1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

122 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Giáo Án Điện Tử Nhằm Hình Thành Biểu Tượng Toán Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi
Tác giả Lưu Thị Phượng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Triều Tiên
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo dục Mầm non
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (10)
  • 3. Khách thể đối tượng nghiên cứu (10)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Giả thuyết khoa học (11)
  • 6. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 7. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 8. Những đóng góp của đề tài (12)
  • 9. Cấu trúc đề tài (12)
  • 10. Kế hoạch nghiên cứu (13)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI (14)
    • 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (14)
      • 1.1.1. Trên thế giới (14)
      • 1.1.2. Trong nước (15)
    • 1.2. Một số khái niệm (17)
      • 1.2.1. Thiết kế (17)
      • 1.2.2. Giáo án điện tử (17)
      • 1.2.3. Thiết kế giáo án điện tử (19)
      • 1.2.4. Khái niệm biểu tượng (19)
      • 1.2.5. Thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi (20)
    • 1.3. Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi (20)
      • 1.3.1 Vai trò của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi (20)
      • 1.3.2. Đặc điểm hình thành các biểu tượngtoán cho trẻ 5 – 6 tuổi (23)
      • 1.3.3. Nội dunghình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi (27)
      • 1.3.4 Phương pháp hình thành các biểu tượng về toán cho trẻ 5 – 6 tuổi (35)
    • 1.4. Ứng dụng CNTT trong việc thiết kế giáo án điện tử (42)
      • 1.4.1 Vai trò của việc ứng dụng CNTT (42)
      • 1.4.2. Những thách thức khithiết kế giáo án điện tử (42)
    • 1.5. Xây dựng tiêu chí và thang đánh giá (52)
      • 1.5.1 Tiêu chí và thang đánh giá việc ứng dụng phương tiện Powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi (52)
      • 1.5.2. Nhóm tiêu chí và thang đánh giá mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ (54)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI (59)
    • 2.1. Mục đích khảo sát thực trạng (59)
    • 2.2. Nội dung khảo sát thực trạng (59)
    • 2.3 Đối tượng khảo sát thực trạng (59)
    • 2.4. Thời gian khảo sát (59)
    • 2.5 Phương pháp tiến hành khảo sát thực trạng (59)
    • 2.6. Kết quả khảo sát (60)
      • 2.6.1. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện (61)
      • 2.6.2. Những biện pháp mà GV đã sử dụng nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ (trong đó có biện pháp sử dụng phương tiện Powerpoint) (63)
      • 2.6.3. Hiệu quả quá trìnhứng dụng phương tiện Powerpoint vào việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi (68)
      • 2.6.4. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi (73)
  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI (80)
    • 3.1. Nguyên tắc và yêu cầu của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi (80)
    • 3.2 Quy trình các bước thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Microsoft (82)
    • 3.3. Một số yêu cầu khi thiết kế giáo án điện tử (88)
    • 3.4. Mô tả quá trình tiến hành (90)
    • 3.5. Kết quả và nhận xét chung: giáo án điện tử (95)
  • CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI (97)
    • 4.1. Mục đích thực nghiệm (97)
    • 4.2. Nội dung thực nghiệm (97)
    • 4.3. Thời gian thực nghiệm (97)
    • 4.4 Đối tượng thực nghiệm (97)
    • 4.5. Cách tiến hành thực nghiệm (98)
    • 4.6. Tiêu chí đánh giá và cách đánh giá TN (99)
    • 4.7. Phương pháp đánh giá kết quả TN (99)
    • 4.8. Kết quả thực nghiệm (99)
      • 4.8.1. Mức độ ứng dụng phương tiện Powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi (99)
      • 4.8.2. Mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ 5-6 tuổi (103)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (12)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm kiểm nghiệm hiệu quả của giáo án điện tử trong việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi Chúng tôi hy vọng giới thiệu một số giáo án điện tử giúp giáo viên giảng dạy hiệu quả hơn, đồng thời hỗ trợ trẻ trong việc phát triển biểu tượng toán một cách dễ dàng và hiệu quả.

Khách thể đối tượng nghiên cứu

Quátrình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên sử dụng giáo án điện tử một cách khoa học và phù hợp với việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non, điều này sẽ góp phần đáng kể vào việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời giúp tiết dạy toán trở nên nhẹ nhàng, lôi cuốn và hấp dẫn hơn.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu thực trạng việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Thực nghiệm một số GAĐT để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm việc tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bao gồm tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp thông tin từ các nguồn như sách giáo khoa, sách chuyên ngành, tạp chí và trang web.

Phương pháp điều tra bằng Anket sử dụng phiếu câu hỏi dành cho giáo viên nhằm khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong thiết kế Giáo án Đào tạo (GAĐT) để hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Tuổi Thơ, Đà Nẵng Ý kiến phản hồi từ giáo viên qua phiếu câu hỏi sẽ giúp chúng tôi đưa ra nhận định cụ thể và khách quan về nhận thức, thái độ và thực trạng ứng dụng CNTT trong thiết kế GAĐT cho trẻ nhỏ tại trường này.

