b) Một lần Chí say rượu, trở về vườn chuối và gặp Thị Nở - người đàn bà xấu đến “ma chê quỷ hờn” lại dở hơi ở làng Vũ Đại. Tình thương của Thị Nở đã làm sống lại bản chất người và khát v[r]
Trang 1Ôn thi Văn: Chuyên đề 7
Thứ Năm, 16/06/2011, 10:56 SA | Lượt xem: 375
Chí Phèo” của Nam Cao / "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm / Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân
* Câu 1.
Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa hình ảnh “cái lò gạch cũ” trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao
* Câu 2.
Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm:
"Bên kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn
Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang
Mẹ con đàn lợn âm dương
Trang 2Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu"
(Trích SGK Văn học 12, Tập 1,
NXB Giáo dục 2001, tr 79 - 80)
* Câu 3.
Anh (chị) hãy phân tích hình tượng con sông Đà trong bài kí “Người lái
đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Bài làm (Câu 1)
Các ý chính:
1 Giới thiệu đôi nét về tác phẩm và hình ảnh “cái lò gạch cũ”
- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao nguyên có tên là “Cái lò gạch cũ”, khi in thành sách lần đầu tiên (1941), nhà xuất bản Đời mới tự ý đổi tên là “Đôi lứa xứng đôi” Đến khi in lại trong lập “Luống cày” (1946), tác giả đặt lại tên là “Chí Phèo”
- “Chí Phèo” là một kiệt tác của Nam Cao viết về cuộc sống cùng quẫn của những kiếp người lao động ở làng quê Việt Nam trước Cách mạng Hình ảnh “cái lò gạch cũ” trong tác phẩm được tác giả xây dựng với một ý đồ nghệ thuật chứa đựng ý nghĩa tư tưởng sâu sắc: hiện tượng
"Chí Phèo " trong xã hội cũ
2 a) Câu chuyện về cuộc đời Chí được bắt đầu từ “cái lò gạch cũ” Chí
là đứa con hoang bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ giữa đồng Chí đã lớn lên bằng sự cưu mang của những người lao động lương thiện lam lũ Trưởng thành, Chí đi làm canh điền cho nhà Bá Kiến (tên cường hào độc ác khét tiếng ở làng Vũ Đại) Vì ghen tuông vô cớ, Bá Kiến đã ngấm ngầm đẩy Chí vào tù Sau bảy, tám năm đi tù biệt tăm, Chí đột nhiên trở về làng thành một kẻ hoàn toàn khác Từng bước Chí cứ lún sâu mãi
Trang 3xuống vung bùn tội lỗi, trở thành tay sai cho Bá Kiến và thành “con quỷ dữ” ở làng Vũ Đại
b) Một lần Chí say rượu, trở về vườn chuối và gặp Thị Nở - người đàn
bà xấu đến “ma chê quỷ hờn” lại dở hơi ở làng Vũ Đại Tình thương của Thị Nở đã làm sống lại bản chất người và khát vọng hướng thiện trong Chí Nhưng rồi tất cả những gì tốt đẹp vừa bùng loé trong tâm hồn Chí
đã mau chóng bị dập tắt, bị cự tuyệt Trong đau đớn tuyệt vọng, Chí đã đến nhà Bá Kiến, rồi giết hắn và tự đâm chết mình
c) Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”,
“Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”
- Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới: sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời (…)
- Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn: Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng - kết cấu vòng tròn Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên
dữ dội, song không thể giải quyết Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc
về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại
3 Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam Cao
Với hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới
Bài làm (Câu 2)
1 Xuất xứ bài thơ "Bên kia sông Đuống", vị trí và cảm hứng chủ đạo của đoạn trích
Trang 4- Hoàng Cầm là người con của mảnh đất Kinh Bắc (tỉnh Bắc Ninh) Tháng 4/1948, khi đang công tác tại căn cứ Việt Bắc, Hoàng Cầm nghe tin quê hương bị giặc Pháp đánh phá Ông "tâm tư chồng chất những nhớ thương, tiếc nuối" cảnh và người nơi quê nhà Ngay trong đêm, nhà thơ sáng tác bài "Bên kia sông Đuống" Tác phẩm đăng lần đầu tiên trên báo "Cưu quốc" tháng 6-1948, sau đó nhanh chóng được phổ biến toàn quốc
