1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với apis mellifera ligustica

193 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với apis mellifera ligustica
Tác giả Đồng Minh Hải
Người hướng dẫn TS. Phùng Hữu Chính, PGS. TS. Đinh Văn Chỉnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi động vật
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp hà nội



Đồng Minh Hải

đặc điểm hình thái, sinh học của các giống ong nhập nội (Apis mellifera Linnaeus) và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với ong ý Việt Nam (Apis mellifera ligustica Spinola)

luận án tiến sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Chăn nuôi động vật

Mã số: 62.62.40.01

Người hướng dẫn khoa học

1 TS Phùng Hữu Chính

2 PGS TS Đinh Văn Chỉnh

Hà nội, năm 2010

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các

số liệu, hình ảnh, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và ch−a đ−ợc

sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này

đ4 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

NCS Đồng Minh Hải

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận án, tôi đ4 nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn khoa học: TS Phùng Hữu Chính-Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Ong, Công ty cổ phần Ong Trung ương và PGS TS Đinh Văn Chỉnh- Bộ môn Di truyền và Chọn giống vật nuôi, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô cùng tập thể cán bộ công nhân viên Viện Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Di truyền và Chọn giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

đ4 giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, hướng dẫn trong việc triển khai các nghiên cứu và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Ong, Công ty cổ phần Ong Trung ương, đ4 tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và phối hợp giúp đỡ tôi triển khai thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn l4nh đạo các đơn vị, các nhà nghiên cứu và những người nuôi ong cùng tham gia thực hiện đề tài là: Xí nghiệp giống ong Bảo Lộc, Xí nghiệp giống ong Gia Lai, Xí nghiệp giống ong Khu IV và một

số trại nuôi ong tư nhân tại huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La

Tôi xin cảm ơn cơ quan tài trợ, những ý kiến trao đổi của các nhà khoa học trong và ngoài nước, các bạn đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận án

Cuối cùng tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tất cả mọi người đ4

động viên, giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Tác giả luận án

NCS Đồng Minh Hải

Trang 4

1.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc điểm hình thái 5

1.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc điểm sinh học 6

1.1.3 Cơ sở di truyền của lai tạo và ưu thế lai 10

1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển ong trên thế giới 13

1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển ong ở Việt Nam 25

Chương 2 Vật liệu, thời gian, địa điểm, nội dung và Phương pháp

Trang 5

2.3 Địa điểm nghiên cứu 37

2.5.2 Phương pháp xác định các đặc điểm hình thái của ong thợ 38

2.5.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh học 39

2.5.4 Phương pháp thụ tinh nhân tạo cho ong chúa 41

2.5.5 Phương pháp phân tích đánh giá chất lượng mật ong 41

3.1 Đặc điểm hình thái, sinh học của các giống ong Apis mellifera

3.1.1 Đặc điểm hình thái của các giống ong Apis mellifera mới

3.1.2 Đặc điểm sinh học của các giống ong Apis mellifera mới nhập

3.2 Đánh giá tính năng sản xuất của giống ong ý Việt Nam

3.2.1 Số lượng nhộng của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 76

3.2.2 Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 78

3.2.3 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam sau khi được phục tráng 80

3.2.4 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau khi được

3.2.5 Năng suất mật của đàn ong ý Việt Nam sau khi được phục tráng 84

3.3 Đánh giá các tổ hợp lai khác phân loài giữa giống ong (Apis mellifera) mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 86

Trang 6

3.3.1 Đặc điểm sinh học của các tổ hợp lai giữa giống ong (Apis

mellifera) mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 86

3.3.2 Đánh giá hiệu quả của tổ hợp lai có triển vọng cho năng suất

mật cao đ−ợc nuôi ở một số tỉnh của Việt Nam 96

3.4 Xây dựng và thực hiện mô hình sản xuất mật ong chất l−ợng cao bằng đàn ong lai có triển vọng tại Mộc Châu - Sơn La 104

3.4.1 Kết quả điều tra sản xuất và chất l−ợng mật ong của các trại

3.4.2 Một số kết quả của trại ong mô hình sản xuất mật ong chất

Danh mục công trình đã công bố liên quan đến luận án 116

Trang 7

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

A c Apis cerana

Agr Pub Agricultural publish

C% Tỷ lệ cận huyết của đàn ong

FAO Food and Agriculture Organization

IBRA International Bee Research Association

K% Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong

LSD Least Signification Difference

USA United States of America

USSR Union of Soviet Socialist Republics

V% Tỷ lệ dọn vệ sinh của đàn ong

Trang 8

Ký hiÖu c¸c gièng ong thuÇn vµ tæ hîp lai

A Gièng ong A m carnica nhËp tõ ¸o (2002)

§ Gièng ong A m carnica nhËp tõ §øc (2001)

N Gièng ong A m ligustica nhËp tõ Niu Zi-l©n (2001)

V Gièng ong A m ligustica ý ViÖt Nam nhËp tõ Hång K«ng n¨m 1960

Y Gièng ong A m ligustica nhËp tõ ý (2002)

A.V Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong ¸o vµ bè lµ ong ý ViÖt Nam

§.V Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong §øc vµ bè lµ ong ý ViÖt Nam

N.V Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong Niu Zi-l©n vµ bè lµ ong ý ViÖt Nam

V.A Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong ý ViÖt Nam vµ bè lµ ong nhËp tõ ¸o

V.§ Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong ý ViÖt Nam vµ bè lµ ong nhËp tõ §øc

V.N Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong ý ViÖt Nam vµ bè lµ ong nhËp tõ Niu Zi-l©n V.Y Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong ý ViÖt Nam vµ bè lµ ong nhËp tõ ý

Y.V Ong lai 2 nguån cã mÑ lµ ong nhËp tõ ý vµ bè lµ ong ý ViÖt Nam

§V.N Ong lai 3 nguån cã mÑ lµ ong lai 2 nguån §.V vµ bè lµ ong nhËp tõ Niu Zi-l©n NV.§ Ong lai 3 nguån cã mÑ lµ ong lai 2 nguån N.V vµ bè lµ ong nhËp tõ §øc V§.N Ong lai 3 nguån cã mÑ lµ ong lai 2 nguån V.§ vµ bè lµ ong nhËp tõ Niu Zi-l©n VN.§ Ong lai 3 nguån cã mÑ lµ ong lai 2 nguån V.N vµ bè lµ ong nhËp tõ §øc