Phương pháp đàm thoại với giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi dự kiến giúp chúng tôi trao đổi trực tiếp về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế giáo án dạy toán cho trẻ 5-6 tuổi Qua quá trình này, chúng tôi đưa ra những nhận định liên quan đến vấn đề và đối chiếu với kết quả từ phiếu câu hỏi để rút ra kết luận chính xác về thực trạng nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tìm hiểu các giáo án, các slide trình chiếu về việc hình thành biểu tượng toán do GV cung cấp

Phương pháp thực nghiệm được áp dụng nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng PowerPoint trong việc hình thành biểu tượng toán học cho trẻ em từ 5-6 tuổi.

- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phép tính % để thống kê xử lí số liệu thu được trong nghiên cứu đề tài.

Những đóng góp của đề tài

Xây dựng cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT vào việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Để đóng góp và làm phong phú thêm hệ thống Giáo dục Đào tạo, việc ứng dụng Công nghệ Thông tin trong thiết kế giáo án đào tạo (GAĐT) là rất quan trọng Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng giáo dục mà còn góp phần hình thành biểu tượng toán học cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi.

Cấu trúc đề tài

Chương 1: cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: thực trạng của việc thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 3: thiết kế giáo án điện tử nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Chương 4: thực nghiệm việc thiết kế gađt nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

- Phần kết luận chung và kiến nghị sư phạm

Kế hoạch nghiên cứu

Từ tháng 1 đến tháng 2/2016: Xây dựng đề cương

Từ tháng 2 đến tháng 4/2016: Khảo sát thực trạng, thu thập số liệu, xử lý số liệu, viết báo cáo

Từ tháng 4 đến tháng 5/2016: Hoàn chỉnh và bảo vệ.

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Các quốc gia có nền giáo dục phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Mỹ đều chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) Họ đã trải qua một quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài với nhiều dự án và chương trình quốc gia về tin học hóa, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục Từ năm 1993, Hàn Quốc đã bắt đầu sử dụng phần mềm để thiết kế bài giảng, giúp học sinh phát huy tính tích cực trong nhận thức Tại Nhật Bản, học sinh được cung cấp máy tính khi đến trường, và việc không biết sử dụng máy tính được coi là "mù chữ".

Vấn đề này được xem là cốt lõi của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức, đồng thời giúp Việt Nam hội nhập với các quốc gia trong khu vực và toàn cầu.

Trên thế giới, nhiều hội nghị quốc tế đã diễn ra nhằm trao đổi về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, như hội nghị về "thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trong giáo dục phổ thông ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương" được tổ chức tại Bru-nây vào các năm 2003 và 2004.

“Phát triển giáo án điện tử trong các trường trung học cơ sở” ở Xin-ga-po

(2003, 2004); “phát triển môi trường dạy học đa phương t iện” ở I-ta-li-a (2005);

“phát triển thiết bị dạy học và giáo án điện tử” ở Phi-lip-pin (2005)

Vào năm 2003, tổng công ty quốc tế IBM đã mở lớp tập huấn cho rất nhiều các

Sau khi được tập huấn, hầu hết giáo viên ở các quốc gia đã nắm vững quy trình thiết kế và phương pháp trình bày bài giảng hiệu quả bằng phần mềm PowerPoint trong giảng dạy Việc sử dụng PowerPoint không chỉ nâng cao chất lượng bài giảng mà còn giúp giáo viên truyền đạt kiến thức một cách sinh động và dễ hiểu hơn.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ em bắt đầu từ việc cho trẻ tiếp cận với các game giáo dục thông qua các tiết học có chủ đích Trẻ không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn được tham gia vào các trò chơi điện tử, giúp phát triển tư duy Chuyên gia tâm lý học Esther Gabriel nhận định rằng khi chơi trò chơi điện tử, trẻ có khả năng tiến bộ về tư duy nhờ việc tiếp nhận thông tin, ghi nhớ, suy diễn và xử lý nhanh chóng Các trò chơi phiêu lưu và mạo hiểm không chỉ giúp trẻ phản xạ nhanh mà còn hình thành óc tưởng tượng Hơn nữa, việc vừa chơi vừa sử dụng máy tính giúp trẻ mở rộng kiến thức về tin học, cung cấp cho trẻ những kỹ năng học tập cần thiết để đạt được mục tiêu.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giáo dục Việt Nam đã bắt đầu từ đầu thế kỷ 21, với sự đổi mới trong phương pháp dạy học và tích cực sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Điều này không chỉ phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn đáp ứng nhu cầu cấp thiết của hệ thống giáo dục Ứng dụng CNTT giúp giáo viên có thêm thời gian để hướng dẫn học sinh, kích thích tư duy sáng tạo của trẻ và tạo ra môi trường học tập chủ động hơn Qua đó, học sinh sẽ phát triển kỹ năng tự tiếp thu tri thức, độc lập trong tư duy và hứng thú trong việc học.

Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 17/10/2000 đã thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tiếp theo, Chỉ thị 29/2001.CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra việc tăng cường giảng dạy và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2011 – 2005 Những tiến bộ về kinh tế, cơ sở vật chất, khoa học – công nghệ và giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai mạnh mẽ CNTT và truyền thông vào đời sống.

Một số nghiên cứu quốc gia về ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm đề án “giáo dục tin học” do PGS Đinh Gia Phong dẫn dắt và các đề tài cấp Bộ liên quan.

Trong bài viết "Tin học và sử dụng máy tính điện tử trong dạy học" do PGS Lê Công Triêm chủ trì, cùng với đề tài "Giáo dục tin học" của GS.TS Hồ Ngọc Đại, và cuốn sách điện tử của PGS.TS Phó Đức Hòa và TS Ngô Quang Sơn mang tên "Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tích cực", đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế Giáo án điện tử (GAĐT) Bài viết trình bày rõ ràng về cách thức thiết kế và sử dụng GAĐT trong quá trình dạy học, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.

Năm học 2008 – 2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cuộc vận động

Năm học ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy đang diễn ra tại tất cả các cấp học, từ đại học, cao đẳng đến trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học và mầm non Hầu hết các trường học hiện nay đều có môn học về tin học hoặc các tiết học ứng dụng CNTT, nhằm tạo cơ hội cho giáo viên và học sinh tiếp cận với máy tính.

Nghiên cứu đề tài “Cho trẻ mẫu giáo làm quen với máy tính” mã số B97-45-07-TD trong lĩnh vực giáo dục mầm non 1 và mầm non 2 đã được thực hiện tại 19 trường trọng điểm trên toàn quốc Đề tài này liên quan đến các lĩnh vực toán học, chữ cái và tô vẽ, và đã đạt được những kết quả nhất định trong việc nâng cao kỹ năng công nghệ cho trẻ em.

Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục mầm non bắt đầu mạnh mẽ từ năm 2000 với chương trình IBM Kidsmart, được nghiên cứu kỹ lưỡng bởi các chuyên gia giáo dục và CNTT hàng đầu Theo TS Trần Lan Hương, khi thử nghiệm chương trình Kismart, nhiều người đã nghi ngờ về sự phù hợp của máy tính với trẻ mẫu giáo và ảnh hưởng của nó đến giao tiếp xã hội và ngôn ngữ Tuy nhiên, chương trình đã chứng minh là một phương pháp dạy học tích cực, cung cấp nhiều chiến lược giáo dục phong phú Điều này cho thấy sự quan tâm của nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước có nền khoa học phát triển, đối với việc ứng dụng CNTT trong giáo dục Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong việc giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, đặc biệt trong việc hình thành biểu tượng toán học cho trẻ.

Một số khái niệm

Thiết kế kết nối sự sáng tạo và đổi mới, biến ý tưởng thành những giải pháp thực tiễn hấp dẫn người dùng Theo George Cox, trưởng khoa Đồ họa tại Trường đại học Luân Đôn, thiết kế là sự triển khai sáng tạo nhằm phục vụ một mục đích cụ thể.

Thiết kế được định nghĩa là quá trình tạo ra kế hoạch hoặc quy ước để xây dựng một đối tượng hoặc hệ thống, với ý nghĩa khác nhau trong từng lĩnh vực.

Thiết kế có thể được định nghĩa là một lộ trình chiến lược giúp một cá nhân đạt được kết quả cụ thể Nó bao gồm việc xác định các thông số kỹ thuật, kế hoạch, chi phí, hoạt động và quy trình cần thiết, đồng thời xem xét các ràng buộc pháp lý, chính trị, xã hội, môi trường, an toàn và kinh tế để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Thiết kế là quá trình mà giáo viên kết nối kiến thức và kỹ năng của mình để phát triển một kế hoạch hoặc sản phẩm cụ thể, thông qua các bước chi tiết đã được xác định trước.

Trong những năm gần đây, phong trào giảng dạy bằng GAĐT đã phát triển mạnh mẽ tại nhiều cấp học và các địa phương trên toàn quốc Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về GAĐT, phản ánh sự đa dạng trong cách tiếp cận và ứng dụng phương pháp này trong giáo dục.

GAĐT là giáo án kỹ thuật số được tạo ra trên máy tính, sử dụng phần mềm chuyên dụng như máy ảnh kỹ thuật số, scanner và projector Nội dung giáo án này được trình chiếu cho trẻ em thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện, bao gồm máy ảnh, máy chiếu đa năng, màn chiếu, đầu chạy đĩa CD và vô tuyến truyền hình.

Trong lĩnh vực giáo dục, GAĐT (Giáo án dạy học) được xem là kế hoạch bài học chi tiết, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và học sinh Tuy nhiên, quá trình dạy học thường mang tính trừu tượng, với các thiết bị dạy học truyền thống như tranh ảnh và mô hình khó lòng thể hiện rõ ràng Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) sẽ tạo ra cơ hội tiếp cận kiến thức dễ dàng hơn cho trẻ em.

