [15, 16] Sâu bệnh hại chè đ0 được phát hiện có nhiều loài, loài gây hại quan trọng có tới 45 loài sâu, 4 loài nhện, 13 loại bệnh và tuyến trùng Trong đó gây hại phổ biến và quan trọng nhất là rầy xanh và nhện đỏ hại chè (Nguyễn Khắc Tiến và CTV, 1994) [27] Theo kết quả điều tra của Michael R Zeiss và Koen den Braber, nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner là loài nguy hiểm nhất với chè tại Việt Nam và số lượng của chúng sẽ tăng khi Việt Nam có thêm các giống chè mới [67]
Nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner là một trong những loài gây hại chủ yếu trên chè Chúng phân bố khắp các vùng trồng chè trên cả nước
Tuy nhiên trong mỗi thời kỳ, mỗi điều kiện sinh thái, loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner có một số đặc điểm phát sinh gây hại thích ứng cho sự tồn tại của chúng Điều này có thể do sự tác động của các yếu tố vô sinh (nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa ) và các yếu tố hữu sinh (sự cạnh tranh của
Trang 11những quần thể cùng loài và khác loài) cũng như khả năng đề kháng của chúng với một số thuốc phòng trừ khác nhau ở mỗi vùng sinh thái
Để làm sáng tỏ vấn đề trên, chúng tôi đ0 tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu quy luật phát sinh gây hại và biện pháp phòng chống nhện đỏ hại chè (Oligonychus coffeae Nietner) vụ xuân 2007 tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai.”
1.2 MụC ĐíCH Và YÊU CầU CủA Đề TàI
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại và biện pháp phòng chống loài nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner, một trong những loài dịch hại chủ yếu ở khắp các vùng trồng chè của tỉnh Lào Cai nhằm đề xuất biện pháp phòng chống có hiệu quả theo hướng quản lý tổng hợp dịch hại cây chè, góp phần xây dựng vùng sản xuất chè an toàn ở Nông trường chè Phong Hải, tỉnh Lào Cai
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần nhện hại và thiên địch của chúng trên nương chè
- Nghiên cứu quy luật phát sinh và gây hại nhện đỏ Oligonychus coffeae trên nương chè qua các giống chè, tuổi chè khác nhau và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái, nông học đến sự phát sinh gây hại của loài này
- Đề xuất biện pháp phòng chống nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae phục vụ công tác phòng trừ dịch hại cây chè ở Lào Cai
Trang 122 TổNG QUAN TàI LIệU Và CƠ Sở KHOA HọC
CủA Để TàI
2.1 CƠ Sở KHOA HọC CủA Để TàI
2.1.1 Nguồn gốc phân loại và phân bố của cây chè
Các nhà thực vật học Trung Quốc đ0 tìm thấy các cây chè dại ở vùng núi cao Vân Nam có độ cao trên 1500m và phát hiện thấy trên 20 chủng chè Vân Nam trở thành trung tâm họ chè của thế giới và các nhà nghiên cứu khẳng định rằng: Trung Quốc là quê hương của cây chè
Trong quá trình điều tra cây chè dại tại các vùng núi phía Bắc Việt Nam
từ năm 1961 đến năm 1976, Djemnkhatze đ0 dùng phương pháp phân tích hoá sinh thực vật, ông đ0 tìm ra vết tích cây trà và lá trà hoá thạch từ thời kỳ đồ đá
ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ Tại Suối Giàng - Yên Bái, Cao Bồ tỉnh
Hà Giang, trên độ cao 1000m so với mặt nước biển, có một vùng trà hoang dại khoảng 4000 cây, có 3 cây trà cổ thụ sống hàng ngàn năm và tác giả đ0 đưa ra giả thuyết cho rằng Việt Nam là một trong cái nôi đầu tiên của cây chè thế giới với tên gọi “Thea Vietnamica”, trước cả “Thea sinensis” và “Thea Assamica”
Tuy còn nhiều quan điểm khác về nguồn gốc cây chè nhưng vùng phân
bố chè nguyên sản và vùng chè dại đều nằm ở khu vực núi cao có điều kiện sinh thái lý tưởng và điều đó chứng tỏ cây chè có nguồn gốc từ châu á
Cây chè có khả năng thích nghi và phân bố rất rộng Sự phân bố của cây chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai Khu vực thích nghi tốt nhất của cây chè nằm giữa 10 độ vĩ Bắc và 10 độ vĩ Nam Chè sinh trưởng tốt ở vùng có
độ cao 20 - 25m, thậm chí đến trên 100m so với mặt nước biển Tuy vậy ở các vùng thấp cây chè sinh trưởng tốt, cho sản lượng cao nhưng chất lượng chế biến không ngon so với chè được trồng ở vùng cao Khởi nguồn của cây chè là
Trang 13ở châu á có điều kiện nhiệt đới và á nhiệt đới, tuy nhiên chè vẫn được phân bố rộng r0i từ 30 độ vĩ Nam (Nam Phi) đến 40 độ vĩ Bắc (Gruzia)
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và trong nước
2.1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây nhìn chung có chiều hướng ngày càng gia tăng Hiện nay đ0 có trên 100 nước trên thế giới sử dụng chè và trên 40 nước trồng và sản xuất chè
Ngày nay, chè là thứ đồ uống rộng r0i trên thế giới và những sản phẩm chè
được chế biến rất đa dạng và phong phú theo thị hiếu khác nhau của các nước
Theo FAO (2003) cây chè trên thế giới phát triển với tốc độ nhanh từ thế
kỷ 18 trở về đây, nhất là trong 3 thập niên gần đây nhất Các nước trồng và chế biến chè tập trung chủ yếu ở châu á chiếm trên 80% sản lượng chè, trong đó Trung Quốc, ấn Độ, Srilanka chiếm tới 62,9%
Bảng 2.1: Sản xuất chè thế giới năm 2003 (FAO 2003) Các nước Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)
Trang 14người tiêu dùng
2.1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
Nghề trồng chè và tập quán uống chè ở nước ta đ0 có từ lâu đời, cây chè
ở Việt Nam không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng Hầu hết các tỉnh trong cả nước đều trồng và chế biến chè, đặc biệt là trên địa bàn 25 tỉnh trung du và miền núi, cây chè đang ngày càng phát huy tiềm năng kinh tế và lợi thế của mình
Trong cả nước, hiện nay đ0 có 360 cơ sở nhà máy chế biến chè có công suất từ 12 - 48 tấn/ngày Tính tới cuối năm 2006, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 94,8 nghìn tấn, trị giá 99,8 triệu USD, tăng 19,8% về lượng và 13,7%
về trị giá so với cùng kỳ năm 2005, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam đạt
111 triệu USD, sản lượng 105 nghìn tấn [16] Việc phát triển sản xuất chè đ0 góp phần quan trọng trong việc xây dựng kinh tế - x0 hội ở trung du và miền núi, khai thác tiềm năng đất đai, tạo việc làm cho người lao động
2.1.3 Tình hình nghiên cứu sâu bệnh hại chè
Về thành phần sâu hại chè, Waterhouse D.F (1993) [79] đ0 xác định được