Trang 9

Danh mục các bảng

1.1 Tình hình phát triển của ngành ong Việt Nam từ năm 2000 đến 2008 27

3.1 Đặc điểm hình thái của các giống ong Apis mellifera mới nhập

3.2 Xếp thứ tự một số chỉ tiêu hình thái của các giống ong

3.3 Đặc điểm hình thái đời con thế hệ thứ nhất của các giống ong

Apis mellifera mới nhập nội vào Việt Nam (tháng 10 năm 2004) 48

3.4 Xếp thứ tự một số chỉ tiêu hình thái đời con thế hệ thứ nhất của

các giống ong Apis mellifera mới nhập nội vào Việt Nam 49

3.5 Kích thước vòi hút, cánh trước và số móc cánh của các giống ong

Apis mellifera mới nhập nội so với đối chứng 50

3.6 Kích thước đốt bàn và tấm lưng 3 của các giống ong

Apis mellifera mới nhập nội so với đối chứng 52

3.7 Kích thước tấm bụng 3 và gương sáp của các giống ong

Apis mellifera mới nhập nội so với đối chứng 54

3.8 Đặc điểm sinh học của các giống ong nhập nội thế hệ khởi đầu so

3.9 Số lượng nhộng bình quân đời con thế hệ (2-4) của giống ong

3.10 Thế đàn ong của đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis mellifera)

3.11 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong đời con thế hệ (2-4) của giống ong

Trang 10

3.12 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis

3.13 Năng suất mật của đàn ong đời con thế hệ (2-4) của giống ong

3.14 Số l−ợng nhộng bình quân của giống ong ý Việt Nam sau khi

3.15 Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 78

3.16 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam khi đ−ợc phục tráng 80

3.17 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng 82

3.18 Năng suất mật của các đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng 84

3.19 Số l−ợng nhộng của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 87

3.20 Số cầu quân của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera) mới

nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 89

3.21 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong lai giữa giống ong (Apis

mellifera) mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 91

3.22 Năng suất mật của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 93

3.23 Số l−ợng nhộng của đàn ong lai đ−ợc nuôi ở một số tỉnh của Việt

3.26 So sánh tính năng sản xuất trung bình của các tổ hợp lai nuôi ở

Trang 11

3.27 Một số chỉ tiêu của các trại nuôi ong t− nhân và trại mô hình 105

3.28 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu chất l−ợng mật ong của 6 trại

3.29 Số l−ợng nhộng của đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 108

3.30 Sự biến động thế đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 109

3.31 Năng suất mật và chất l−ợng mật của đàn ong lai ở các kiểu thùng

3.32 Hiệu quả kinh tế của đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 112

Trang 12

Danh mục các hình

2.3 Thụ tinh nhân tạo cho ong chúa (6 ngày tuổi) 42

3.1 Số l−ợng nhộng bình quân đời con thế hệ (2-4) của giống ong

3.2 Thế đàn ong của đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis mellifera)

3.3 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong đời con thế hệ (2-4) các giống ong

3.4 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong đời con thế hệ (2-4) của giống

3.5 Năng suất mật của đàn ong đời con thế hệ (2-4) của giống ong

3.6 Số l−ợng nhộng của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 77

3.7 Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 79

3.8 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 81

3.9 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng 83

3.10 Năng suất mật của đàn ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 85

3.11 Số l−ợng nhộng của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 88

3.12 Thế đàn ong của các tổ hợp lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 90

Trang 13

3.13 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 92

3.14 Năng suất mật của đàn ong lai giữa giống ong (Apis mellifera)

mới nhập nội với ong ý Việt Nam (A m ligustica) 94

3.15 Số l−ợng nhộng của ong lai nuôi ở một số tỉnh của Việt Nam 98

3.16 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong lai nuôi ở một số tỉnh của Việt Nam 100

3.17 Năng suất mật của đàn ong lai ở một số tỉnh của Việt Nam 102

3.18 Số l−ợng nhộng của đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 108

3.19 Sự biến động thế đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 109

3.20 Năng suất mật của đàn ong lai ở các kiểu thùng nuôi 111

3.21 Hiệu quả kinh tế của 1 cầu ong lai ở các kiểu thùng nuôi 112

Trang 14

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghề nuôi ong là một ngành kinh tế đặc biệt, nó không cần đầu tư lớn nhưng tạo ra nhiều sản phẩm quý như: mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa, sáp ong , có giá trị dinh dưỡng cao, nguồn dược liệu quý và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Đặc biệt con ong còn tham gia vào quá trình thụ phấn cho cây trồng, góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ sự đa dạng của tự nhiên

Trong chăn nuôi nói chung và nuôi ong nói riêng, con giống giữ một vai trò rất quan trọng Chất lượng giống ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sản phẩm chăn nuôi Giống ong tốt sẽ phát huy tác dụng của các yếu tố sản xuất khác, trước hết là nguồn hoa và lao động Từ đó có thể nói giống ong là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi ong

Ngoài giống, môi trường sống của ong ở các vùng sinh thái cũng giữ một vai trò quyết định trong việc thể hiện chất lượng con giống, vùng sinh thái

ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sản phẩm của các giống ong Vùng sinh thái phù hợp sẽ phát huy tác dụng tốt của các yếu tố sản xuất khác như giống ong và lao động, nên môi trường của các vùng sinh thái có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đến từng giống ong khác nhau

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có quần x4 thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại thực vật, cây trồng cung cấp nguồn mật, phấn hoa dồi dào cho đàn ong như: cao su, cà phê, vải, nh4n, bạch

đàn, táo, keo, vừng, sú, vẹt, đay, điều, cỏ lào, chanh, cam, hoa đơn buốt, chân chim, bạc hà

Hai giống ong được nuôi chủ yếu của ngành ong Việt Nam là giống ong nội (Apis cerana Fabricius 1793) đ4 được thuần hoá thành vật nuôi từ lâu và

Trang 15

giống ong ngoại (Apis mellifera Linnaeus 1758) mới được du nhập vào Việt Nam đầu những năm 1960 từ Hồng Kông Do có năng suất cao, tính công nghiệp lớn nên nó được phát triển nhanh chóng lên đến vài chục nghìn đàn và