Theo các chuyên gia UNESCO FARIS và UNESCO PROAP, GAĐT là thuật ngữ mô tả việc thiết kế và thực hiện giáo án dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trong quá trình dạy học Các chuyên gia giáo dục và chuyên gia thiết bị dạy học cho rằng việc ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục hiện nay có ba mức độ khác nhau.

Mức độ 1 trong thiết kế giáo án dạy học ứng dụng CNTT và truyền thông cho trẻ em cho phép giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm non có trình độ tin học cơ bản thực hiện Ở mức độ này, trẻ chỉ có thể xem và nhìn nhận thông tin mà không có sự tương tác hay tham gia tích cực.

Mức độ 2 trong việc thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực với ứng dụng CNTT và truyền thông cho phép trẻ em vừa nhìn vừa nghe, hiện đang được hầu hết giáo viên mầm non thực hiện Giáo viên tạo ra giáo án dạy học tích cực, trong đó những kiến thức trừu tượng mà phương pháp dạy học truyền thống không thể hiện rõ sẽ được minh họa thông qua CNTT và truyền thông, chẳng hạn như việc mô phỏng quá trình hình thành và phát triển của cây.

Mức độ 3 trong giáo án dạy học tích cực yêu cầu tích hợp nội dung kiến thức trừu tượng mà phương pháp truyền thống khó thể hiện vào môi trường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nâng cao Để thực hiện điều này, giáo viên cần có trình độ tin học cao hơn hoặc sự hỗ trợ từ chuyên gia CNTT Ở mức độ này, trẻ em sẽ được trải nghiệm học tập qua việc nhìn, nghe và tương tác.

1.2.3 Thiết kế giáo án điện tử

Thiết kế giáo án điện tử (GAĐT) là quá trình mà giáo viên thu thập thông tin, hình ảnh và âm thanh, thực hiện theo các bước đã định sẵn GAĐT có thể coi là giáo án truyền thống được số hóa và lưu trữ dưới dạng điện tử, giúp phát huy ưu điểm của công nghệ thông tin trong việc trình bày nội dung và hình thức giáo án Nó không chỉ đơn thuần là việc ứng dụng CNTT trong tiết học mà còn là một bản thiết kế chi tiết cho toàn bộ kế hoạch dạy học của giáo viên, với các hoạt động được số hóa và minh họa bằng dữ liệu đa phương tiện một cách trực quan, có cấu trúc chặt chẽ và logic theo yêu cầu của bài học.

Theo triết học Mác – Lê Nin, biểu tượng là hình ảnh về khách thể được tri giác và lưu lại trong bộ óc con người, có khả năng tái hiện lại thông qua một tác động nào đó Biểu tượng, giống như cảm giác và tri giác, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, nhưng phản ánh khách thể một cách gián tiếp Con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng mới từ những biểu tượng cũ thông qua tưởng tượng Mác – Lê Nin cho rằng cảm giác và biểu tượng là những hình thức khác nhau trong giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Mọi nhận thức bắt đầu từ giai đoạn này, nhưng để hiểu rõ các mối liên hệ bản chất và quy luật chi phối sự vận động của khách thể, nhận thức cần chuyển sang giai đoạn cao hơn, đó là tư duy trừu tượng Tóm lại, theo Mác – Lê Nin, “từ những tri giác nhận thức cảm tính chuyển sang nhận thức cao hơn đó là biểu tượng”.

Các nhà tâm lý học cho rằng biểu tượng là sản phẩm của trí nhớ và tưởng tượng, thường mang tính không ổn định hơn so với hình ảnh trực tiếp Biểu tượng được xem như "mẫu" của tri giác, phản ánh sự xâm nhập giữa tính trực quan và khái quát, là bước quá độ giữa hình tượng và khái niệm Theo họ, biểu tượng là hình ảnh của sự vật và hiện tượng xuất hiện trong tâm trí khi chúng không còn tác động trực tiếp lên giác quan.

Biểu tượng được định nghĩa là những hình ảnh của sự vật và hiện tượng xung quanh, hình thành từ cảm giác và tri giác trước đó, lưu giữ trong ý thức hoặc là những hình ảnh mới dựa trên những hình ảnh đã có Biểu tượng toán học, do đó, là hình ảnh cụ thể về các dấu hiệu toán học như số lượng, kích thước, hình dạng, không gian và thời gian, mà con người đã tri giác trước đây, được tái hiện trong tâm trí khi không còn tác động trực tiếp lên các giác quan.

