1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi

91 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng những tác phẩm truyện sáng tác về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non .... Từ những lí do trên chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

-

Đề tài:

SÁNG TÁC VÀ SỬ DỤNG TRUYỆN VỀ CHỦ ĐỀ NƯỚC

VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN CHO TRẺ

MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

Đà Nẵng, tháng 5/2016

Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Diệu Hà Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Minh Thư

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Những đóng góp của đề tài 4

8 Cấu trúc của đề tài 4

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SÁNG TÁC VÀ SỬ DỤNG TRUYỆN VỀ CHỦ ĐỀ NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Cơ sở lý luận 6

1.2.1 Một số vấn đề lí luận về tác phẩm văn học 6

1.2.2 Một số vấn đề lí luận về truyện dành cho trẻ mầm non 15

1.2.3 Sáng tác truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên 23

1.2.4 Tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non 31

1.3 Cơ sở thực tiễn 34

1.3.1 Vài nét về cơ sở điều tra 34

1.3.2 Thực trạng việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non 20-10 và trường mầm non Dạ Lan Hương… 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

Trang 3

Chương 2: SÁNG TÁC VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN VỀ CHỦ ĐỀ NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6

TUỔI 42

2.1 Những cơ sở định hướng cho việc sáng tác và sử dụng truyện cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 42

2.1.1 Chương trình giáo dục mầm non mới đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 42

2.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5-6 tuổi 43

2.1.3 Đặc điểm cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ mầm non 47

2.2 Sáng tác một số tác phẩm truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non 51

2.2.1 Những tác phẩm truyện sáng tác 51

2.2.2 Tiêu chí đánh giá các tác phẩm truyện sáng tác 51

2.3 Sử dụng những tác phẩm truyện sáng tác về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non 53

2.3.1 Mục đích 53

2.3.2 Cách tiến hành 53

2.4 Thực nghiệm sư phạm 60

2.4.1 Mục đích 60

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 60

2.4.3 Tiêu chí đánh giá mức độ hứng thú của trẻ 5 – 6 tuổi đối với các tác phẩm truyện sáng tác về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên 60

2.4.4 Kết quả thực nghiệm 61

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giáo dục toàn diện nhằm hình thành nhân cách của một con người Trong quá trình hình thành nhân cách toàn diện cho trẻ thì các tác phẩm văn học đóng vai trò rất quan trọng Văn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ được tiếp xúc từ rất sớm Các tác phẩm văn học đã gieo vào lòng trẻ tình cảm yêu mến thế giới xung quanh và giúp trẻ có thêm kiến thức hiểu biết về truyền thống dân tộc, nảy sinh ở trẻ lòng nhân ái, mở rộng nhận thức về thiên nhiên

xã hội Mỗi tác phẩm văn học với nội dung lý thú cùng những hình tượng nghệ thuật trong sáng luôn có sức lôi cuốn sự chú ý, đem lại niềm vui thích cho trẻ nhỏ, đồng thời cũng mang lại những tác dụng giáo dục lớn lao Vì thế, từ lâu văn học được xem như là một trong những phương tiện giáo dục trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt

Đặc biệt, kho tàng truyện dành cho trẻ em rất phong phú với nhiều thể loại như: truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện dân gian,… mỗi thể loại lại có những đặc trưng rieeng Chính những đặc trưng này đã đem lại cho trẻ sự thích thú, dễ chịu và cũng là cơ hội cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mĩ,khơi mở trí tưởng tượng của trẻ Đây cũng là một trong các hình thức nhận thức thế giới của trẻ, giúp trẻ chính xác hóa những bỉểu tượng đã có về thực tế xã hội xung quanh, từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới, và mở rộng kinh nghiệm sống cho trẻ.Đồng thời, trẻ mầm non đang hình thành và phát triển về ngôn ngữ, việc đọc truyện cho trẻ nghe và cho trẻ kể lại truyện có tác dụng tích cực cho trẻ phát triển ngôn ngữ qua ngữ điệu, kích thích việc đặt câu hỏi cho trẻ khi có tình huống cần tư duy, sáng tạo

và tăng thêm vốn từ cho trẻ Bên cạnh đó, truyện còn có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ, bởi vì trẻ rất thích bắt chước và học tập được các đức tính tốt từ các nhân vật trong truyện Thông qua các câu truyện, trẻ có thể phân biệt được người tốt – người xấu, cái tốt – cái xấu…

Trang 5

Thế nhưng những điều thú vị về tự nhiên luôn được trẻ quan tâm nhiều nhất Bằng chứng là những câu hỏi như: Vì sao mùa hè nóng còn mùa đông lạnh? Vì sao bầu trời có màu xanh? Vì sao lại có gió? Vì sao lại có mưa? Mưa để làm gì? Vì sao

nước biển lại mặn? được trẻ thường xuyên đặt ra cho người lớn Và chủ đề Nước

và các hiện tượng tự nhiên đã giúp trẻ thỏa mãn những mong muốn đó Không

những thế mục tiêu của chủ đề còn hướng đến việc hình thành ở trẻ khả năng cảm nhận cái đẹp, biết thể hiện cảm xúc trước cái đẹp của thiên nhiên, biết tự bảo vệ sức khỏe trước những thay đổi khắc nghiệt của thời tiết…

Hẳn những ai làm cha làm mẹ hay các giáo viên mầm non từng rất vui mừng nhưng cũng không ít lần bối rối khi bắt gặp những thắc mắc ngộ nghĩnh, thông minh nhưng không dễ giải đáp của con trẻ.Vấn đề đặt ra ở đây là phải giải đáp làm sao cho trẻ dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ, giúp trẻ nắm rõ vấn đề hơn Cách giải đáp được cho là hiệu quả nhất là thông qua các câu chuyện với các nhân vật đáng yêu, gần gũi với trẻ Thế nhưng, thực tế hiện nay những câu chuyện sáng

tác về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiênnhằm làm tăng vốn hiểu biết, giải đáp

những thắc mắc của trẻ về sự kì diệu của cuộc sống là không nhiều Điển hình một

số câu chuyện mà giáo viên ở các trường mầm non hay sử dụng như: Giọt nước tí xíu, Cô mây, Hồ nước và mây, Đám mây đen xấu xí

Từ những lí do trên chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”nhằm hỗ trợ cho các giáo viên mầm non có thêm nguồn tư liệu về các hiện

tượng tự nhiên để giải đáp thỏa đáng những thắc mắc thường gặp trong cuộc sống hằng ngày và thỏa mãn lòng ham hiểu biết không ngừng của trẻ

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm sáng tác và sử dụng những câu chuyện về chủ đề

Nước và các hiện tượng tự nhiên góp phần hỗ trợ cho giáo viên mầm non có thêm tư

liệu để vận dụng trong quá trình giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Trang 6

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Qúa trình sáng tác và sử dụng tác phẩm văn học

cho trẻ mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Qúa trình sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề

Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

4 Giả thuyết khoa học

Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sẽ được thỏa mãn nhu cầu khám phá khoa học và vốn hiểu biết của trẻ sẽ tăng thêm nếu giáo viên mầm non có nhiều hơn nữa những câu

chuyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên phù hợp để lựa chọn và sử

dụng trong quá trình giáo dục trẻ

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc sáng tác và sử dụng truyện cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, nhằm xây dựng hệ thống lí thuyết định hướng cho đề tài

- Tìm hiểu thực trạng về việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và

các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hiện nay

- Sáng tác và sử dụng một số câu chuyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự

nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thực nghiệm sư phạm

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện

tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non 20-10 và trường mầm

non Dạ Lan Hương

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tham khảo, thu nhập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài, cụ thể hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở

lý luận về việc sáng tác và sử dụng tác phẩm văn học cho trẻ mầm non

Trang 7

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp đàm thoại

Phương pháp đàm thoại được sử dụng nhằm:

- Trao đổi với các giáo viên mầm non để thấy được nhận thức của họ về việc

sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu

giáo 5-6 tuổi Đồng thời để thấy được những thuận lợi và khó khăn mà các giáo viên

gặp phải trong quá trình sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện

tượng tự nhiên

6.2.2 Phương pháp thực nghiệm

Vận dụng các câu chuyện đã sáng tác vào hoạt động giáo dục theo chủ đề

Nước và các hiện tượng tự nhiên ở trường mầm non cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, từ đó

đánh giá kết quả thực nghiệm

7 Những đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lí luận liên quan đến sáng tác tác phẩm văn học nói chung và truyện nói riêng cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên Chúng tôi đã sáng tác được 9 câu chuyện về chủ đề này nhằm giải đáp những thắc mắc về các hiện tượng tự nhiên mà trẻ thường gặp trong cuộc sống hằng ngày Đồng thời thiết kế bộ giáo cụ - sách vải minh họa làm phương tiện

hỗ trợ để thu hút sự hứng thú của trẻ vào câu chuyện

8 Cấu trúc của đề tài

Luận văn gồm phần mở đâù, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị

Phần nội dung gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sáng tác truyện về chủ đề Nước

và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Chương 2: Sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trang 8

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SÁNG TÁC VÀ SỬ DỤNG TRUYỆN VỀ CHỦ ĐỀ NƯỚC VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN

CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể là:

 Cuốn “Tuyển tập thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non theo chủ đề”,

Nhà xuất bản Giáo dục, do Thúy Quỳnh và Phương Thảo tuyển chọn Các tác phẩm được tuyển chọn bao gồm những tác phẩm quen thuộc trong chương trình giáo dục mầm non, những tác phẩm có chất lượng cao từ những cuộc thi sáng tác thơ truyện cho trẻ và những tác phẩm được in trên sách báo, tạp chí dành cho trẻ

 Cuốn “Bé ơi xem này: Thời tiết và khí hậu”, Nhà xuất bản Giáo dục Nội

dung đơn giản, dễ hiểu và rất mới lạ, thể hiện nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, giúp trẻ có những kiến thức đầu tiên về thời tiết và khí hậu Sách vừa chơi, vừa học cho trẻ từ 4 tuổi trở lên