28 loài sâu hại chè chủ yếu ở vùng Đông Nam á gồm 6 bộ, trong đó có 11 loài sâu ăn lá, sâu đục thân 4 loài, sâu hại rễ chè 3 loại và sâu chích hút có 10 loài Tuy nhiên số lượng sâu hại khác nhau ở các vùng như ở Thái Lan có 7 loài, Malaixia 16 loài, Indonesia 6 loài, Philippin 5 loài, Singapo 5 loài, Đài Loan
13 loài, Tác giả cũng đ0 xác định loài rầy xanh Empoasa caflavescens và nhện
đỏ Oligonychus coffeae gây hại chủ yếu ở vùng này
Khi nghiên cứu về sâu hại chè ở vùng Đông Bắc ấn Độ, Barboka B.C (1994) [44] đ0 xác định có trên 400 loài dịch hại, trong đó có 6 loài hại búp Còn Muraleedhara N (1991) [70] cho biết ở ấn Độ có hơn 300 loài sâu hại, nhện hại chè, các loài quan trọng là bọ xít muỗi (Helopeltis sp), bọ trĩ
Trang 15(Poysothrips cetiventris) và nhện đỏ (Oligonychus coffeae)
Qua thu thập thành phần sâu hại chè cho thấy ở Trung Quốc đ0 xác định
được 200 loài sâu hại và 5 loài nhện, ở vùng Grosusin (thuộc Liên Xô cũ) thu
được 66 loài, vùng Azecbaidan có 44 loài, vùng Kraxnoda có 25 loài, các nước trồng chè ở châu Phi xác định 155 loài sâu hại và 4 loài nhện (Dẫn theo Hồ Khắc Tín, 1982) [27]
Nghiên cứu về thành phần sâu hại chè, tác giả Hill và Cs (1998) [59] cho biết trên chè có 500 loài sâu hại chè, trong số đó phần lớn số loài có đặc tính chung cho vùng sinh thái, chỉ khoảng 30% số loài có tính phân bố rộng giữa các vùng trồng chè Số loài hại tập trung nhiều nhất trên cây chè từ tuổi 35 trở
đi Số loài thu thập ở các vùng cơ sự khác nhau như: ở ấn Độ đ0 thu được 250 loài, ở Malawi chỉ có 10 - 13 loài, còn ở Papua New có 13 loài
Ngay từ đầu thế kỷ XX, sau 10 năm quan trắc trên chè Du Pasquer R (dẫn theo Đỗ Ngọc Quý, 1975) [22] đ0 thu được 35 loài sâu, bệnh hại trên chè, trong đó có 24 loài sâu, nhện hại, sâu bệnh gây khá nhiều tác hại cho cây chè ở Việt Nam cũng như nhiều nước trồng chè ở vùng Đông Nam á ở Bắc Kỳ, theo kết quả sâu hại trên cây chè có thể phân loại theo tầm quan trọng và mức
- ít hại có: bọ xít muỗi, ruồi đục lá, bệnh chấm nâu
Nguyễn Khắc Tiến (1989 - 1993) [25] khi nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại chè vùng trung du Bắc bộ cho thấy có tới 45 loài sâu bệnh hại chè 2.2 CáC KếT QUả NGHIÊN CứU NGOàI NƯớC
2.2.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần nhện hại chè
Trang 16Qua nghiên cứu và thu thập về thành phần nhện hại chè, tác giả Oomen
P A (1982) [74] cho biết trên chè ở Indonesia có 5 loài nhện hại đó là nhện đỏ son (Brevipalpus californicus Banks), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus Green), nhện hồng (Acaphylla theae), nhện vàng (Hemitasonenus latus Banks)
và nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner)
Cùng nghiên cứu về nhện hại chè, Banerjee và Cranham (1985) [43] cho biết trên chè có 4 họ nhện nhỏ hại đáng kể như:
- Họ Tetranychidae (nhện đỏ), trong nhóm này có nhện đỏ hại chè là Oligonychus coffeae Nietner phát hiện thấy trên chè ở hầu hết các vùng chè thuộc Đông Nam á, Đông Bắc ấn Độ, Ceylon, Florida, Queensland và Australia
- Họ Tenuipalpidac (nhện đỏ giả), có nhện đỏ tươi trên chè (Brevipalpus californicus Banks) Họ này không nhiều và không quan trọng như họ Tetranychidae Loài nhện B californicus phân bố địa lý rất rộng và có tới 43 loài cây là ký chủ
- Họ Tarsonemidae có nhện vàng (Hemitasonenus latus Bakes) Loài này phạm vi ký chủ rộng gồm cam chanh, cà chua, nho, cao su, cây cảnh
- Họ Eriophyidae đại diện có nhện sọc trắng (Calacarus carinatus Green) Họ này gồm rất nhiều loài, tuỳ theo tập quán sinh sống mà có tên gọi
là nhện bóng lá, nhện gỉ sắt và nhện vú lá Nhện đỏ tía đ0 thấy có trên chè ở ấn
Độ, Ceylon, Đông Nam á và Indonesia
Kết quả nghiên cứu nhện hại chè tại Đài Loan thấy 4 loài nhện thuộc nhóm Tenuipalpids và hai loài thuộc nhóm Tetranychus được xác định là những loài nhện hại chè (Ho; Lo, 1989) Cho đến nay tại khu vực này loài nhện kanzawai (Tetranychus kanzawai) được coi là loài nhện hại chính (Lo,K.C và Cs, 1989) [61]
Trang 17Tại Bangladesh qua nghiên cứu đ0 thu thập được 29 loài dịch hại chân
đốt trong đó có 25 loài sâu hại, 4 loài nhện: nhện đỏ (Oligonychus coffea), nhện đỏ tươi (Brevipalpus phoenicis), nhện hồng (Acaphylia theae) và nhện sọc trắng (Calcarus carinatus) Các tác giả cho biết ở mỗi vùng sinh thái, khí hậu khác nhau thì có loài sâu hại chủ yếu và thứ yếu mang tính đặc trưng và các loài sâu hại trở thành chủ yếu hay trở thành thứ yếu phụ thuộc theo năm, theo mùa và theo từng khu vực vườn trồng chè [45]
2.2.2 Vị trí của Oligonychus coffeae Nietner trong thành phần dịch hại chè
Loài nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner là loài dịch hại được biết đến từ năm 1868 ở Assam, ấn Độ và loài dịch hại này được coi là loài hại nghiêm trọng nhất trong các loài dịch hại chè [67]
Cho đến nay, thế giới đ0 xác định được hơn 1000 loài dịch hại trên chè
Từ năm 1958, tác giả Eden [57] đ0 xác định các loài dịch hại quan trọng trên chè xếp theo thứ tự như sau:
- Sâu cuốn búp (Homona cofferia) hại nặng ở Srilanka
- Bọ xít muỗi (Helopeltis sp) hại nặng ở ấn Độ và Srilanka
- Nhện đỏ (Oligonychus coffeae) hại ở tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
- Rầy xanh (Empoasa caflavescens) hại nặng trên các giống chè Assam
- Bọ trĩ (Poysothrips cetiventris) hại ở vùng Darjeeling
- Mọt đục cành (Xyleborus cornicatus) hại nặng ở Srilanka
ở Indonesia, loài Oligonychus coffeae được xếp thứ 2 sau nhện đỏ tươi Brevipalpus californicus [73]
Baker E.W (1975) [40] đ0 công bố 9 loài nhện hại họ Tetranychidae ở Thái Lan và Nhật Bản, trong đó loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner cũng được xem như là một loài nhện hại quan trọng trên chè tại Nhật Bản
Cùng nghiên cứu về nhện hại chè, Banerjee và Cramham (1985) [52] cho
Trang 18rằng loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner gây hại nghiêm trọng ở miền Bắc ấn Độ và Bangladesh Còn ở miền Nam ấn Độ là loài Calacarus carinatus Geen, ở Indonesia loài hại lá và cuống lá phải kể đến loài Brevipalpus californicus (Oomen, 1982) Ngoài ra ở Nhật Bản loài Tetranychus kanzawai
được coi là loài dịch hại chủ yếu trên cây chè
