Luận văn
Trang 1ty Lag ~ Nhu col bạc
- Nà ait BO GIAO DUC VA DAO TAO
~ Nang An Trường Đại học Nông nghiệp I
NGUYÊN QUỲNH ANH
MỘT SỐ YẾU TO NONG SINH HOC HAN CHE NANG SUAT LAC CUA TINH NGHE AN
Trang 2LOI CAM ON
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc lôi xin trân trọng cảm ơn :
tài liệu và viết Luận án
- PTS Phùng Quốc Tuấn - Chủ nhiệm Khoa sau Đại học, trường Đại học
Nông nghiệp I đã giúp đỡ xử lý thống kê các số liệu và góp ý kiến rất nhiều
về bố cục Luận án
- PGS.TS Nguyễn Hữu Tề - Chủ nhiệm khoa Trồng trọt trường Đại học Nông nghiệp I đã chân tình góp ý kiến về cách trình bày Lnận án
- PTS Đoàn Thi Thanh Nhàn - Chủ nhiệm bộ môn cây công nghiệp, đã giúp
đỡ rất nhiều trong quá trình nghiên cứu ở bộ môn
- P1S Nguyễn Quang Thạch - Trường phòng Khoa học, đã góp ý chân tình
về bố cục và cách trình bày Luận án
-PGS PTS Hoàng Minh Tấn - Phó chủ nhiệm khoa trồng trọt, đã giúp đỡ nghiên cứu về những chỉ tiêu cơ bản, cơ sở
- PGS PTS Trin Thi Té Nga - Da gop ¥ vé cdc thí nghiệm giống cây trồng
- PGS PTS Định Thế Lộc - Đã đọc toàn bộ bản thảo Luận án và sửa chữa cho nhiều chỉ tiết
- PGS.PTS Trần Đức Hạnh - Đã xem lại kỹ càng cho phần khí hậu, thời tiết
- PTS Nguyễn Thị Văn - Đã chân tình góp ý về tỷ lệ ảnh hưởng của các giống mới trong Luận án
- Bộ môn cây công nghiệp, khoa Trồng trọt - Đã tạo điều kiện cho chúng tôi nghiên cứu, sinh hoạt học thuật, bảo vệ thử rất thuận lợi và thành công
- Ban Giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp Ì, khoa Sau Đại học - Đã tạo mọi điều kiện có thể có để chúng tôi có thể tiến hành nghiên cứu và viết Luận án
- Trung tâm Khoa học Công nghệ Nghệ An, Sở Khoa học Công nghệ và
Môi trường Nghệ An, Sở Nông nghiệp Nghệ An, Đài Khí tượng Vĩnh -
Đã giúp đỡ và Cung cấp rất nhiều số liệu giúp cho việc nghiên cứu được -_nhanh chóng và hiệu quả.
Trang 3PHAN I - BAT VAN BE
PHAN II - TONG QUAN TINH HINH NGHIÊN CUU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
diet Tình hình nghiên cứu ngoài nước
II.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
PHAN 11] - NQI DUNG VA PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU
III.1 Nội đung nghiên cứu
III.2 Phương pháp nghiên cứu
PHAN IV - KẾT QUÁ VÀ THẢO LUẬN
IV.1 Đánh giá tình hình sân xuất lạc ở Nghệ An
từ 1958 - 1993
IV.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và nông
sinh học đến năng suất lạc ở Nghệ An
IV.2.1 Yếu tố môi trường
I,5.1.1 Bất trồng lạc ở Nghệ An
IV.2.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện khi hậu đến
năng suất lạc ở Nghệ An
IV.2.2.2 Yếu tố nông học
1V.3 KẾt quả nghiên cứu một số biện phấp khắc
Trang 4phục các nguyên nhân han chế năng suất
IV.3.1 Nghiên cứu đưa giống mới vào sản xuất
IV.3.2 Kết quả nghiên cứu tưới nước cho lạc
IV.3.3.1 Xác định hiệu qua cha lac thu làm giống 99 1V.3.3.2 Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật
trồng lạc thu ở đổng bằng tỉnh Nghệ An 100 IV.3.4 Nghiên cứu cÂi tiến quy trình thâm canh
Trang 5Nguồn gốc cha cay lac (Arachis hypogeae L.) qua nhiều
đặc biệt ở quần đảo Tây An, Mêhicô, bờ biển đông bắc và
mở rộng tới Pêru.[14]
tởi biên giới Bolivia và lạc có thể được trồng gần 3500 năm
chưa được xác định.[74]
Ngày nay, cây lạc phân bố nôi chung ở vùng nhiệt đới, á
sân xuất thương mại nằm giữa 40 vĩ độ Nam đến 40 vì độ Bắc Trên thế giới, lạc được coi là cây 'lấy dầu quan trọng
giởi nắm 1994 là 21.169.000 ha với sẵn lượng 25.§88.000 tấn
lạc vỏ, năng suất 1223kg/ha [77]
Hạt lạc chứa 50% dầu, ngoài ra còn cô một hàm lượng
Trang 6chú ý đến dầu trong hạt lạc mà chưa chủ ý đến lượng protei
trạng thiếu protein hiện nay trên thế giới khiến cho nha