 Cuốn “Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề”

cho trẻ 5-6 tuổi, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, do Lê Thị Thu Hương chủ biên

 Cuốn “Tuyển chọn thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề Lễ hội

và bốn mùa”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, do Thúy Quỳnh và Phương Thảo

tuyển chọn

 Cuốn “Tuyển chọn thơ ca, truyện kể, câu đố cho trẻ mầm non chủ đề Nước

và các hiện tượng tự nhiên”, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, do Thúy Quỳnh và

Phương Thảo tuyển chọn

Tuy nhiên số lượng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên dành

cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi vẫn còn hạn chế Chính vì vậy, chúngtôi nghiên cứu đề tài

“Sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” nhằm đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hỗ trợ các giáo viên

mầm non trong công tác giáo dục trẻ 5-6 tuổi

Trang 9

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số vấn đề lí luận về tác phẩm văn học

a) Khái niệm tác phẩm văn học

Văn học cũng như nghệ thuật nói chung tồn tại thông qua tác phẩm Không thể nói đến nghệ thuật hội họa, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật sân khấu nếu như không

có những bức tranh, những bản nhạc, những vở diễn… Cũng vậy, không thể nói đến văn học nếu không có những bài thơ, những truyện ngắn, những tiểu thuyết…

Trong toàn bộ hoạt động văn học, tác phẩm văn học vừa là kết quả của hoạt động sáng tác của nhà văn, vừa là cơ sở và đối tượng hoạt động thưởng thức của người đọc Do đó xác định tác phẩm văn học là gì là một vấn đề quan trọng để hiểu sâu bản chất của văn học Hơn nữa, bản thân tác phẩm văn học là nơi biểu hiện tập trung mọi đặc trưng và bản chất của văn học, người ta không thể có được sự hiểu biết đúng đắn và sâu sắc về văn học nếu không tìm hiểu thấu đáo sản phẩm sáng tạo của nhà văn cũng như hoạt động thưởng thức của người đọc

Vì vậy, khái niệm tác phẩm văn học được hiểu như sau:

“Tác phẩm văn học là tế bào của đời sống văn học Nó không chỉ là kết quả

sáng tạo của nhà văn mà còn là đối tượng tiếp nhận của bạn đọc, đối tượng khảo sát của nghiên cứu văn học, đối tượng phân tích của giảng dạy văn học.”

Khác với tác phẩm khác, tác phẩm văn học, nghệ thuật có tính đặc thù Đó là tác phẩm sáng tạo tinh thần, vừa vật chất, vừa sáng tác của nghệ sĩ, nhưng đồng thời vừa có sự đồng sáng tạo của người hưởng thụ, tiếp nhận Thật vậy, văn học phản ánh đời sống bằng hình tượng nghệ thuật, nhưng hình tượng, do bản chất tinh thần,

tự nó không thể tồn tại được nếu không có yếu tố vật chất mang nó như ngôn ngữ, kết cấu, văn bản, quyển sách Các yếu tố này đã được xem xét từ lâu, nhưng một mặt, thường chỉ được xem như yếu tố tiêu cực, bề ngoài, không quan trọng; hai là chúng được hiểu một cách tĩnh tại, tách rời người đọc, do đó chưa hiểu được thực sự tồn tại của tác phẩm văn học Văn bản viết hay in một tác phẩm văn học, khi chưa

có người đọc, chưa thành tác phẩm, cũng như một bản kí âm của nhạc sĩ, chưa được biểu diễn với âm thanh, gia điệu của người hát, của nhạc khí thì chưa phải tác phẩm

Trang 10

âm nhạc Chính vì vậy cần phải nghiên cứu khái niệm tác phẩm văn học và đổi mới

Xét về phương diện tồn tại, ngôn ngữ là phương thức tồn tại của con người và của văn học, các thuộc tính của văn học về mặt thẩm mĩ, hư cấu, hình thức đều nhờ vào sự tổ chức ngôn từ mà có được Ngôn từ văn học khác với ngôn từ khoa học, là thứ ngôn từ phụ thuộc vào đối tượng mà nó miêu tả, cố gắng hết sức để khắc phục tính chủ quan, tính đa nghĩa, tính mơ hồ, đảm bảo tính đơn nghĩa Bởi vì ngôn ngữ nói chung là phương tiện truyền đạt tư tưởng và thông tin, nó rất hữu hạn, còn tư tưởng, nhận thức, thể nghiệm của con người thì vô hạn, vô hình Văn học miêu tả những đối tượng do chính nhà văn thể nghiệm, vì thế ngôn ngữ văn học buộc phải

sử dụng các phương thức biến đổi và mở rộng vô hạn các giới hạn nghĩa của ngôn

Trang 11

biểu hiện ở các phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa và các phương thức tổ chức văn bản

 Cốt truyện

Cốt truyện là chuỗi các sự kiện được tạo dựng trong tác phẩm tự sự và kịch, nằm dưới lớp lời trần thuật, làm nên cái sườn của tác phẩm Khái niệm cốt truyện nhằm tách truyện ra làm hai phần: Một phần là chuỗi sự kiện rất đặc trưng cho thể loại tự sự và kịch, và một phần khác quan trọng không kém đó là các yếu tố miêu tả, lời kể, lời bình Thiếu các yếu tố này thì cốt truyện không thể thành truyện

Cốt truyện thực hiện các chức năng rất quan trọng trong tác phẩm: một là, nó

gắn kết các sự kiện thành một chuỗi và tạo thành lịch sử của một nhân vật, thực hiện

việc khắc họa nhân vật; hai là, bộc lộ các xung đột, mâu thuẫn của con người (xã hội, tâm lí, đạo đức…), tái hiện bức tranh đời sống; ba là, tạo ra một ý nghĩa về nhân sinh có giá trị nhận thức; bốn là,gây hấp dẫn đối với người đọc, bởi người đọc

luôn quan tâm tới số phận nhân vật.Chính vì vậy, nắm bắt đúng chuỗi các sự kiện là bước khởi đầu để hiểu nhân vật, hiểu bức tranh đời sống, hiểu ý nghĩa của tác phẩm

và tìm thấy hứng thú khi đọc tác phẩm

Từ thời cổ đại đã hình thành quan niệm cốt truyện gồm 5 thành phần: 1 Trình

bày; 2 Thắt nút; 3 Phát triển; 4 Cao trào; 5 Mở nút Cấu trúc nêu trên xét về thực

chất là dựa theo một tuyến quan hệ nhân quả, tìm đến một kết cục nhằm trình bày quan niệm giá trị, mà kết cục là một phán đoán về đúng sai và giá trị

Ngoài các thành phần trên, cốt truyện có thêm phần “vĩ thanh” hay “đoạn kết”,

“hậu sử” bổ sung cho phần mở nút những sự việc xảy ra trong tương lai hay bình

luận về sự kiện đã xảy ra Trong Truyện Kiều đó là đoạn tổng kết của tác giả về số

phận con người trong cuộc đời và lời tâm sự của tác giả về câu chuyện mình vừa kể Các nhà lí luận hiện đại tách cốt truyện làm hai tuyến: tuyến nhân quả theo trình tự thời gian tự nhiên (biên niên) và tuyến trật tự kể trước sau theo dụng ý nghệ thuật, và xem tuyến trật tự kể trước sau có thể theo dõi được trong trần thuật mới có giá trị nghệ thuật

Trang 12

Trong thực tế, không phải cốt truyện nào cũng có đầy đủ các thành phần như trên và cũng không nhất thiết lúc nào cũng phải trình bày theo một thứ tự sau trước như vậy Có truyện không có mở đầu, có truyện không có đỉnh điểm và mở nút như

Sống mòn của Nam Cao Có truyện bắt đầu bằng kết thúc như Giamilia, hoặc vừa

bắt dầu vừa kết thúc cho đến hết như Vĩnh biệt Gunxary của Ch Aimatov Sự trình

bày như thế nào còn tùy thuộc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả thông qua kết cấu cốt truyện và kết cấu tác phẩm

Trong thực tiễn văn học hệ thống cốt truyện rất phong phú, đa dạng và có những đặc điểm riêng biệt Trong truyện kể dân gian, hệ thống cốt truyện đầy đủ các thành phần nhưng thường đơn tuyến theo sự phát triển của nhân vật chính Trong văn học hiện đại, cốt truyện biến hóa hơn, linh hoạt hơn, nhiều tuyến sự kiện hơn Nhưng ở nhiều tác phẩm người ta lại không chú ý lắm đến cốt truyện, mà chú ý nhiều hơn đến cách kể, vấn đề đặt ra trong truyện Tính chất phức tạp đó cho thấy không thể khảo sát cốt truyện như một hiện tượng “nhất thành bất biến”

 Kết cấu tác phẩm văn học

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo Để xây dựng nên chỉnh thể đó nhà văn phải suy nghĩ tổ chức các yếu tố trong tác phẩm sao cho có nghệ thuật nhất: cái gì tả trước, cái gì tả sau, chi tiết nào tô đậm, chi tiết nào chỉ chấm phá, sắp xếp các sự kiện, các chương hồi như thế nào v.v… Cách tổ chức này gọi là kết cấu tác phẩm

Kết cấu nghệ thuật của tác phẩm văn học là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật

Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Trên một mức độ lớn, có thể nói sáng tác tức là kết cấu Kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiêm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm

Văn bản trong quá trình tổ hợp không tuân thủ theo một quy tắc, trật tự nhất định Kết cấu là bản thân tổ chức của văn bản, không thể có văn bản vô kết cấu

Trang 13

Chức năng bao trùm của kết cấu là tổ chức cá yếu tố thành một chỉnh thể nghệ thuật Nói như vậy không có nghĩa là nhà văn sáng tạo ra các yếu tố trước rồi sau đó mới sắp xếp lại Kết cấu xuất hiện cùng lúc với sự miêu tả, sự trần thuật như có truyện thì có cách dựng truyện, có tứ thơ thì có cấu tứ, có nhân vật thì có cách xây dựng nhân vật…

