1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp sơ đồ grap trong dạy học địa lí lớp 12 trung học phổ thông

80 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng phương pháp sơ đồ - grap trong dạy học địa lí lớp 12 trung học phổ thông
Tác giả Phạm Thị Sao Mai
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Văn Thái
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Địa lý
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở xác định các cách thức sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap, tiến hành xây dựng và vận dụng một số sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT, góp phần nân

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

-

PHẠM THỊ SAO MAI

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ - GRAP

TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA ĐỊA LÝ

Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Sao Mai Chuyên ngành : Sư phạm Địa lý

Lớp : 12SDL Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Thái

Đà Nẵng - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Văn Thái, người đã tận tình, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

để hoàn thành khóa luận của mình

Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Địa lý – Trường ĐH Sư phạm – ĐH

Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và các em HS lớp 12/5, 12/6, 12/7, 12/8 trường THPT Phan Châu Trinh – Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Sao Mai

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4.1 Trên thế giới 2

4.2 Ở Việt Nam 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 5

5.2 Phương pháp điều tra 5

5.3 Phương pháp toán học thống kê 5

5.4 Phương pháp chuyên gia 5

5.5 Phương pháp thực nghiệm 6

6 Cấu trúc đề tài 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ - GRAP TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍLỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 Các khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Sơ đồ và sơ đồ - Grap 7

1.1.2 Sơ đồ - Grap trong dạy học 7

1.1.3 Vai trò của sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí 8

1.2 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12 THPT 9

1.2.1 Mục tiêu 9

1.2.2 Đặc điểm chương trình và sách giáo khoa lớp 12 THPT 9

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS lớp 12 THPT 12

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí 12

1.3.2 Trình độ nhận thức 13

1.4 Thực trạng sử dụng sơ đổ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT 14

1.4.1 Đối với GV 14

Trang 5

CHƯƠNG 2.SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ - GRAP TRONG DẠY HỌC

ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 18

2.1 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT 18

2.1.1 Sử dụng sơ đồ - Grap phải phù hợp nội dung bài học 18

2.1.2 Sử dụng sơ đồ - Grap phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS 18

2.1.3 Sử dụng sơ đồ - Grap cần phải kết hợp với các PPDH phù hợp 18

2.1.4 Sử dụng hết tính năng của sơ đồ - Grap 19

2.1.5 Sử dụng sơ đồ - Grap cần kết hợp với các phương tiện dạy học khác 19

2.2 Sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT 19

2.2.1 Sử dụng sơ đồ - Grap trong KT bài cũ 19

2.2.2 Sử dụng sơ đồ trong việc định hướng nhận thức của HS 21

2.2.3 Sử dụng sơ đồ - Grap trong dạy bài mới 23

2.2.4 Sử dụng sơ đồ trong khâu củng cố kiến thức và đánh giá cuối bài học 26

2.2.5 Sử dụng sơ đồ trong việc hướng dẫn HS học tập ở nhà 30

2.3 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap 32

2.4 Giáo án minh họa 33

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 51

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 51

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 51

3.2.Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 51

3.3 Tổ chức thực nghiệm 51

3.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 51

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 52

3.3.3 Phương pháp thực nghiệm 52

3.3.4 Các bước thực nghiệm 53

3.4 Kết quả thực nghiệm 53

3.4.1 Kết quả kiểm tra, đánh giá 53

3.4.4 Kết quả điều tra sau bài thực nghiệm 56

KẾT LUẬN 59

PHỤ LỤC 60

Trang 7

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

1 Sơ đồ 2.1a Sơ đồ đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta 20

2 Sơ đồ 2.1b Sơ đồ đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta 21

4 Sơ đồ 2.3 Sơ đồ vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

5 Sơ đồ 2.4 Sơ đồ đặc điểm chung của địa hình 24

6 Sơ đồ 2.5a Sơ đồ mạng lưới giao thông vận tải nước ta 27

7 Sơ đồ 2.5b Sơ đồ mạng lưới giao thông vận tải nước ta 28

8 Sơ đồ 2.6 Sơ đồ ngành thông tin liên lạc nước ta 29

9 Sơ đồ 2.7a Sơ đồ vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở

Trang 8

12 Sơ đồ 2.9 Sơ đồ vấn đề chuyển dịch kinh tế theo ngành ở

13 Sơ đô 2.10 Khai thác các thế mạnh để hình thành ở cấu nông

– lâm – ngư nghiệp ở Bắc Trung Bộ 50

14 Sơ đồ 2.11 Sơ đồ hình thành công nghiệp và phát triển cơ sở

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1 Mức độ sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong

2 Bảng 1.2 Mức độ sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong

3 Bảng 1.3 Mức độ giáo viên nắm quy trình việc sử dụng

phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí 16

4 Bảng 3.1 Danh sách giáo viên và các lớp tham gia thực

7 Bảng 3.4 Kết quả điều tra khảo sát về thái độ của học sinh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, nền giáo dục nước ta đang đổi mới theo định hướng phát triển năng lực, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở trường trung học phổ thông (THPT) Theo Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa X trong

“Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” Trong đó các văn kiện đều nhấn mạnh:

“Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống

và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự học của HS, ” Để thực hiện quan điểm cơ bản này, ngành giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức

tổ chức dạy học

Thực tế cho thấy, việc dạy học môn Địa lí ở trường THPT nói chung và môn Địa

lí lớp 12 nói riêng, mặc dù đã được định hướng đổi mới theo hướng tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập Học sinh (HS) vẫn theo lối mòn, cách học truyền thống “học ghi, thi thuộc” Đại bộ phận các em vẫn còn xem nhẹ môn Địa lí, coi môn Địa lí là một môn phụ

Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao cho HS yêu thích môn Địa lí, nắm được kiến thức nhanh tại lớp và việc dạy của giáo viên (GV) cũng dễ dàng hơn Để giải quyết được những vấn đề trên, GV nên hướng dẫn các em hệ thống hóa kiến thức bằng cách sử dụng phương pháp sơ đồ, bởi sơ đồ là một dạng kênh thông tin rất thú vị, ngôn ngữ sơ đồ vừa

cụ thể, trực quan, chi tiết lại vừa có tính khái quát, trừu tượng và hệ thống cao Sơ đồ cho phép phản ánh một cách trực quan cùng một lúc mặt tĩnh và mặt động của các sự vật, hiện tượng theo không gian và thời gian

Mặc dù phương pháp sơ đồ - Grap đã hình thành và được chứng minh tính hiệu quả từ lâu, tuy nhiên trong dạy học Địa lí, nhất là Địa lí lớp 12 hiện nay vẫn chưa được

GV chú trọng sử dụng, dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao Một phần có rất nhiều HS

tỏ ra không biết phương pháp ghi nhớ logic, không tư duy, sáng tạo và những kỹ xảo ghi nhớ máy móc ảnh hưởng tiêu cực trong hoạt động học tập ở các em