1.2.5 Thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5-6 tuổi

1.3.1 Vai trò của việc hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Quá trình dạy trẻ làm quen với Toán tại trường mầm non là việc hình thành kiến thức cơ bản về tập hợp, con số, phép đếm, kích thước, hình dạng, khả năng định hướng không gian, biểu tượng thời gian và mối quan hệ giữa các đại lượng, tất cả dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Nghiên cứu của các nhà giáo dục Nga như A.M Lêusina và M.I Nhepomiasaia cho thấy rằng việc tổ chức hợp lý trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non.

Trong hệ thống giáo dục của I.G Pestalozzi, Ph Froebel và M Montessori, việc cho trẻ làm quen với toán được coi là rất cần thiết I.G Pestalozzi nhấn mạnh tầm quan trọng của các phương pháp dạy học trực quan, giúp trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức Ph Froebel đã tích hợp trò chơi vào quá trình dạy học, xem đây là phương pháp chính để mang lại sự thoải mái và tự do cho trẻ Tuy nhiên, sự tự do này cần phải mang tính tích cực và dựa trên sự độc lập của trẻ, trong khi giáo viên đóng vai trò tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để trẻ có thể hoạt động trong cuộc sống hàng ngày.

Dạy học ở trường mầm non cần tập trung vào việc giáo dục trẻ hình thành thói quen định hướng thế giới xung quanh một cách logic Việc xây dựng các biểu tượng toán học cho trẻ không chỉ giúp trẻ phát triển khả năng tìm tòi và quan sát, mà còn thúc đẩy sự phát triển tư duy và ngôn ngữ.

GV tổ chức hoạt động dạo chơi xung quanh sân trường, giúp trẻ quan sát cây cối, hoa lá và đồ chơi ngoài trời Qua đó, trẻ có cơ hội ôn luyện các biểu tượng toán học thông qua những câu hỏi lồng ghép, tích hợp một cách nhẹ nhàng và thú vị.

Giúp trẻ khám phá và mở rộng kiến thức về thế giới xung quanh, từ đó trẻ có thể nắm bắt các thuộc tính của sự vật và hiện tượng Điều này sẽ hỗ trợ trẻ trong việc giải quyết những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.

Mở rộng vốn từ, đặc biệt là các thuật ngữ toán học, giúp trẻ hiểu và diễn đạt chính xác các biểu tượng toán học, từ đó hiểu rõ và truyền đạt đúng ý nghĩa mong muốn Ví dụ, trẻ có thể nhận biết và nói đúng về cây nào cao nhất và cây nào thấp nhất.

Giúp trẻ học tập các môn học khác dễ dàng hơn, hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về nội dung các môn học b trong giáo dục toàn diện

 Trong giáo dục nhận thức

Hình thành kiến thức sơ đẳng về các biểu tượng toán học cho trẻ là bước đầu quan trọng, giúp trẻ phát triển khả năng nhận thức về thế giới xung quanh.

Góp phần quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng thực hành cũng như các thao tác tư duy ban đầu, bao gồm khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu.

 Góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ toán học

 Góp phần hình thành phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lí Đó là khả năng chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng…

 Trong giáo dục đạo đức, thẩm mỹ

Khi trẻ tham gia học toán ở trường mầm non, các em không chỉ học kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp, biết cách xưng hô và giơ tay phát biểu Hơn nữa, trẻ cũng học được cách hợp tác và chia sẻ với bạn học, tất cả đều góp phần vào việc giáo dục đạo đức cho trẻ.

 Nhờ có hiểu biết về các biểu tượng toán nên trẻ biết cảm nhận cái đẹp từ đó có mong muốn, nhu cầu tạo ra cái đẹp

 Chuẩn bị cho trẻ học toán ở các giai đoạn sau

 Chuẩn bị về mặt kiến thức: các biểu tượng toán

Sự hình thành biểu tượng toán học về tập hợp và kỹ năng so sánh độ lớn của các tập hợp là nền tảng quan trọng giúp trẻ hiểu mối quan hệ số lượng Điều này không chỉ giúp trẻ nắm bắt được khái niệm về con số mà còn hiểu được quy luật của dãy số tự nhiên, từ đó phản ánh mối liên hệ và quan hệ số lượng của mọi sự vật và hiện tượng xung quanh trẻ.

Chuẩn bị kiến thức cơ bản cho trẻ em là rất quan trọng để giúp các em học tốt môn toán ở bậc học sau Các khái niệm liên quan đến số lượng như số lượng và tập hợp số sẽ được giới thiệu Trong học kỳ I của lớp 1, trẻ sẽ ôn tập các số từ 1 đến 10 và làm quen với số 0, đồng thời học cách cộng trừ trong phạm vi 10.

Các biểu tượng định hướng trong không gian bao gồm các phương hướng như trên - dưới, trước - sau, và phải - trái, với bản thân hoặc đối tượng được xác định làm chuẩn.

Dạy trẻ các hoạt động biến đổi đơn giản như thêm và bớt đối tượng, cũng như chia tách nhóm, giúp trẻ nhận biết ý nghĩa cơ bản của phép tính “cộng” và “trừ”.