Một kết cấu có giá trị không những làm cho tác phẩm trở thành chỉnh thể mà còn tăng cường tính nghệ thuật của tác phẩm, cũng như sẽ góp phần làm sâu sắc hơn

tư tưởng, tình cảm, nội dung được bộc lộ trong tác phẩm

Kết cấu nghệ thuật của tác phẩm xét trong các mối quan hệ chỉnh thể thường được đề cập đến trên hai bình diện là kết cấu văn bản (hay còn gọi là kết cấu trần thuật) và kết cấu hình tượng Cũng có khi người ta gọi là kết cấu bên ngoài và kết cấu bên trong

 Đề tài

Ðề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa và miêu tả, thể hiện tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm Có thể nói, đề tài là khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thân đời sống Người ta có thể xác định đề tài trên hai phương diện: bên ngoài và bên trong

Nói đến phương diện bên ngoài là nói đến sự liên hệ thuần túy đến phạm vi hiện thực mà tác phẩm phản ánh Ở đây, sự xác đinh đề tài thường dựa trên cơ sở các phạm trù lịch sử - xã hội Có thể nói đến đề tài chống Pháp, chống Mĩ, đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài công nhân, nông dân, bộ đội

Tuy nhiên, để tránh sự đồng nhất đề tài và đối tượng phản ánh và thấy được tính chất của phạm vi được phản ánh, cần phải đi vào phương diện bên trong của đề tài Ðó là cuộc sống nào, con người nào được thể hiện trong tác phẩm Nói cách khác, đó chính là tính chất của đề tài bên ngoài Trong trường hợp này, đề tài chính

là vấn đề được thể hiện trong tác phẩm và trong nhiều trường hợp nó trùng khít với

chủ đề Chẳng hạn, Sống mòn của Nam Cao viết về người trí thức tiểu tư sản nhưng

đó là người trí thức tiểu tư sản quẩn quanh, bế tắc, mòn mỏi Tiếng hát sông Hương

Trang 14

của Tố Hữu viết về người con gái giang hồ với cuộc sống đau đớn, tủi nhục và ước

mơ tốt đẹp của họ trong cuộc sống cũ

Nhiều tác phẩm văn học thường không chỉ có một mà nhiều đề tài Tác phẩm

Tắt đèn không chỉ miêu tả một gia đình chị Dậu Theo bước chân và quan hệ của

chị, đề tài tác phẩm được mở rộng: với Nghị Quế, lí trưởng, chánh tổng, tuần đinh, lính lệ, … Như vậy khi nói đến đề tài tác phẩm, ta không chỉ nói tới một đề tài, mà thực chất là một hệ thống đề tài liên quan nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm

Tóm lại, đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát thành những chủ đề và xây dựng những hình tượng, những tính cách điển hình Tuy nhiên, có những trường hợp đề tài, chủ đề hòa quyện với nhau không tách được, như một số tác phẩm ngụ ngôn, truyện đồng thoại, một số thơ trữ tình… Người tiếp nhận có thể đi thẳng từ đề tài bên ngoài vào chủ thể, tư tưởng của tác phẩm

 Chủ đề

Chủ đề là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài Nói cách khác, chủ đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêu lên trong tác phẩm mà nhà văn cho là quan trọng nhất Có thể nêu lên một số chủ đề của các tác phẩm:

Tắt đèn của Ngô Tất Tố tập trung phản ánh số phận bi thảm của người nông

dân do chế độ sưu thuế, sự bóc lột tàn khốc trong xã hội thực dân nửa phong kiến

Chí phèo của Nam Cao lại tập trung tô đậm vấn đề tha hóa, biến chất của một bộ

phận nông dân và ước mơ làm người lương thiện của họ Trong Truyện Kiều,

Nguyễn Du nêu bật lên số phận bi kịch của người phụ nữ, những ước mơ vươn tới

hạnh phúc, vấn đề đấu tranh để thực hiện tự do và công lí Qua Vợ nhặt, Kim Lân đã

phản ánh cuộc sống khốn khổ của nhân dân ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

và tình cảm hướng về cách mạng của họ đồng thời nêu lên một vấn đề có ý nghĩa nhân bản sâu sắc: Ðó là cái tình trong cuộc sống đời thường của những người lao

động trong một hoàn cảnh gần như hoàn toàn bế tắc Trong Mùa lạc, Nguyễn Khải

quan tâm đến sự thay đổi số phận của những con người đã từng chịu nhiều bất hạnh

Trang 15

trong xã hội cũ, nay đã tìm lại được niềm vui, hạnh phúc và chỗ đứng trong xã hội mới

Chủ đề luôn được xây dựng từ một đề tài nhất định Nói cách khác, chủ đề không phải là một cái gì bên trên, bên ngoài đề tài mà xuất phát từ ý đồ, từ những gợi ý của những hiện tượng cuộc sống cụ thể thông qua cái nhìn, quan niệm của nhà văn Chủ đề thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa hiện thực khách quan và tư tưởng chủ quan của nhà văn Vì vậy, cùng viết về một đề tài gần gũi, nhà văn vẫn nêu lên được những vấn đề sâu sắc khác nhau tùy thuộc vào tài năng, khả năng thâm nhập đời sống và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn

Chủ đề gắn bó với đề tài nhưng nhiều khi nó vượt qua những giới hạn của những đề tài cụ thể mà nêu lên những vấn đề khái quát, rộng lớn hơn Không nên nghĩ rằng viết về đề tài nông dân, công nhân, trí thức thì chủ đề cũng sẽ bị hạn định với những tầng lớp cụ thể, xác định đó Những tác phẩm văn học lớn, bên cạnh việc phản ánh những nội dung lịch sử xã hội cụ thể, bao giờ cũng từ đó, nêu lên những vấn đề chung có ý nghĩa khái quát về thân phận, nỗi đau, hạnh phúc của con người Vì vậy, không nên hạn chế ý nghĩa của chủ đề trong phạm vi đề tài xác định Trong một tác phẩm, thường không phải chỉ có một chủ đề duy nhất mà có nhiều chủ đề gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống chủ đề (Pospelôp gọi là hệ vấn đề) Trong hệ thống chủ đề, có thể nổi lên vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm, quán xuyến toàn bộ tác phẩm Ðó là chủ đề chính Bên cạnh đó, có những chủ đề có ý nghĩa bộ phận, góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ đề chính, được gọi là chủ đề phụ Trong một tác phẩm, các chủ đề không có giá trị ngang nhau nên việc xác định đúng đắn chủ đề chính, chủ đề phụ sẽ góp phần quan trọng trong việc

lí giải ý nghĩa của tác phẩm

Chủ đề và nhất là đề tài chủ yếu là phương diện cơ bản có tính khách quan của nội dung tác phẩm Nó cho thấy tác phẩm nói tới cái gì, nêu vấn đề gì của hiện thực đời sống Gọi là “khách quan”, bởi vì tuy chúng cũng do tác giả xác định, nhưng lại

có cội nguồn hiện thực Sức sống của tác phẩm trước hết là ở chủ đề chân thật, có tầm quan trọng của nó Không nêu được chủ đề có ý nghĩa khách quan, hoặc nêu

Trang 16

những vấn đề giả tạo, xuyên tạc hiện thực đều làm cho tác phẩm bị rơi vào quên lãng

 Tư tưởng của tác phẩm văn học

Người ta thường hiểu tư tưởng là một phán đoán khái quát về hiện thực Trong phán đoán đó bao giờ cũng chứa đựng một quan hệ có tính quy luật giữa các hiện tượng, sự vật của đời sống Chẳng hạn nếu nói “con người” thì tuy khái niệm đó cũng khái quát, nhưng chưa bao hàm tư tưởng Nhưng nếu nói: “Người với người là bạn”, “Người ta là hoa đất”, “Con người hai tiếng tự hào”, … thì đó là những tư tưởng Tư tưởng chẳng những bao giờ cũng nói lên một quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, mà còn biểu thị một thái độ, một nhiệt tình khẳng định, phủ định, một ý muốn Lênin nói: “Tư tưởng – đó là nhận thức và khát vọng (mong muốn) (của con người)” Tư tưởng đó dĩ nhiên gắn liền với một thế giới quan, một lập trường xã hội nhất định

Tư tưởng trong tác phẩm văn học cũng gồm hai mặt đó nhưng trước hết là một

tư tưởng thẩm mỹ Nó không trừu tượng mà biểu hiện qua hình tượng nghệ thuật

Tư tưởng thẩm mỹ không tách rời khỏi đề tài và chủ đề, nhưng biểu hiện tập trung ở hai phương diện lí giải chủ đề (nhận thức, quan niệm) và cảm hứng tư tưởng (khát vọng, mong muốn).[7, tr 199 - 200]

- Sự lí giải chủ đề: Chủ đề và sự lí giải chủ đề có liên quan với nhau nhưng

không phải là một Nếu chủ đề chú ý đến vấn đề đặt ra trong tác phẩm xuất phát từ hiện thực thì sự lí giải chủ đề lại quan tâm đến sự giải thích, cắt nghĩa, nhận thức của nhà văn về những vấn đề đặt ra trong tác phẩm dựa trên một quan điểm nhất định nào đó Ðây là phương diện rất cơ bản trong nội dung tư tưởng của tác phẩm

Sự lí giải chủ đề có thể được biểu hiện trong tất cả những yếu tố của tác phẩm nhưng nhìn chung thường được xem xét trên 2 mặt: những lời thuyết minh trực tiếp của tác giả, của nhân vật và tính khách quan của hình tượng nghệ thuật, lôigic của

sự mô tả

- Cảm hứng tư tưởng: Cảm hứng của nhà văn và cảm hứng tư tưởng của tác

phẩm quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một Cảm hứng tư tưởng là

Trang 17

tình cảm mãnh liệt, một ham muốn tích cực, là tư tưởng của nhà văn được thể hiện

cụ thể, sinh động trong hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Ví dụ Tràng giang của