Trang 10

PPDH theo sơ đồ luôn bám sát quá trình học tập từ việc: hình thành kiến thức mới, củng cố hoàn thiện kiến thức, kiểm tra đánh giá (KT ĐG) sau mỗi bài, mỗi chương

Sử dụng sơ đồ buộc HS luôn phải tư duy, tích cực trong học tập, vì vậy GV khi áp dụng phương pháp này một cách thường xuyên hơn cũng gián tiếp rèn luyện tư duy logic cho

HS

Đó là lí do để “Sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12

THPT” được chọn làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở xác định các cách thức sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap, tiến hành xây dựng và vận dụng một số sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn học này ở trường THPT

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

- Xác định các cách thức sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

- Xây dựng một số sơ đồ - Grap trong dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT

- TNSP để đánh giá tính khoa học, khả thi của việc sử dụng phương pháp sơ đồ -

Grap trong dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT

- Phạm vi: Cách thức sử dụng sơ đồ - Grap trong các khâu: kiểm tra bài cũ; định hướng nhận thức của HS; dạy bài mới; củng cố kiến thức và đánh giá

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4.1 Trên thế giới

Lí thuyết sơ đồ - Grap là một chuyên ngành của toán học được khai sinh từ công trình bài toán “Bảy cây cầu ở Konigburg” của nhà toán học Thụy Sĩ Leonhard Euler

Trang 11

và nhất là toán học ứng dụng, những nghiên cứu và ứng dụng của lí thuyết Grap có những bước tiến nhảy vọt [4]

Năm 1958, tại Pháp, Claude Bege đã viết cuốn “Lí thuyết Grap và những ứng dụng của nó”, trình bày những khái niệm, định lí toán học cơ bản của lí thuyết Grap, đặc biệt là ứng dụng của Grap trong nhiều lĩnh vực khác nhau Năm 1965, tại Liên Xô, A.M Xokhor đã vận dụng một số quan điểm của lí thuyết Grap để mô hình hóa nội dung tài liệu giáo khoa môn hóa học [4]

Năm 1965, V.X.Poloxin đã dựa vào cách làm của Xokhor dùng phương pháp Grap

để diễn tả trực quan các diễn biến của hoạt động dạy và học của 4 thầy trò trong thực hiện một thí nghiệm hóa học đã tạo ra một bước tiến mới trong vận dụng lí thuyết Grap vào dạy học [2]

Năm 1972, V.P.Garkumop đã sử dụng phương pháp Grap để mô hình hóa các tình huống của dạy học nêu vấn đề, trên cơ sở đó mà phân loại các tình huống có vấn đề Lí thuyết Grap vận dụng để tạo ra mẫu của các tình huống nêu vấn đề và giải quyết vấn đề theo một trình tự xác định [2]

Năm 1973, tại Liên Xô, tác giả Nguyễn Như Ất trong công trình luận án phó tiến

sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lí thuyết Grap kết hợp với phương pháp ma trận để xây dựng cấu trúc nội dung dạy học theo quan điểm cấu trúc hệ thống [4]

Tháng 6 năm 2001, John Wiley & Sons đã xuất bản tác phẩm Topo lí thuyết đồ thi ̣(lí thuyết Grap), cuốn sách đã giới thiêụ các nền tảng và các vấn đề cơ bản của lí thuyết đồ thị Topo, kết nối lí thuyết đồ thị Topo với các vấn đề cơ bản khác của toán học [4]

Nhiều trường đại học trên thế giới hiêṇ nay, có những nhóm tác giả đã và đang nghiên cứu về lý thuyết Grap, về sự chuyển hoá của lý thuyết Grap vào những lĩnh vực khoa học khác nhau Ví dụ (VD) trường Đại học tổng hợp Antrep - Bỉ (University of Antwerp) có nhóm nghiên cứu của giáo sư Dirk Janssens; trường Đại học kỹ thuật Beclin

- Đức (Technische Univesitaet Berlin) có nhóm nghiên cứu của giáo sư Hartmut Ehrig; trường Đại học tổng hợp Layden - Hà lan (University of Leiden) có giáo sư Grzegorz Rozenberg; trường Đại học Roma (Italia) có giáo sư Francesco Parisi Presicce Trong

đó nổi bật nhất là những công trình nghiên cứu của JonathanL Gross (trường Đại học Columbia, Niu Yoc) và Jay Yellen (trường Rolin, Florida) Hai tác giả này đã công bố nhiều công trình về Grap Tháng 12 năm 2003, Cuốn sách “Sổ tay lý thuyết Grap”

Trang 12

(Handbook of Grap Theory) của JonathanL Gross và Jay Yellen là môt trong những cuốn sách hướng dẫn tra cứu môṭ cách đầy đủ nhất về lí thuyết Grap đã được xuất bản

từ trước đến nay Thành công nhất của các tác giả là đã tập hợp được những 5 chuyên gia nổi tiếng trên thế giới đóng góp ý kiến cho hơn 50 chủ đề quan trọng của lí thuyết Grap, bao gồm lý thuyết Grap “thuần túy”, quan hê ̣của lý thuyết Grap với algorit và với tối ưu hóa [2], [4]

4.2 Ở Việt Nam

Từ trước đến nay vấn đề sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap đều được nghiên cứu

và đưa vào giảng dạy ở các môn tự nhiên và xã hội

Nguyễn Đức Vũ (1997), tác giả giới thiệu một số sơ đồ - Grap trong chương trình Địa lí lớp 8, tác giả nêu về sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap và cấu trúc thông thường của sơ đồ, đồng thời được sử dụng theo nhiều cách khác nhau với một số VD minh họa [7]

Các nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Đức Vũ như: “Bài tập Địa lí 10”, “Phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông”,… Tác giả nêu ra các loại sơ đồ trong dạy học Địa lí, cấu tạo, các yêu cầu đối với sơ đồ, cách xây dựng, các sử dụng sơ đồ trong các khâu của QTDH, một số hạn chế và biện pháp khắc phục Đồng thời đưa ra một số VD minh họa [9], [11]

Nguyễn Quốc Cương (2011), trong Tạp chí Thiết bị giáo dục, tác giả đã đưa ra VD minh họa qua bài Địa lí lớp 10 để sử dụng sơ đồ, lược đồ kết hợp với phiếu học tập, tổ chức HS hoạt động, từ đó có được các kiến thức và kĩ năng cần thiết là một trong những cách dạy có hiệu quả cao đối với loại bài có nhiều kiến thức khó và trừu tượng như một

số bài ở trong Địa lí 10 [1]

Vũ Quốc Lịch (2009), “Thiết kế bài giảng Địa lí 12” hay Nguyễn Trọng Phúc

(2004), “Thiết kế bài giảng Địa lí ở trường phổ thông” Các tác giả có giới thiệu về sơ