- Đoạn thơ trích ở dưới phần đầu đoạn 2 trong toàn bộ bài thơ Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là niềm đau xót, uất hận của tác giả khi quê hương bị giặc giày xéo
2 Đặc sắc thứ nhất về nội dung đoạn trích là bức tranh quê hương bị tàn phá, là "bản chép tội" kẻ thù của nhà thơ
- Hình ảnh lũ giặc huỷ hoại cả đời sống vật chất: "ruộng khô", "nhà cháy"
- Ngọn lửa hung tàn huỷ hoại cả đời sống văn hoá tinh thần Chúng thiêu trụi mái ấm gia đình, làm "chia lìa", "mẹ con đàn lơn âm dương" Chúng phá "tan tác", "Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã"
3 Đặc sắc thứ hai về nội dung của đoạn trích là mạch cảm xúc đầy yêu thương, căm thù mãnh liệt của tác giả
- Trước hết là niềm nhớ thương da diết của tác giả về vùng Kinh Bắc đẹp, trù phú, giàu truyền thống văn hoá: lúa nếp "thơm nồng", tranh Đông Hồ "nét tươi trong", màu dân tộc "sáng bừng trên giấy điệp",
- Nỗi nhớ niềm thương trong đoạn thơ chuyển dần sang niềm căm thù, uất hận khi tác giả "chép tội giặc"
- Kết thúc đoạn thơ là nỗi đau xót, lo âu "Bây giờ tan tác về đâu"
4 Đắc sặc nghệ thuật nổi bật của đoạn thơ là biện pháp lặp, giọng thơ thay đổi linh hoạt, chất liệu văn hoá dân gian được đưa vào thơ tạo nên cái ảo, cái thực
- Biện pháp đối lập được sử dụng thành công ở nhiều phương diện Đó
là đối lập hình ảnh thơ: quê hương tươi đẹp và quê hương tiêu điều bị
Trang 5tàn phá Các tính từ, động từ được sử dụng khi nói về quê hương và kẻ thù cũng trong thế đối lập
- Giọng thơ thay đổi linh hoạt từ đằm thắm thiết tha sang giọng thơ nghẹn ngào, đứt đoạn, đau xót
- Nội dung các bức tranh "Đám cưới chuột", "Mẹ con đàn lợn", được đưa vào mạch thơ phù hợp tạo nên nét thực, nét ảo của hình ảnh thơ;
tô đậm chất Kinh Bắc
Bài đọc tham khảo
Nếu thơ ca là tiếng vọng của lòng người vào năm tháng thời gian, để thương để nhớ lại cho đời thì bài "Bên kia sông Đuống" của thi sĩ Hoàng Cầm là một bài thơ mang tính chất kì diệu như vậy Một đêm tháng 4 năm 1948, đang sống và chiến đấu giữa núi rừng Việt Bắc, thi sĩ nghe tin quê hương bị giặc Pháp chiếm đóng, tàn phá điêu tàn, chỉ trong một hai canh ông sáng tác bài thơ này "Bên kia sông Đuống" xuất hiện lần đầu tiên trên báo "Cứu quốc" tháng 6-1948, nó được nhanh chóng phổ biến từ chiến khu Việt Bắc tới khu Ba, khu Bốn, vào miền Nam và ra tận Côn Đảo Nó là một trong những bài thơ hay nhất viết về quê hương đất nước trong thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp
Trong phần "Vĩ thanh" của tập thơ "Về kinh Bắc" in năm 1994, thi sĩ Hoàng Cầm có viết một đôi dòng về bối cảnh và cảm hứng của mình khi sáng tác bài thơ "Bên kia sông Đuống":
tôi đang ở trong trạng thái bồn chồn, thao thức, tâm tư, rối bời sau khi nghe báo cáo về quê hương mình bị giặc xâm lược kéo lên tàn phá, giết chóc, tôi chưa định viết gì, lúc quá nửa đêm vắng lặng, bỗng văng vẳng bên tai ba câu:
"Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về bên kia sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì "
Tôi chộp lấy, ghi ngay và cứ thế cảm xúc trào ra một mạch dài, viết rất nhanh, sợ không theo kịp những thanh âm làn điệu đang cuồn cuộn dâng lên trong lòng mình Cho đến gần sáng thì xong bài thơ, một
Trang 6trong những bài được các bạn già, trẻ, nam nữ yêu mến đã gần nửa thế kỉ "
Mười câu đầu bài thơ, thi sĩ nói lên nỗi nhớ thương da diết về con sông Đuống thân yêu Nỗi nhớ thương đau buồn gắn liền với nỗi xót xa "như rụng bàn tay!" Tiếp đó là phần chính của bài thơ gợi lên cảnh tan tác, điêu tàn của quê hương yêu dấu:
"Bên kia sông Đuống
Bây giờ tan tác về đâu?"