Huy Cận là một nỗi buồn mênh mông, vô tận trước cảnh trời rộng, sông dài, là sự nhỏ bé, cô đơn của con người trước cái vô cùng của thiên nhiên, vũ trụ Cảm hứng của tác phẩm chủ yếu được thể hiện thông qua hình tượng nghệ thuật, tính cách và

sự miêu tả chứ không phải là cái "loa" phát ngôn cho tư tưởng của tác giả

- Tình điệu thẩm mĩ: tình điệu thẩm mĩ là hệ thống những giá trị được khái

quát và thể hiện trong tác phẩm Mọi tác phẩm văn học trong khi phản ánh hiện thực đều tái hiện những lớp hiện tượng đời sống giá trị thẩm mĩ nhất định, độc đáo và không lặp lại Chính điều này làm cho tư tưởng của tác phẩm khác với tư tưởng trong các lĩnh vực khác Tình điệu thẩm mĩ là toàn bộ không khí, mùi vị, cảm giác, hơi thở, nhịp điệu bao trùm lên tác phẩm.Vì vậy cũng thật khó để chỉ rõ và phân biệt

rạch ròi tình điệu thẩm mĩ và các yếu tố khác trong tác phẩm

 Ý nghĩa và giá trị của tác phẩm văn học

Nói đến ý nghĩa và giá trị của tác phẩm văn học là nói đến sự đánh giá, thẩm định các phương diện thuộc về nội dung tư tưởng tình cảm, nội dung nhận thức, nghệ thuật, sự chân thành của tình cảm được thể hiện trong tác phẩm Vấn đề đặt

ra là những ý nghĩa và giá trị đó do đâu mà có? Bởi vì có một thực tế là trước cùng một tác phẩm, người đọc nói chung và giới phê bình, nghiên cứu nói riêng có thể có những cảm nhận và đánh giá không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau Tại sao

có tác phẩm chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi so với cuộc đời của tác giả nhưng cũng có những tác phẩm tồn tại mãi mãi với thời gian? Trả lời những câu hỏi này một cách đầy đủ và đúng đắn đòi hỏi người nghiên cứu không chỉ hiểu được đặc trưng của lí luận sáng tác mà còn phải chú ý đến lí luận tiếp nhận, lí luận về cảm thụ văn học

Một tác phẩm văn học thường mang những nghĩa khác nhau không giới hạn trong một ý nghĩa nhất định nào đó như đáp số một bài toán Tính đa nghĩa của tác phẩm bắt nguồn từ đặc trưng của nội dung hình tượng, từ khả năng tiềm tàng của nội dung tác phẩm Bản thân cái hiện thực được tái hiện thông qua tác phẩm đã trở

Trang 18

thành một chỉnh thể có ý nghĩa nội tại của nó Tự nó có thể hàm chứa nhiều ý nghĩa khác nhau, thậm chí cả những ý nghĩa khách quan được toát ra từ hình tượng mà nhà văn không ngờ tới Tiếp xúc tác phẩm, người đọc lại cấu tạo lại nó theo một cái nghĩa mà mình xác định trên cơ sở những tín hiệu hình tượng mà tác phẩm thể hiện Theo đó, người đọc có thể phát hiện, cắt nghĩa đầy đủ các lớp ý nghĩa của tác phẩm Tuy tác phẩm văn học đa nghĩa, nhưng là sự đa nghĩa trong giới hạn của hình tượng, trong giới hạn của nội dung và hình thức tác phẩm, chứ không phải có thể gán ghép cho nó bao nhiêu nghĩa cũng được

Có đứng trên phương diện ý nghĩa của tác phẩm mới thấy giá trị của các yếu tố khác trong tác phẩm Một lời văn tài nghệ, một cốt truyện hấp dẫn, một kết cấu độc đáo, một hệ thống các nhân vật đặc sắc sẽ chẳng là gì cả nếu không nhằm nêu lên một ý nghĩa nào đó Và chính các yếu tố đó tạo nên sự sâu sắc của ý nghĩa tác phẩm Đọc tác phẩm, tiếp nhận tác phẩm là phải vượt qua ngôn từ, hình tượng, tổ chức tác phẩm để nắm được ý nghĩa mà tác phẩm thể hiện Cắt nghĩa, đồng cảm, cảm nhận tác phẩm qua ý nghĩa của nó là con đường tiếp cận tác phẩm ở cấp độ chỉnh thể

1.2.2 Một số vấn đề lí luận về truyện dành cho trẻ mầm non

a) Khái niệm truyện

Thuật ngữ “truyện” có nhiều nghĩa Với nguồn gốc chữ Hán, truyện ban đầu có

nghĩa là giải thích kinh nghĩa Ví dụ Xuân Thu Tả truyện (ông họ Tả giải thích Kinh

Xuân Thu) Nghĩa thứ hai là bài văn xuôi ghi chép một sự tích nào đó Đây là thể loại của sử học Mở rộng ra, trong tiếng Việt thuật ngữ “truyện” chỉ tác phẩm văn học là một bản kể có miêu tả nhân vật, diễn biến sự kiện thú vị, như truyện cổ tích, truyện thần thoại, truyện cười, truyện truyền kì, truyện Nôm, truyện thơ, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, truyện rất ngắn (mini)…

Có thể hiểu thuật ngữ “truyện” như sau:

Trong cấp độ nhỏ nhất truyện là sự thuật lại, kể lại một sự kiện, một tình tiết nào đó từ phát sinh cho đến kết thúc Như vậy, mỗi tình tiết (sự kiện) có thể xem là một truyện Trong cấp độ lớn hơn truyện là sự liên kết các tình tiết lại Tùy theo dung lượng mà có mẫu chuyện, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài v.v… [2, tr 53]

Trang 19

Trong những tác phẩm tự sự và kịch có dung lượng lớn có thể có nhiều truyện

Mỗi nhân vật cũng có truyện của nó Trong Những linh hồn chết của N.V Gogol

chẳng hạn có truyện của Sisikov, có truyện của Manilov mà cũng có truyện của

Xabakeevis v.v… Trong Số đỏ có truyện của Xuân Tóc Đỏ mà cũng có truyện của

Phó Đoan, Tuyết, Typn, Văn Minh, Cố Hồng, có truyện một anh nhặt ban bỗng trở thành ông nọ, ông kia, lại có truyện một bà góa lẳng lơ, một gia đình lố lăng v.v… Truyện chủ yếu chỉ tồn tại trong tác phẩm tự sự và kịch Các tác phẩm trữ tình thường là không có truyện Nếu có thường chỉ ở dạng đơn giản, chấm phá một đôi nét, làm duyên cớ để bộc lộ cảm xúc, bộc lộ suy tư là chính chứ không nhằm kể

chuyện Chẳng hạn trong Núi đôi của Vũ Cao, Chùa Hương của Nguyễn Nhược

Pháp thì câu chuyện chỉ là cái khung để thể hiện cảm xúc, tác giả không đi vào kể chuyện như các tác phẩm tự sự

Tác phẩm văn học có rất nhiều thể loại như: tiểu thuyết, bút kí, kịch, truyện ngắn… Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu

thể loại truyện ngắn

b) Khái niệm truyện ngắn

Nhà văn, nhà phê bình văn học Steven Millhauser định nghĩa truyện ngắn như sau (trích):

“Truyện ngắn không phải là một truyện dài được rút ngắn lại Có nhiều người tìm cách định nghĩa truyện ngắn, nhưng chúng tôi nghĩ công việc đó cũng khó như

là khi ta tìm cách định nghĩa thơ…” Từ W Gớt thế kỷ XVII cho đến Sêkhốp, từ Lỗ Tấn đến Moopatxăng, từ Antônốp thế kỷ XIX – XX, đến Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên họ đã đưa ra những cách phân biệt khác nhau Các khái niệm thường xoáy vào bình diện chính như: dung lượng, cốt truyện, nhân vật, chi tiết, ngôn ngữ để khái quát thành đặc trưng Người cho truyện ngắn là một

“khoảnh khắc”, một “trường hợp”, người nhấn mạnh vào nhân vật, vào tính xúc tích

của chi tiết, cô đúc của ngôn từ.[7, tr 315]

Theo Tiến sĩ Chu Văn Sơn, việc phân định truyện ngắn có thể dựa vào hai tiêu chí chính là dung lượng và thi pháp Giữa hai tiêu chí, “dung lượng” là cần nhưng

Trang 20

phụ và thứ yếu, còn “thi pháp” mới là đủ, là chính, là chủ yếu Về dung lượng, truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, chủ yếu được viết bằng văn xuôi Nghĩa là ngắn, thậm chí cực ngắn, nhân vật không nhiều Về thi pháp, ngoài những yếu tố như cốt truyện, lối trần thuật, ngôn ngữ… thì tình huống truyện được xem là hạt nhân của thể loại truyện ngắn

Theo các sách giáo khoa chính thống hiện nay, truyện ngắn được định nghĩa là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn)

Như vậy, có thể hiểu: Truyện ngắn là một tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung

thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó

c) Đặc trưng của truyện ngắn

Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung hơn Phạm

vi đời sống mà truyện ngắn đề cập có thể là một khoảnh khắc của đời sống như Tô Hoài nhận xét “ Truyện ngắn là cưa lấy một khúc của đời sống” hay như Bùi Hiển khái quát “Truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người mà dựng nên” Nhưng cũng có nhiều truyện ngắn không chỉ miêu tả một khoảnh khắc

mà miêu tả cả một đời người như Chí Phèo của Nam Cao, Nhà mẹ Lê của Thạch Lam, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng… Như vậy truyện ngắn có thể miêu

tả một “mô măng” mà cũng có thể miêu tả cả một cuộc đời, có thể miêu tả một cái

“chốc lát” cũng như miêu tả một quá trình”… Cho nên nếu chỉ xem cái “khoảnh

khắc” như một đặc trưng riêng biệt của truyện ngắn là chưa đầy đủ

Truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học Truyện ngắn chủ yếu phát triển trong khoảng 150 năm gần đây Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại Georg Lucacs gọi truyện ngắn là