thức ăn cho người và gia súc, nguồn nỉitơ sinh học trong c bằng đạm cho cây trồng)[14]
Việt Nam thuộc châu A là một nước của ' lục địa cũ, d
nhiên có lịch sử trồng lạc chậm hơn nhiều sơ với các nud vùng nguyên sản Cây lạc được trồng Ờ nước ta từ bao giờ v
từ đâu đến là một câu hỏi chưa cô lời giải đấp Theo một
cây lạc, chứng tô lạc là một cây trồng mới ở Việt Nam [%]
Bắc, năm 1939 điện tích lạc là 4600ha với sản lượng là 349
là 30.000-32.000 ha [14] Hiện nay lạc được trồng rộng rả
ở hầu hết các tỉnh trong nước, với điện tịch nắm 1994 ] '246.600 ha, sản lượng 300.600 tấn lạc vỏ Trong các loạ
cây công nghiệp ngắn ngày, lạc đứng hàng đầu về giá trị xuâ
khẩu hang năm khoảng 100 triệu USD, chi xép san các le
Trang 7göp phần giải quyết cân bằng chất béo và protein cho bữa ăn
đặc điểm của một cây họ đậu có khả năng cố định nitơ khi
trời và một bộ rễ phát triển mạnh, khối lượng thân lá lớn,
cô khả năng che phủ đất, chống xôi mòn, lạc được xem là một
vững đang được phổ biến ở các vùng sinh thái đa dạng Ở nước
ta hiện nay Theo dự báo chiến lược, tới năm 2000 va 2010 điện tích lạc ở nước ta tăng lên 260.000 ha và 320.000ha,
tăng 4,6% và 2,7%
Năng suất lạc ở Việt Nam thuộc loại thấp so với các
nước trong khu vực, nắng suất bình quân nhiều năm ở nước ta
quốc hoặc 75% năng suất lạc ở Indonexia
Việt Nam noi chung, chưa được nghiên cứu Tuy nhiên một số
trung tâm văn hoa bậc hai Philippin-Malaixia-Indonexia,
Trang 8các nước đồ vào Bang trong (Trung bộ Việt Nam )[29] Cay
của tình Nghệ an Biểu đáng quan tâm là từ vị trì thứ nhất
biệt về năng suất cô chiều hướng dém chan tại chỗ hoặc đi
phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện để
tài nghiên cứu:
" Một số yếu tố nông sinh học hạn chế năng suất lạc của
tình Nghệ An"
(cha yếu các yếu tố nông sinh học) trên cơ sở đô tìm ra biện pháp hữu hiệu nâng cao năng suất lạc của tình nhà, đồng thời đồng gop một phần nhô vào việc xác định con đường đẩy mạnh
nước ta
Trang 9pháp khắc phục như tưới nước sử dụng giống mới, thời vụ
gieo trồng, kỹ thuật bon phân
Trang 10PHAN II
TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU TRONG VA NGOAI NUOC
11.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CUU NGOAI NUOC
quanh 1000 kg lạc vỏ/ha
điện tích trồng lạc tăng (3,64 lần), vì năng suất tăng rất
chậm từ 917kg/ha lên 1046kg/ha (13% trong 50 nắm).[74]
Vì sao năng suất lạc thấp và hầu như dẩm chân tại chổ qua nhiều thập kỷ là câu hỏi được nhiều nhà khoa học trên
thế giới quan tâm
Bầu những năm 1920 do dịch hại (mọt quả bông) ảnh hưởng
„sản xuất bông ở Tây nam Hoa kỳ, cây lạc bắt đầu được phát
Mỹ lúc bấy giờ tìm câu hôi trã lời ðờ bân thân cây lạc, cho rằng nguyên nhân năng suất thấp do đặc tỉnh sinh lý của cây
đậu không thể dự đoán" Sở đi gọi cây lạc là cây đậu không thể dự đoán được vì những kết quả nghiên cứu ngoài đồng về
Trang 11Theo Giảo sư D.G.Cummins (1985) -thì nhạn định đồ dựa
chứng minh ngược lại rằng lạc là cây họ đậu cô thé dụ đoán Tác giả đã điểm lại những tiến bộ trong nghiên cứu khoa học
phép mở rộng diện tich trồng lạc ở vùng nhiệt đới nửa khô hạn cô mùa mưa ngắn Nhiều thành tựu nghiên cứu nổi bật về phòng trừ sau bệnh, phát hiện và phòng trừ aflatoxin, về vai
quê, về quá trình sinh lý của cây, và những kết quả nghiên cứu về công nghệ thu hoạch sau bảo quân, sử dụng để mở rộng công dụng của cây lạc
1947 năng suất lạc ở bang này là 780kg/ha, năm 1984 một năng suất kỷ lục đã đạt được là 3800kg/ha trên điện tich
hơn 250.000ha Bây là câu trà lời khẳng định lạc không
phải là "cây đậu không thể dự đoán" như trước đây người ta thường nói[66]