được gọi là giống ong ý Việt Nam (Apis mellifera ligustica Spinola) Giống ong này có vai trò quan trọng trong nghề nuôi ong ở Việt Nam vì nó đóng góp tới 80-85% sản lượng mật và 100% lượng mật xuất khẩu Tuy nhiên do nhập

số lượng ban đầu nhỏ khoảng 200 đàn lại không được bổ sung nguồn gen mới nên chúng có biểu hiện cận huyết cao 10-12%, sức đẻ trứng thấp 846 trứng/ngày đêm, năng suất mật không cao 25-30 kg/đàn/năm (Phạm Xuân Dũng, 1994) [12], vì thế chưa khai thác tốt được tiềm năng của điều kiện tự nhiên và nguồn hoa của Việt Nam, hiệu quả kinh tế còn chưa cao

Để nâng cao chất lượng giống ong ý Việt Nam (A m ligustica) ngoài việc chọn lọc tốt giống ong ý trong nước thì cần thiết phải sử dụng một số giống ong mới nhập nội có chất lượng cao, có khả năng thích nghi tốt để nuôi thuần, bổ sung nguồn gen cho giống ong trong nước và lai tạo, tìm ra một số

tổ hợp lai có triển vọng cho năng suất mật cao, sức đẻ trứng khá, có khả năng kháng bệnh tốt, thích nghi được với điều kiện môi trường và nguồn hoa của Việt Nam Vì vậy, tôi thực hiện đề tài luận án là: “Đặc điểm hình thái, sinh học của các giống ong nhập nội (Apis mellifera Linnaeus) và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với ong ý Việt Nam (Apis mellifera ligustica Spinola)”

2 Mục đích của đề tài

- Xác định được các đặc điểm hình thái, sinh học của giống ong (Apis mellifera) nhập nội vào Việt Nam năm 2001-2002, để đánh giá khả năng thích nghi của chúng và chất lượng của mỗi giống ong

- Chọn lọc được những giống ong tốt có chất lượng từ các giống ong

Trang 16

- Sử dụng được nguồn gen ong Apis mellifera nhập nội năm 2001-2002

có năng suất và chất lượng cao, phục tráng giống ong ý Việt Nam (A m ligustica) và tìm ra các tổ hợp lai phù hợp với điều kiện sinh thái ở một số tỉnh của nước ta

- ứng dụng thụ tinh nhân tạo cho ong chúa Apis mellifera trong công tác lai tạo và sản xuất giống ong của Việt Nam

3.2 ý nghĩa thực tiễn

- Xác định và thực hiện quy trình kỹ thuật nuôi giống ong Apis mellifera nhập nội vào Việt Nam năm 2001-2002, có được những nguồn gen quý cung cấp cho công tác lưu giữ, tạo dòng thuần và phục tráng giống ong ý trong nước đ4 thích nghi trước đó

- Tìm ra được các tổ hợp lai thích hợp được với điều kiện môi trường, nguồn hoa của một số tỉnh ở Việt Nam, cho hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng

được nhu cầu con giống cho sản xuất, khai thác tốt hơn tiềm năng cây nguồn mật của nước ta làm tăng số lượng và chất lượng mật ong cho xuất khẩu, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu mật ong trong nhóm hàng đầu thế giới

Trang 17

4 đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Các giống ong Apis mellifera nhập nội năm 2001-2002 của thế hệ khởi đầu và một số thế hệ đời con của chúng

- Giống ong ý Việt Nam (A m Ligustica) đ4 được phục tráng bằng các giống ong mới nhập nội có cùng phân loài

- Các tổ hợp lai 2 nguồn và 3 nguồn gen giữa các giống ong Apis mellifera mới nhập nội với ong ý Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Xác định đặc điểm hình thái, sinh học của các giống ong Apis mellifera mới nhập nội để thuần hóa thành nguồn gen quý giúp cho sản xuất ong mật ở Việt Nam

- Lai tạo và tìm kiếm các tổ hợp lai có triển vọng cho năng suất mật cao, phẩm chất tốt, chống chịu bệnh và phù hợp các vùng sinh thái trong chăn nuôi ong mật ở Việt Nam

- Xây dựng và thực hiện mô hình sản xuất mật ong năng suất cao, phẩm chất tốt bằng tổ hợp lai có triển vọng cho năng suất mật cao

- Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học của giống ong Apis mellifera Linnaeus mới nhập nội và các tổ hợp lai có triển vọng

- Xác định được khả năng thích nghi của giống ong mật Apis mellifera Linnaeus ở các vùng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc sử dụng nguồn gen giống ong mới này phục tráng giống ong ý trong nước, tìm ra được một số tổ hợp lai V.N, V.Đ, VN.Đ, có ưu thế lai cao và có giá trị trong sản xuất đại trà, góp phần định hướng cho công tác lưu giữ và tạo dòng thuần

- Xây dựng và thực hiện mô hình sản xuất mật ong cho năng suất cao, chất lượng đạt hiệu quả kinh tế và môi trường bằng tổ hợp lai có triển vọng

Trang 18

Chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc điểm hình thái

Các nhà khoa học ước tính có khoảng 20.000 loài ong thông qua các mẫu đang được lưu giữ trong các Viện Bảo tàng trên khắp thế giới (Roubik, 1989) [80] Nhiều nhà khoa học đ4 phân chia ong mật thành hai nhóm ong mật không ngòi đốt (stingless bees) và ong mật có ngòi đốt (honey bees) (Michener, 1974) [59] Sự đa dạng về thành phần loài của ong mật không ngòi

đốt rất lớn có tới 400 loài (Sakagami và Khoo, 1987) [81] còn ong mật có ngòi

đốt chỉ có 9 loài (Oldroyd và Wongsiri, 2004) [67]

Ong thợ giữ một vai trò quan trọng trong đàn ong, nó tiến hành mọi hoạt động x4 hội của đàn, tạo ra các sản phẩm để duy trì, phát triển đàn và chiếm tỷ lệ lớn trong đàn ong nên là đối tượng chính trong việc phân tích và nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh học của các giống ong

Ong thợ của các giống ong khác nhau có các đặc điểm khác nhau về màu sắc, về kích thước các bộ phận cơ thể và khác nhau cả về tập tính sinh học của chúng Theo Alpatob (1929) [27], (1948) [26], Ruttner (1986) [79], (1988) [78] và các nhà khoa học khác, có thể dùng sự khác nhau về kích thước cơ thể làm cơ sở cho sự phân loại