“nghệ thuật thuần túy nhất”, bởi nó là một sự cấu tạo đặc biệt, khuôn khổ ngắn

Trang 21

nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực

ra nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời

Ở nhiều nước trên thế giới, truyện ngắn gắn liền với báo chí: khuôn khổ báo chí không cho phép dài Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó

“ngắn”, mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại E Po gọi truyện ngắn là “một giọt nước” Chekhov gọi truyện ngắn như tấm lưới, phải cắt bỏ rất nhiều Nhiều người gọi truyện ngắn là tảng băng trôi, là bức ảnh chụp nhanh, một bằng chứng hình sự, một viên sỏi Nhà văn Nam Phi Nating Gordim gọi truyện ngắn là “con đom đóm trong đêm tối” Nhưng truyện ngắn không phải là tiểu thuyết ngắn mà là một thể loại khác hẳn Tác giả truyện ngắn thường hướng khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người, tạo thành một ấn tượng hoàn chỉnh Chính vì vậy trong tuyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn và nhiều mặt tương quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Do đó truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè…, những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ

Nghiên cứu các truyện ngắn xuất sắc của L Tolstoi, Gorki, Chekhov, Sholokhov, Paustovski hoặc các truyện ngắn của Daudet, Merimee, Maupassant,

Trang 22

O’Henri, Jack London, các truyện ngắn của Lỗ Tấn, hoặc các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám hay như truyện ngắn của Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… đều thấy các đặc điểm đó Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, có thể là nổi bật, hấp dẫn nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì đó Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường là một sự tương phản, liên tưởng Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Ngày nay còn có loại truyện ngắn rất hay truyện ngắn mini rất được ưa chuộng

d) Yêu cầu đối với truyện dành cho trẻ mầm non

Ở trường mầm non, việc sử dụng văn học như một phương tiện giáo dục trẻ đang được tích cực hóa trong các hoạt động Nhưng do đối tượng phục vụ chủ yếu

là trẻ em – giàu xúc cảm, tình cảm; trí tưởng tượng phong phú, bay bổng; tư duy hình tượng cho nên những tác phẩm truyện sáng tác cho trẻ mầm non phải đảm bảo các yêu cầu sau:

 Trước hết là tính giáo dục Tính giáo dục được coi là một trong những yêu

cầu quan trọng đối với những tác phẩm truyện dành cho trẻ mầm non Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ, cả về đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ Nhà văn Tô Hoài, người có nhiều kinh nghiệm trong sáng tác cho các em đã khẳng định tầm quan trọng của yêu cầu này: “Nội dung một tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người Nói thì thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của

Trang 23

bạn đọc ấy” Hay Võ Quảng, người đã để tâm sức cả đời sáng tác cho các em, cũng quan niệm: “Văn học cho thiếu nhi còn đặt ra vấn đề chính yếu thứ hai, đó là vấn đề giáo dục: giáo dục cái hay, cái đẹp cho thiếu nhi Người viết cho thiếu nhi là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp Quan điểm sư phạm và văn học thiếu nhi là hai anhem sinh đôi” Để đảm bảo yêu cầu này, tác phẩm phải thực sự là người bạn đồng hành, người đối thoại với trẻ Nhà văn không thể nói với trẻ bằng những lời thuyết giáo khô khan mà phải bằng những hình tượng nghệ thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng để khơi gợi, dẫn dắt trẻ tìm hiểu và khám phá thế giới Trẻ phải biết phân biệt cái hay, cái dở; cái cao quý, cái thấp hèn trong cuộc sống Những tác phẩm truyện phải mang lại cho trẻ thơ cái đẹp, cái cao quý, cái chân, thiện Tuy nhiên cũng không nên cực đoan yêu cầu giáo dục của truyện Không nên nghĩ rằng sau khi đọc một tác phẩm truyện là ngay lập tức trẻ có thể trở người tốt hay người xấu Những ảnh hưởng của văn học tới trẻ là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó tác động một cách từ từ nhưng giá trị nhân văn của

nó có thể tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và phát triển nhân

cách của con người

 Nếu tính giáo dục là yêu cầu mang tính chất sống còn thì khả năng khơi gợi,

kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ cũng là một yêu cầu không thể thiếu của

những tác phẩm truyện viết cho trẻ Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trong sáng, dạt dào cảm xúc và trí tưởng tượng thì tuyệt vời, phong phú, bay bổng Trẻ cảm nhận thế giới bằng cái nhìn “vật ngã đồng nhất”, bầu bạn với hết thảy vạn vật xung quanh Có thể nói, khả năng tưởng tượng của các em là vô tận Chính vì vậy

mà tưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm truyện viết cho trẻ Muốn vậy, tác giả và trẻ phải thực sự hòa nhập với cuộc sống của trẻ thơ, hiểu

và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻ thơ trong sáng tác Ví dụ: truyện Cây bút và thước kẻ, Lợn con sạch lắm rồi

Những tác phẩm truyện viết cho trẻ em lứa tuổi mầm non, do đối tượng phục

vụ chủ yếu là những “bạn đọc” còn chưa biết đọc, biết viết, nên ngoài những tiêu chí chung của văn học thiếu nhi, nó còn có những yêu cầu về đặc điểm được nhấn

Trang 24

mạnh sao cho phù hợp với tâm, sinh lí đặc thù của lứa tuổi này Có thể kể ra một số yêu cầu cơ bản sau đây:

 Sự hồn nhiên, ngây thơ

Hồn nhiên và ngây thơ vốn là bản tính của trẻ thơ, vì thế yêu cầu đầu tiên của các tác phẩm văn học viết cho trẻ cũng chính là sự hồn nhiên, ngây thơ Những sáng tác của trẻ thực sự thu hút người đọc cũng chính bởi sự hồn nhiên, ngây thơ, trong trẻo của các em

Người lớn muốn viết cho trẻ phải học được sự hồn nhiên, ngây thơ ấy thì tác phẩm mới đem lại sự thành công Tất nhiên không phải sự hồn nhiên theo kiểu “cưa sừng làm nghé”, kiểu cố tình làm ra vẻ ngây thơ mà phải thật sự hiểu để có thể hóa thân sống cùng trẻ

Ví dụ: Câu truyện Con vật rơi xuống hố nước, Cháu ngoan của bà, Gà tơ đi học…

 Ngắn gọn và rõ ràng

Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng của tác phẩm mà còn thể hiện trong cả câu văn, câu thơ Văn xuôi thường thể hiện bằng câu đơn, ngắn, ít khi dùng câu phức hợp Nhan đề của tác phẩm bao giờ cũng cụ thể, thường đúc kết ngay ý nghĩa giáo dục, có khi là tên nhân vật chính hoặc một câu hỏi mang tính định hướng Ví dụ: Hồ nước và mây, Cô mây, Nàng tiên mưa, Ai đáng khen nhiều hơn, Gấu con bị sâu răng… Truyện thường có kết cấu theo kiểu đối lập, tương phản rất

rõ ràng, giúp trẻ dễ nắm bắt được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện và có thể kể lại một cách dễ dàng Ví dụ: Dê đen dê trắng, Ba cô gái, Bác Gấu đen và hai chú thỏ…

Sự rõ ràng của những tác phẩm truyện viết cho trẻ lứa tuổi mầm non còn được thể hiện ở ý nghĩa của từ vựng Từ ngữ thường mang nghĩa đen, với lối miêu tả cụ thể, dễ hiểu

Ví dụ một đoạn trong câu chuyện Giọt nước Tí Xíu: “Tí Xíu nhập bọn với các

bạn Lúc đầu chúng bay xuống mặt biển, rồi chúng hợp thành một đám mây mỏng rời mặt biển bay vào đất liền Gió nhẹ nhàng đưa Tí Xíu lướt qua những dòng sông

Trang 25

lấp lánh sáng như bạc Xế chiều, ông mặt trời tỏa những tia sáng chói chang hơn lúc sáng…”

Với cách miêu tả trực tiếp như vậy, trẻ có thể dễ dàng hình dung ra và hiểu rõ các sự vật, hiện tượng được thể hiện trong tác phẩm

Bên cạnh đó, truyện thường có kết cấu đối lập tương phản với hai loại nhân vật thiện – ác, tốt – xấu (kiểu kết cấu của cổ tích) phù hợp với lối tư duy cụ thể của trẻ, giúp trẻ dễ nắm được cốt truyện, dễ hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện và có thể

kể lại một cách dễ dàng

 Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng và dễ hiểu

Đặc biệt là có nhiều từ tượng hình, tượng thanh, nhiều động từ, tính từ miêu tả, tính từ chỉ màu sắc… tạo nên sắc thái vui tươi, vừa khêu gợi, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ, vừa tác động mạnh đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của trẻ

Ví dụ: truyện Cây bút và thước kẻ, Dê đen và dê trắng, Mèo con tham ăn…

 Yếu tố thơ trong truyện

Yếu tố thơ trong truyện như một chất xúc tác làm cho câu chuyện có thêm sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ Mỗi câu chuyện viết cho trẻ mầm non là những bài học nhẹ nhàng và sâu sắc Chất thơ của truyện sẽ làm cho những bài học ấy không bị khô khan, cứng nhắc Những câu truyện như Giọng hát chim Sơn Ca, Hoa Mào gà, Giọt nước Tí Xíu, Chú Đỗ con, Bồ Nông có hiếu, Cây gạo… chẳng khác gì những bài thơ bằng văn xuôi, những bài thơ ca ngợi cuộc sống, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và ca ngợi những tình cảm sâu đẹp của con người Cùng với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể sẽ còn theo trẻ mãi trong suốt cuộc đời

 Ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng

Một trong những chức năng cơ bản của văn học là chức năng giáo dục Là loại hình nghệ thuật ngôn từ, văn học có khả năng tác động mạnh mẽ đến tâm hồn và nhận thức của con người nhất là đối với lứa tuổi mầm non Tuy nhiên, lứa tuổi này chỉ có thể “đọc” tác phẩm văn học một cách gián tiếp, tư duy logic lại chưa phát triển nên hầu như chưa có khả năng suy luận, phán đoán Chính vì thế, mỗi một câu