Trang 12Tại Hội nghị Quốc tế về "Khi tượng nông nghiệp đối với
cây lạc" được tổ chức tại trung tâm ven sa mạc ICRISAT,
lên rằng lạc là cây trồng quan trọng Ở các nước nhiệt đới nửa khô hạn, chỉnh vùng này dong gop 67% sản lượng lạc của thê giới Sân xuất lạc tại vùng này bị hạn chế bởi những yếu tố kinh tế-xã hội, sinh học và môi trường, và tương lai của cây lạc ở đây phụ thuộc vào những kết quả nghiên cứu tìm ra giải pháp đối với các hạn chế trên và kết quả của sự chuyển giao những công nghệ mới
Tác giả đã nêu lên những yếu tế hạn chế sản xuất lạc ở các nước vùng bán khô hạn, chia thành 3 nhôm:
1 Yếu tố môi trường:
- Năng suất giảm do hạn, sâu bệnh hại
+ Lượng mưa thấp kết hợp với nhiệt độ cao
+ Sâu hại rể, thân và quả
- Béc té aflatoxin trong hat lac ảnh hưởng đến sức khoê người và gia súc, làm giảm giá trị thương phẩm, yếu tế này
rộng rài của nấm aspergillus flavus gây nên độc tế đó
Trang 13hoặc chịu hạn, sâu bệnh
+ Thiếu gen chống hạn
+ Thiếu giống cô chu kỳ sinh trưởng ngắn để tránh hạn + Giống nhiễm sâu và bệnh
- Năng suất thấp do hệ thống cây trồng không tận dụng
được tiềm năng của giống
- Xử lý sau thu hoạch và bảo quân không đẩy đủ để giữ cho sân phẩm cô phẩm chất tốt
- Giá cả thị trường, sự quan tâm của nông dân và người
tiêu thụ hạn chế sản xuất và tiêu dùng
+ Giá quá thấp, sản xuất không cô lợi
+ Giá cả không chắc chắn vào thời vụ gieo trồng không
kich thích sản xuất
+ Giá đầu vao qua cao
+ Cây trồng khác có lợi hơn
+ Công sản xuất, thu hoạch tốn quâ nhiều
+ Thiếu công cụ làm cho sân xuất, thu hoạch khô khăn và
+ Mất lòng tin sau khi mất mùa do bệnh hoặc hạn
+ Giá đối với người tiêu thụ quã cao
Trang 14+ Thiếu thị trường
+ Thiếu hệ thống sản xuất và phân phối hạt giống
- Thiếu cán bộ nghiên cứu và khuyến nông được đào tạo
Tác giả để nghị một chương trình nghiên cứu để giải
quyết các vấn để thách thức đặt ra đối với cây lạc như sau:
- Tạo giống chống hoặc chịu hạn, bệnh, sâu
- Tạo những giống c6 thời kỳ sinh trưởng ngắn phù hợp với mùa mưa ngắn và tránh hạn
phi phòng trừ sâu bệnh
aflatoxin
phân có hiệu quả hơn
- Tăng cường cố định nitơ do vi khuẩn
với đại chúng
nông dân
khuyến nông
vùng nhiệt đới nửa khô hạn (ICRISAT) đã xuất bản cuốn sách
"Khi hậu nông nghiệp của các cây đậu lấy hạt châu A", trong
Trang 15trồng 3 loại cây họ đậu lấy hạt: lạc, đậu triêu, đậu mỏ
Indonexia, Malaixia, Miến điện, Pakităng, Philippin,
vào đặc điểm đất đai, lượng mưa, nhiệt độ, địa hình cũng
những yếu tế hạn chế sản xuất các loại cây họ đậu trên ở từng vùng, các tác giả đã chia thành 2 nhóm yếu tố vô sinh
dang hoá một nền nông nghiệp bền vững ở châu A.[76]
về cơ sở vật chất , kỷ thuật, trình độ nghiên cứu khoa học
và mục đích sản xuất đã cô các chương trình, nghiên cứu và
tiến bộ đắng chú ý về năng suất Diện tỉch trồng lạc toàn thế giới ở thập kỷ 70 là 18.273.300 ha, ở thập kỷ 80 là 18.325.900 ha, chênh nhau 0,5%, sản lượng tương ứng là 16.948.600 tấn và 19 809.800 tấn, tăng 16,9% Năng suất từ
930 kg/ha lên 1080kg/ha tăng 16,05%, như vậy sản lượng của
Trang 16thập kỷ 80 tăng chủ yếu do tang n&ng sudt(S.M.Fletcher,
Ping Zhang và D.H.Carley) So sánh mức năng suất ở thời kỳ
tiến bộ vững chắc.[75]
Ở Mỹ sản xuất lạc cha yếu dùng làm thực phẩm tiêu thụ
60% sản lượng lạc ở nước này được sử dụng nội địa, do đó
cơ sở hạ tầng nghiên cứu khoa học (đã được phát triển qua nhiều thập kỷ) hổ trợ cho sản xuất, cho chế biến và sử dụng
thích hợp cho thu hoạch bằng mây, cơ giới hoá toàn bộ các khâu sản xuất, bón phân thích hợp dựa trên cơ sở phân tich đất và cây, dùng hạt giống có nắng suất cao, sử dụng thuốc
Hiện đang có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai
Oklahoma và Texas
Trang 17ứng dụng tiến bộ khoa học; cóng nghệ, dau tư thâm canh
môi trường khác nhau chỉ phối như các tác giả trên đã phân
tích.[75]
Trong thập kỷ 80 sẵn lượng lạc thế giới tăng chủ yếu do
Đông A So sánh giữa 2 thập kỳ 70 và 80, sản lượng lạc châu
nước dẩn đầu Lạc là một trong những cây có dầu chủ yếu ở
được dùng làm dầu rân, nhưng sử dụng để chế biến thức ăn và
Sản xuất lạc ở Trung Quốc phát triển nhanh chông trong thập
tăng từ 2,95 triệu ha lên 3,3 triệu ha, năng suất tăng từ
6 triệu tấn/năm
So với thập kỷ 70 điện tích trồng lạc trong những nam
lượng tăng 124,3%
Trang 181970, đất đai được giao cho hộ gia đình quản lý đã kích
thich nông đân sân xuất, sau đô là sự đâu tư thâm canh, ap dụng giống và các tiến bộ khoa học công nghệ mới
học về cây lạc ở Trung quốc như sau:
trong những năm 1980
Hầu hết các mẩu giống đã được giữ ở nhiệt độ thấp trong
trùng, một số mẫu giếng thể hiện tỉnh kháng cao đối với các
virus, tuy nhiên một số giống truyền virus qua hạt thấp
1990)
- Tạo giếng: Công tác chọn tạo giếng có năng suất, phẩm
chất cao, chống chịu đã được tiến hành tại Viện nghiên cứu
những năm 1980 Trên 30 giống cải tiến đã được phổ biến,
Trang 19gồm:
+ Giống có thời gian chin trung bình, năng suất cao:
Yuhua No.1, Yuhua No.2, Haihua No.1, Hua 37, va Jiyou No.4
+ Giống năng suất cao, chin som: Xianghua NO.1,
+ Giống chin sớm, hạt to phù hợp với vụ hè thu miền Bắc:
Xuhua No.3, Xuhua No.4, Longhua No.8, Longhua No.9
+ Giống chín cực sớm: Nouhua No.1 và RH381
+ Giống có phẩm chất tốt: Hua 17, Hua 9, Elhua No.4
+ Giếng kháng cao bệnh héo vi khuẩn: Yueyou 92, Guiyou
+ Giống chống bệnh gi sắt: Shanyou 27, Shanyou 253, Yueyou 256
tỉnh kháng bệnh hếo vi khuẩn và gÌ sắt
- KỸ thuật làm ruộng cao sản và sinh lý ruộng năng suất cao: Nghiên cứu kỹ thuật làm ruộng năng suất cao được tiến
trên 600 ha ruộng cao sản dat nang suất 7500kg/ha, nang
nông dân, đẩy mạnh sản xuất lạc Trong 6 huyện của tình Sơn
,Bêng——năag — suất bình quân _năm „1990 da vượt 3750kg/ha
Trang 20(Guo Zhongguang 1991) Bể đạt năng suất cao; nhiều yếu tố
bồn phân, phòng trừ sâu bệnh (Sun Yanhao, 1990)
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng để
polyethylen glycol làm tăng sức nây mầm và cơ chế của nó
hưởng của nhiệt độ và bóng đâm đến sinh trưởng của cây lạc trong thời kỳ kết hạt và tái hiện quá trình phát triển của
lạc trên mây vi tỉnh
năng suất lạc ở các loại đất cô độ phì khác nhau, lượng bốn thích hợp được xác định trên cơ sở độ phì đất Nghiên cứu về các nguyên tố vi lượng cho thấy hiệu quả của B tương quan
mức < 0,4 ppm là thiếu, <0,2 ppm thiếu nghiêm trọng Kết
suất 20% ở đất thiếu Fe Phun nguyên tế hiếm cô thể tăng năng suất 10%,
dong
Trang 2180 đã nghiên cứu bệnh tuyến trùng, thấy Meloidegyne hapla
bệnh virus hại lạc, kết quả cho thấy bệnh sọc lá, bệnh hoa
Trung Quốc SỬ dụng hat giống sạch virus, che phủ bằng
plastic cô tác dụng đối với phòng trừ bệnh chết hoại chổi ở một số vùng (Xu Zeyong, 1987)
khuẩn với những đặc tỉnh nông học tết đã được thể hiện ổn
phần nâng cao năng suất lạc ở Trung Quốc
(Phục hoa sinh) và Baisha 1016 (Bach Sa - loại hình
1960, đã được thay thế bằng giống chin trung bình Xuzhou
Trang 22với giống cũ Tới năm 1990 giống mdi chin trung bình hạt to
Sơn Bông)
Ở miền Nam Trung Quốc cho tới những năm 1950 lạc trồng thuộc nhóm Virginia và Peruvian Sau khi mỡ rộng vụ lạc thu
trong những năm 1980
Đáng chú ý là các giống Longhua N0.3, Hua No.5, Yueyou92,
đã được phổ biến cho nông dân sử dụng trong những năm 1980 đóng vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh héo vi khuẩn