Mattur và cộng sự (1983) [58] đ4 nghiên cứu một số chỉ tiêu hình thái như chiều dài vòi, kích thước gương sáp của ong A m ligustica được nhập vào

ấn Độ có kích thước lớn hơn so với các chỉ tiêu tương ứng của ong Apis cerana vùng Hymachal Pradesh và các chỉ tiêu đó không có sự thay đối đáng

kể về hình thái học

Lee và Choi (1986) [50] đ4 tiến hành nghiên cứu sinh trắc học ong A m ligustica và ong Apis cerana từ các địa phương khác nhau ở Triều Tiên, cho

Trang 19

thấy ong A m ligustica, có các kích thước về chiều dài vòi, chiều dài và chiều rộng cánh, tấm lưng lớn hơn ong Apis cerana nhưng có chỉ số Cubital nhỏ hơn

Marlettor và cộng sự (1984) [57] đ4 nghiên cứu 39 chỉ tiêu hình thái của nhiều mẫu ong thợ ở thung lũng Tanaro và Maria của vùng Piedmont thuộc nước ý Kết quả cho thấy ong ở trên cao của thung lũng Tanaro là ong

A m mellifera, còn ở dưới thấp của thung lũng Maria là ong A m ligustica

Sort (1982) [84] đ4 nghiên cứu màu sắc phần bụng ong thợ lai của loài ong Apis mellifera ở Brazil thu được từ 4 vùng khác nhau, so sánh với ong thợ của 3 dòng thuần của các giống ong A m ligustica của ý, ong A m mellifera của Đức và ong Apis mellifera châu Phi Kết quả cho thấy ong ở Brazil là ong lai giữa ong Apis mellifera châu âu với ong Apis mellifera châu Phi

Nghiên cứu kích thước các chỉ tiêu hình thái của ong A m caucasica ở vùng Capcazơ thuộc Liên Xô cũ, cho thấy chúng biến đổi theo mùa và thế đàn ong Đàn ong càng yếu thì sự biến đổi theo mùa càng lớn, ngược lại đàn ong khoẻ thì sự biến đổi theo mùa yếu Tuy nhiên chỉ số cubital là một chỉ tiêu hình thái thì hầu như không biến đổi theo mùa và cũng không phụ thuộc vào thế đàn ong (Дoнґ Mинь Хaй, 1987) [103]

1.1.2 Cơ sở khoa học nghiên cứu các đặc điểm sinh học

Trong đàn ong, ong chúa là con cái duy nhất có cơ quan sinh sản phát triển hoàn chỉnh, ong chúa đẻ trứng để duy trì và phát triển đàn ong Sức đẻ trứng của ong chúa là chỉ tiêu sinh học rất quan trọng để đánh giá khả năng phát triển của đàn ong cũng như chất lượng giống ong

Trong điều kiện tự nhiên, ong chúa 5-7 ngày tuổi bay đi giao phối với ong đực và bắt đầu đẻ trứng từ sau khi giao phối 3 đến 12 ngày Cũng có những con ong chúa bắt đầu đẻ trứng ngay sau khi bay đi giao phối một ngày, nhưng số ong chúa như vậy rất ít (Oertel, 1940) [66] Thời gian đầu, các con ong chúa còn đẻ ít trứng, nhưng càng về sau thì số lượng trứng đẻ càng tăng

Trang 20

lên Sức đẻ trứng của ong chúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của ong chúa, giống ong, thế lực đàn ong, điều kiện khí hậu, nguồn hoa và mùa vụ nuôi ong (Nguyễn Văn Niệm, 2002) [17]

Các giống ong khác nhau thì khả năng đẻ trứng của ong chúa cũng khác nhau (Vinogradova, 1977) [88]

Tuổi thọ của ong chúa từ 3 đến 5 năm, nhưng chỉ trong năm đầu chúng

có sức đẻ trứng cao nhất Càng về sau, sức đẻ trứng của chúng càng giảm và

số lượng trứng đẻ không được thụ tinh càng tăng lên (Butler, 1975) [32]

Về mặt di truyền, ong thợ có cùng số lượng nhiễm sắc thể (NST) như ong chúa (2n = 32), được phát triển từ trứng đ4 thụ tinh nên nó mang đặc điểm của đàn mẹ và của cả đàn bố, nhưng cơ quan sinh sản không phát triển hoàn toàn Mặt khác, các ong thợ trong cùng đàn ong được sinh ra từ một ong chúa nhưng giữa chúng có các nguồn gen khác nhau do 1 ong chúa Apis mellifera khi giao phối ở trên không với 8-10 ong đực có nguồn gốc khác nhau (Ruttner, 1985) [101]

Park (1922) [70], (1928) [69] khi nghiên cứu về tập tính lấy mật của ong châu âu, cho rằng khối lượng mật hoa trong một chuyến bay đi lấy mật khác nhau tuỳ theo loại cây mà nó lấy mật, trung bình là 40 mg, tối đa là 70

mg và tốc độ bay trung bình của con ong đi lấy mật khi không có gió là 24 km/giờ Công trình nghiên cứu của Schmid-Hempel và cs (1985) [82] cho là con ong sẽ chọn nguồn mật hoa nào và phương pháp thu mật nào cho năng lượng thu được thực là lớn nhất

Năng suất mật của đàn ong là tổng lượng mật ong mà người nuôi ong thu được trên một đàn ong trong một năm Dù được nuôi trong cùng vùng sinh thái, các giống ong khác nhau vẫn có sự phát triển và cho năng suất sản phẩm không giống nhau Khi nghiên cứu các giống ong khác nhau được nuôi ở vùng Lithuania của nước Nga, Bilash và cs (1977) [30] cho thấy năng suất mật trung bình của các đàn ong ở giống ong địa phương (A m mellifera) là 26 kg,

Trang 21

của giống ong Caucasica là 47 kg và của giống ong Carnica là 31 kg Ng−ợc lại, cùng một phân loài ong nh−ng đ−ợc nuôi ở các vùng địa lý khác nhau thì năng suất mật của chúng cũng không giống nhau Ví dụ năng suất mật trung bình của phân loài ong ý nuôi ở ấn Độ là 20-30 kg/đàn/năm (Mishra và cs., 1997) [61], ở Thái Lan là 20 kg/đàn/năm (Sylvester và cs., 1987) [85] và ở Pakistan là 23 kg/đàn/năm (Khan, 1992) [47] Trong khi đó năng suất mật của các đàn ong ý ở Trung Quốc từ 50-70 kg/đàn/năm (Zheng Ming và cs., 1992) [95]