Nghiên cứu thành phần sâu hại chè vùng Đông Bắc ấn Độ, tác giả Murleedharan và Cs (1991) [70] cho biết ở ấn Độ có hơn 300 loài sâu, nhện hại chè, các loài quan trọng là bọ xít muỗi (Helipeltis theivore), bọ trĩ (Scirtothrips spp) và nhện đỏ (Oligonychus coffeae Nietner), tuy nhiên ở các vùng sinh thái đặc trưng thì có các loài sâu hại quan trọng khác nhau
Theo tác giả Muraleedharan (1992) [71] cho biết có 300 loài côn trùng
và nhện hại khắp các vùng châu á Tác giả đ0 xếp các bộ hại quan trọng theo thứ tự là: Acaria; Isoptera; Hemiptera, Thysanoptera; Lepidoptera; Coleoptera
và tuyến trùng Nematod
Năm 1993, tác giả Waterhouse [79] cho biết chè ở vùng Đông Nam châu
á có 28 loài hại chủ yếu ở các vùng khác nhau như ở Thái Lan 7 loài, Malaysia 16 loài, Indonesia 6 loài, Philippin 5 loài, Đài Loan 13 loài Các loài chủ yếu là bọ trĩ, bọ xít muỗi, rầy xanh và nhện đỏ
ở Trung Quốc, theo W.M Lu (1993) [62] cho biết Oligonychus coffeae Nietner là loài nhện gây hại phổ biến và quan trọng trên cây chè
Kết quả điều tra của Michael R Zeiss và Koen den Braber, nhện đỏ là loài nguy hiểm nhất với chè tại Việt Nam và số lượng của chúng sẽ tăng khi Việt Nam có thêm các giống chè mới (như giống Yabukita nhập từ Nhật Bản) [67] 2.2.3 Thiệt hại trên cây trồng do nhện hại nói chung và nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner gây ra
Theo thống kê tại một số nước, thiệt hại do nhện hại gây ra đối với cây
Trang 19táo có thể lên tới 50 - 60%, lê 90%, dâu tây 40 - 70% Hay như đối với cây tre, một loại cây trồng lâm nghiệp chính tại tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc, trong các năm 1997 - 2000 có hai loài nhện đ0 làm giảm sản lượng măng 20 - 40%, thậm chí còn nhiều hơn làm cho rừng tre, trúc bị “cháy” phải huỷ bỏ [78]
Tác giả Banerjee B (1979) [42] cho biết, nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner là loài bùng phát số lượng một cách thường xuyên ở vùng phía Bắc ấn
độ ở trên chè, nhện đỏ gây hại mặt trên lá “chừa”, xuất hiện thành từng đám xung quanh gân chính hay rìa lá Dùng kìm chích hút tạo nên các vết chấm tròn màu nâu đồng Khi cây chè bị hại nặng toàn bộ lá có màu đồng hun và rụng, năng suất có thể giảm từ 5 - 10% ngay cả khi có dùng thuốc phòng trừ 2.2.4 Vị trí phân loại, phân bố và ký chủ của Oligonychus coffeae Nietner 2.2.4.1 Vị trí phân loại
Theo tổ chức C.A.B.I , 2006 đ0 tổng kết vị trí phân loại và danh pháp của Oligonychus coffeae như sau:
Trang 20Tetranychus bioculatus Wood-Mason
Acarus coffeae Nietner
Oligonychus merwei Tucker
Paratetranychus terminalis Sayed
Tên thông thường: Nhện đỏ hại chè (tea red spider mite)
Tên chính thức: Oligonychus coffeae Nietner
2.2.4.2 Phân bố
Theo tổ chức C.A.B quốc tế, bản đồ phân bố dịch hại 165, năm 1963, loài Oligonychus coffeae phân bố ở: Burma, Ceylon, Formosa, ấn độ, Đông dương, Indonesia, Pakistan, Châu Phi, Belgian Congo, Hy Lạp, Ethiopia, Kenya, Mauritius, Nyasaland, Nam Phi, Tanganyika, Austrlasia, Thái Bình Dương, U.S.A., Costa Rica, Colombia, Ecuador
2.2.5 Những nghiên cứu về tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại của loài Oligonychus coffeae Nietner
Công trình nghiên cứu của Das (1967) [54] là những công trình khá trọn vẹn
về loài Oligonychus coffea Tác giả cho biết nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của nhện đỏ Oligonychus coffeae là 25 - 300C, ẩm độ không khí 50 - 94%, vòng đời 9 -
12 ngày, khoảng 30 ngày ở mùa đông, một con cái có thể đẻ 40 - 50 trứng Còn nếu
ở điều kiện nhiệt độ > 340C và ẩm độ 17% thì trứng không thể nở, ở nhiệt độ 330C và
< 17% RH trứng không nở, khi RH > 72% có ít trứng nở Trên các giống chè Trung
Trang 21Quốc loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner hại nặng hơn giống Assam Chè
đốn đau và càng loại bỏ nhiều lá già trên bụi chè thì mật độ nhện đỏ giảm, trên nương chè có ít hay không có trồng cây che bóng thì bị nhện đỏ hại nặng hơn Das cho rằng, đối với những nương chè chăm sóc kém, cây chè sinh trưởng phát triển kém, đất thiếu dinh dưỡng, khô hạn thì bị nhện đỏ hại nặng đến rất nặng Tác giả cho biết ánh sáng trực xạ kích thích sự phát triển của nhện đỏ
Năm 1970, Danthanarayana và Cs cho biết nhện đỏ là dịch hại quan trọng nhất trong mùa khô, mật độ đạt đỉnh cao giữa 2 mùa khô, quần thể nhện
đỏ có mối quan hệ chặt với lượng mưa [53]
Theo Jeppson và Cs (1975) [60] nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner phân bố chủ yếu trên mặt lá, nhưng có thể phân bố ở hai mặt lá và cả lá non, trong điều kiện khô hạn mật độ nhện đạt cao nhất vào cuối tháng 3 đầu tháng
4, thiệt hại năng suất chủ yếu tháng 5, 6 cho đến khi có mưa Mưa có tác dụng rửa trôi nhện đỏ
Banerjee B và Cs (1985) [43] cho biết nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner xuất hiện ở trên mặt lá trưởng thành, sinh trưởng phát triển quanh năm không có giai đoạn diapause, mặc dù mùa đông cây chè ở trạng thái ngủ nghỉ (ở vùng Đông Bắc ấn Độ) Tác giả cũng cho rằng trên các dòng chè lai biến chủng của Trung Quốc thì nhện đỏ hại nhẹ hơn các dòng lai biến chúng của Assam Somchoudhury, Shaha (1979) [77] cũng chứng minh rằng, ở vài dòng chè như TV16, TV18 thì mật độ thiên địch thấp nhưng mật độ nhện đỏ lại cao Trái lại, ở một vài dòng khác như TV9, TV11 mật độ quần thể nhện đỏ lại thấp còn thiên địch lại cao Việc lựa chọn các dòng chè phù hợp là rất quan trọng trong việc hạn chế số lượng, mật độ dịch hại
2.2.6 Nghiên cứu thiên địch của Oligonychus coffeae Nietner
Thiên địch là một trong những yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của sâu hại, chúng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà số
Trang 22lượng của các loài dịch hại ở các nước trồng chè trên thế giới, nhiều tác giả [41] [51] [54] [69] đ0 và đang nghiên cứu thành phần và vai trò của thiên địch trong việc hạn chế số lượng dịch hại chè nói chung và nhện đỏ nói riêng
Nghiên cứu thiên địch của Oligonychus coffeae Nietner, tác giả Banejee và Cramham (1985) cho biết có rất nhiều loài thiên địch thuộc họ Phytoseiidae, Stigmaaeidae, các loài côn trùng thuộc họ bọ rùa như Stethorus gilvifrom, các loài thuộc họ Chrysopidae, họ Staphylinidae là thiên địch của nhện đỏ và các loài nhện hại chè khác, tuy nhiên các loài này không hạn chế được sự bùng phát thành dịch của nhện đỏ Các tác giả cho rằng nếu việc nghiên cứu nhập nội các loài bắt mồi nhện đỏ được khuyến khích thì công tác này có thể đạt hiệu quả cao [43]