Dạy trẻ về tương ứng 1:1 giúp trẻ hiểu mối quan hệ về số lượng, phân biệt giữa nhiều hơn và ít hơn Đồng thời, việc nhận biết, gọi tên và phân loại các hình dạng như hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, cùng với các khối như khối cầu, khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật là rất quan trọng trong quá trình phát triển tư duy của trẻ.

+ Các phép so sánh về độ lớn, độ dài của 2 hoặc 3 đối tượng

+ Các biểu tượng về sự phân biệt các buổi trong ngày, các ngày trong tuần, các mùa trong năm Biết cách xem giờ

 Chuẩn bị về mặt tâm thế cho trẻ vào lớp một

Ứng dụng CNTT trong việc thiết kế giáo án điện tử

1.4.1 Vai trò của việc ứng dụng CNTT

Giáo viên mầm non cần được tạo điều kiện để ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào giảng dạy, giúp họ phát huy tối đa khả năng làm việc Điều này không chỉ biến họ thành những giáo viên năng động, sáng tạo và hiện đại mà còn phù hợp với sự phát triển của giáo dục trong thời đại CNTT.

 Công nghệ thông tin phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học

Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại không chỉ giúp giáo viên mầm non tiết kiệm thời gian mà còn giảm chi phí cho nhà trường, đồng thời nâng cao tính sinh động và hiệu quả trong các giờ học.

Công nghệ thông tin đã đem lại sự chuyển biến mạnh mẽ trong hiệu quả giảng dạy giáo dục mầm non, tạo ra môi trường học tập tương tác cao giữa giáo viên và học sinh, cũng như giữa các giáo viên với nhau.

 Làm thay đổi nội dung, phương pháp và hình thức truyền đạt trong dạy học

- Giáo án ứng dụng công nghệ thông tin tạo được không khí hứng khởi cho người học

Để tạo ra một giáo án ứng dụng công nghệ thông tin hấp dẫn và chất lượng, giáo viên cần kích thích khả năng sáng tạo và phát triển ý tưởng mới Ngoài chuyên môn vững vàng, họ cần tích cực suy nghĩ và lựa chọn hình thức thể hiện phù hợp với nội dung bài giảng.

1.4.2 Những thách thức khi thiết kế giáo án điện tử

Theo các chuyên gia, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Những khó khăn và thách thức vẫn đang tồn tại, chủ yếu xuất phát từ thực tiễn Trần Khánh Đức (2007) và Nguyễn Hoài Anh (2008) chỉ ra rằng, việc sử dụng CNTT trong giáo dục gặp phải nhiều thách thức cần được giải quyết.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy yêu cầu trang bị thiết bị học tập hiện đại Nếu cơ sở vật chất không được đầu tư đầy đủ, việc tích hợp CNTT vào quá trình dạy học sẽ gặp nhiều khó khăn.

Mặc dù nhà trường có cơ sở hạ tầng tốt cho việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học, nhưng nhiều giáo viên vẫn thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết, dẫn đến việc họ chưa thể phát huy đam mê và sáng tạo trong giảng dạy Phương pháp dạy học truyền thống vẫn còn chiếm ưu thế, gây khó khăn trong việc thay đổi và khiến giáo viên vẫn duy trì sự uy quyền và áp đặt Việc áp dụng phương pháp dạy học tương tác, dạy theo nhóm và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh vẫn còn mới mẻ và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa nhiều phương pháp khác nhau Điều này làm cho CNTT, mặc dù đã được tích cực đưa vào giảng dạy, vẫn chưa thể phát huy hết hiệu quả và tính tích cực của nó.

- Việc quản lí các thao tác của trẻ khi hoạt động tìm tòi trên máy tính điện tử gặp nhiều khó khăn

Việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong đổi mới phương pháp dạy học vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến tình trạng sử dụng không hiệu quả, không đúng lúc và nhiều khi bị lạm dụng.

Việc đánh giá tiết dạy ứng dụng CNTT hiện còn gặp nhiều khó khăn do thiếu định hướng rõ ràng trong việc áp dụng công nghệ vào dạy học Chính sách và cơ chế quản lý chưa hoàn thiện, dẫn đến sự không đồng bộ trong thực hiện Hơn nữa, các thiết bị hỗ trợ như projector vẫn còn thiếu hụt và chưa được hướng dẫn sử dụng đầy đủ, làm hạn chế khả năng triển khai rộng rãi và hiệu quả của phương pháp dạy học đổi mới.

Việc kết nối và sử dụng Internet trong giáo dục vẫn chưa được triển khai một cách triệt để và sâu sắc, chủ yếu do thiếu kinh phí và tốc độ đường truyền không ổn định Công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên chỉ dừng lại ở việc xoá mù tin học, dẫn đến việc giáo viên chưa đủ kiến thức để áp dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong lớp học, gây tốn thời gian và công sức.