Đoạn thơ dài 15 câu là sự trải rộng tấm lòng tha thiết và bồi hồi, của đứa con đi xa đối với nơi chôn nhau cắt rốn của mình Một tình quê đằm thắm dào dạt "Bên kia sông Đuống" - Bên này là đất tự do, nhà thơ hướng lòng mình về "Bên kia" là vùng bị giặc chiếm đóng và giày xéo Đó là vùng Thuận Thành thương yêu
"Quê hương ta" đẹp lắm, đáng tự hào biết bao! Sông Đuống êm đềm, lững lờ "trôi đi một dòng lấp lánh" nên thơ Một màu xanh bạt ngàn như dẫn hồn nhà thơ đi về cõi mộng Bức tranh quê thân mật, bình dị
"Xanh xanh bãi mía bờ dâu - Ngô khoai biêng biếc" đã để thương để nhớ cho đứa con li hương Màu xanh ngọt ngào của đồng quê yêu dấu
đã trở thành mảnh tâm hồn của kẻ xa quê
"Quê hương ta" đẹp lắm Một miền quê trù phù đáng yêu "Hương lúa nếp thơm nồng" từ những cánh đồng quê tươi tốt đã tỏa rộng trong không gian thời gian, đã thấm sâu vào hồn người không thể nào phai nhạt được Hương vị đậm đà của quê nhà chẳng phải là "canh rau muống với cà dầm tương" mà là "hương lúa nếp thơm nồng" - thơm ngào ngạt dâng lên trong những ngày mùa, trong hương cốm mới, trên mâm cỗ ngày giỗ ngày tết đã thấm đượm một mối tình quê vơi đầy Trong khói lửa chiến tranh, đứa con li hương quên sao được "hương lúa nếp thơm nồng" của quê cha đất mẹ?