thu ở miển Bắc Trung Quốc là một tiến bộ mới Trước đây
truyền thống ở miền Bắc là trồng l vụ lạc xuân hàng năm
Do dân số tăng, nhu cầu lương thực tăng nên cần thiết phẩi thay đổi hệ thống cây trồng từ 1 vụ sang nhiều vụ trong năm Trong những năm 1980 hệ thống cây trồng 2 vụ/năm (lúa mỳ -
Trang 23luân canh tốt với lúa mì, vì nó duy trì được độ phì và làm
giâm bệnh cho lúa mì Diện tích lạc hè ở Sơn Đông trước năm
1984 là 100.000ha, hiện nay vượt 230.000ha Năng suất bình
Ở tỉnh Henan lạc chỉ chiếm 10-30% tổng điện tích lạc,
mạnh san xudt lac & tinh Henan (Wei Baohua, 1991)
Che phủ bằng Plastic 1a mot ky thuật du nhập từ Nhật Bản năm 1978 va thử nghiêm trên đồng ruộng Trung Quốc năm
biệt ở miền Bắc che phủ bằng plastic làm tăng nhiệt độ đất, giữ ẩm và cấu tượng đất, chống rửa trôi đỉnh dưỡng, làm cho
thuật này có thể gieo lạc sớm trong vụ xuân khi nhiệt độ
cực mỏng từ 1984, kinh tế hơn đối với nông dân năm 1989
diện tích sử dụng plastic che phủ là 260.000ha chiếm 8,2%
điện tích trồng lạc ở Trung Quốc Giá trị tăng năng suất do
sử dụng plastic che phủ ước tỉnh 1.700.000 tấn tương đương cới 1,1 tỷ nhân đân tệ trong những năm 19§0 (Sun Yan hao, 1990)
Trang 24- 20 -
năm 80 ở Trung Quốc là: sử dụng luống hẹp giúp cho hạt nay
trồng dày: với giếng chín trung bình hạt tc áp dụng mật độ
khoáng: nông dân thường bồn 15-30 tấn phán hữu cơ cho lha,
150-300kg ure/ha, 750 kg phân lân (Guo Zhong Guang, 1991)
Lượng và tỷ lệ bón N.P.K thay đổi theo độ phì của đất
điện tích vấn còn thấp Những yếu tế hạn chế được xác định
như sau:
1 Hạn: Hạn là yếu tố quan trọng nhất, vì lạc ở Trung
lượng mưa hàng năm ở vùng phia Bắc Trung Quốc là 700mm đủ
phân bố không đều có thể gây hạn, đặc biệt khi nhiệt
độ cao
2 Bộ phì đất thấp: Lạc thường trồng ở đất cao và đất
ở Sơn Bông nơi có điểu kiện tốt hơn cho trồng lạc, 70% điện
Trang 25tích lạc trồng ở đất cao vùng đồi, điện tịch trồng lạc cé
tưới chỉ dưới 200.000ha Ở các tỉnh Quảng Bóng, Quảng Tây
tích lạc chiếm 20-30% điện tich canh tác Do trồng lạc hạn
cây trồng Ở tình Henan 70% lạc trồng liên tục như một cây
rầy trắng phất triển mạnh ở điều kiện trên Trồng liên tục làm năng suất giảm 20-30% so với trồng lạc có luân canh với cây trồng khác (Sun Yanhao, 1991)
4 Vấn đề sàu bệnh: Không có biện pháp hữu hiệu để
tìm được nguồn gen chống bệnh Các bệnh đốm lá, gÌ sắt, chây
lá màng nhện mặc dù chỉ quan trọng đối với một vài khu vực
vẫn chưa được phòng trừ tốt
chế đổi với sản xuất lạc ở nhiều vùng của Trung Quốc
Theo tắc giả đã dẩn, diện tích trồng lạc ở Trung Quốc sẽ
xuất ở những vùng năng suất thấp như các tÌnh Henan, Hebei,
đạt dưới 1500kg/ha)
Trang 26Muốn vậy cần nghiên cứu kŸ hơn những yếu tố hạn chế và
thách thức, trong đó bao gồm cả vấn để tăng cường công tác
su muốn tăng năng suất cao hơn nữa (hiện đã đạt 3000kg/ha) cần sử dụng những kỷ thuật đầu tư cao đi đôi với mô hình may tỉnh và mở rộng diện tích trồng lạc có tưới nước.[75]
Nêpan, Pakităng, Xrilanca sản xuất 8,6 triệu ha lạc với sản lượng 8,1 triệu tấn, chiếm 35% sản xuất thế giới Nang
từ 4,3 triệu tấn đến 9,6 triệu tấn, chủ yếu phụ thuộc vào
lượng mưa hàng năm cao hay thấp)
- Kỹ thuật lạc hậu, đầu tư thấp vì nông dân trồng lạc
Trang 27nước khác tương đối it
dòng, giống mới là con lai giữa các bố mẹ được chọn lọc ở
gen cải tiến cho các nước trong khu vực
Trước năm 1980 nổ lực hướng về cải tiến năng suất, sau
đồ nhờ phân lập được các nguồn gen chống các loại sâu bệnh
nhờ nước trời ở Ấn Bộ (Nigam et al, 1991).[75]
chất lượng tốt với giá chấp nhận được là trở ngại 'lớn nhất
Trang 28- 24 -
loại hình Spanish va Valencia ở An BO la 30x10cm; với loại