Một trong những khác nhau về khả năng thu mật của từng giống ong là

sự không giống nhau về khả năng đi lấy mật hoa của các con ong thợ Các công trình nghiên cứu của Milne (1977) [60], Rinderer và cs (1978) [73], Rothenbuhler và cs (1979) [75] đ4 chỉ ra rằng tập tính đi lấy mật hoa về tổ của các giống ong mật có bản chất di truyền và năng suất mật của đàn ong có liên quan chặt chẽ với đặc tính này

Năng suất mật của đàn ong còn phụ thuộc nhiều vào số l−ợng ong thợ trong đàn ong (thế đàn ong) Bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm, Cale (1967) [36] đ4 tìm thấy mối liên quan đáng tin cậy giữa sức đẻ trứng của ong chúa với khả năng thu mật của thế hệ những con ong thợ nở ra từ trứng đó Szabo (1982) [86] cũng đ4 xác định rằng năng suất mật của đàn ong có liên quan rất chặt chẽ với số l−ợng phấn hoa đàn ong mang về tổ, sức đẻ trứng của ong chúa

và số l−ợng ong thợ có trong đàn ong

ở hầu hết các loài động vật sinh sản hữu tính, trong mỗi một thế hệ chỉ tồn tại giới tính cái và giới tính đực Sự sinh sản nòi giống về sau là sự kết hợp

về mặt di truyền của hai kiểu giới tính này Tuy nhiên, đối với ong mật có hai loại ong đực là ong đực đơn bội và ong đực l−ỡng bội

Ong đực đơn bội có bộ nhiễm sắc thể là n = 16 là những con ong đực

đ−ợc ong chúa sinh ra từ các tế bào trứng không thụ tinh, vì thế, chúng chỉ mang đặc điểm di truyền của mẹ Đây là những con ong đực tồn tại bình

Trang 22

thường trong các đàn ong và tham gia vào quá trình sinh sản để duy trì nòi giống Còn ong đực lưỡng bội có bộ nhiễm sắc thể là 2n = 32 được sinh ra từ trứng đ4 thụ tinh giống như ong chúa hay ong thợ, nhưng tất cả các alen ở lô cút giới tính của chúng đều là đồng hợp tử (Rothenbuhler, 1957) [77] Tuy nhiên những con ong đực lưỡng bội không tồn tại vì chúng bị ăn ngay ở giai

đoạn ấu trùng (Woyke 1967) [94]

Ong đực thành thục sinh dục ở ngày thứ 12 đến ngày thứ 14 Tinh trùng của ong đực không phát triển qua một chu kỳ phân bào giảm nhiễm hoàn toàn, khi tế bào phân chia, nhiễm sắc thể không giảm đi 1/2 Vì vậy, về mặt di truyền, tinh trùng của ong đực giống như của ong chúa đ4 sinh ra nó và ong

đực chỉ làm nhiệm vụ truyền gen của ong chúa mẹ cho thế hệ tiếp theo làm cho ong chúa sinh ra nó có chức năng “bố” đối với thế hệ sau qua sự giao phối của ong đực con nó (Laidlaw và cs., 1986) [48]

Trong các công trình nghiên cứu riêng rẽ, Makensen (1951) [53], Laidlaw và cs (1956) [49] đ4 phát hiện thấy ở những đàn ong có ong chúa

được giao phối với những con ong đực gần gũi về huyết thống thì các cầu nhộng có ấu trùng vít nắp không đều Các tác giả trên giả thiết rằng hiện tượng này là do các alen gây chết ở trong nhiễm sắc thể làm cho trứng không

nở được và chúng bị các con ong thợ trưởng thành gắp bỏ đi

Woyke (1967) [94] kết luận rằng các trứng ong đực lưỡng bội đều nở ra thành ấu trùng, nhưng những con ấu trùng này tiết ra chất hoóc môn lôi cuốn các con ong thợ trưởng thành đến tiêu diệt chúng Năm 1969 ông đ4 tạo được ong đực lưỡng bội trưởng thành Các con ong đực này lớn hơn và nặng hơn các con ong đực đơn bội, nhưng thể tích cơ quan sinh tinh của chúng chỉ bằng 1/10 Vì thế, số lượng tinh trùng do ong đực lưỡng bội sinh ra không nhiều và

là tinh trùng lưỡng bội (2n = 32), chúng không có khả năng tạo giống

Mặc dù ong đực lưỡng bội không có ý nghĩa trong việc sinh sản duy trì nòi giống, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định alen giới tính và

Trang 23

đánh giá mức độ cận huyết của đàn ong Từ việc xác định tỷ lệ ong đực lưỡng bội trong đàn ong, Woyke (1976) [93] đ4 đưa ra công thức tính số alen giới tính của đàn ong như sau:

C

1

=

N Trong đó: N là số alen giới tính

C là tỷ lệ % ong đực lưỡng bội trong đàn ong

ở các quần thể ong bình thường số alen giới tính có số lượng là 12 alen Từ

đó, có thể suy ra tỷ lệ ong đực lưỡng bội cho phép trong quần thể ong là:

12

1

=N

1

=

%C

1.1.3 Cơ sở di truyền của lai tạo và ưu thế lai

1.1.3.1 Đặc trưng và bản chất của di truyền số lượng

Các tính trạng số lượng được quy định bởi nhiều cặp gen gọi là các tính trạng đo lường (Bourdon, 1997) [31] Theo Becker (1975) [29] các tính trạng

số lượng có các đặc trưng sau:

- Biến dị liên tục và khó phân biệt

- Phân bố tần số của các tính trạng số lượng là phân bố chuẩn

- Di truyền và lặp lại với các mức độ khác nhau

- Trong lai tạo thế hệ F1 là tương đối đồng nhất, thế hệ F2 phân ly không theo tỷ lệ nhất định và có thể phân ly tăng tiến

Khả năng di truyền này tuỳ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh Theo Lush (1945) [51] diễn đạt mối tương quan này như sau:

P = G + E Trong đó: P: là giá trị kiểu hình

G: là giá trị kiểu gen E: là giá trị sai lệch môi trường Các tính trạng di truyền số lượng được biểu thị như sau: Giá trị trung