Kinh Bắc - quê hương yêu dấu của Hoàng Cầm là một miền đất cổ kính
có bề dày văn hóa qua các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê Là quê hương của những vương phi, hoàng hậu, những cành vàng lá ngọc Là
Trang 7nơi sản sinh ra nhiều trạng nguyên, tiến sĩ của đất nước ta mà câu đồng dao đã khắc vào năm tháng: "Một bồ ống cống - Một đống ông nghè - Một bè tiến sĩ - Một bị trạng nguyên - Một thuyền bảng nhỡn "
Là một vùng quê có bao danh lam thắng cảnh, những non tiên, núi gấm, những chùa chiền đã đi vào huyền thoại cổ tích Là quê hương của những hội hè đình đám: "Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu -Mồng chín đâu đâu cũng về hội Gióng" (Tục ngữ) Thương nhớ "Quê hương ta" tiếng thơ của Hoàng Cầm cất lên tha thiết tự hào:
"Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong,
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp"
Các từ ngữ "tươi trong", "sáng bừng" gợi tả đường nét, gam màu tươi, sáng, thanh nhẹ đẹp tươi đã làm hiện lên trong tâm hồn chúng ta những bức tranh dân gian với đề tài bình dị, thân thuộc được treo trong ngày tết đón xuân sang Tranh gà lợn, tranh đánh đu, đấu vật, tranh Tố
nữ, thầy đồ Cóc, đám cưới chuột, tranh hứng dừa, tranh đánh ghen, tranh Bà Trưng cõi voi ra trận, tranh Phù Đổng Thiên Vương tất cả đều diễn tả khát vọng, mơ ước nghìn đời của nhân dân ta Cảnh sắc làng quê, sinh hoạt làng xã của "mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên " như "sáng bừng" trong tâm hồn mỗi chúng ta, "sáng bừng trên giấy điệp" Tranh Đông Hồ thể hiện bản sắc nền văn hóa Việt Nam Trên nền giấy dó láng mọt lớp điệp mỏng óng ánh làm nền, được chắt luyện từ vỏ sò, màu sắc tranh Đông Hồ: màu son, màu tím sim, màu cánh sen, màu vàng nghệ, màu xanh lá mạ, màu lá chuối tơ đúng là
"màu dân tộc" đã làm "sáng bừng" một tình quê Kinh Bắc
"Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên", còn đâu nữa? Từ bồi hồi hoài niệm, giọng thơ trở nên đau xót, căm giận, nghẹn ngào Cảnh thanh bình trên quê hương Kinh Bắc vụt tan vỡ Xóm làng quê hương chìm trong bóng giặc Giặc tràn tới giày xéo, đốt phá và chém giết Bao trùm lên xóm làng quê hương là "ngùn ngụt lửa hung tàn" chết chóc:
"Quê hương ta từ ngày khủng khiếp
Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn"
Trang 8Vần thơ như tiếng nấc nghẹn ngào và căm giận Câu thơ bỗng rút ngắn lại 3, 4 từ Hình ảnh tang thương và điêu tàn nối tiếp xuất hiện như một cuốn phim, đoạn phim cận cảnh làm nhức nhối tim gian:
"Ruộng ta khô
Nhà ta cháy
Chó ngộ một đàn
Lưỡi dài lê sắc máu
Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang"
Một không gian bao la bị đốt phá, bị giày xéo Sự sống bị hủy diệt đến
"kiệt cùng" Ruộng vườn, nhà cửa của nhân dân ta từ bao đời nay bỗng chốc bị "lửa hung tàn" làm cho "khô", làm cho "cháy" Màu xanh biêng biếc của lúa ngô khoai bị tàn lụi kiệt cùng Xóm làng tan hoang "Ngõ thẳm bờ hoang" vốn là nơi hẻo lánh, khuất nẻo hoang vắng, thế mà từ ngày "khủng khiếp" cũng bị lũ giặc tàn phá đến "kiệt cùng", điêu linh Nếu như trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi căm giận lên án quân
"cuồng Minh" là "hung tàn", là quân "cường bạo", cực kì ghê tởm:
"Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán" thì ở đây Hoàng Cầm khinh bỉ, căm thù gọi giặc Pháp là bầy "chó ngộ" - chó điên - "lưỡi dài lê sắc máu" Hình ảnh thơ nói về lũ giặc rất sáng tạo, đã khơi dậy bao căm giận đối với quân xâm lược trong nửa thế kỉ nay
Giặc đã kéo tới chiếm đóng và tàn phá quê hương Nỗi đau về vật chất cùng với nỗi đau về tinh thần như được nhân lên nhiều lần Đình đền, chùa chiền bị đập phá Còn đâu nữa tiếng chuông ngân sớm chiều? Còn đâu nữa những bức tranh Đông Hồ? "Đàn lợn âm dương", "Đám cưới chuột" là hai bức tranh nổi tiếng nói lên ước mơ no ấm, hạnh phúc và cách ứng xử của nhân dân, chẳng có tội tình gì cũng bị quân thù hủy diệt đến "kiệt cùng" đau đớn!
"Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Trang 9Bây giờ tan tác về đâu?"
Thực tại và mộng ảo như trộn lẫn vào nhau, hình ảnh "tan tác" trong tranh trở thành sự thật "khủng khiếp" ngoài đời Trong những câu thơ trên nỗi đau xót, căm thù được khắc sâu bằng sự đối lập giữa hai cảnh trước và sau, thanh bình và chiến tranh, tương phản giữa ngôn từ - Xưa kia, những năm tháng bình yên thì "tưng bừng rộn rã", "bây giờ" khi giặc tràn tới thì "chia lìa đôi ngả", "tan tác về đâu?"
Câu thơ "Bây giờ tan tác về đâu?" và "Bây giờ đi đâu về đâu" là những câu thơ hay, cảm động, được nhắc lại nhiều lần như một điệp khúc Nỗi đau như xé lòng Quê hương mịt mù khói lửa Nỗi đau đớn xót xa tưởng như không còn giới hạn nào, không thể nào kể xiết!
Viết về tội ác quân xâm lược, hầu như nhà thơ nào cũng để lại những câu thơ tâm huyết làm xúc động lòng người Đó là "những vần thơ một thời mà mãi mãi":
- "Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ Chùa cháy đỏ những thân cau"
("Núi Đôi" - Vũ Cao)
- "Giặc về giặc chiếm đau xương máu
Đau cả lòng sông, đau cỏ cây"
("Quê mẹ" - Tố Hữu)
- "Làng ta mấy lần bom giội nát
Dừa ngã ngổn ngang, xơ xác bờ tre"
("Trở về quê nội" - Lê Anh Xuân)
- v.v
Thơ hay là thơ có hồn Đoạn thơ trên đây từ cảm xúc đến ngôn ngữ, hình tượng đã để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu sắc, những ấn tượng mạnh mẽ về tình người, tình quê hương, đất nước
Trang 10Cấu trúc đoạn thơ thành 2 mảnh đối lập: quá khứ thanh bình, yên vui, tươi đẹp với hiện tại đau thương, xót xa, có tác dụng như một lời kết tội đanh thép quân xâm lược Hoài niệm đẹp về quê hương gắn liền với hiện tại điêu tàn, để ta "nhớ tiếc", để ta "xót xa" và căm giận Tình yêu quê mẹ đất cha, yêu dòng sông Đuống "ngày xưa", yêu màu sắc hương
vị của lúa ngô khoai, của tranh Đông Hồ được Hoàng Cầm nói lên một cách thiết tha, sâu nặng Chất Kinh Bắc được thể hiện một cách tài hoa độc đáo, làm nên vẻ đẹp thẩm mĩ bài thơ "Bên kia sông Đuống" để ta yêu quý và trân trọng
Bài làm (Câu 3)
Các ý chính:
1 Giới thiệu tác phẩm và hình tượng con Sông Đà
- Người lái đò Sông Đà (in trong tập Sông Đà - 1960) là một bài kí đặc sắc của Nguyễn Tuân viết về thiên nhiên và con người Tây Bắc
- Hình tượng con Sông Đà trong hai hình tượng chính của tác phẩm
2 Phân tích hình tượng con Sông Đà
a) Con sông hung bạo
- Nguyên nhân: do những quãng sông hẹp (như cái yết hầu) kẹp giữa hai vách núi dựng đứng, dưới đáy sông lại có những trùng vi thạch trận
- Biểu hiện của cái dữ dội:
+ Âm thanh (“khiêu khích”, “chế nhạo”, khi thì rống lên như tiếng rống của ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng lửa…)
+ Hình thù (như những vòng vây khủng khiếp có thể nuốt chửng, xé con thuyền ra làm nhiều mảnh…)
+ Tính cách (một “kẻ thù số một”, “xảo quyệt”, "độc dữ", "nham hiểm")
Tóm lại, con sông như một thế lực hung bạo chống lại người lái đò