Bangladet và Nepan khoảng cách thường là 40 x 15cm - 40x20cm (với Spanish)
6 Mién Biện mật độ khuyến cáo với loại hình Spanish va
Valencia là 260.000 cây/ha, với loại hình Virginia là
10cm
VỀ thời vụ gieo cho vụ lạc trồng trong mùa mưa ở Ấn Bộ thích hợp nhất là từ nửa tháng 6 đến tuần đầu tháng 7 phụ
thuộc lượng mưa thu được Nếu có điều kiện tưới nước đẩy
sớm thời vụ gieo lên 10 ngày, năng suất sẽ tăng đáng kể Ở
dựa vào nước trời và giữa tháng 3 cho vùng có tưới; thời vụ gieo thích hợp ở Nepan là cuối tháng 6 đến tuần thứ 3 của tháng 7
Về liều lượng phân N.P.K khuyến cáo cho các bang trồng
lạc chủ yếu ở Ấn Bộ là 15kgN, 40-60kg PzOs và 0-45kg KzO
cho 1 ha Toàn bộ PzOs và KzO cùng 1⁄2 lượng N bón vào đất
cáo ở đất thịt phà cát với liều lượng 500kg cho l1 ha chia
"phì đất và 9000kg phân chuổng khỉ làm đất Bên thạch cao
Trang 29150-200kg/ha cho dat nghèo canxi vùng châu thổ 6 Népan
liều lượng bón thích hợp là 20-40-20kg NPK cho 1 ha Kết
trồng, để nghị bón thêm 50kg kali/ha Ngoài ra đề nghị bón 300kg thạch cao cho 1 ha vào thời kỳ đâm tia (BARD, 1989)
Ở Srilanka khuyến cáo bón lót 30kgN, 65kg PzOs, 45kg K20
Zn Bất ở bang Tamil Nađu và Maharashtra thiếu B, do đó cần bón 5-10kg B cho 1 ha cùng với phân NPK hoặc phun lên lá B
làm tăng năng suất 10%, vào 50 ngày sau khi gieo tăng năng suất 15% Vàng lá do thiếu sắt xây ra trên đất vôi đen cô
Maharashtra Phun 1% Sunfat Fe cộng 0,1% Citratamon cô thể
khắc phục tình trạng thiếu Fe trong một chừng mực nhất định
Trang 30thiếu sắt (các giống này thuộc loại hình Spanish).[75]
Butachlor 0,5kg ai cho lha phun trước mọc trong 2 ngày sau
tăng năng suất 71%, dùng Fluazifop-p-butyl 0,25kg ai/ha sau
6 Srilanka sử dụng alachlor từ 1,4-2,4 kg ai/ha lúc gieo, sau đô làm cỗ bằng tay ở thời kỳ 6 tuần có hiệu quả trừ cô tốt Ở Miến điện thi nghiệm vun đưa lại kết quả giảm năng
giao tới 20 địa điểm Ở Srilanka thấy rằng vun ở thời kỳ ra
hoa trên đất vàng đỏ Latosol không làm tăng năng suất
Cây lạc yêu cầu bình quân 400-500mm nước, & An Bộ lạc
gieo) sẽ làm giâm năng suất nghiêm trọng Néu chi mất một trận mưa vào thời ky qua phat triển, năng suất cô thể giâm
nghiệm tưới nước cho lạc vụ khô và vụ hè ở Ấn Bộ cho thấy;
tưới 11-12 lần 1a thich hợp nhất để đạt năng suất cao, tưới
trên 12 lần làm giảm năng suất Ngừng tưới vào thời điểm
30-50 ngày và 90-105 ngày không ảnh hưởng lớn đến nàng suất
Trang 31và phẩm chất, ngừng tưới ở giai đoạn 50-80 ngày sẽ làm giâm
năng suất nghiêm trọng [74]
Nghiên cứu về trồng xen ở An Bộ cho thấy 2 loại cây cốc
quan trọng nhất trồng xen với lạc là kê ngọc (Pennisetum
là đậu đen (Vigna mungo), thầu dầu (Ricinus communis), bông
đổi từ 1:1 đến 1:8 tuỳ nơi và loại cây xen Ở Nêpan lạc xen
trông xen lạc với mia và ngô, nhưng ở Srilanka lạc thường trồng thuần
Thu hoạch, phơi, bao quân là một vấn đề quan trọng ở các nước vùng Nam A lạc thường thu hoạch bằng tay, cũng có khi dùng cuốc hoặc cày để thu hoạch trường hợp ruộng nhỏ, sau khi thu hoạch quả được vặt ngay tại chỗ, sau đem về nhà
phơi Nếu điện tích lớn phơi cả cây ở ruộng trước khi tuốt
quà bằng máy Quả phơi khô tới độ ẩm 8% trước khi bảo quan
sinh ra aflatoxin Lạc vụ khô và vụ hè ở An Bộ nếu phơi
nhanh vì lúc thu hoạch nhiệt độ cao BỂ tránh tình trạng đồ cần áp dụng quy trình sau: (Basu và Reddy, 1989)
1 Buộc cây thu hoạch thành túm nhỏ, dựng ngược quả lên phia trên để ð bóng râm Trong mùa hè do sự chuyển động tự nhiên của không khi nóng, quả khô nhanh
Trang 32- 28 -
2 Khi cây khô vặt quê rải thành lớp mỏng trong rám để
thành 2 mảnh (lá mầm) trầy mạnh vỗ hạt, một phần vỏ lụa bong
ra
trên, đặt ở giữa túi đựng lạc.)