Cranham (1961) [50] đ0 nghiên cứu cân bằng tự nhiên của dịch hại và
ký sinh trên chè, đặc biệt là sâu cuốn búp Homona coffearia và ong ký sinh Macrocentrus homona Nixon ở Srilanka Để giải thích tính chất cân bằng tự nhiên trong nương chè, tác giả đ0 nêu những vấn đề liên quan đến các yếu tố
về thức ăn, khí hậu, sự cạnh tranh, nơi ở cũng như ảnh hưởng của việc dùng thuốc hoá học gây mất cân bằng giữa sâu hại và thiên địch của chúng
Kết quả điều tra và nghiên cứu về phòng trừ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner ở vùng Đông Bắc ấn Độ và vùng Bengal từ năm 1993 đến 1995 tác giả Somchoudhurg et al và Saha (1995) đ0 nghiên cứu thu thập được 39 loài thiên địch thuộc các họ Phytoseiidae, Stigmaeidae, Canaxidae, Erythiadae, Bedeliidae, Tydeidae, Ascidae và Anystidae Đồng thời các tác giả cũng cho biết sự tác động lẫn nhau giữa Phytoseiid với thuốc trừ sâu và giữa Phytoseiid với giống chè chống chịu nhện hại Về tác động của thuốc, đ0 thí nghiệm tính
độc tiếp xúc của nhiều loại thuốc trừ sâu với nhện ăn thịt, loài Amblyseius ovalis và loài Amblyseius largoensis Tác giả cho biết các loại thuốc Fenazaquin, Dicofol và Sunfua ít độc đối với nhóm nhện ăn thịt này, trong khi
Trang 23các loại thuốc Cypermethrin, a - Cyper - methrin và Endosulfan có tính độc cao đối với chúng Điều ngẫu nhiên là Fenazaquin và Sulfur lại có hiệu quả phòng trừ nhện hại cao Về tác động lẫn nhau giữa nhện ăn thịt với tính chống chịu nhện hại của các dòng chè, các tác giả đ0 cho biết: Một sự cân bằng giữa bắt mồi ăn thịt và con mồi sẽ thuận lợi cho việc tăng thêm tính đề kháng nhện hại của cây chè Hệ thống quản lý dịch hại sẽ bền vững hơn, nếu cả bắt mồi ăn thịt và các giống chống chịu đều có vai trò làm giảm mật độ nhện hại Kết quả thí nghiệm cho biết mật độ nhện ăn thịt có sự khác nhau trên 14 dòng chè nghiên cứu, tỷ lệ giữa nhện hại và nhện bắt mồi cũng khác nhau giữa các dòng
đó ở vài dòng chè như TV16, TV18 mật độ nhện ăn thịt thấp nhưng mật độ nhện hại lại cao Trái lại, ở một vài dòng khác như TV9, TV11 mật độ quần thể nhện hại thấp nhưng mật độ Phytoseiid lại cao Qua đó, chúng ta được cung cấp thêm những hiểu biết để duy trì quần thể nhện ăn thịt thích hợp: cân bằng con mồi bởi sử dụng các dòng chè chịu nhện và cũng tạo chỗ ở phù hợp cho Phytoseiid Trên cơ sở kết quả các thí nghiệm và điều tra các tác giả đ0 đi đến nhận xét như sau: sự bảo tồn nhện ăn thịt bằng cách sử dụng chọn lọc các loại thuốc trừ sâu như Fenazaquin và Sunfua đ0 làm tăng số lượng một số loài Phytoseiidae như A herbicolus, A ovalis, A momurtry và lựa chọn các dòng chè phù hợp là cơ sở để đạt được những thành công trong chương trình IPM đối với nhện đỏ hại chè [77]
2.2.7 Những nghiên cứu về biện pháp phòng chống Oligonychus coffeae N 2.2.7.1 Biện pháp phi hoá hoc
Tại ấn Độ, Banerjee và Cramham (1985) cho rằng xử lý lưu huỳnh vào trong đất tốt hơn trên cây vì nó không làm gia tăng loài nhện đỏ, do khi bón trong đất lưu huỳnh không có ảnh hưởng xấu tới thiên địch của nhện hại [46] 2.2.7.2 Biện pháp hoá học
Biện pháp hoá học thường được sử dụng để phòng trừ nhện đỏ
Trang 24Oligonychus coffeae Nietner và thường đem lại hiệu quả cao và nhanh
Theo Jeppson et al (1975) cho biết, phòng trừ nhện đỏ bằng thuốc hoá học trong mùa hè có một số hạn chế bởi vì tán chè dầy làm cho thuốc không tán đều, hơn nữa dư lượng để lại sẽ nguy hiểm cho người tiêu dùng [60]
Năm 1985, Banerjee cho biết thuốc trừ nhện đỏ hại trên chè đó là Dicofol, Ethion, lưu huỳnh vôi, Thiometon và Dimethoat sau một thời gian dài chưa thấy loài Oligonychus coffeae Nietner có tính kháng thuốc Tuy nhiên đối với nhện T kanzawai ghi nhận thấy tính kháng thuốc đối với Organophophates, Dicofol và các hợp chất tương tự Dicofol Ngoài những thuốc trên còn có thể dùng Endosunfat kết hợp với dầu khoáng cho hiệu lực trừ nhện tốt
Tác giả Mkwaila (1990) [66] thí nghiệm cho biết loại thuốc Tedion và Karate đều có hiệu quả phòng nhện đỏ tốt
2.2.7.3 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học cũng được áp dụng trong phòng chống nhện đỏ hại chè Tại Đài Loan cho biết, khi thả 2 loài Amblyseus fallacis và Amblyseus permisilis để phòng chống nhện Tetranychus kanzawai với diện tích nhỏ kết quả bước đầu thấy có hiệu quả tốt và đang áp dụng ra diện rộng (Lo và Cs, 1989) [61]
Tuy nhiên, biện pháp sinh học nhiều lúc lại không được như ý vì các loại thiên địch rất dễ bị tiêu diệt bởi các hợp chất hoá học khi tiến hành phòng chống các loại dịch hại (Lo, 1989) [61] Trong khi đó biện pháp hoá học ở giai đoạn này vẫn chưa thể thay thế Do vậy, D.J Greathead đưa ra biện pháp kết hợp giữa thuốc trừ dịch hại và thiên địch, phương pháp này dựa trên 3 lựa chọn
- Tuyển chọn bộ thuốc trừ dịch hại có phổ tác dụng rộng
- Sử dụng thuốc có tính chọn lọc
- Thả thêm vào các loài thiên địch có tính kháng thuốc
Trang 25ở hướng thứ 3 này được các nhà sinh thái và côn trùng học quan tâm nhưng để phương pháp này phối hợp có hiệu quả cần thiết chúng ta phải hiểu
rõ về hệ thống - hệ sinh thái, mối quan hệ dịch hại và thiên địch hơn là kỹ thuật tiến hành
Năm 1986, Hamainura đ0 sử dụng loài A longspinosus có tính kháng thuốc để trừ nhện đỏ Tetranychus kanzawai ở Nhật Bản có kết quả tốt (dẫn theo Mori et al, 1989) [68]
Tác giả M Barthaknr và S Das (1983) [55], đ0 tiến hành thí nghiệm nuôi và kiểm tra một số loại nhện ăn thịt loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner trong phòng thí nghiệm nhằm áp dụng phòng trừ sinh học đối với loài nhện hại này
Theo Muraleedhara và Cs (1988) [72] việc sử dụng các thuốc trừ nhện không chọn lọc sẽ làm giảm thấp đáng kể mật độ của các loài nhện ăn thịt Theo tác giả việc phòng trừ sinh học sẽ đạt hiệu quả cao nhất nếu như sử dụng thuốc trừ sâu có chọn lọc trong chương trình phòng trừ sâu hại
2.2.7.4 Biện pháp canh tác