Trang 24

bình (X), hệ số biến dị (CV), độ lệch chuẩn(∂), hệ số di truyền (h2), hệ số tương quan di truyền (r) và hệ số lặp lại (R) (Falconer, 1981 [42]; Đặng Vũ Bình, 2002 [1])

1.1.3.2 Lai tạo và ưu thế lai

Lai tạo là cho hai giống giao phối với nhau hoặc cho hai cá thể thuộc hai dòng cận huyết của một giống giao phối với nhau (Nguyễn Hải Quân và cộng sự, 1995) [18] Lai tạo nhằm mục đích tạo ra những tổ hợp di truyền mới

và giống mới, đồng thời cũng khai thác một hiện tượng sinh học là ưu thế lai ưu thế lai chính là sự tăng vượt lên về năng suất ở con lai so với trung bình giữa bố và mẹ thuần (Bourdon, 1997) [31] Ưu thế lai thường thể hiện ở các mức độ khác nhau đối với nhiều tính trạng, nhưng rõ nhất là trong các tính trạng sinh sản, sức sống, sức đề kháng bệnh tật và năng suất vì chúng luôn có

ý nghĩa kinh tế quan trọng Lai tạo là phương pháp làm giảm tần số kiểu gen

đồng hợp tử hay là làm tăng kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau Điều này có ý nghĩa lớn đối với công tác giống ong, nó sẽ làm giảm số lượng ong đực lưỡng bội hay làm giảm tỷ lệ cận huyết của đàn ong

1.1.3.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [22] có ba giả thiết để giải thích hiện tượng ưu thế lai đó là:

- Thuyết trội: Khi aa = AA > aa

Quá trình chọn lọc lâu dài các gen trội thường là các gen có lợi sẽ át các gen lặn Khi tạp giao thì các gen trội có lợi của bố mẹ sẽ truyền cho đời con lai làm cho con lai có giá trị cao hơn giá trị trung bình của bố mẹ Các tính trạng số lượng do nhiều cặp gen điều khiển vì vậy rất ít có tỷ lệ đồng hợp tử của bố mẹ, một nữa là gen trội dị hợp tử

- Thuyết siêu trội: aa > AA > aa

Thuyết này cho rằng hiệu quả của một cặp alen dị hợp tử aa lớn hơn

Trang 25

hiệu quả của các cặp đồng hợp tử AA và aa

- Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locut:

ở trạng thái dị hợp tử, sự tương tác giữa 2 alen xẩy ra không phải chỉ trong cùng một locut mà ở nhiều locut và có thể làm gia tăng quá trình hoạt

động sinh hoá của tế bào và do đó tăng hoạt tính của tế bào dẫn đến các cá thể

dị hợp tử có sức sống cao hơn

1.1.3.4 Các thành phần đóng góp của ưu thế lai

Các thành phần chính đóng góp cho bất kỳ một tổ hợp lai nào bao gồm:

- Thành phần di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad): là tỷ lệ gen của một giống thuần đóng góp cho các thể lai đó

- Thành phần di truyền cộng gộp từ cá thể mẹ (Am): là sự đóng góp trọn vẹn về thành phần di truyền cộng gộp từ cá thể mẹ trong tổ hợp lai đó

- Thành phần ưu thế lai trực tiếp (dd): là ưu thế lai do chính các cá thể thể đó tạo nên

- Ưu thế lai từ cá thể bố hoặc mẹ lai (Ds hoặc Dm): là ưu thế lai do chính mẹ lai hoặc bố lai đóng góp trực tiếp cho con lai chung

1.1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [22] thì ưu thế lai phụ thuộc vào 4 yếu

Trang 26

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển ong trên thế giới

1.2.1.1 Sơ lược tình hình phát triển ong trên thế giới

Lịch sử nuôi ong Apis mellifera ở Ai Cập là lâu đời nhất, đ4 có cách đây

5000 năm và tương đối phát triển Đàn ong được nuôi trong các đõ bằng đất nung hay đất bùn (Crane và cs., 1985 [40]; Crane, 1992a [38]) Lịch sử nuôi ong Apis cerana ở Trung Quốc là hơn 3000 năm, ấn Độ trên 2000 năm (Fang,

1984 [43]; Mishra và Shiag, 1987 [62]) Các nước khác như Srilanca, Nepan

và Pakistan cũng có nghề nuôi ong cổ truyền từ lâu (Kafle, 1992 [46]; Shahid,

1992 [83]; Punchihewa, 1994 [71]) Các loại thùng, đõ nuôi ong ở các nước trên gồm có đõ nằm bằng cây gỗ rỗng, đan bằng tre, bằng đất nung hay hốc trong tường nhà, được con người bắt chước tập tính làm tổ tự nhiên của ong trong các hốc cây, hốc đá Các loại thùng, đõ trên đều giống nhau ở chỗ là ong xây các bánh tổ gắn chặt vào phần trên của đõ, nên người ta gọi các loại đõ nói trên là đõ ong có bánh tổ cố định Nuôi ong bằng những thùng, đõ có bánh

tổ cố định cho năng suất mật thấp bình quân 2-3 kg/đàn ở các nước Đông Nam á và 5 kg/đàn ở Trung Quốc (Wongsiri, 1989) [89]

Năm 1851, giáo sĩ Langstroth (Philadelphia, Mỹ) đ4 sáng chế ra kiểu thùng có khung cầu di động được Nhờ áp dụng được kiểu thùng này nghề nuôi ong Apis mellifera được phát triển rất nhanh ở châu âu và Bắc Mỹ, sau

đó phát triển đến các châu khác trên thế giới (Crane, 1990) [39] Đến nay kiểu thùng này được sử dụng ở hầu hết các nước và nó cũng ứng dụng cho cả nghề nuôi ong Apis cerana, năng suất mật nhờ đó mà tăng lên từ 5 kg/đàn/năm lên

20 kg/đàn/năm, có nơi như Quảng Đông (Trung Quốc) lên đến 50 kg/đàn/năm (Wongsiri và cs., 1986) [90]

Theo Eva Crane (1990) [10] cho tới sau năm 1600 tất cả các loài ong chỉ hạn chế ở châu lục cũ, nơi mà chúng tiến hoá Trong số đó hai loài ong mật được nuôi chủ yếu trên thế giới là Apis cerana và Apis mellifera