Trang 26

chuyện viết cho trẻ mầm non phải đem đến cho trẻ một ý nghĩa giáo dục cụ thể, rõ ràng

Ví dụ: truyện Bí con thoát nạn; Cáo, mèo con và đàn gà, Gấu con bị sâu răng, Lợn con sạch lắm rồi, Rùa và thỏ…

1.2.3 Sáng tác truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên

a) Khái niệm sáng tác

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tác là viết ra, làm ra, tạo dựng nên tác phẩm

văn học, nghệ thuật” như: sáng tác thơ, nhạc, kịch bản phim”

b) Yêu cầu đối với nhà văn

Qua sáng tác nhà văn như hé mở cánh cửa tâm hồn riêng của mình cho người đọc, tuy nhiên nhà văn phải hội tụ các năng lực sáng tác sau:

- Năng lực tình cảm:

Năng lực tình cảm được ý thức, được nảy sinh từ những tư tưởng lớn góp phần làm nên nội dung tác phẩm, giúp nhà văn bộc lộ cảm xúc, thái độ và sự đánh giá của mình theo một thiên hướng tình cảm xã hội và lý tưởng thẩm mỹ nhất định

Trang 27

- Năng lực trực giác

Là một năng lực nhận thức lý tính bằng trực cảm, một sự nhận thức tức khắc

không trải qua phân tích, suy lý, là sự tích luỹ dồn nén đến lúc thăng hoa

- Trí tưởng tưởng tượng

Giúp nhà văn thâm nhập vào nhân vật, vào các tình huống (tham dự vào cuộc đời nhân vật một cách sống động, chịu đựng các xúc động tinh thần như chính nhân vật để có thể miêu tả những suy nghĩ, tình cảm và cách ứng xử của nhân vật trong từng điều kiện cụ thể) Đưa đến những phán đoán bằng hình tượng mang tính chất độc đáo, bất ngờ, không lập lại Thường thắm đượm tình cảm chủ quan của nghệ sĩ

Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao cũng có một nguyên mẫu ở làng Đại Hoàng, quê hương nhà văn, nhưng số phận mờ nhạt Nhà văn đã thêm vào mối tình với Thị

Nở và cái kết thúc dữ dội gây ấn tượng mạnh mẽ

- Năng lực biểu hiện: Là năng lực viết ra tác phẩm

Trước hết là năng lực cấu tứ (tổ chức bố cục, xây dựng hình tượng nghệ thuật thành một chỉnh thể có ý nghĩa khái quát: bao gồm nội dung nào và hình thức gì) Thứ hai là năng lực khắc hoạ, miêu tả hình tượng nhân vật, đòi hỏi nhà văn phải có năng lực tạo hình Đây là lúc nhà văn huy động vốn sống, kí ức về các hiện tượng đời sống, các biểu tượng, quan niệm để xây dựng hình tượng Ở đây đòi hỏi năng lực lựa chọn chi tiết, tổ chức kết cấu, lựa chọn góc độ, giọng điệu, từ ngữ, màu sắc để tạo ra bức tranh văn học Đó là một năng lực tổng hợp

Thứ ba là năng lực biểu hiện hình thức đẹp, đòi hỏi nhà văn phải thành thạo thể loại văn học, năng lực sử dụng ngôn ngữ… Năng lực biểu hiện (kỹ thuật viết văn) luôn luôn phải được rèn luyện

Trang 28

Bên cạnh đó, nhà văn cần phải có cá tính sáng tạo, tức là:

+ Tạo nên được cái riêng trong nghệ thuật Có cái nhìn riêng, giọng điệu riêng, thái độ riêng, tức là con đường riêng để thâm nhập vào các chiều sâu hiện thực

+ Tạo ra phong cách văn học cá nhân

+ Là dấu hiệu chứng tỏ nhà văn đã trưởng thành và được thừa nhận

+ Gắn liền với cá tính nhà văn nhưng không đồng nhất với nó (bởi cá tính

sáng tạo là cá tính trong lĩnh vực sáng tạo)

c) Quy trình sáng tác truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên

Quá trình sáng tác của nhà văn qua nhiều khâu, nhiều đoạn và mỗi người có một cách riêng Tố Hữu nói: Mỗi người có một cách làm của mình, không ai

giống ai Ông cũng đã nhận xét: “Trong sáng tạo, mỗi người có một phương pháp,

có một lối (…) cùng một tư tưởng, một lí tưởng nhưng mỗi người một tính, một lối viết, một lối cảm nghĩ…”

Tuy vậy, vẫn có thể phân ra những giai đoạn tiêu biểu của quá trình sáng tác Theo Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ - Nhà văn Văn Giá quy trình và cách viết truyện nói chung như sau:

Bước 1: Phát hiện và xây dựng tình huống

Bước 2: Tổ chức điểm nhìn và ngôi kể

Bước 3: Lựa chọn bút pháp và giọng điệu

Bước 4: Tổ chức kết cấu và chi tiết nghệ thuật

Bước 5: Xây dựng nhân vật

Bước 6: Ngôn từ nghệ thuật

Bước 7: Tạo dựng không khí truyện [3, tr.81]

Từ đó, chúng tôi xây dựng quá trình sáng tác truyện về chủ đề Nước và các

hiện tượng tự nhiên gồm 5 bước như sau:

Bước 1: Hình thành ý đồ sáng tác

Trang 29

Như mọi hoạt động sáng tạo khác của con người, trước khi hành động, con người đã chuẩn bị ý định trong óc mình Công việc viết một tác phẩm nào đó chỉ thực sự bắt đầu khi có ý định nảy sinh

Cụ thể là xác định đề tài tức là xác định hiện tượng tự nhiên sẽ sáng tác là gì, hiện tượng nào trẻ hay thắc mắc nhưng chưa có tác phẩm truyện nào giúp trẻ lí giải;xác định đối tượng tiếp nhận (ở đây là trẻ 5 -6 tuổi) Đây được coi là bước đầu tiên của việc bắt đầu sáng tác truyện Nói như vậy nghĩa là trước đó bạn đã phải chuẩn bị một vốn kiến thức, những hiểu biết, những mối quan tâm hoặc sở thích của trẻ Bước này rất quan trọng, nó định hướng cho câu chuyện mà bạn sắp sáng tác

Bước 2: Chuẩn bị sáng tác

Chuẩn bị sáng tác là giai đoạn cần thiết và tất yếu Chuẩn bị càng kĩ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Thu nhập tài liệu là công việc đầu tiên của chuẩn bị sáng tác Không có tài liệu, không thể xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật Tài liệu càng đầy đủ, phong phú là tiền đề quan trọng cho hư cấu nghệ thuật Thu tập tài liệu là một quá trình lao động đầy gian lao, công phu và tỉ mỉ vì tài liệu đối với nhà văn không phải chỉ có một nguồn, một phương diện mà rất nhiều nguồn, nhiều phương diện Tác phẩm càng lớn thì tài liệu càng nhiều, càng phong phú và phức tạp

Đối với việc sáng tác truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên, khi

đã xác định được hiện tượng tự nhiên sẽ sáng tác, việc tiếp theo là tìm hiểu những kiến thức liên quan đến hiện tượng đó và cách giải thích hiện tượng theo khoa học Việc chuẩn bị này càng chu đáo, cẩn thận, chi tiết và đầy đủ bao nhiêu thì tỷ lệ thành công của công việc càng cao, mức độ thành công của công việc càng lớn Đối với việc viết văn, công việc chuẩn bị phải khá lâu dài và công phu

Bước 3: Xây dựng kết cấu tác phẩm

Ðây là giai đoạn xử lí tài liệu, hệ thống hóa những điều đã quan sát được, thu thập được và tổ chức chúng lại theo một chỉnh thể

Trong giai đoạn này, toàn bộ cấu trúc của hình tượng được tạo lập, tính chất quan trọng việc triển khai cốt truyện được xác định, tính cách nhân vật được suy tính kĩ càng Vì đối tượng tiếp nhận là trẻ 5 -6 tuổi nên cốt truyện phải phù hợp khả

Trang 30

năng nhận thức của trẻ, tính cách nhân vật phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ

Xây dựng bố cục là cả một nỗi thống khổ Nhưng khi đã có bố cục rồi thì công việc sẽ vô cùng thuận lợi Nhưng bố cục không phải cứng nhắt buộc phải tuân theo

Nó có thể biến đổi và phát triển trong suốt quá trình sáng tác Bố cục là kế hoạch sáng tác Nó quan trọng nhưng không có ý nghĩa quyết định mà chỉ có tính chất hỗ trợ

Gorky nhận xét: Bố cục tự nó được xây dựng trong quá trình làm việc, bản

thân các nhân vật xây dựng nó

Bước 4: Viết

Ðây là giai đoạn căng thẳng của quá trình sáng tác Nhà văn phải vật lộn với từng câu, từng chữ, từng chi tiết, từng nhân vật, phải tìm ra những từ ngữ, những phương tiện phù hợp với tư tưởng tình cảm của trẻ và phù hợp với hiện tượng tự nhiên mà mình đang nói đến để tránh lặp đi lặp lại một số từ khiến câu văn trở nên khô khan, nhàm chán Đồng thời, từ ngữ phải giàu tính hình tượng để kích thích trí tưởng tượng của trẻ, làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, kịch tính hơn giúp trẻ dễ dàng hình dung được diễn biến của câu chuyện cũng như hiểu được cách lí giải hiện tượng tự nhiên lồng ghép trong câu chuyện

Bước 5: Sửa chữa

Đây là bước rất cần thiết vì thực tế rất hiếm tác phẩm được viết một lần, nghĩa

là ra đời mà không sữa chữa Đây là dịp để nhà văn nhìn lại “đứa con tinh thần” của mình một cách bao quát xem xét lại các yếu tố để bổ sung, gạt bỏ những chi tiết thừa làm cho tác phẩm hoàn thiện hơn