L.R Jeppson và Cs (1975) [60] nhận định rằng, sau thời gian thu hoạch, tất cả các giai đoạn sinh trưởng của nhện đỏ còn lại trên các lá già và các lá nhỏ ở gốc cây chè, do đó việc loại bỏ các lá này sẽ làm giảm đáng kể nguồn nhện gây hại cho vụ xuân tiếp theo
Theo Das (1967) [54] cho rằng, đối với những nương chè chăm sóc kém, cây chè sinh trưởng phát triển kém, đất thiếu dinh dưỡng, khô hạn thì bị nhện
đỏ hại nặng đến rất nặng Bón phân amonisunfat thì thiệt hại do nhện giảm 2.2.7.5 Biện pháp IPM
Theo Banerjee B và Cs (1979), loài nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner hại chè có khả năng phát triển quần thể cao, sức phá hại lớn Vì vậy các biện pháp phòng chống sâu hại chè phải mang tính tổng hợp Chè được che bóng
Trang 26vừa phát triển thích hợp vừa ít bị nhện đỏ tấn công hơn [42]
Banerjee B và Cs (1985) cho rằng nếu việc nghiên cứu về nhập nội các loài bắt mồi nhện đỏ được khuyến khích thì công tác này có thể đạt hiệu quả cao [46]
Hiện nay, việc nuôi và nhân thả các loài thiên địch trên chè còn có nhiều hạn chế, phạm vi áp dụng còn rất hạn hẹp Do vậy, hướng lợi dụng thiên địch sẵn có trong tự nhiên đ0 và đang được quan tâm hơn
2.3 CáC KếT QUả NGHIÊN CứU TRONG NƯớC
2.3.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần nhện hại chè
Nghiên cứu về nhện hại chè và thành phần nhện hại chè đ0 được nhiều tác giả trong nước tiến hành nghiên cứu
Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1993) [6] điều tra tập đoàn nhện hại các cây trồng vùng Hà Nội đ0 khẳng định trên chè có 3 loại nhện gây hại là nhện đỏ (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus Banks), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus)
Các tác giả Đỗ Ngọc Quý, Nguyễn Kim Phong (1997) [22] và Nguyễn Khắc Tiến (1988) [25] cho biết ở Việt Nam xác định được 4 loài nhện hại chè
đó là: nhện đỏ (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus Banks), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus), nhện vàng (Hemitarsonemus latus)
Tác giả Nguyễn Khắc Tiến và CTV (1994) [26] cho biết đ0 xác định có
5 loài nhện nhỏ hại chè đó là: nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus Banks), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus), nhện hồng (Eryophyes theae), nhện vàng (Hemitarsonemus latus) trong đó hai loại nhện đỏ nâu và nhện đỏ tươi là hai đối tượng quan trọng
Tác giả Nguyễn Văn Hùng và CTV (1998) [12] cũng khẳng định có 5
Trang 27loại nhện hại chè: nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus), nhện sọc trắng (Calacarus carinatus), nhện hồng (Eryophyes theae), nhện vàng (Hemitarsonemus latus)
Điều tra nghiên cứu thành phần sâu bệnh và nhện hại chè vùng Bắc Thái giai đoạn 1990 - 1995 tác giả Hoàng Thị Hợi (1996) [9] đ0 xác định được 2 loài nhện hại là: nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tươi (Brevipalpus californicus)
Kết quả nghiên cứu về thành phần nhện hại chè của các tác giả nói trên cho thấy, có nhiều ý kiến khác nhau về thầnh phần nhện hại chè Song có thể cho thấy thành phần nhện hại chè có sự khác nhau ở từng thời kỳ và từng vùng sinh thái
2.3.2 Vị trí của Oligonychus coffeae Nietner trong thành phần dịch hại chè
Nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner là một trong những loài dịch hại nghiêm trọng trên chè
Năm 1982 Hồ Khắc Tín [27] có nhận xét, sâu và nhện hại chè vùng Bắc
bộ thường có rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ và một số sâu ăn lá
Trong giai đoạn 1986 - 1987, trạm nghiên cứu Phú Hộ - Viện Cây công nghiệp [37] tiếp tục nghiên cứu và xác định dịch hại quan trọng trên chè đó là: rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ và bọ xít muỗi
Nghiên cứu thành phần sâu hại tại Nông trường Sông Cầu - Bắc Thái năm 1990 tác giả Phạm Thị Vượng và Nguyễn Văn Hành [39] đ0 xác định
được một số loài dịch hại chính đó là: rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ và mối
Kết quả nghiên cứu giai đoạn từ 1986 - 1993 tại Phú Hộ, Nguyễn Văn Thiệp [29] đ0 xác định 4 loài gây hại chủ yếu trên chè là: rầy xanh, nhện đỏ,
bọ trĩ và rệp phẩy
Các kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Quý và Nguyễn Kim
Trang 28Phong (1979) [22] và Nguyễn Khắc Tiến (1988) [25] cũng cho biết các loài hại chính trên chè là: Bọ xít muỗi, rầy xanh, bọ cánh tơ và nhện
Điều tra nghiên cứu thành phần sâu hại chè vùng Bắc Thái giai đoạn
1990 - 1995 tác giả Hoàng Thị Hợi (1996) [9] đ0 xác định có 4 loài gây quan trọng là: rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi và nhện đỏ
Như vây, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng, nhện đỏ là một trong những loài chủ yếu trên chè
2.3.3 Thiệt hại trên cây trồng do nhện hại nói chung và nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner gây ra
Nhện đỏ (Oligonychus coffeae), được Du Pasquar xác định là một trong những loài gây hại chủ yếu từ những năm 1930 [22]
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [7] cho biết, loài Oligonychus coffeae Nietner sống ở trên mặt lá già, lá bánh tẻ, các vết châm có mầu thâm nâu hoặc
đồng xám trên mặt lá, khi bị hại nặng kèm theo nắng nóng và hạn 2 - 3 tháng thì chè không cho thu hoạch búp
Rất nhiều loại cây trồng bị nhện nhỏ hại tấn công gây hại Tuỳ theo điều kiện canh tác mà thiệt hại có thể từ vài phần trăm đến 60 - 70%, thậm chí có trường hợp còn mất trắng [8]
Theo Nguyễn Thái Thắng (2000), khi cây chè bị nhện Oligonychus coffeae Nietner hại nặng có thể làm cho cây chè không phát lộc [28]
2.3.4 Phân bố và ký chủ của Oligonychus coffeae Nietner
2.3.4.1 Phân bố
Nhện đỏ có mặt quanh năm trên các nương chè, ở khắp các vùng trồng chè của nước Việt Nam đều thấy có loài nhện Oligonychus coffeae Nietner này [7] [28] 2.3.4.2 Ký chủ
Loài nhện Oligonychus coffeae Nietner, ngoài gây hại chính trên cây chè
Trang 29ra chúng còn có mặt trên cây cà phê và cây ổi [7]
2.3.5 Những nghiên cứu về tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại của nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner
ở Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Khắc Tiến (1963) [24], Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [7], Hoàng Thị Hợi (1996) [9], đều nhất trí khẳng định rằng loài nhện đỏ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner là một trong số các loài nhện gây hại phổ biến và quan trọng trên chè hiện nay