đồ - Grap, nêu các loại sơ đồ - Grap trong QTDH ở trường phổ thông, ngoài ra tác giả

còn nêu việc chuẩn bị bài giảng và thiết kế bài giảng bằng sơ đồ - Grap [3], [6]

Trên cơ sở kế thừa kết quả của nhiều nghiên cứu đi trước, chúng tôi nghiên cứu cách thức sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap vào trường hợp cụ thể của môn Địa lí lớp

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

Dựa trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiến hành thu tập các tài liệu liên quan đến sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa

lí Bên cạnh đó, các tài liệu về nội dung, chuẩn chương trình Địa lí lớp 12 THPT Thu thập tài liệu từ các nguồn như: sách chuyên khảo, các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, luận vặn, đề tài khoa học và thông tin trên mạng internet Dựa trên tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành các thao tác phân tích, tổng hợp để xây dựng cơ sở lí luận, nền tảng khái niệm cho việc triển khai nghiên cứu đề tài

5.2 Phương pháp điều tra

- Mục đích: Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong

dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT

- Nội dung: Điều tra thực trạng của việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT:

+ Đối với GV: Điều tra về về nhận thức, thực trạng sử dụng phương pháp sơ đồ

- Grap

+ Đối với HS: Thái độ của HS đối với việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong bài học

- Phương pháp điều tra: Xây dựng phiếu hỏi ý kiến GV, HS, và tiến hành điều tra

về thực trạng sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

5.3 Phương pháp toán học thống kê

Sử dụng để thực hiện các tính toán liên quan đến điều tra thực tế và TNSP nhằm đưa ra những phân tích, kết quả nghiên cứu mang tính định lượng

5.4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi tham khảo ý kiến của một số giảng viên

tổ phương pháp giảng dạy Địa lí một số trường đại học, ý kiến đóng góp của các GV THPT có kinh nghiệm và chuyên môn tốt để định hướng và đề xuất các phương pháp

có tính thực tế, hiệu quả, khả thi

Trang 14

5.5 Phương pháp thực nghiệm

- Mục đích: Đánh giá tính khoa học, khả thi của các phương pháp được đề xuất trong đề tài

- Phương pháp:

+ Soạn giáo án có sử dụng phương pháp sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học đã đề xuất trong đề tài

+ GV tiến hành dạy bài học có sử dụng phương pháp sử dụng phương pháp sơ đồ

- Grap , sau đó cho HS làm bài KT để đánh giá mức độ hiệu quả khi sử dụng phương pháp này

+ GV hỏi ý kiến của HS bằng cách đưa ra phiếu điều tra, thông qua đó để biết được

HS có hứng thú với bài học có sử dụng phương pháp này hay không

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở bài, phần kết luận và phụ lục, đề tài gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

- Chương 2: Phương pháp sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ - GRAP TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ

LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Sơ đồ và sơ đồ - Grap

Sơ đồ là hình vẽ thể hiện được những đặc điểm chủ yếu nhất về cấu trúc và mối quan hệ bên trong của các sự vật hiện tượng

Nói cách khác, sơ đồ là sự sắp xếp lại kiến thức trong SGK theo từng mối liên hệ của từng kiến thức trọng tâm Sự sắp xếp này có quy luật nhất định, có sự phân loại kiến thức chủ đạo, kiến thức suy luận, kiến thức phát triển,…

Kiến thức chủ đạo ở đây chính là các khái niệm cơ bản bao gồm toàn bộ nội dung của bài, hay nói cách khác nó là hạt nhân gắn kết kiến thức trong bài Từ các khái niệm

cơ bản ta phát triển dần và bổ sung làm rõ khái niệm chủ đạo đó và cuối cùng là dẫn dắt đến kết luận bản chất hoặc đặc tính ứng dụng vào thực tế của các khái niệm cơ bản

1.1.2 Sơ đồ - Grap trong dạy học

1.1.2.1 Khái niệm

Sơ đồ - Grap dạy học được hiểu là phương pháp tổ chức rèn luyện tạo được những

sơ đồ học tập ở tư duy của HS, trên cơ sở đó hình thành một phong cách tư duy khoa

học mang tính hệ thống

1.1.2.2 Các loại sơ đồ - Grap

Trong dạy học Địa lí phổ biến có 4 loại sơ đồ - Grap sau:

- Sơ đồ cấu trúc: biểu hiện các thành phần/yếu tố trong một chỉnh thể và mối quan

hệ giữa chúng

- Sơ đồ quá trình: Biểu hiện vị trí các thành phần/yếu tố và mối quan hệ giữa chúng trong quá trình vận động

Trang 16

- Sơ đồ địa đồ học: Biểu hiện mối liên hệ về mặt không gian của các sự vật hiện tượng địa lý trên lược đồ/bản đồ

- Sơ đồ logic: Biểu hiện mối liên hệ về nội dung bên trong của các sự vật hiện tượng địa lý

1.1.3 Vai trò của sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí

Sơ đồ - Grap có vai trò to lớn trong việc dạy và học môn Địa lí ở các mặt sau:

- Trong quá trình chuyển hóa một nội dung Địa lí nào đó thành sơ đồ, đòi hỏi HS phải đào sâu suy nghĩ, tìm tòi đồng thời phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh trừu tượng hóa, khái quát hóa,…Chính vì vậy việc sơ đồ – Grap trong nội dung bài học là một trong những biện pháp để rèn luyện cho HS kỹ năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác tư duy và biện pháp logic

- Khi tiến hành xây dựng sơ đồ từ một nội dung dạy học ở SGK, HS luôn luôn đặt câu hỏi: Ở đây nói về cái gì? Cái đó đề cập những khía cạnh nào? Khía cạnh nào là chủ yếu, là bản chất? Vì vậy HS sẽ có kỹ năng xác định được nội dung bản chất từ tài liệu đọc được, tìm được kiến thức cơ bản để xây dựng sơ đồ Ngoài ra, khi xây dựng sơ đồ cho cả một bài học, HS cần tách ra các ý chính sau đó thiết lập mối quan hệ giữa chúng

và trên cơ sở chia nhỏ bài học, lựa chọn đề mục cho từng phần nhỏ Mối quan hệ giữa các phần nhỏ với phần lớn hơn là quan hệ giữa toàn thể với bộ phận, giữa cái chung và cái riêng… Chính những việc làm này giúp HS có kỹ năng lập dàn bài khi đọc SGK,

kỹ năng tóm tắt tài liệu đọc được thành sơ đồ

- HS gia công trí tuệ chuyển hóa nội dung trong SGK thành sơ đồ, lúc ấy HS hiểu bài một cách sâu sắc, chắc chắn Sơ đồ - Grap vừa giúp HS chiếm lĩnh tri thức vừa có được phương pháp tái tạo kiến thức cho bản thân, rèn luyện cho HS vận dụng tri thức, phát triển năng lực tự học để học HS có thể tự học suốt đời