1.4.3 Cấu trúc thiết kế và sử dụng GAĐT cho trẻ 5 – 6 tuổi

Theo Phó Đức Hòa – Ngô Quang Sơn, để có thể thiết kế được GAĐT, GV cần tuân thủ các bước sau:

Quy trình thiết kế bài giảng điện tử

Bước đầu tiên trong việc soạn giáo án là lựa chọn chủ đề và xây dựng nội dung phù hợp với nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm Giáo viên cần xác định rõ ràng các yếu tố như chủ đề, đề tài, mục đích hoạt động, khả năng tích hợp với các lĩnh vực khác, độ tuổi trẻ, quy mô nhóm (cá nhân, nhóm hay cả lớp) và thời gian thực hiện Đồng thời, cần xác định các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà trẻ cần đạt được, từ đó thiết kế các hoạt động thành phần nhằm tạo cơ hội cho trẻ tham gia tích cực vào quá trình học tập.

Cấu trúc của một giáo án bao gồm:

Mục đích của hoạt động giáo dục bao gồm các kỹ năng về kiến thức, kỹ năng và thái độ Về kiến thức, cần xác định rõ trẻ sẽ biết gì sau hoạt động; về kỹ năng, cần chỉ ra trẻ sẽ biết làm thế nào; và về thái độ, cần đánh giá thái độ của trẻ khi tham gia Mục đích của hoạt động cần dựa trên mục tiêu của chủ đề, độ tuổi, thực tế của trẻ trong lớp và thời gian thực hiện trong năm học Khi soạn giáo án, giáo viên thường cần đặt ra các câu hỏi như: Trẻ biết gì? Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Bằng cách nào?

Chuẩn bị giáo cụ cần ghi rõ số lượng, kích thước, màu sắc và chủng loại đồ dùng của giáo viên và trẻ Cần xác định các phương tiện dạy học truyền thống như tranh ảnh, mô hình, cũng như các thiết bị hiện đại như máy tính và máy chiếu Ngoài ra, giáo viên cần chuẩn bị các thiết bị hỗ trợ như máy tính có ổ CD, loa và micro Quan trọng không kém, giáo viên cũng nên chú ý đến các kỹ năng điện tử mà trẻ cần học, như kích chuột và rê chuột, để giúp trẻ hình thành các thao tác cần thiết.

Để tiến hành hoạt động hiệu quả, cần phân chia từng hoạt động thành phần rõ ràng, kết hợp giữa hoạt động động và tĩnh nhằm giữ cho trẻ không cảm thấy nhàm chán Nội dung cần bám sát chương trình giáo dục mầm non và phù hợp với độ tuổi Lựa chọn kiến thức cơ bản và xác định nội dung trọng tâm là rất quan trọng Phần tích hợp cần linh hoạt, tránh lồng ghép thô thiển Giáo viên nên đưa ra yêu cầu khác nhau cho các nhóm trẻ với trình độ khác nhau, đảm bảo mỗi trẻ đều có thể tham gia một cách phù hợp Nhiệm vụ giao cho trẻ cần tương thích với khả năng của từng em Hệ thống câu hỏi nên là câu hỏi mở để kích thích tư duy, tránh câu hỏi chỉ yêu cầu trả lời “có” hoặc “không” Sau mỗi hoạt động, giáo viên cần tổng kết để củng cố kiến thức cho trẻ Trong giáo án, cần ghi rõ thời điểm trình chiếu và thời điểm tắt để tổ chức thảo luận nhóm hoặc thảo luận cả lớp.

Bước 2 trong quá trình thiết kế giáo án điện tử là viết kịch bản sư phạm, một bước rất quan trọng Việc thực hiện kịch bản này sẽ giúp đảm bảo rằng giáo án được thiết kế một cách hiệu quả và phù hợp với mục tiêu giảng dạy.

Xây dựng tiêu chí và thang đánh giá

1.5.1 Tiêu chí và thang đánh giá việc ứng dụng phương tiện Powerpoint trong việc thiết kế GAĐT nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ 5 – 6 tuổi

Khi đánh giá việc ứng dụng PowerPoint trong thiết kế giáo án dạy toán cho trẻ 5 – 6 tuổi, chúng tôi xem xét các tiêu chí quan trọng để hình thành biểu tượng toán cho trẻ.

 Tiêu chí 1: Nội dung (3 điểm)

Mức độ 1 yêu cầu bảo đảm tính chính xác nội dung và phù hợp với quá trình hình thành biểu tượng toán học, khoa học trong thiết kế GAĐT được thiết kế nhằm giúp trẻ suy nghĩ và kích thích hứng thú học tập của trẻ.

Mức độ 2 đảm bảo nội dung kiến thức, tuy nhiên đôi khi gặp vấn đề về font chữ, cỡ chữ và hiệu ứng không phù hợp Thiết kế GAĐT có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ suy nghĩ và kích thích hứng thú học tập của trẻ.

Mức độ 3 cho thấy nội dung thiết kế chưa đạt yêu cầu khoa học, dẫn đến việc chỉ kích thích trẻ trong thời gian ngắn Thiết kế còn sơ sài, khiến trẻ nhanh chán và không duy trì được hứng thú lâu dài.