Nguyễn Khắc Tiến (1963) [24] đ0 miêu tả hình thái, tập quán sinh sống, tác hại và biện pháp phòng trừ nhện đỏ: chúng sống thành quần thể trên cây, hút nhựa, đẻ trứng trong gân và mép lá, trứng nở ra con màu đỏ, qua lột xác thành nhện 8 chân Nhện xuất hiện rải trong năm thường mạnh nhất vào tháng
4 - 5 Sau những ngày mưa to, số lượng giảm đi rõ rệt
Kết quả điều tra trong 3 năm từ 1988 - 1990 của tác giả Nguyễn Khắc Tiến lại cho thấy, nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner có 2 đợt phát sinh rộ trong năm: đợt 1 từ tháng 2 - 5 và đợt 2 từ tháng 9 - 11 [24]
Tác giả Phạm Thị Vượng (1990) khi nghiên cứu về sâu bệnh hại chè vùng Sông Cầu, Bắc Thái đ0 đánh giá nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner là một đối tượng gây hại quan trọng với 2 đợt phát sinh trong năm: Đợt 1 từ tháng 5 đến tháng 8 và đợt 2 từ tháng 10 - 11 Theo tác giả thì trong tháng 10 nhện đỏ thường gây hại nặng nhất
Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [7] cho biết nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner sống tập trung ở trên mặt lá bánh tẻ và nhất là lá già, rất ít khi thấy trên lá non và ngọn Chúng thường tập trung trên lá, có thể trên gân chính hoặc cạnh rìa mép lá Thông thường hay gặp nhện đỏ bên cạnh rìa mép lá nhiều hơn bên trong lá
Theo Nguyễn Xuân Mai và CTV (1994) điều tra nhện đỏ Oligonychus coffeae N trên chè tại Phú Lương, Bắc Thái cho thấy từ tháng 4 - 7 nhện đỏ
Trang 30phát sinh và gây hại nặng, làm lá chè biến màu hung đỏ, lá rụng nhiều, cây chè
ít búp Mật độ nhện hại trong tháng 5 có điểm điều tra lên tới 30 - 50 con/lá
Nhện đỏ có mặt quanh năm trên nương chè ở các vùng trồng chè ở trung du miền núi phía Bắc nước ta, chúng có hai cao điểm vào các tháng 4 - 6
và vào tháng 10 - 11 [7] [28]
Theo kết quả điều tra biến động số lượng nhện đỏ hại chè trong 3 năm
1994 - 1996 của Nguyễn Thái Thắng chỉ ra rằng: trong tháng 1 và tháng 2 mật
độ nhện đỏ hạ thấp thường dưới 1 con/lá, sang tháng thứ 3 khi thời tiết ấm dần lên, nhện đỏ phát sinh mạnh đạt 2,3 con/lá Sang tháng 4, 5 và tháng thứ 6 sau những lứa hai đầu tiên cây chè tạo được bộ khung tán với số lượng lá chừa cao, lúc này cùng với nhiệt độ cao 25 - 300C, mật độ nhện đỏ lên rất cao có thể tới 10 con/lá, cá biệt có nơi đến 20 - 25 con/lá, trung bình 3 - 3,5 con/lá Lúc này nếu thời tiết khô hạn và không được chăm sóc đúng lô chè có thể bị “cháy” Sang tháng 7, 8, 9 tuy nhiệt độ cao nhưng các trận mưa rào đ0 rửa trôi đa số nhện hại nên mật độ nhện hại chỉ còn khoảng 0,6 - 1,1 con/lá Mật độ nhện hại trong các tháng 10 - 11cao hơn các tháng mùa mưa chút ít đạt 1,1 - 2,0 con/lá Mật độ nhện đỏ tiếp tục giảm dần trong tháng 12 và đạt bình quân 0,9 con/lá
Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1994) cho biết, mật độ nhện đỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, tuổi cây chè, các thao tác đốn, cây che bóng, nhiệt
độ, lượng mưa… và các biện pháp canh tác khác Khi nghiên cứu sức tăng quần thể nhện đỏ trên các giống chè, tác giả đ0 chỉ ra rằng nhện đỏ có sức tăng quần thể cao và chúng sinh trưởng mạnh trên các giống PH1, 1A, tiếp theo là các giống Gia Vài, Tham Vè và Trung Du Cường độ mưa mùa hè có tác động
rõ rệt đến quần thể nhện đỏ [7]
Tác giả Nguyễn Khắc Tiến (1994) cho biết trên nương chè thâm canh và chè có cây che bóng có số lượng nhện đỏ giảm 29 - 45,5%, lô chè sản xuất kinh doanh mật độ nhện cao hơn chè vườn ươm
Trang 31Tác giả Nguyễn Thái Thắng (2000) cho rằng tương quan giữa mật độ của nhện đỏ và tỷ lệ hại là thuận và khá chặt [28]
Các kết quả nghiên cứu vè loài Oligonychus coffeae Nietner, tác giả Nguyễn Văn Hùng và CTV (1998, 2001) [11] [14] [7] [28] cho biết, các giống nhiễm nặng là PH1, Trung Du, giống nhiễm trung bình IRI 777, TH3, giống nhiễm nhẹ là 1A, LDP1 Biện pháp kỹ thuật canh tác có tác động đến nhện đỏ,
đối với chè đốn phớt, chè để lưu, chè không có cây che bóng thì mật độ nhện hại cao hơn chè đốn đau, chè có cây che bóng Còn biện pháp hái san chật và hái theo lứa không có sự khác nhau về mật độ nhện hại
2.3.6 Nghiên cứu thiên địch của Oligonychus coffeae Nietner
ở Việt Nam nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên (thiên địch) của sâu hại trên cây trồng và sử dụng chúng trong phòng trừ đ0 được nhiều tác giả trong nước tiến hành nghiên cứu Mặc dù vậy, đối với nhện hại chè những kết quả nghiên cứu về thiên địch còn rất hạn chế và mới chỉ là bước đầu
Trong chiến lược phòng chống dịch hại ngày nay, chúng ta không phải chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế mà cần phải chú ý đến sự an toàn sinh thái, sức khoẻ và môi trường đó là mối quan hệ khăng khít giữa 3 vấn đề kinh tế - x0 hội - môi trường, do đó biện pháp quản lý tổng hợp dịch hại ra đời Để cho biện pháp hiệu quả và phù hợp với hệ thống nông nghiệp ở mỗi địa phương chúng ta phải hiểu được mối quan hệ cây trồng, dịch hại và kẻ thù tự nhiên của chúng trong hệ sinh thái đồng ruộng (Nguyễn Công Thuật, 1996) [32], Hà Quang Hùng, 1998) [10]
Kết quả nghiên cứu về thiên địch của nhện hại cây trồng, trong đó có nhện hại chè, tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [7] thu được 6 loài thiên địch là: bọ rùa
đen đỏ (Stethorus sp và sticholotis sp), bọ cánh cộc (Oligota sp), bọ trĩ (Scolothrips sp), nhện (Phytoseius sp và Amblyseius sp) Trên nương chè vùng Phú Thọ, nhện
đỏ có tập đoàn thiên địch gồm 5 loài (Nguyễn Thái Thắng, 2000) [28]
Trang 32Thực hiện chương trình quản lý tổng hợp sâu hại chè năm 2003, Nguyễn Văn Hùng và CTV [15] đ0 thu thập và định danh được 31 loài thiên địch thuộc
8 bộ côn trùng và nhện bắt mồi ăn thịt Tác giả cho biết thành phần ong ký sinh quá nghèo nàn (2/31 loài) trong đó nhóm bọ rùa có số loài khá phong phú (10 loài) Trong nhóm này có các loài Scolothrips sexmaculata, Oligota sp, Stethorus sp và Amblyseius sp
2.3.7 Những nghiên cứu về biện pháp phòng chống Oligonychus coffeae N 2.3.7.1 Biện pháp hoá hoc