- Trong quá trình hướng dẫn HS xây dựng và sử dụng sơ đồ – Grap giúp cho GV thu được mối liên hệ ngược, phát hiện kịp thời những sai sót của HS để điều chỉnh tối

ưu QTDH

Trang 17

1.2 Đặc điểm chương trình, sách giáo khoa Địa lí lớp 12 THPT

Tiếp tục phát triển và hoàn thiện các kĩ năng:

- Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng Địa lí, cũng như kĩ năng xây dựng biểu đồ, sử dụng bản đồ (Atlat), số liệu thống kê của nước ta

- Kĩ năng thu thập, trình bày các thông tin Địa lí kinh tế của vùng, hay của một ngành (phân ngành)

- Vận dụng các kiến thức để giải thích các sự vật, hiện tượng, sự vật Địa lí, giải quyết một số vấn đề của cuộc sống, sản xuất gần gũi với HS trên cơ sở tư duy kinh tế,

tư duy sinh thái, tư duy phê phán trong chừng mực nhất định

- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng KT-XH nước ta

1.2.2 Đặc điểm chương trình và sách giáo khoa lớp 12 THPT

Trang 18

* Phần ba: Địa lí kinh tế

* Phần bốn: Địa lí các vùng kinh tế

* Phần năm: Địa lí địa phương

1.2.2.2 Sách giáo khoa Địa lí lớp 12 THPT

a Nội dung sách giáo khoa Địa lí lớp 12 THPT

* Phần Địa lí dân cư: Đặc điểm về dân số, phân bố dân cư, lao động việc làm và

đô thị hóa Việt Nam

* Phần Địa lí kinh tế:

- Địa lí các ngành kinh tế: Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

- Địa lí các vùng kinh tế: Trung du miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

* Phần Địa lí địa phương: Tỉnh, thành phố sinh sống

b Đặc điểm sách giáo khoa Địa lí lớp 12 THPT

Kiến thức được trình bày dưới dạng kênh chữ và kênh hình

 Kênh chữ

Kênh chữ là phần quan trọng của SGK Thông qua kênh chữ các khái niệm cơ bản, quy luật, hiện tượng Địa lí,… được trình bày giúp HS nhận thức được nội dung chính của bài học

Trang 19

Phần kênh chữ được trình bày ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, bố cục chặt chẽ trong từng chương, từng bài cụ thể Các tác giả đã lựa chọn những gì thật cần thiết và phù hợp với trình độ HS Những khái niệm và quy luật được đề cập đến được giải thích hoặc trình bày dưới dạng các định nghĩa, được sắp xếp trước sau theo trình tự logic nhất định Chữ được in màu (chủ yếu là màu đen), mục bài hay phần câu hỏi, bảng kiến thức, bảng số liệu được trình bày màu khác (thường là màu xanh hoặc chữ đen trên nền xanh) giúp HS dễ dàng nhận thấy những nội dung chính của bài hay những yêu cầu đặt ra ở trong SGK Điều này làm cho trực quan hơn, HS dễ xác nhận và nhớ lâu hơn

 Kênh hình

+ Kênh hình trong SGK Địa lí lớp 12 tương đối nhiều, phong phú đa dạng với các lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh,… Nó không chỉ có chức năng minh họa mà quan trọng hơn chính là nguồn tri thức để HS khai thác Phần kênh hình được quyện chặt với kênh chữ trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời Qua kênh hình giúp HS vừa hiểu

rõ hơn các sự vật hiện tượng Địa lí vừa rèn luyện khả năng tư duy và các kỹ năng Địa

lí cần thiết

+ Trong quá trình biên soạn kênh hình, nhất là các hình ảnh đã được lựa chọn từ các cuốn SGK hay giáo trình có liên quan của một số nước trên thế giới nhằm vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, tính khoa học và tính sư phạm Nó có ý nghĩa đặc biệt với quá trình nhận thức của HS

+ Kênh hình được in màu là tăng tính trực quan, dễ dàng nhận biết, phân biệt so sánh các đối tượng, giúp HS làm việc dễ dàng hơn

 Cách thức trình bày các nội dung trong sách giáo khoa

- Được trình bày theo thứ tự gồm chương, bài (mỗi bài dạy một tiết), bài thực hành, ôn tập

- Có hệ thống câu hỏi ở giữa bài và cuối bài

- Có bộ phận kênh hình, kênh chữ, câu hỏi, bài tập là một thể thống nhất Với việc trình bày kênh chữ không tách biệt với kênh hình đã tạo điều kiện thuận lợi cho GV tiến hành rèn luyện kỹ năng Địa lí cho HS đặc biệt là kỹ năng bản đồ Các câu hỏi trình bày dưới dạng câu hỏi mở bắt buộc HS phải tìm ra kiến thức cần thiết

Trang 20

- Kiến thức được trình bày dưới nhiều dạng khác nhau, có thể là từng đoạn hoặc trình bày dưới dạng câu hỏi

1.2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn của SGK với việc sử dụng phương pháp

sơ đồ - Grap

a Thuận lợi

- Kênh hình được trình bày ngắn gọn, súc tích, có định lượng kiến thức rõ ràng,

số lượng sơ đồ nhiều, giúp GV thuận lợi trong việc giảng dạy

- Phần Địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế với các kiến thức gồm các khái niệm, đặc điểm,… Đây là những vấn đề khó vì tính chất trừu tượng của chúng Để HS nắm được kiến thức GV cần tìm những VD, những minh họa, mô hình …cụ thể để làm rõ Đây là điều kiện thuận lợi để GV xây dựng các sơ đồ phù hợp với nội dung của bài

- Với nội dung của phần Địa lí tự nhiên, dân cư, kinh tế có thuận lợi cho việc xây dựng sơ đồ, đặc biệt là với sơ đồ logic và sơ đồ cấu trúc

b Khó khăn

- Với số lượng sơ đồ có sẵn trong SGK sẽ tác động không ít đến GV Đó là chỉ sử dụng những sơ đồ có sẵn trong sách mà không sáng tạo, không tìm tòi xây dựng sơ đồ

ở những nội dung phù hợp trong QTDH

- Việc xây dựng sơ đồ yêu cầu GV phải tìm tòi chọn lọc những nội dung phù hợp

Để xây dựng được sơ đồ cần nhiều thời gian hoặc in ấn tốn kém Vì thế, đây là yếu

tố hạn chế việc xây dựng sơ đồ của GV phục vụ cho việc giảng dạy

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS lớp 12 THPT

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí

HS lớp 12 được tính từ 17 đến 18 tuổi, lứa tuổi thanh niên Ở lứa tuổi mà hầu hết các em đã được xem như là người lớn, độ tuổi này khá phức tạp thể hiện nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý

Đây là vấn đề khó khăn vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có

Trang 21

nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi

Lứa tuổi HS lớp 12, các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Trí nhớ của các em đã phát triển, có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ, trường hợp nào cần diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài Hoạt động tư duy của các em phát triển mạnh Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn Năng lực phân tích, tổng hợp,

so sánh, trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề

để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi ghép lại

1.3.2 Trình độ nhận thức

HS lớp 12 THPT đã có sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tinh thần Ở các em