thời gian 10 tháng Kết quả nghiên cứu ở Banglađet hạt có
độ ẩm 9% bảo quản trong túi polyetylen giữ được sức nẩy mầm tới 90% trong 7 thang.[75]
'Nghiên cứu về vi khuẩn cế định nitơ ở các nước Bông nam
A cho thấy: ở trong hệ thống cây trồng lấy lúa làm cơ sở,
nói chung lạc Ít nốt sẩn tình trạng ngập nước ở ruộng lúa
làm giảm mật độ vi khuẩn Bradyrhizobium trong đất xuống mức
thấp, dẩn đến kết quả năng suất lạc _không cao trong hệ
lạc vụ khô-vụ hè (Joshi et al 1989) Kết quả thi nghiệm ở
IGR6 và $§-14% với IGR40 Ngoài ra 2 dòng vi khuẩn này còn
Trang 33được khuyến cáo là TAL 1000 và TAL 1371 Tai ICRISAT mot
năm.[ 74]
- Tạo giống chin sớm phù hợp cho những vùng có mùa vụ
trồng trong hệ thống có lúa, sử dụng độ ẩm còn lại
- Bưa gen có thời gian ngủ tươi 2-3 tuần vào các giống thuộc loại hình Spanish
- Tạo những giếng chống hoặc chịu những yếu tế vô sinh (abiotic stress) như hạn ở Bangladet Ấn Bộ, Pakităng, Miến
Biện, lạnh ở Ấn Bộ, bóng râm trong trồng xen với dừa ở Nam
Ấn Bộ và Srilanka, đất chua ở Bông Bắc Ấn Bộ và Nêpan
Srilanka), giòi đục lâ, rép; tạo giống chống Aspergillus
flavus va nhiém Aflatoxin
- Nghiên cứu phương pháp bảo đảm tỷ lệ nây mầm của hạt
ở vụ hè (Banglađet, An BO, Pakitang )
Trang 34-~ 30 -
- Phát triển công cụ như máy bóc vỏ, gieo thu hoạch,
đạp
Vùng Bóng Nam A (gồm các nước Philippin, Malaixia, Việt
Nam , Lào, Indonexia, Thai lan, Campuchia) trồng 920.000 ha
phù hợp làm lạc ăn Hiện tại có 6 giếng đưa vào san xuất:
thuộc loại hình Valencia cô quả dài, 3-4 hạt, mã đẹp Giống Khon kean 60-3 thuộc loại hình Virginia cô hạt to gấp 2 các
học Bắc Carolina, Mỹ và ICRISAT, đã được đánh giá.[75]
Sản xuất lạc ở châu Phi có xu hướng giảm từ 1960 cho tới nay, riêng thập kỷ 1980 giảm 17% so với thập kỷ trước Nghiên cứu khoa học về cây lạc ở các nước Tây Phi được
bắt đầu sớm từ 1920 tại Viện nghiên cứu Nông nghiệp Samaru,
Trang 35Trong cong tác chọn giống ở Tây Phi, tập trung vào
(400-650 mm mưa) Giống này được sử dụng rộng rãi ở Nigeria, Chad, Gambia va Cameroon, hiện được dùng làm một bố mẹ trong
ICRISAT Châu Phi, Niamey (ISC) Giống Samnut 1§ (RRB) được
tươi sẽ xây ra nguy cơ hạt nay mdm ngay khi thu hoạch lúc đất còn độ ẩm Các nhà chọn giống đáp ứng bằng cách tạo ra
vùng có mưa muộn (600-900mm) Giống 73-30 có thời gian sinh
trưởng 95 ngày và 73-33, 105 ngày tạo ra từ lai Spanish x
và Gambia [66]
Nam MỸ mặc dù là nguồn gốc của cây lạc nhưng diện tích
350.000ha, tập trung chủ yếu ở tỉnh Cordoba (180.000 ha), Achentina va Bang SaoPaulo (80.000ha), Braxin
với năm 1980, vì sản xuất lạc không lợi bằng đậu tương Nẵng
Trang 36suất ở Achentina năm 1980 dat 1217kg hat/ha tầng 53% so với
đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh nẵng suất Sự
ra khả năng xuất khẩu lạc ăn (Edible groudnut) mà hiện nay
Achentina đang tập trung nghiên cứu tạo giống có thời gian
thấp, cải tiến hàm lượng và chất lượng protein trong hạt
mùi vị; trừ cô bằng biện pháp tổng hợp, giảm sử dụng thuốc trừ cổ; cải tiến công nghệ sau thu hoạch bảo đảm phẩm chất của sản phẩm
xuống 100.000 ha năm 1988, do sản xuất đậu tương thay thế Bối với nông dân sân xuất lạc giá thành cao hơn các loại
chiếm 80% điện tích, 3 giếng mới chọn tạo được từ các tổ
gian sinh trưởng 110-120 ngày, quả 2 hạt, trọng lượng hạt to trung bình, năng suất cao hơn giống cũ 15-20%.[75]
Trang 37II.2 TINH HINH NGHIEN CỨU TRONG NƯỚC
Những nghiên cứu điều tra về cây lạc ở nước ta đã được
thực hiện khá nhiều từ 1950 cho tới nay
Nghiên cứu về đặc tỉnh sinh trưởng của cây lạc đầu tiên
trung ở 2 cành thứ nhất và những cành phụ đầu tiên (hai
cành thứ nhất chiếm 70% số quả) Năm 1954, Phòng Sinh lý
thi nghiệm xác định bóng tối là điểu kiện cẩn thiết để tia