Ðể hoàn thành tác phẩm, ngoài sửa chữa ra, có thể có trường hợp làm lại Làm lại không coi là sửa chữa vì ở đây đã thay đổi ý đồ, thay đổi cơ bản về tổ chức tác phẩm

d) Những yêu cầu khi viết truyện

- Bài văn thể hiện được đúng và đủ mục đích, ý đồ của người viết

Trang 31

- Không có những lỗi cơ bản như: Sai chính tả, sử dụng từ sai nghĩa, sai ngữ pháp

- Bài viết đáp ứng được yêu cầu của người đọc: Ngắn gọn, đầy đủ, rõ ràng mạch lạc Đối với những văn bản mang tính chứng minh, trình bày, biện luận, giải thích… nó cần phải được chứng minh để thuyết phục người đọc Tuỳ theo lãnh vực

mà văn bản đề cập, các chứng minh phải dựa trên (một, vài hay tất cả) lý luận Triết học, Khoa Học, Thực tiễn

- Về mặt hình thức, bài viết phải đáp ứng nhu cầu cảm xúc thẩm mỹ của người đọc, điều đó có nghĩa: lối hành văn, ngôn từ, văn phong… phải phù hợp với thể loại của bài văn, nội dung bài viết, mục đích tác giả hướng tới

- Người viết phải biết “tạo không khí” cho bài văn của mình bằng cách chọn

e) Nội dung của chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên

Trẻ em từ khi mới sinh ra đã được tiếp xúc với thế giới xung quanh bằng tất cả các giác quan và từ nhỏ đã có tính tò mó, ham hiểu biết Để trẻ có khả năng tích cực

khám phá, phát hiện và hiểu biết về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên, cần

thừa nhận, nuôi dưỡng và khơi dậy tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ bằng cách tạo

môi trường để trẻ hứng thú và khuyến khích trẻ tìm kiếm những kiến thức mới

Nước và các hiện tượng tự nhiên đa dạng, sinh động luôn làm cho trẻ hứng thú Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chủ đề này càng lôi cuốn, hấp dẫn trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, tạo cơ hội cho trẻ có những trải nghiệm, kích thích trẻ khám phá, phát hiện học hỏi về khoa học tự nhiên và thế giới tự nhiên xung quanh trẻ

Trang 32

f) Mục tiêu của chủ đề

- Phát triển thể chất

+ Biết sử dụng các trang phục phù hợp với thời tiết để bảo vệ sức khỏe

+ Có một số thói quen, hành vi vệ sinh trong ăn uống và phòng bệnh

+ Thực hiện các vận động một cách tự tin và khéo léo

+ Biết phòng tránh những nơi dễ gây nguy hiểm đến tính mạng

- Phát triển nhận thức

+ Tích cực tìm tòi, khám phá các sự vật, hiện tượng xung quanh Biết tự đặt

các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Để làm gì?

+ Biết quan sát, so sánh, phán đoán và suy luận về một số sự vật, hiện tượng

tự nhiên xung quanh

+ Nhận biết một số hiện tượng thời tiết thay đổi theo mùa, thứ tự các mùa và

sự thay đổi trong sinh hoạt của con người, cây cối, con vật theo mùa Biết phân loại

quần áo, trang phục theo mùa

+ Biết được lợi ích của nước, sự cần thiết của ánh sáng, không khí với cuộc

sống của con người, cây cối và con vật

+ Nhận biết được một số nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước và cách giữ

gìn, bảo vệ các nguồn nước sạch

+ Biết so sánh lượng nước đựng trong hai vật bằng các cách khác nhau

+ Phân biệt được ngày và đêm

+ Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai

Trang 33

+ Cảm nhận được vẻ đẹp trong thiên nhiên, trong các câu chuyện, bài thơ, bài

hát…về các hiện tượng tự nhiên

+ Thể hiện cảm xúc, sáng tạo trước cái đẹp của một số hiện tượng tự nhiên

qua các sản phẩm vẽ, nặn, cắt, xé, dán, xếp hình theo ý thích của trẻ và qua hoạt động âm nhạc

g) Nội dung của chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên

Tùy theo từng trường mà có cách chia chủ đề nhánh khác nhau Ở đây chúng

tôi xin trình bày hai nhánh cơ bản nhất của chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên

dưới dạng sơ đồ như sau:

Nước và các hiện tượng tự nhiên

nước (không màu, không

mùi, không vị, hòa tan được

một số chất…)

+ Vòng tuần hoàn của nước

+ Ích lợi của nước đối với

con người, cây cối và con

vật

+ Một số nguyên nhân gây

ô nhiễm nguồn nước, cách

giữ gìn, tiết kiệm và bảo vệ

+ Thứ tự các mùa trong năm + Sự thay đổi của con người trong sinh hoạt theo thời tiết

và theo mùa (quần áo, ăn uống, hoạt động…) + Ảnh hưởng của thời tiết mùa đến sinh hoạt của con người, con vật và cây cối + Mặt trời, mặt trăng và sự thay đổi tuần hoàn ngày và đêm

+ Một số bệnh theo mùa cần phòng tránh và cách phòng tránh

Trang 34

1.2.4 Tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen tác phẩm văn học ở trường mầm non a) Khái niệm của việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn học

Trẻ trước tuổi đến trường phổ thông có nhu cầu và khả năng hiểu được các tác phẩm ngắn gọn, nội dung không phức tạp, kết cấu, ngôn ngữ dễ hiểu Tuy vậy, do hạn chế của độ tuổi này nên trẻ chưa tự mình tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm (trẻ chưa biết chữ), chưa tự hiểu đầy đủ về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm Việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ dường như phụ thuộc vào sự truyền thụ của giáo viên Ở lứa tuổi này người ta chưa thể gọi việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học là việc dạy văn cho trẻ mà gọi là “trẻ làm quen với văn học” “Làm quen” chỉ ra mức độ tiếp xúc ban đầu của trẻ với văn học Thực chất của việc tiếp xúc này giáo viên sử dụng nghệ thuật đọc, kể diễn cảm, để đọc thơ, kể chuyện cho trẻ nghe, giảng giải bằng mọi cách để giúp trẻ hiểu được nội dung và hình thức của tác phẩm Trên cơ sở đó giáo viên dạy cho trẻ đọc thuộc diễn cảm bài thơ, kể diễn

cảm các câu chuyện hoặc đóng kịch các tác phẩm văn học

b) Các hình thức tổ chức cho trẻ làm quen tác phẩm văn học

 Cho trẻ làm quen với văn học thông qua các tiết học

- Giờ văn học

Tại các trường mầm non, các tiết “Văn học” là hình thức cơ bản cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học Trên những giờ học này trẻ được làm quen với những tác phẩm được quy định trong chương trình cho từng độ tuổi Thời gian của một tiết

cho trẻ tiếp xúc với văn học không nhiều:

Trang 35

cảm nhận những hình ảnh đẹp, nhịp điệu, vần, chủ đề tư tưởng (đối với thơ) Các yêu cầu dạy trẻ đọc diễn cảm thơ, kể diễn cảm chuyện sẽ được dạy thêm ở ngoài giờ học

Tùy theo nội dung của tác phẩm mà cô giáo có thể tổ chức giờ học ở những địa điểm thích hợp, nhằm tạo cho trẻ một tâm trạng thoải mái, gần gũi với cuộc sống thực Ví dụ dạy các tác phẩm có nội dung nói về thiên nhiên tươi đẹp như bài “Hoa kết trái”, “Ông mặt trời”, cô giáo có thể tổ chức tiết học ở vườn trường Còn những tác phẩm có nội dung trang nghiêm như nói về lãnh tụ, Tổ quốc, cô nên tổ chức tiết học ở trong lớp, cho trẻ ngồi ghế…

- Các giờ học khác

Với phương pháp dạy tích hợp nhiều nội dung được lồng ghép trong một tiết học, việc cho trẻ làm quen các tác phẩm văn học không chỉ được tiếng hành trong giờ thơ, truyện mà nó còn được dạy thông qua các giờ học khác như: vẽ, hát, tìm hiểu môi trường xung quanh, giáo viên có thể củng cố hoặc mở rộng những kiến thức về văn học cho trẻ Ở những giờ học này, các tác phẩm văn học sẽ đến với trẻ qua hình thức giới thiệu bài hoặc củng cố bài

Ví dụ sau khi dạy trẻ hát bài “Màu hoa”, cuối tiết học cô có thể đọc cho trẻ nghe bài thơ “Hoa kết trái”

Hay khi cho trẻ tập vẽ tự do theo ý thích, cô giáo có thể đọc cho trẻ nghe bài thơ “Em vẽ” để gợi ý đề tài cho trẻ

 Cho trẻ làm quen tác phẩm văn học qua các hoạt động ngoài giờ học

Với trẻ mầm non, hoạt động học chiếm một thời gian rất ngắn so với thời gian của các hoạt động khác Do đó, giáo viên cần phải tận dụng những thời gian đón trẻ, trả trẻ, vui chơi, lúc đi dạo chơi, tham quan để cho trẻ tiếp xúc với văn học Trong những thời gian ngoài giờ học này, giáo viên có thể đọc, kể các tác phẩm mới (tác phẩm được quy định trong chương trình dạy mọi lúc, mọi nơi) Hoặc những tác phẩm do cô tự chọn phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Việc ôn, luyện tập các tác phẩm đã học trong chương trình cũng được thực hiện ở các thời điểm trên Hình thức dạy trẻ ôn tập là: giáo viên đọc hoặc kể lại tác phẩm cho trẻ nghe, sau đó yêu

Trang 36

cầu trẻ đọc hoặc kể lại, giáo viên theo dõi, sửa sai cho trẻ để trẻ thực hiện đúng, diễn cảm Muốn cho việc ôn luyện của trẻ hấp dẫn, trẻ hứng thú tham gia, giáo viên nên

tổ chức ôn luyện dưới hình thức trò chơi: hái hoa, đoán tên, đóng kịch hay thi biểu diễn giữa các cá nhân, các tổ theo những đề tài