đã hình thành những suy nghĩ độc lập, tích cực trong nhận thức đặc biệt là các khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa Nhờ những thuận lợi căn bản này mà GV

có thể áp dụng khai thác khi tiến hành đổi mới phương pháp

Tư duy của các em phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số HS vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính

Trang 22

Hiện nay do sự phong phú và tiện ích của các phương tiện truyền thông mà HS có

sự nắm bắt khá nhạy bén kiến thức thực tế để so sánh với những gì đã học, đã tìm hiểu Đòi hỏi các em về trình độ truyền thụ kiến thức của GV càng cao hơn Do vậy GV phải biết đổi mới phương pháp và linh hoạt trong giảng dạy, học tập cho phù hợp với nhận thức của HS

Kết luận: Đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của học sinh THPT ngày nay đã có những thay đổi về chất Học sinh lứa tuổi này rất năng động sáng tạo Chính

vì vậy, các em có khả năng thích nghi, phù hợp với đặc điểm sử dụng phương pháp sơ

đồ - Grap trong dạy học

1.4 Thực trạng sử dụng sơ đổ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

* Thực trạng sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 ở

các trường THPT hiện nay:

GV thường sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong QTDH, tuy nhiên mức độ có

sự khác nhau ở các khâu dạy học Điều này thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong các khâu dạy học

KT bài cũ Bài mới Củng cố Bài tập Kiểm tra

đánh giá

Tất cả các khâu

Trang 23

Thỉnh thoảng

Hiếm khi Không bao

giờ

SL % SL % SL % SL %

5%

sử dụng sơ đồ

Trong khâu dạy bài mới, được GV sử dụng nhiều vì trong quá trình giảng bài mới

có nhiều cơ hội cho việc sử dụng sơ đồ, đồng thời truyền thụ kiến thức theo một hệ thống chặt chẽ với các mối liên hệ cụ thể nhất định, qua đó giờ học sinh động và hứng thú hơn, đạt hiệu quả cao hơn Ngoài ra GV còn xây dựng thêm nhiều sơ đồ khác phù hợp với nội dung bài giảng Nhưng việc sử dụng sơ đồ trong khâu dạy học này vẫn còn

Trang 24

hạn chế, với mức độ “thường xuyên” ít như vậy cho chúng ta thấy rằng việc GV sử dụng

sơ đồ vẫn chưa được chú trọng, và dường như sử dụng sơ đồ có sẵn ở SGK

Ở mức độ “thường xuyên” các khâu như củng cố kiến thức, hướng dẫn HS học tập ở nhà hay ở mức “thỉnh thoảng” khâu kiểm tra đánh giá, tuy mức độ không nhiều nhưng vẫn có một số GV sử dụng, hầu như GV sử dụng sơ đồ - Grap trong các khâu dạy học này chủ yếu là các GV có tuổi nghề cao và kinh nghiệm lâu năm

Mặc dù biết là việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí là rất quan trọng, nhưng mức độ sử dụng lại khác nhau, và mức độ nắm quy trình sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap chưa hẳn ai cũng biết, bảng 1.3:

Bảng 1.3 Mức độ giáo viên nắm quy trình việc sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap

trong dạy học Địa lí

Qua bảng thống kê cho ta thấy có đến một nửa GV đều chưa biết được quy trình sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap Theo ý kiến của một số GV cho rằng việc sử dụng sơ đồ trong QTDH lúc nào cũng có, vì khi sử dụng HS sẽ rất hứng thú tham gia xây dựng bài, nhưng để nắm được quy trình thì không hẳn

Thực tế cho thấy và các GV thừa nhận rằng vấn đề GV sử dụng sơ đồ – Grap có khả năng tư duy, hệ thống hóa kiến thức rất tốt, tuy nhiên với lớp 12 thì chỉ có một số bài có thể sử dụng được và một số bài không thể sử dụng sơ đồ Mặt khác HS chưa quen cách học bài bằng sơ đồ, cũng như chưa biết cách sử dụng

1.4.2 Đối với HS

Trong dạy học, sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap làm cho giờ học Địa lí trở nên sinh động, hứng thú hơn Học sinh đỡ nhàm chán, căng thẳng do sự thay đổi trạng thái tâm lý trong giờ học Học sinh tích cực động não sẽ trở nên năng động, sáng tạo hơn

Trang 25

Tránh được lối ghi nhớ máy móc, nặng nề những kiến thức mang tính giáo khoa, lí thuyết

Học sinh dễ hiểu bài hơn, dễ tái hiện kiến thức qua sơ đồ trực quan, nên nội dung kiến thức được khắc sâu hơn Đặc biệt, thời gian ghi chép cũng sẽ được rút ngắn hơn, dành khoảng thời gian đó, HS được nghe GV giảng và tham gia xây dựng bài

Đối với việc tự học bài cũ, làm bài tập và chuẩn bị bài mới ở nhà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh độc lập làm việc và đạt hiệu quả cao Và HS cũng mong muốn các tiết học GV đều sử dụng sơ đồ để giảng dạy

Tuy nhiên, kỹ năng xây dựng và sử dụng sơ đồ của học sinh vẫn còn hạn chế, nhiều em còn lúng túng vì chưa quen và chưa quen được cách dạy học này cho nên gặp khó khăn trong việc xây dựng bài

Trang 26

Chương 2

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ - GRAP TRONG DẠY HỌC

ĐỊA LÍ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Nguyên tắc sử dụng sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

2.1.1 Sử dụng sơ đồ - Grap phải phù hợp nội dung bài học

Trong toàn bộ nội dung của SGK Địa lí lớp 12 là những kiến thức đã được lựa chọn, được cấu trúc phù hợp với hệ thống của khoa học Địa lí, với yêu cầu của chương trình, với các quy luật về tâm sinh lý HS Nội dung sơ đồ - Grap được biểu hiện bằng hệ thống kiến thức được mã hóa một cách ngắn gọn, cô đọng, súc tích qua kênh hình Do vậy GV khi sử dụng sơ đồ phải biết lựa chọn những bài phù hợp với nội dung dạy học

để khai thác và đem lại hiệu quả cao trong giờ học Ngược lại việc khai thác và sử dụng

sơ đồ không phù hợp với nội dung bài học sẽ làm mất nhiều thời gian, GV khai thác những kiến thức thiếu chuẩn xác gây sự phân tán chú ý của HS

2.1.2 Sử dụng sơ đồ - Grap phải phù hợp với trình độ nhận thức của HS

Trong QTDH GV biết được trình độ nhận thức của HS ở từng lớp, vì thế GV có thể áp dụng từng loại sơ đồ khác nhau như: Xây dựng sơ đồ sẵn rồi khai thác kiến thức qua hệ thống câu hỏi hay GV và HS cùng xây dựng sơ đồ để khai thác kiến thức, hoặc