Nguyễn Văn Đĩnh (1993) [6] đ0 khảo sát 9 loại thuốc hoá học để phòng trừ nhện là Bi 58, Danitol, Dimecron, Kelthan, Lưu Huỳnh Vôi, Phosalone, Sevin, Supracid và Zinep Trong đó, theo tác giả thì Danitol, Kelthan, Phosalone, có tác dụng trong các pha phát triển của nhện hại, còn Zinep, Supracid và Lưu Huỳnh Vôi có hiệu quả trừ nhện không cao, chỉ có Sevin là có hiệu lực cao với nhện đỏ hại chè
Nguyễn Xuân Mai và CTV (1994) nhận định, Penstyl có hiệu quả tốt đối với nhện đỏ, Kelthane vẫn còn hiệu lực khá, tương đương với Penstyl ở lượng dùng 125 kg.ai/ha
Từ những năm 1994, nghiên cứu biện pháp hoá học phòng chống nhện hại chè, tác giả Nguyễn Khắc Tiến đ0 khuyến cáo dùng các thuốc trừ nhện là: Kelthan, Rufast, Sumucombi [26]
Nghiên cứu về thuốc hoá học trừ nhện cho thấy, nhóm thuốc khuyến cáo
để trừ nhện là: Nissorun, Rufast 3EC, Ortus 5EC, Danitol 10 EC phun với lượng 500 lít dung dịch /ha có hiệu quả trừ nhện tốt [7] [12] [14] [28]
Về vấn đề dư lượng: Biện pháp hoá học rất quan trọng và cần thiết để giảm tác hại của sâu hại, nhưng trong nhiều trường hợp, thuốc hoá học đ0 để lại trong sản phẩm lượng tồn dư chưa phân huỷ hết làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Đặc biệt chè được sử dụng dưới dạng nước uống, nên vấn đề
Trang 33dư lượng thuốc trừ sâu có ý nghĩa rất quan trọng
Dư lượng thuốc trừ sâu trong chè cần phải càng thấp càng tốt Trong thực tế sản xuất, thực hiện được vấn đề này không phải là đơn giản vì thời gian giữa các lần thu hoạch tương đối ngắn, trong giai đoạn vụ chè chính có từ 3 - 4 lứa hái một tháng Để giảm được dư lượng thuốc trong chè, một số biện pháp nhằm giữ mức dư lượng dưới giới hạn cho các vùng chè ở ấn Độ như sau:
- Sử dụng luân phiên hoá chất và phải trên cơ sở của sự cần thiết
- Chỉ phun thuốc sau khi hái chè
- Không dùng thuốc đ0 quá thời hạn
- Chỉ sử dụng những bình phun quy định
- Không dùng thuốc đ0 cấm sử dụng cho chè
- Thuốc Ethion nên giữ ở liều lượng 750 ml/ha
- Mẫu chè xuất khẩu phải phân tích dư lượng các loại thuốc DDT, BHC, Aldrin/Dieldrin, Chlordan, Heptachlor, Dicofol và Ethion Dù không được hướng dẫn sử dụng cho chè, song dư lượng của các loại thuốc này cần phải
được phân tích và phải tính bằng phần tỉ (parts per billion)
ở nước ta, vấn đề dư lượng thuốc trên chè cũng được ngành nông nghiệp
và các ngành liên quan khác quan tâm chú ý Một số loại thuốc có thời gian phân hủy chậm để lại tồn dư trong sản phẩm chè, đ0 bị cấm hoặc hạn chế sử dụng Việc xác định thời gian cách ly là nhằm hạn chế dư lượng không vượt quá mức cho phép Khi nghiên cứu vấn đề này, Hoàng Thị Hợi (1996) [9] đ0
đề xuất thời gian cách ly đối với thuốc Danitol là 10 ngày
2.3.7.2 Biện pháp phi hoá học
Theo Đỗ Ngọc Quý và Nguyễn Kim Phong (1997) [22] từ những năm
1960 - 1965 việc phun hay quét Diêm sinh ngay sau khi đốn chè đ0 có hiệu quả tốt đối với các loài nấm bệnh và nhện hại
Tác giả Trần Đặng Việt (2004) cho biết, hiện nay hiện tượng sử dụng
Trang 34thuốc hoá học trong phòng chống sâu hại chè quá liều lượng và có sự đấu trộn nhiều hơn một loại thuốc là khá phổ biến Thí nghiệm hiệu quả của nhóm thuốc thảo mộc và sinh học cho thấy các thuốc: TP - Thần Tốc, Song M0 và thuốc Tạp Kỳ có hiệu lực đối với nhện đỏ trung bình khá từ 58,11 - 72,34% và khuyến cáo nên sử dụng các loại thuốc này [38]
Tác giả Nguyễn Khắc Tiến (1963) [24] đ0 khuyến cáo dùng hỗn hợp Vôi + Lưu huỳnh pha theo tỉ lệ 1 kg vôi sống + 2 kg Lưu huỳnh và 10 lít nước
đun sôi trong 40 phút
2.3.7.3 Biện pháp sinh học
Nguyễn Văn Đĩnh (1993) [6] đ0 nghiên cứu sử dụng các loài nhện Amblyseius indicus, Amblyseius anonymus, Phytoseiulus persimilis nhập từ Hà Lan để kìm h0m sự phát triển của nhện đỏ Theo tác giả, loài Phytoseiulus persimilis có tác dụng kìm h0m nhất đến sự phát triển của quần thể nhện đỏ trên đồng ruộng
2.3.7.4 Biện pháp IPM
Biện pháp phòng trừ tổng hợp là quan trọng nhất đòi hỏi người ứng dụng phải áp dụng một cách hợp lý và hài hoà các biện pháp phòng trừ một cách hiệu quả nhất
Tiến hành nghiên cứu phòng trừ tổng hợp nhện hại chè, các tác giả Lê Thị Nhung và CTV [17], Nguyễn Thái Thắng (2000) [28] và Nguyễn Văn Hùng (2001) [14] khuyến cáo chỉ áp dụng biện pháp hoá học khi mật độ nhện
đỏ đạt 4 - 6 con/lá, khi phát hiện thiên địch của nhện đỏ là bọ rùa nâu đạt 1- 2 con/lá thì không tiến hành phun thuốc
Nguyễn Khắc Tiến (1984 - 1993) [26] trên các nương chè có cây che bóng, số lượng nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner trong bóng râm giảm tới 45,5% so với ngoài bóng râm Lê Thị Nhung (1996) [18] cũng cho những kết quả tương tự: Mật độ nhện đỏ trong và ngoài bóng cây che bóng cũng có sự sai khác rõ rệt 1,05 và 2,31 con/lá
Còn tác giả Nguyên Văn Đĩnh (2002) [7] cho biết cần thiết phải trồng
Trang 35chè đúng kỹ thuật, bón phân cân đối, trồng cây che bóng hợp lý, tưới nước đầy
đủ (đặc biệt là tưới phun), chỉ dùng thuốc khi mật độ đạt 4 - 6 con/lá
Tóm lại, đ0 có một số công trình nghiên cứu về nhóm nhện nhỏ hại trên chè của nhiều tác giả ở trong nước đề cập tới các vấn đề như: thành phần và tầm quan trọng, đặc điểm sinh học, sinh thái học, biện pháp phòng trừ… đối với một số loài quan trọng
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này còn tản mạn và phần lớn chỉ mới đề cập tới từng khía cạnh riêng rẽ Nhiều vấn đề cụ thể như đặc điểm sinh thái học, quy luật phát sinh gây hại của những loài gây hại chính, thiên
địch, v.v còn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ để làm cơ sở cho các biện pháp phòng trừ nhóm đối tượng này Về các biện pháp phòng chống nhện hại chè, các tác giả chủ yếu đề cập đến hiệu lực của các loại thuốc hoá học nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt trong thực tế sản xuất như một trong các giải pháp tình thế Các biện pháp phòng trừ khác như kỹ thuật canh tác, phòng trừ sinh học, phòng trừ tổng hợp chưa được nghiên cứu nhiều
Trang 363 VậT LIệU, ĐịA ĐIểM, NộI DUNG
Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
3.1 VậT LIệU NGHIÊN CứU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu loài nhện đỏ Oligonychus coffeae N hại chè trong giai
đoạn kinh doanh và kiến thiết cơ bản Các giống chè nghiên cứu là các giống chè thuần, chè lai và giống chè nhập nội được trồng ở Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