lạc phát triển thành quả.[24]
thực hiện vào cuối nắm 1953 cũng tại phòng sinh lý thực vật, Viện nghiên cứu trồng trọt; cho thấy càng gieo muộn về mùa
hè, thời gian sinh trưởng rút ngắn, với giống “lạt 4 thắng
ngay.[24]
Những nghiên cứu về thời vụ trồng lạc ở miền Bắc Việt Nam trước đây đã kết luận: ở các tỉnh đồng bằng và trung du
bắc bộ thích hợp là từ tiết lập xuân (4/2) đến tiết kinh
mới (lúa xuân thay lúa chiêm, giống lúa mới ngắn ngày) ra đời, cho phép đưa vụ đông thành vụ chỉnh, bộ môn lạc Trại
Trang 38- 34 -
kiện thực hiện chế độ trồng 3 vụ/năm Từ năm 1972-1979 tác
cách 10 ngày 1 lần cho tới giữa thâng 3) Kết quà cho thấy
20/2, cao nhất từ 30/12 đến 31/1 Các tác giả cho thấy gieo
tỷ lệ chết cao hơn lạc thu Cây lạc ð thời kỳ 3-4 14 dé bj
ngày cây lạc ở thời kỳ 3-4 lá vấn cô thể vượt qua Các tác già kết luận nên gieo sớm vừa phải trong thang 1, gieo sớm cây lạc có khả năng tích luỷ nhiều chất khô, nắng suất cao, thu hoạch sớm vào đầu tháng 6 khi thời tiết khô râo, it mưa,
bảo đâm chất lượng, lại giải phông được đất sớm kịp làm vụ
hè Muốn gieo được sớm, ngoài yêu cầu làm đất kỷ, đủ ẩm nên
sử dụng giống lạc thu vì lạc thu cô hàm lượng tỉnh bột cao
Bắc Việt Nam là lạc xuân, song lạc xuân thu hoạch thang 6,
7 thời gian bảo quản giống cho vụ sau tương đối dài, do dé
một số nới đã trồng lạc thu để làm giống Theo các tác giả
dùng giống lạc thu gieo trong vụ xuân thời gian mọc rút
Trang 39thời vụ gieo của lạc thu ở miển Bắc là từ 15/7 đến cuối
tháng 8 114] Theo Ngô Bức Dương, thời vụ lạc thu tốt nhất
15-30/7, cô thể kéo dài tới 10/8,
Từ những năm 1960, nhiều tác giả đã nghiên cứu về hiệu quả của các loại phân hoá học đối với cây lạc Nguyễn Trọng
Chỉ (1963-1966) thi nghiệm bón supe lân và vôi cho giống
lạc Bộ Bắc Giang, cho thấy bón 200kg supe lân đạt năng suất
23,1 tạ/ha tăng 4,7 tạ sơ với không bón, 1 kg phân tăng
thu 2,35 kg lạc; bốn 500kg vôi đạt năng suất 21,2 tạ/ha
tăng 2,8 tạ so với không bón, 1kg vôi làm tăng thu 0,56kg
lạc.[5]
lạc trồng trên đất cát pha, it chua ở Quảng Ninh cho thấy
năng suất 40,22 tạ/ha, tăng xấp xÌ 7 tạ/ha so với không bốn,
1kg đạm tăng thu 6 kg lạc, bón thúc đạm hai lần vào ngày
15 và 35 sau trồng năng suất cao hơn thúc 1 lần
Theo Nguyễn Danh Bông ở nước ta trên các loại đất nghèo đạm như đất bạc mau, | đất cát ven biển bón đạm có hiệu quả làm tăng năng suất, hiệu lực của 1kg N ở đất bạc mầu Hà Bắc
có thể đạt từ 5-25kg lạc vỗ Nếu lượng đạm it, phân hữu cơ
lượng tốt và nhiều, cô thể bón thúc vào thời kỳ 4-5 lá lúc đang phân hoá mầm hoa; nên bón thúc đạm với kali.[29]
Trang 40- 36 -
vùng trồng lạc "không lân không vôi thôi trông lạc”
Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh Kết quả bón 60kg K¿zO/ha ở đất cát ven
biển Diễn Châu (Nghệ An) làm tăng năng suất 200-300 kg
lạc/ha Kết quả thi nghiệm ở Hà Bắc và Nghệ Tỉnh cho thấy nên bón từ 30-60kg KzO/ha là kinh tế nhất, nên bón thúc kèm phân đạm ở thời kỳ 3-4 lá Theo Nguyễn Thị Dần (1991) các loại đất nhẹ trồng lạc rất nghèo kali, đặc biệt đất bạc màu
Nhiều thi nghiệm cho thấy với lượng 90 PzOs bón kali cho
lạc tỷ lệ P:K là 3:i năng suất tăng 1,1 tạ/ha so với tỷ lệ
2:1 nếu bón với tỷ lệ 3:2 năng suất tăng so với 3:1 là 2,2
tạ/ha Hiệu suất 1 kg sunphat kali trên đất cát biển trung
để đạt năng suất cao bón tỷ lệ P: K là 3:2, để đạt giá trị
kinh tế cao bốn tỷ lệ P:K là 3:1.[3]
Nhưng theo Nguyễn Băng Khoa (1991) ở miền Nam Việt Nam kali bén cho lạc ở cả 2 vy hè thu và thu đông đều gây phản
Theo báo cáo tổng kết để tài cấp Nhà nước kỹ thuật thâm
canh đậu đố (1986-1990) ở nước ta đã nghiên cứu thành công
hiệu lực Ngô Thế Dân và cộng sự (1991) đã-nghiên cứu các
biện phấp nông học để nâng cao hiệu lực phân Nitragin trong