HS xây dựng sơ đồ mà GV nêu vấn đề

Mặt khác, khi sử dụng sơ đồ để khám phá các tri thức Địa lí, GV phải tùy theo từng lớp mà sử dụng sơ đồ cho các khâu nào trong QTDH hay sử dụng ở mục nào hoặc

cả bài cho hợp lý Nhờ đó sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap bài giảng có tác dụng lớn trong quá trình học tập của HS và việc giảng dạy của GV thêm thuận lợi

2.1.3 Sử dụng sơ đồ - Grap cần phải kết hợp với các PPDH phù hợp

Trong dạy học Địa lí, GV phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các PPDH với từng sơ

đồ bài học cho thích hợp như: phương pháp đàm thoại gợi mở, thảo luận nhóm, tình huống có vấn đề, trò chơi… GV tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập của HS để hướng các em luôn tìm tòi, khám phá, khai thác kiến thức từ sơ đồ qua các phương pháp nêu trên

Trang 27

Sự kết hợp với các PPDH thích hợp của GV, giúp cho HS tự mình làm việc với

sơ đồ để khám phá các tri thức cần thiết

2.1.4 Sử dụng hết tính năng của sơ đồ - Grap

Đây là nguyên tắc chủ yếu đề cập đến nội dung và phương pháp giảng dạy của

GV sao cho phù hợp với trình độ tiếp thu của HS Nội dung sơ đồ - Grap được biểu hiện bằng hệ thống kiến thức được mã hóa nhiều dạng khác nhau Việc khai thác hết tính năng của sơ đồ sẽ làm phong phú thêm bài dạy, qua đó lôi cuốn HS vào các điều mới lạ, hấp dẫn, làm cho HS sự chú ý theo dõi bài học cao độ, từ đó hiệu quả của việc tiếp thu của HS được nâng cao hơn

Muốn sử dụng hết tính năng của sơ đồ, GV cần có sự chuẩn bị công phu, phải điều chỉnh sơ đồ các dạng để phù hợp với nội dung bài giảng cho logic, sử dụng các khoảng thời gian thích hợp để khai thác hết các hình thức biểu hiện của sơ đồ Nếu khai thác tùy tiện thì dễ làm tản mạn sự chú ý của HS và không đem lại hiệu quả mong muốn mà còn mất nhiều thời gian

2.1.5 Sử dụng sơ đồ - Grap cần kết hợp với các phương tiện dạy học khác

Mỗi PPDH đều có tác dụng tích cực đối với một số mặt học tập của HS, giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển một số kỹ năng Địa lí nhất định Vì lẽ đó, để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ trong QTDH Địa lí, GV cần phối hợp sử dụng sơ đồ với các phương tiện dạy học khác như: phối hợp với bản đồ treo tường, SGK, lược đồ, các bảng số liệu thống kê, phiếu học tập, các thiết bị kỹ thuật hiện đại,…một cách linh hoạt, nhằm giúp HS khai thác kiến thức một cách nhanh chóng, giờ học sinh động Vì thế GV phải thiết lập mối liên kết giữa các phương tiện dạy học khác với mục tiêu học tập và nội dung bài giảng để làm cơ sở soạn thảo các PPDH phù hợp

2.2 Sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap trong dạy học Địa lí lớp 12 THPT

2.2.1 Sử dụng sơ đồ - Grap trong KT bài cũ

Trang 28

thiện sơ đồ, từ đó đánh giá HS ở mức độ nắm vững kiến thức và kết hợp kỹ năng vẽ sơ

đồ

2.2.2.2 Cách thực hiện

+ Bước 1: GV lập sơ đồ - Grap nội dung của một bài hay một phần kiến thức của bài

+ Bước 2: HS nghe giảng, quan sát sơ đồ sau đó phân tích và tìm ra câu trả lời

VD: Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta

+ Bước 1: GV đưa ra sơ đồ - Grap đã lập sẵn

Câu hỏi: Em hãy hoàn thành sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1a: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta

+ Bước 2: HS trả lời

GV hướng dẫn HS khai thác sơ đồ và chuẩn kiến thức

GV: Đưa ra sơ đồ hoàn chỉnh

ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ

NƯỚC TA

Trang 29

Sơ đồ 2.1b: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta

Ở khâu này giúp HS nắm vững được kiến thức đã học một cách dễ dàng qua sơ

đồ GV đưa ra

2.2.2 Sử dụng sơ đồ trong việc định hướng nhận thức của HS

Mở đầu bài dạy học, GV sử dụng sơ đồ để HS hiểu được cấu trúc và nội dung chính của bài, qua đó giới thiệu cho HS biết các nội dung sẽ nghiên cứu trong bài học

VD 1: Bài 18: Đô thị hóa

- Khi vào mở bài, GV đặt câu hỏi nêu vấn đề nhằm định hướng hoạt động nhận thức của HS như:

Đô thị hóa là gì? Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển KT - XH của nước ta như thế nào?

- Để HS hiểu được một cách khái quát nội dung bài giảng và dễ dàng trong việc định hướng nhận thức, GV vẽ sơ đồ khái quát những nội dung chính bài giảng để giới thiệu:

ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ PHÂN BỐ

DÂN CƯ NƯỚC TA

Đông dân, có nhiều

thành phần dân tộc

Dân số còn tăng nhanh, cơ cấu dân

số trẻ

Phân bố dân cư chưa hợp lí

- Giữa đồng bằng với trung du, miền núi

- Giữa thành thị với nông thôn

Trang 30

Sơ đồ 2.2: Đô thị hóa

VD 2: Bài 23: Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông

Hồng

- GV có thể vào bài bằng cách nêu vấn đề như: Đồng bằng sông Hồng là một trong hai vùng có dân số đông và trình độ phát triển kinh tế cao nhất nước ta Vậy Đồng bằng sông Hồng có những thế mạnh, hạn chế gì và có những định hướng phát triển như thế nào trong tương lai để phát triển KT – XH

- GV giới thiệu khái quát nội dung bài giảng thông qua sơ đồ, để HS định hướng nhận thức của mình về bài học GV trình bày khái quát sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.3 : Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

ĐÔ THỊ HÓA

Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển

KT - XH của nước

ta

Trang 31

2.2.3 Sử dụng sơ đồ - Grap trong dạy bài mới

GV sử dụng sơ đồ - Grap để khai thác nguồn tri thức phong phú trên cơ sở đưa ra các hệ thống câu hỏi, bản đồ, tranh ảnh, các dạng bài tập để hướng dẫn HS tự tìm tòi, khám phá những kiến thức của bài học Ngoài ra việc giúp HS đào sâu những tri thức