3.1.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Túi polyethylen (PE) đựng mẫu, kính lúp cầm tay
- Đĩa petri, kính lúp soi nổi (có bộ phận chụp ảnh) để quan sát các đặc
điểm hình thái của nhện Ngoài ra còn có panh, ống hút, bút lông, giấy lọc 3.2 ĐịA ĐIểM Và THờI GIAN NGHIÊN CứU
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai (quan sát và thu thập mẫu), Bộ môn Côn trùng học, Khoa Nông học,
Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2007 3.3 NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sản xuất và bảo vệ thực vật (BVTV) của nông hộ
Trang 37trồng chè ở địa điểm điều tra tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
- Điều tra thành phần nhện hại và thiên địch trên nương chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
- Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại của loài nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner
- Thử nghiệm áp dụng qui mô nhỏ biện pháp phòng trừ tổng hợp để trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phòng chống nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Nietner tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Điều tra tình hình sản xuất và bảo vệ thực vật trên chè của các nông
hộ tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
Điều tra theo phiếu (phụ lục) kết hợp với phỏng vấn trực tiếp nông hộ Tiến hành điều tra 30/55 hộ trồng chè (hộ gia đình phải có diện tích trồng chè 1000m2 trở lên) thuộc đội sản xuất số 1 của Nông trường Phong Hải, thời gian
điều tra 10 ngày 1 lần
3.3.2.2 Điều tra thành phần nhện hại và thiên địch của chúng tại Nông
trường chè Phong Hải, Lào Cai
Điều tra mức độ phổ biến của nhện hại và thiên địch tiến hành điều tra
cố định và điều tra bổ sung như sau:
- Thời gian điều tra: Tiến hành điều tra định kỳ 10 ngày/lần
- Điều tra trên 3 khu giống (giống thuần, giống lai LDP và giống nhập nội), mỗi khu tiến hành điều tra 10 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm lấy ngẫu nhiên
50 lá và cho ngay vào túi PE, đưa về phòng quan sát và đếm số lượng dưới kính lúp 2 mắt
Tại mỗi điểm: kết hợp điều tra bằng mắt và kính lúp tay xác định tên của
Trang 38các loài nhện và thiên địch có trên điểm điều tra
- Các mẫu nhện được định loại theo khoá phân loại của Meyer (1981) [65] có tham khảo các khoá phân loại của của Jepsson et al (1975) [60] và mô tả của Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [7]
- Chỉ tiêu điều tra:
+ Tên nhện hại và thiên địch (tên Việt Nam, tên Latinh)
+ Mức độ phổ biến của nhện và thiên địch được xác định qua tần xuất xuất hiện ở các điểm điều tra
# điểm điều tra có loài nhện A
Tần suất xuất hiện = - x 100
loài nhện A (%) # điểm điều tra
Dùng dấu cộng để biểu thị mức độ phổ biến theo quy ước sau:
+ Tần suất dưới 30% điểm có nhện (ít phổ biến) + + Từ 30% - 50% điểm có nhện (tương đối phổ biến) + + + Tần suất > 50% điểm có nhện (phổ biến)
3.3.2.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ, mức độ gây hại của quần
thể nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
- Điều tra biến động mật độ quần thể nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner Điều tra trên 4 giống (giống chè Trung du, chè Shan, chè lai LDP2 và chè nhập nội Bát Tiên) Điều tra định kỳ 7 ngày/1 lần (điều tra trong suốt vụ trồng), theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra ngẫu nhiên 10 cây, mỗi cây lấy 6 lá (2 lá non, 2 lá bánh tẻ và 2 lá già), đếm số lượng nhện dưới kính lúp Olympus ở mặt trên và sau đó là mặt dưới lá
Trường hợp không tiến hành quan sát và đếm nhện ngay được đem bảo quản mẫu trong tủ lạnh ở nhiệt độ 50C (theo phương pháp của Meyer 1981) [65] Chỉ tiêu theo dõi:
Trang 39+ Mật độ nhện (con/lá):
- Điều tra mức độ tác hại của nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner
Những mẫu lá thu được trong quá trình điều tra trên được phân cấp hại bằng mắt thường theo thang 5 cấp:
+ Cấp 0: Lá không có vết hại
+ Cấp 1: Dưới 5% diện tích lá bị hại, các vết hại của nhện biểu hiện
rõ nhưng rất thưa, nhìn kỹ mới phát hiện được
+ Cấp 2: 5-10% diện tích lá bị hại, các vết hại đ0 liên kết với nhau nhưng lá vẫn có màu xanh bình thường
+ Cấp 3: 11-20% diện tích lá bị hại, nhện tập trung thành từng ổ rải rác, lá bắt đầu mất độ bóng và màu xanh đặc trưng, lác đác có lá hơi biến vàng
+ Cấp 4: 21-30% diện tích lá bị hại, các triệu chứng đ0 biểu hiện rõ, lô chè hơi biến vàng, lác đác lá có màu hung đồng
+ Cấp 5: > 30% diện tích lá bị hại, Từng đám lá chè biến màu đồng đỏ, lá biến dạng, nhỏ lại, từng đám xác nhện nằm rải rác màu trắng bạc trên bề mặt lá
Tính toán tỷ lệ lá hại (TLH) và chỉ số hại (CSH) theo công thức sau: + Tỷ lệ hại (%)
N x I
Trang 40- Ni: số lá bị hại ở cấp thứ i
- N: tổng số lá điều tra
- I: cấp lá bị hại cao nhất ( I = 3)
3.3.2.4 Điều tra ảnh hưởng của phương thức đốn chè đến mật độ quần thể
nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner trên các dạng chè kinh doanh khác nhau tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
Chè đốn đau, chè đốn phớt (đốn kinh doanh) và chè để lưu (không đốn) 3.3.2.5 Điều tra sự ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ quần thể nhện
đỏ Oligonychus coffeae Nietner trên nương chè tại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
Cây che bóng cho chè là cây muồng lá nhọn (cao khoảng 4 - 5m, tán rộng khoảng 10m), trồng giữa các hàng chè so sánh với những nương chè cùng giống, tuổi và chế độ chăm sóc nhưng chưa có cây che bóng ở đội sản xuất số
1 của Nông trường Phong Hải
3.3.2.6 Theo dõi diễn biến mật độ nhện đỏ Oligonychus coffeae Nietner trên
3 mô hình thí nghiệm chế độ canh tác kháu nhautại Nông trường chè Phong Hải, Lào Cai
- Mô hình 1: Bón 20 tấn phân hữu cơ + 150 kg supe lân + 60 kg KCL , bón trong 6 tháng đầu năm là 60% (tháng 2 bón 30%, tháng 4 bón 30%)
- Mô hình 2: Bón 15 tấn phân hữu cơ (bón hết 1 lần) + 1,5 tấn NPK + 1,0 tấn đạm urê/ha, bón trong 6 tháng đầu năm là 60% (tháng 2 bón 30%, tháng 4 bón 30%)
- Mô hình 3 (theo tập quán của nông dân): Bón 7 tấn phân hữu cơ (bón hết 1 lần) + 2 tấn NPK + 0,6 tấn đạm urê/ha, bón trong 6 tháng đầu năm là 60% (tháng 2 bón 30%, tháng 4 bón 30%)