- Mức độ 4: không đảm bảo về nội dung, cách thiết kế không khoa học, TC thiết kế không thu hút trẻ, không gây hứng thú (0 điểm)

 Tiêu chí 2: Hình thức (3 điểm)

Mức độ 1 trong trình bày thẩm mỹ không chỉ kích thích sự hưng phấn mà còn sử dụng các hiệu ứng một cách hợp lý và trực quan Việc này mang tính giáo dục cao, phù hợp với quá trình hình thành biểu tượng toán học và đáp ứng đúng trình độ tâm lý của trẻ.

Mức độ 2 của bài trình bày cho thấy sự sắp xếp chưa hợp lý và cách trình bày tương đối, mặc dù hình ảnh và âm thanh có khả năng kích thích hưng phấn Các hiệu ứng được sử dụng có mức độ vừa phải và mang tính trực quan, hợp lý, tuy nhiên, vẫn thể hiện quá trình hình thành biểu tượng toán học chưa thật sự rõ ràng Nhiều hình ảnh khó hiểu và không phù hợp với trình độ tâm lý của trẻ, dẫn đến việc cần cải thiện nội dung để đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của các em.

Mức độ 3 cho thấy trình bày chưa đạt yêu cầu thẩm mỹ, không đủ để kích thích sự hưng phấn của trẻ Việc sử dụng hiệu ứng quá mức cùng với hình ảnh và âm thanh không phù hợp, có thể quá dễ hoặc quá khó, không tương thích với trình độ tâm lý của trẻ, dẫn đến việc đánh giá chỉ đạt 1 điểm.

Mức độ 4 thể hiện sự trình bày lộn xộn, không tạo được hưng phấn cho trẻ Các hiệu ứng sử dụng quá mức, thiếu tính trực quan, cùng với hình ảnh và âm thanh không phù hợp, có thể quá dễ hoặc quá khó so với trình độ tâm lý của trẻ, dẫn đến việc không đạt điểm nào.

 Tiêu chí 3: Hiệu quả (3 điểm)

Mức độ 1 của GAĐT cho thấy khả năng hình thành biểu tượng toán cho trẻ, đồng thời đánh giá kết quả học tập của trẻ vào cuối buổi học GAĐT đã phát huy được tác dụng nổi bật, đạt 3 điểm.

Mức độ 2 của GAĐT cho thấy rằng chương trình đã đạt được mục tiêu hình thành biểu tượng toán cho trẻ, tuy nhiên chưa có đánh giá cụ thể về kết quả học tập của trẻ sau buổi học Điều này cho thấy rằng tác dụng nổi bật của GAĐT vẫn chưa được phát huy tối đa.

Mức độ 3 cho thấy GAĐT đã đạt được mục tiêu hình thành biểu tượng toán cho trẻ, nhưng hiệu quả còn hạn chế Việc đánh giá kết quả của trẻ vào cuối buổi học chưa được thực hiện, và chương trình này chưa có những điểm nổi bật so với giáo án truyền thống.

Mức độ 4 trong đánh giá GAĐT cho thấy chưa đạt được mục tiêu hình thành biểu tượng toán cho trẻ, không thể đánh giá kết quả học tập của trẻ vào cuối buổi học, và không có sự khác biệt đáng kể so với giáo án truyền thống.

Dựa trên số điểm mà giáo viên đạt được ở ba tiêu chí đánh giá, chúng tôi đã xây dựng thang đánh giá khả năng sử dụng PowerPoint của giáo viên trong việc thiết kế giáo án dạy toán, nhằm hình thành biểu tượng toán cho trẻ em với bốn mức độ khác nhau.

- Mức độ Tốt: GV được từ 9 điểm

- Mức độ Khá: GV đạt được từ 7 – 8 điểm

- Mức độ TB: GV được từ 5 – 6 điểm

- Mức độ Yếu: GV đạt được < 5 điểm

1.5.2 Nhóm tiêu chí và thang đánh giá mức độ biểu hiện khả năng hình thành biểu tượng toán của trẻ a Tiêu chí

 Tiêu chí 1: Mức độ hứng thú, tập trung chú ý quan sát đối tượng của trẻ trước và trong quá trình học

Trẻ ở mức độ 1 thể hiện sự tập trung cao độ trong quá trình học, thể hiện hứng thú khi quan sát đối tượng từ đầu đến cuối và tích cực tham gia bằng cách giơ tay phát biểu ý kiến.

Trẻ em ở mức độ 2 thể hiện sự chú ý trong việc lắng nghe yêu cầu của cô giáo và tỏ ra hứng thú khi quan sát trong 2/3 thời gian khảo sát Thỉnh thoảng, các em cũng giơ tay để phát biểu ý kiến.

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI

THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5-6 TUỔI

THỰC NGHIỆM VIỆC THIẾT KẾ GAĐT NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

Ngày đăng: 16/05/2021, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w