đã lĩnh hội được, quan trọng hơn giúp HS xác định được các mối quan hệ Địa lí, sự tác động qua lại và hệ quả của các hiện tượng Địa lí Sơ đồ - Grap còn giúp cho GV hướng dẫn HS năng lực suy đoán, phân tích tổng hợp để rút ra những kết luận cần thiết

Sơ đồ – Grap còn giúp cho GV có những thuận lợi để trình bày bài dạy một cách đầy đủ, sâu sắc, tiết kiệm được thời gian Truyền thụ kiến thức một cách sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ, giờ học trở nên sinh động hơn

Sử dụng sơ đồ - Grap trong dạy bài mới, thường có các cách sau:

2.2.3.1 Sử dụng sơ đồ đã xây dựng sẵn (vẽ trước, in sẵn) để dạy bài mới, kết hợp với các phương pháp và phương tiện khác

a Đặc điểm

GV đã có sẵn sơ đồ - Grap để HS dựa vào đó phân tích, so sánh và rút ra những kết luận cần thiết qua sơ đồ, trên cơ sở kết hợp với phương pháp và các phương tiện khác (tranh ảnh, bản đồ…), qua đó HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức

b Cách thực hiện

+ Bước 1: GV lập sơ đồ - Grap nội dung của một bài hay một phần kiến thức của bài GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung và sau đó trả lời theo câu hỏi

+ Bước 2: HS nghe giảng quan sát sơ đồ - Grap qua đó lĩnh hội tri thức

VD 1: - Bài 6: Đất nước nhiều đồi núi

Mục 1: Đặc điểm chung của địa hình

GV yêu cầu HS quan sát trong Atlat cũng như hình 6 SGK (tr 31) và sơ đồ sau đây:

Trang 32

Sơ đồ 2.4 : Sơ đồ đặc điểm chung của địa hình Việt Nam

Dựa vào sơ đồ em hãy:

+ Chứng minh địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp?

+ Trình bày cấu trúc đại hình của của nước ta?

+ Nêu những biểu hiện của địa hình nhiệt đới ẩm gió mùa?

+ Lấy VD để chứng minh tác động của con người tới địa hình nước ta?

- Sau đó GV chuẩn xác kiến thức

VD 2: Bài 28: Vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Mục 3: Các hình thức chủ yếu về tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Khi dạy mục này, GV yêu cầu HS nghiên cứu SGK và hoàn thành nội dung trong phiếu học tập biểu hiện bằng sơ đồ

Đặc điểm chung của địa hình

đa dạng

Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa

Địa hình chịu tác động mạnh

mẽ của con người

Trang 33

Câu hỏi:

- Hãy nêu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp?

- Hãy nêu những đặc điểm chính của điểm công nghiệp? Xác định một số điểm công nghiệp trên hình 26.2 SGK (tr.115 hoặc Atlat Địa lí Việt Nam)

- Hãy kể tên một vài khu công nghiệp ở địa phương (nếu có) Tại sao các khu công nghiệp lại phân bố chủ yếu ở Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung?

- Hãy trình bày những đặc điểm chính của trung tâm công nghiệp? Quan sát hình 26.2 SGK (tr.115 hoặc Atlat Địa lí Việt Nam), hãy xác định các trung tâm công nghiệp

có quy mô rất lớn và lớn, nêu cơ cấu ngành của mỗi trung tâm

- Trình bày những đặc điểm chính của vùng công nghiệp

2.2.3.2 GV hướng dẫn HS cùng xây dựng sơ đồ, kết hợp với các phương pháp và phương tiện khác

a Đặc điểm

GV vừa hướng dẫn HS khám phá các mối liên hệ, song song với việc hoàn thành

sơ đồ Đây là hình thức dạy học có sự tham gia tích cực của HS, bằng các PPDH: giảng

Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

PHIẾU HỌC TẬP Nghiên cứu SGK và hoàn thành nội dung phiếu học tập sau:

ĐĐ

Phân

bố

Trang 34

giải kết hợp với đàm thoại gợi mở, thảo luận nhóm nhỏ…, các kiến thức cần thiết cùng các mối liên hệ sẽ được hình thành dần trên sơ đồ, tương ứng với tiến trình dạy học Kết quả của nội dung dạy học được thể hiện, kết tinh ở trên sơ đồ

b Cách thực hiện

+ Bước 1: GV hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu SGK hoặc phương tiện trực quan

GV đặt câu hỏi, HS trả lời

+ Bước 2: HS tự lập sơ đồ - Grap nội dung phần đó

2.2.3.3 Sử dụng sơ đồ để thể hiện hệ thống kiến thức toàn bài

Cách sử dụng sơ đồ này trong trường hợp KT kiến thức của HS sau bài học GV

sau khi phân nhóm thảo luận và đại diện nhóm trình bày, cũng như bổ sung, góp ý của các nhóm khác, thì GV nhận xét, tổng kết bài học bằng sơ đồ để thể hiện toàn bộ kiến

thức cần nắm

2.2.4 Sử dụng sơ đồ trong khâu củng cố kiến thức và đánh giá cuối bài học

Sau mỗi bài học GV KT lại kiến thức mà HS lĩnh hội được, khâu này có ý nghĩa quan trọng, vì nó giúp cho HS tự đánh giá được kết quả tiếp thu bài trong quá trình học tập của mình, đồng thời GV cũng đánh giá được một cách khái quát việc học tập của từng lớp

Trong khâu này có nhiều cách để KT kiến thức như: hỏi vấn đáp, thực hiện bài tập, làm bài tập trắc nghiệm khách quan hay điền chỗ trống để hoàn chỉnh sơ đồ…

GV đưa ra một sơ đồ chưa hoàn chỉnh, yêu cầu HS tìm các kiến thức cần thiết điền vào chỗ trống và hoàn chỉnh sơ đồ

- Hình thức thứ nhất:

+ Bước 1: GV đưa ra sơ đồ - Grap với các đỉnh còn trống hoặc chưa có các cạnh Yêu cầu HS điền thông tin vào các chỗ trống đó sau khi kết thúc bài học hay một phần kiến thức

+ Bước 2: HS điền thông tin vào ô trống

+ Bước 3: GV nhâṇ xét, chuẩn kiến thức

Trang 35

+ Bước 1: GV sau khi giảng theo đúng trình tự SGK, GV có thể hướng dẫn HS củng cố bài theo sơ đồ - Grap “câm” in sẵn trên phiếu học tập

Sơ đồ 2.5a: Mạng lưới giao thông vận tải nước ta

+ Bước 2: HS điền thông tin vào sơ đồ

+ Bước 3: GV nhâṇ xét, chuẩn kiến thức theo sơ đồ hoàn chỉnh dưới đây:

Trang 36

Sơ đồ 2.5b: Mạng lưới giao thông vận tải nước ta

Vận tải chủ yếu vào một

số hệ thống sông chính:

+ HT sông Hồng – Thái Bình

+ HT sông

Mê Công – Đồng Nai

+ HT sông lớn miền Trung

không

Đặc điểm:

tổng chiều dài: 3143km Các tuyến đường chính:

Đường sắt Thống Nhất (HN-

TP.HCM), chạy theo chiều dài đất nước, tạo nên một trục giao thông quan trọng theo hướng bắc – nam

Ngoài ra còn

có các tuyến đường khác

Đặc điểm:đường

bở biển dài 3260km, nhiều vũng, vịnh, rộng và kín gió, nhiều đảo, quần đảo ven bờ, nằm trên đường hảng hải quốc tế =>

phát triển giao thông đường biển

Các tuyến đường chính:

HP – TP.HCM

Cảng: Hải Phòng, Cái Lân, …

Đặc điểm:

là ngành non trẻ nhưng có bước tiến nhanh nhờ

có chiến lược phát triển táo bạo, nhanh chóng hiện đại hóa cơ

sở vật chất

Cả nước có

22 sân bay,

5 sân bay quốc tế

Trang 37

+ Ngành thông tin liên lạc

Sơ đồ 2.6 Ngành thông tin liên lạc nước ta

THÔNG TIN LIÊN LẠC

bố chưa hợp lí

- Công nghệ nhìn chung còn lạc hậu

- Quy trình nghiện vụ còn thủ công, thiếu lao động trình

độ cao

Phương hướng:

- Phát triển theo hướng

cơ giới hóa, tự động hóa, tin học

- Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh

Đặc điểm:

- Có tốc độ phát triển nhanh

+ Phát triển mạng lưới kĩ thuật số, tự động hóa cao

và đa dịch

vụ

+ Mức tăng trưởng

nhanh, trung bình

30%/năm

Tình hình phát triển:

- Mạng lưới viễn thông khá đa dạng và không ngừng phát triển + Mạng điện thoại phát triển nhanh (1990-

2005, số thuê bao tăng

112 lần)

+ Mạng phi điện thoại gồm Fax, mạng truyền trang báo kênh thông tin

+ Mạng truyền dẫn phát triển với nhiều phương thức

+ Mạng lưới viễn thông quốc tê ngày càng phát triển, hội nhập thong qua vệ tinh và cáp biển

Trang 38

2.2.5 Sử dụng sơ đồ trong việc hướng dẫn HS học tập ở nhà

Sau mỗi bài dạy ở trên lớp, GV có thể yêu cầu HS về nhà làm một số bài tập nhằm củng cố những kiến thức mà HS thu nhận được trong giờ học, đồng thời mở rộng chúng

và tạo điều kiện lĩnh hội tài liệu học dễ dàng hơn

Ngoài ra GV hướng dẫn cách tự học ở nhà cho HS, qua kiến thức và kênh hình SGK giúp HS củng cố mối quan hệ giữa học trên lớp và ở nhà, vì thế kích thích hứng thú học tập bộ môn dưới sự hướng dẫn của GV Mặt khác GV còn yêu cầu HS phải

chuẩn bị bài mới với sơ đồ - Grap để nâng cao kỹ năng vẽ sơ đồ

Qua bài tập, GV có thể yêu cầu HS hoàn thành sơ đồ, điền vào ô trống, vẽ mũi tên

nối các ô của sơ đồ một cách hợp lý thể hiện đặc điểm của một đối tượng Địa lí …

VD 1: Hãy lập sơ đồ thể hiện các thế mạnh và hạn chế của vùng Đông Nam Bộ

trong việc phát triển tổng hợp nền kinh tế

VD 2:

Câu hỏi: Dựa vào kiến thức đã học, em hãy điền vào những ô còn trống và vẽ mũi

tên thể hiện mối quan hệ sao cho đúng về vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ

Trang 40

Sơ đồ hoàn thiện

Sơ đồ 2.7b Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ

2.3 Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap

Tránh tính hình thức trong lập và sử dụng phương pháp sơ đồ - Grap : Một số nội dung, một bài học bao gồm cả nội dung và hình thức Khi GV quá chú trọng tính hình thức, ít quan tâm tới nội dung thì có thể làm cho HS ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, thấy được quan hệ bên ngoài mà không thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức, không hiểu được bản chất kiến thức, không vận dụng được kiến thức vào thực tiễn

Điều kiện

KT

-XH

Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu

Công nghiệp

Dịch

vụ

Nông, lâm nghiệp

Phát triển tổng hợp kinh tế biển ĐKTN -TNTN

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Cương (2011), “Sử dụng sơ đồ, lược đồ kết hợp với phiếu học tập trong dạy học Địa lí”, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng sơ đồ, lược đồ kết hợp với phiếu học tập trong dạy học Địa lí
Tác giả: Nguyễn Quốc Cương
Năm: 2011
2. Trần Diệu Hoa (2014), “Xây dựng và sử dụng sơ đồ - Grap (GRAPH) trong dạy học Địa lí lớp 10 theo hướng tích cực”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng và sử dụng sơ đồ - Grap (GRAPH) trong dạy học Địa lí lớp 10 theo hướng tích cực”
Tác giả: Trần Diệu Hoa
Năm: 2014
3. Đậu Thị Hòa (2015), “Giáo trình dạy học Địa lí theo hướng tích cực”, Khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dạy học Địa lí theo hướng tích cực
Tác giả: Đậu Thị Hòa
Năm: 2015
4. Vũ Quốc Lịch (2009), “Thiết kế bài giảng Địa lí lớp 12”, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Địa lí lớp 12
Tác giả: Vũ Quốc Lịch
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2009
5. Hồ Tấn Minh (2014), “Thiết kế và sử dụng Graph để dạy học chương sinh sản – sinh học 11 THPT”, luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng Graph để dạy học chương sinh sản – sinh học 11 THPT”
Tác giả: Hồ Tấn Minh
Năm: 2014
6. Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng (2015), “Giáo trình tâm lí học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình tâm lí học
Tác giả: Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
Năm: 2015
7. Nguyễn Trọng Phúc (2004), “Thiết kế bài giảng Địa lí ở trường phổ thông”, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Địa lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004
8. Nguyễn Đức Vũ (1997), “Giáo trình phương pháp giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông”, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1997
9. Lê Thông (tổng chủ biên) (2009), “SGK Địa lí lớp 12”, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “SGK Địa lí lớp 12”
Tác giả: Lê Thông (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
10. Nguyễn Đức Vũ (2006), “Phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông”, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương tiện dạy học Địa lí ở trường phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
11. Nguyễn Đức Vũ (2007), “Kỹ thuật dạy học Địa lí ở trường phổ thông”, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật dạy học Địa lí ở trường phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
12. Nguyễn Đức Vũ (chủ biên) (2009), “Tư liệu Địa lí lớp 12”, NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tư liệu Địa lí lớp 12”
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2009
13. Nguyễn Đức Vũ - Phạm Thị Sen (2004), “Đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông”, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới PPDH Địa lí ở trường phổ thông”
Tác giả: Nguyễn Đức Vũ - Phạm Thị Sen
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w