Ví dụ: Con hãy đọc cho cô và các bạn nghe những bài thơ viết về Bác Hồ Một hình thức khác cũng khá hấp dẫn mà ở nhiều trường mẫu giáo đã thực hiện có kết quả là cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học văn học theo các chủ đề, gắn liền với việc tổ chức các ngày lễ, ngày hội Vào những dịp kỷ niệm ngày 8/3, 1/6, 20/11, 22/12…, cô giáo tổ chức cho các cháu trong lớp, trong trường liên hoan, biểu diễn văn nghệ, trong đó có thi đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch theo tác phẩm văn học Hình thức này thu hút được nhiều trẻ cùng tham gia luyện tập, biểu diễn Nó có tác dụng động viên, cổ vũ cho các cháu giỏi, đồng thời cũng khuyến khích các cháu yếu, nhút nhát tham gia vào các hoạt động nghệ thuật Để việc tổ chức các ngày hội ngày lễ có kết quả, cô giáo cần có kế hoạch luyện tập trước cho trẻ, không nên để sát đến ngày tổ chức lễ hội mới bắt trẻ luyện tập liên tục khiến các em mệt mỏi,chán nản Sau một thời gian luyện tập cho tất cả các trẻ trong lớp, giáo viên lựa chọn một

số cháu có khả năng hơn cho luyện tập thêm để tiến hành biểu diễn cho cả lớp xem, hoặc thi diễn giữa các lớp trong trường, mời thêm cha mẹ của các cháu đến dự

 Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học qua góc văn học

Mỗi lớp mẫu giáo nên bố trí một góc có đủ ánh sáng, có kê bàn để các loại truyện tranh, các tranh lớn minh họa nội dung các câu chuyện, bài thơ có trong chương trình cho trẻ làm quen với văn học Ở những thời gian ngoài giờ học, cô giáo gợi ý để các cháu tự lấy truyện tranh ra kể lại cho nhau nghe Đối với những truyện tranh mới, cô giáo tổ chức kể cho từng nhóm trẻ nghe vào các thời điểm khác nhau Lúc đầu cô để cho trẻ tự tìm hiểu nội dung của các hình ảnh trong truyện tranh, sau đó cô dùng câu hỏi gợi ý để hướng dẫn sự chú ý của trẻ vào những hình ảnh chủ yếu của bức tranh, rồi đọc đoạn truyện ở dưới tranh Đọc xong truyện, lại cho trẻ xem tranh một lần nữa

Trang 37

Với những truyện tranh trẻ đã được làm quen nhiều lần, có thể đề nghị lần lượt các trẻ kể lại nội dung của từng bức tranh

Cho xem tranh minh họa phù hợp với nguyện vọng của trẻ còn có tác dụng củng cố những điều mà trẻ đã được nghe, làm rõ những chỗ mà trẻ chưa hiểu kĩ, mở rộng đầy đủ hơn các hình tượng nghệ thuật Vì vậy, giáo viên nên treo những bức tranh minh họa các tác phẩm văn học ở góc văn học để trẻ có điều kiện xem một cách thường xuyên Với những tranh minh họa có kích thước lớn, cô cho cả lớp xem, những tranh nhỏ, cô cho trẻ xem theo nhóm Khi trẻ xem tranh, cô nên đặt các câu hỏi giúp tìm hiểu nội dung các hình ảnh, phát huy trí tưởng tượng ở trẻ Cô có thể giảng giải nội dung câu chuyện qua tranh minh họa

Góc văn học thực sự sẽ thu hút trẻ, giúp trẻ tiếp xúc với văn học một cách tự giác nếu cô giáo thường xuyên thay đổi các loại truyện mới, tranh mới Vì vậy, cô giáo cần quan tâm đúng mức để có kế hoạch bổ sung sách mới và hướng dẫn trẻ

xem sách

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Vài nét về cơ sở điều tra

a) Vài nét về trường mầm non 20 -10

Trường mầm non 20 – 10 được thành lập vào ngày 20 tháng 10 năm 1975 là ngày kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Tồn tại qua 41 năm hoạt động, cho đến ngày nay trường đã đạt được nhiều thành tích cũng như tạo được

Trang 38

thương hiệu riêng cho mình và đặc biệt là tạo được lòng tin nơi phụ huynh Chính vì vậy mà ngày càng đông các bậc phụ huynh gửi gắm con tại trường

Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ II theo Quyết định 02 của Bộ GD – ĐT; Được sự quan tâm của lãnh đạo ngành và các cấp chính quyền; Đội ngũ CBGVNV tâm huyết, nhiệt tình, có trình độ, có năng lực chuyên môn; CBQL tích cực làm tốt công tác tham mưu đầu tư cơ sở vật chất xây dựng trường chuẩn Quốc gia; Ban đại diện cha mẹ và phụ huynh học sinh hết lòng ủng hộ, tích cực tham gia các hoạt động

do nhà trường phát động

Về cơ cấu tổ chức bộ máy, nhà trường có tổng số 56 cán bộ giáo viên nhân viên, gồm:

+ Ban giám hiệu: 03 người

 Hiệu trưởng : Cô Nguyễn Thị Hồng Phấn

 Phó hiệu trưởng : Cô Nguyễn Thị Mai Hà, cô Lê Thị Ngọc Dung

+ Giáo viên mầm non: 39 người Trong đó 100% trình độ trên chuẩn đại học (32 giáo viên có bằng đại học, 7 giáo viên có bằng cao đẳng)

+ Nhân viên, cấp dưỡng, y tế, văn thư: 14 người

Đội ngũ giáo viên nhân viên có năng lực chuyên môn, có bề dày thành tích trong công tác; nhiệt tình, tâm huyết, yêu nghề mến trẻ, có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc nuôi dạy các cháu tạo nên uy tín trong nhân dân và phụ huynh học sinh khi gửi con đến trường, tạo nên thương hiệu riêng của nhà trường

b) Vài nét về trường mầm non Dạ Lan Hương

Trang 39

Trường mầm non Dạ Lan Hương được thành lập vào ngày 28 tháng 11 năm

1975 Trường được công nhận là trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia mức

độ II theo Quyết định 36/2008/QĐ – BGD&ĐT vào ngày 28/11/2008

Trường mầm non Dạ Lan Hương hiện nay có đầy đủ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý so với quy định Cán bộ quản lý nhà trường có kinh nghiệm trong quản lý chỉ đạo, có năng lực quản lý tốt Các Hội đồng trong nhà trường hoạt động có hiệu quả, luôn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, luôn có ý thức phấn đấu trong công tác Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên nhà trường là 41 người Trường có 1 Hiệu trưởng và 2 Hiệu phó, trong đó 1 Hiệu phó phụ trách chuyên môn và 1 Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng Giáo viên mầm non có 24 người, trong đó 91, 6% GV trình

độ trên chuẩn ( đại học và cao đẳng), 1giáo viên dạy tiếng Anh và 1 giáo viên dạy

Âm nhạc, nhân viên, cấp dưỡng 12 người

Đội ngũ giáo viên, nhân viên có năng lực chuyên môn, có bề dày thành tích trong công tác; nhiệt tình tâm huyết, yêu nghề, mếm trẻ, có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc nuôi dạy các cháu nên tạo uy tín trong nhân dân và phụ huynh học sinh khi gửi con đến trường, tạo nên thương hiệu của nhà trường

Nhà trường hiện có 2 tổ chuyên môn và 1 tổ văn phòng, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ Xây dựng kế hoạch hoạt động bám sát các hoạt động của trường Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và các hoạt động giáo dục khác

Trường mầm non Dạ Lan Hương luôn thực hiện tốt nhiều biện pháp tuyên truyền, vận động và phối hợp các lực lượng xã hội huy động trẻ ra lớp đạt chỉ tiêu phòng giáo dục và đào tạo giao

Tổng số học sinh 385 trẻ với 12 nhóm, lớp; Trong đó:

Nhà trẻ: Tổng số 2 nhóm: 2 nhóm 25-36 tháng với số lượng 55 trẻ

Mẫu giáo: 10 lớp (4 lớp Bé, 4 lớpNhỡ, 2 lớpLớn) với tổng số trẻ 330 trẻ

Trang 40

1.3.2 Thực trạng việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non 20-10 và trường mầm non Dạ Lan Hương

a) Mục đích điều tra thực trạng

Điều tra quá trình tổ chức, thực hiện các họat động theo chủ đề Nước và các

hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của giáo viên ở trường mầm non

20-10 và trường mầm non Dạ Lan Hương, nhằm đánh giá thực trạng hiện nay của vấn

đề nghiên cứu

b) Nội dung điều tra

 Những chia sẻ của giáo viên về việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề

Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 20-10

và trường mầm non Dạ Lan Hương

c) Đối tượng khảo sát thực trạng

Khảo sát trên 10 giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non

20-10 và trường mầm non Dạ Lan Hương

d) Phương pháp điều tra thực trạng

Trong quá trình điều tra thực trạng, chúng tôi đã sử dụng phiếu hỏi giáo viên kết hợp với phương pháp đàm thoại để tiến hành nghiên cứu thực trạng Cụ thể là chúng tôi trao đổi ý kiến với các giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi

về những nội dung liên quan đến đề tài nhằm làm sáng tỏ nhận thức của giáo viên, những khó khăn mà các giáo viên gặp phải khi sáng tác và sử dụng những câu

truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên trong quá trình giáo dục trẻ cũng

như nguyên nhân của những khó khăn đó

e) Kết quả điều tra

 Nhận thức của giáo viên về việc sáng tác và sử dụng truyện về chủ đề Nước

và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

Qua điều tra, kết quả cho thấy rằng có 10% trên tổng số các giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 20 – 10 và trường mầm non Dạ Lan

Hương đã từng sáng tác truyện về chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên cho trẻ

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w