Trang 27

Apis cerana là ong bản địa ở nhiều vùng rộng lớn của châu á, trải dài từ Iran ở phía tây đến Nhật Bản ở phía đông, từ vùng Viễn Đông trên bờ Thái bình dương của nước Nga đến miền cực nam của lục địa ở phía nam; nhưng ong Apis cerana lại không vượt qua vùng xích đạo ở phía nam vì ong Apis cerana ít có giá trị kinh tế ở các vùng khác trên thế giới, đặc biệt ở các vùng

ôn đới nên chúng không được đưa đến các vùng đất mới

Apis mellifera có nguồn gốc từ châu Phi là giống ong Apis mellifera nhiệt đới và Apis mellifera có nguồn gốc từ châu âu là giống ong Apis mellifera ôn đới Một số nước châu á ở phía tây, khu vực Địa Trung Hải cũng

có giống ong bản địa Apis mellifera của mình

Giống ong châu âu Apis mellifera là giống ong sản xuất mật tốt, dễ quản lý nên đ4 được đưa đi nhiều nước trên thế giới, đến nước Mỹ từ giống ong của nước Anh vào năm 1621, sau đó tới quần đảo Leeward (Trung Mỹ) năm 1688, vào Cuba năm 1784 từ bang Florida của Mỹ Các nước Nam Mỹ

được đưa ong đến từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chuyến đầu tiên vào năm

1839 tới Brazil và năm 1857 tới Chilê, Pêru Ong châu âu đ4 được đưa thành công tới Australia vào năm 1810 và tới Niu Zi-lân năm 1839, sau đó tới các

đảo ở Thái Bình Dương, đây là những vùng đất không có ong bản địa, người dân chỉ nuôi ong châu âu, chúng phát triển tốt và cho năng suất cao

Trong thế kỷ 20, ong châu âu còn đưa đến nuôi ở một số nước vốn có những giống ong bản địa như Ai Cập, Israel, Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan

Giống ong châu âu Apis mellifera đ4 thích nghi tốt ở một số nước nhiệt

đới, cho năng suất mật cao Woyke (1985) [92] nhận thấy kỹ thuật chăm sóc quản lý theo mùa loại ong này ở El Sanvador (140 Bắc) dễ hơn nhiều so với ở

Ba Lan (540 Bắc) vì khí hậu luôn ấm áp và không có những khó khăn do mùa

Trang 28

đông giá lạnh như ở Ba Lan gây ra Ngày nay ong châu âu đ4 bị loại trừ khỏi phần lớn những vùng đất ở nhiệt đới và á nhiệt đới của Nam Mỹ do ong lai Phi chiếm lĩnh Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc các quốc đảo Caribê, chúng vẫn phát triển tốt cho năng suất 100 kg mật/đàn/năm, hoặc hơn nữa mà không cần chế độ chăm sóc quản lý đặc biệt nào

ở châu Phi, người ta nuôi ong châu âu ở các vùng thuộc phía bắc sa mạc Sahara, còn ở phía nam của sa mạc có giống ong Apis mellifera nhiệt đới bản địa, thì ong châu âu không phát triển được (mặc dù đ4 nhập nhiều lần)

ở châu á, vùng nhiệt đới có những loài Apis khác nhưng không có Apis mellifera bản địa người ta đ4 nhập nội và nuôi thành công ong châu âu ở một

số vùng nhất định Ong châu âu có thể cho năng suất cao đối với cây nông nghiệp chiếm phần lớn đất đai và cho những vụ hoa dài ở vùng cao khí hậu nhiệt đới dịu đi thì ong châu âu có thể sản xuất tốt hơn là ở những vùng thấp

Những quan sát của Fang năm 1984 [43] ở những vùng á nhiệt đới và nhiệt đới của Trung Quốc cho thấy: “ở vùng đồng bằng, có phương tiện vận tải thích hợp và nguồn hoa phong phú, rộng lớn thì ong châu âu nhập nội chiếm

ưu thế và hầu như đ4 thay thế giống ong bản địa Trung Quốc (Apis cerana) Nhưng ở vùng đồi núi, do các điều kiện khí hậu, tình trạng nguồn mật hoa và

địch hại, ong bản địa tồn tại khá hơn và vẫn giữ vị trí chủ yếu”

Verma (1984) [87] cho biết, ở ấn Độ người ta chỉ nuôi ong châu âu nhập nội ở các khu vực phía Bắc như: khu vực đồng bằng của bang Punjab có 1500

đàn và ở những vùng đồi núi có độ cao dưới 1500 m của bang Himchal Pradesh

có 1000 đàn, chúng đ4 cho năng suất mật gấp 3 đến 4 lần ong Apis cerana

ở nhiều vùng nhiệt đới châu á khác, nuôi ong châu âu không hoặc ít

có hiệu quả kinh tế, thậm chí chúng không thể tồn tại được Nguyên nhân cơ bản nhất đ4 được xác định là do tác hại của ký sinh Varroa jacobsoni (có

Trang 29

nguồn gốc từ ong Apis cerana) và Tropilaelaps clareae (có nguồn gốc từ ong Apis dorsata) Fang Yuezhen năm 1984 [43]

Cả hai loại ve ký sinh này đều xâm nhập nhanh chóng vào đàn ong Apis mellifera và tác hại mạnh hơn nhiều lần so với ở ký chủ cũ của chúng (Apis cerana và Apis dorsata) Điều đáng quan tâm là trong hai loài trên thì Tropilaelaps clareae có tác hại huỷ diệt đối với ong Apis mellifera (Burgett và cs., 1983) [33]

1.2.1.2 Một số phân loài ong Apis mellifera

Theo Ruttner (1988) [78] loài ong Apis mellifera có tới 24 phân loài

đ−ợc phát hiện tại các vùng sau:

Vùng I Cận Đông

1 Apis mellifera anatoliaca Maa (1953)

2 Apis mellifera adami Ruttner (1975)

3 Apis mellifera cypria Pollmann (1879)

4 Apis mellifera syriaca Buttel-Reepen (1906)

5 Apis mellifera meda Skorikov (1929)

6 Apis mellifera caucasica Gorbachev (1916)

7 Apis mellifera armeniaca Skorikov (1929)

Vùng II Châu Phi nhiệt đới

8 Apis mellifera lamarckii Cockerell (1906)

9 Apis mellifera yemenitica Ruttner (1975)

10 Apis mellifera litorea Smith (1961)

11 Apis mellifera scutellata Lepeletier (1836)

12 Apis mellifera adansonii Latreille (1804)

13 Apis mellifera monticola Smith (1961)

14 Apis mellifera capensis Escholtz (1821)

15 Apis mellifera unicolor Latreille (1804)

Trang 30

Vùng III Địa Trung Hải

1 Tây Địa Trung Hải

a) Bắc Phi

16 Apis mellifera sahariensis Baldensperger (1924)

17 Apis mellifera intermissa Buttel-Reepen (1906)

b) Tây Địa Trung Hải và Bắc Âu

18 Apis mellifera iberica Goetze (1911)

19 Apis mellifera mellifera Linnaeus (1758)

2 Trung Địa Trung Hải và Nam Âu

20 Apis mellifera sicula Montagano (1911)

21 Apis mellifera ligustica Spinola (1806)

22 Apis mellifera cecropia Kiesenwetter (1860)

23 Apis mellifera macedonica Ruttner (1987)

24 Apis mellifera carnica Pollmann (1879)

Những năm sau các nhà khoa học còn tìm ra một số phân loài khác của ong Apis mellifera như sau:

25 Apis mellifera major Ruttner (1989) Theo Sheppard và cs (2003) [104], Apis mellifera major Ruttner được phát hiện ở vùng núi Rif phía Tây Bắc của nước Marốc, phân loài ong này có nhiều điểm giống phân loài ong Apis mellifera intermissa nhưng về giải phẫu học thì hoàn toàn khác nhau

26 Apis mellifera ruttneri, được phát hiện ở quần đảo Maltese Sheppard và cs (1997) [106]

27 Apis mellifera iberiensis Engel (1999), được phát hiện ở bán đảo Iberian giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Sheppard và cs (1999) [105],

28 Apis mellifera pomonella Sheppard và Meixner (2003) [104],

được phát hiện ở vùng núi Tien Shan của Trung á, phân loài này được coi là

xa nhất về hướng đông của loài ong Apis mellifera

Trang 31

Đặc điểm và nguồn gốc 4 phân loài ong Apis mellifera được nuôi phổ biến trên thế giới là:

+ Phân loài ong Apis mellifera carnica

Giống ong Apis mellifera carnica, do Pollmann phân loại năm 1879, chúng có nguồn gốc xuất xứ từ áo nên nó còn có tên là ong Kọrntner (Carinthian) Chúng phân bố từ vùng lòng chảo Danube và từ Balkans cho đến núi Alps (d4y núi kéo dài qua Pháp, Thụy Sỹ, và Italy) do vậy từ phía Nam và

Đông của đỉnh Alps (đỉnh cao nhất tại Thụy Sỹ) đều tìm thấy bằng chứng đây

là nơi định cư của giống ong này Tuy nhiên hiện nay do việc nuôi ong di chuyển và hoạt động trao đổi, xuất-nhập khẩu giống ong phát triển nên chúng

đ4 có mặt ở nhiều nước

A m carnica là giống ong thích nghi với những vùng khí hậu hoàn toàn lục địa với điển hình là mùa đông giá lạnh, mùa xuân cực ngắn, mùa hè nóng nực Chúng là giống ong với đặc điểm điển hình là khả năng phát triển rất mạnh vào vụ Xuân, chúng qua Đông trong tình trạng thế đàn rất nhỏ (6 cầu ong), ong chúa có thể ngừng đẻ hoặc đẻ rất ít trong thời kỳ này (ở Đức)

A m carnica là giống ong có số lượng móc cánh sau lớn nên thích nghi cho những chuyến bay ở điều kiện miền núi Theo quan sát Ruttner (1972) [102] một trại ong ở Alnax có độ cao gần 700 m so với mực nước biển, ong thợ có thể bay đi lấy mật trên độ cao 1500 m

A m carnica là giống ong rất hiền lành, ít bị xáo động trên cầu khi kiểm tra, ít lấy keo và có xu tính ăn cướp thấp Các dòng thuần này rất tốt, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, nguồn hoa tại vùng sản xuất, năng xuất vượt trội so với các đàn không qua chọn lọc

A m carnica là giống ong có màu đen điển hình, trọng lượng ong thợ mới nở và ong thợ đi làm cao hơn ong A m ligustica từ 15 đến 20%, ong thợ

có chỉ số Cubital từ 2,4-3,0; chiều dài vòi hút 6,5-6,8; đường kính lỗ tổ ong thợ 5,5 mm

Trang 32

+ Phân loài ong Apis mellifera ligustica

Giống ong Apis mellifera ligustica, do Spinola phân loại năm 1806, chúng có địa bàn phân bố tự nhiên ở vùng phía bắc d4y Alps Đây là giống ong có màu sắc điển hình vàng, chỉ số Cubital của ong thợ 2,2-2,8; chiều dài vòi hút 6,5-6,7 mm; đường kính lỗ tổ ong thợ 5,25 mm Chúng là giống ong thích nghi với vùng khí hậu ẩm, không quá lạnh về mùa đông của vùng khí hậu Địa Trung Hải

Chúng có khả năng qua đông khá tốt với việc khả năng duy trì thế đàn lớn trong vụ đông, chính vì vậy khi bước vào vụ xuân chúng phát triển sớm hơn so với ong A m carnica, tuy nhiên tốc độ phát triển trong vụ xuân không cao như ong A m carnica Ong ý A m ligustica là giống có xu tính chia đàn thấp, nhưng chúng lại có xu tính ăn cướp cao, dễ bị trôi dạt Đây là phân loài ong hiện nay có sự phân bố rộng nhất trên thế giới vì khả năng thích nghi và các đặc tính tốt của chúng nên chúng được gọi là giống ong thương mại Ong

ý có đặc điểm là khả năng đẻ trứng cao trong cả thời vụ khan hiếm nguồn hoa cũng như trong vụ mật vì vậy nó ít bị suy giảm thế đàn trong các vụ khó khăn tuy nhiên cũng tiêu tốn nhiều thức ăn hơn các giống ong khác Ong ý có khả năng chống bệnh thối ấu trùng cao nhưng dễ bị nhiễm bệnh Nosema (Rinderer, 1986) [72]

Ong A m ligustica được nhập vào Niu Zi-lân những năm 1880, chúng thích nghi tốt với khí hậu và nguồn hoa của nước này nên được nuôi rộng r4i

Từ năm 1950 việc nhập ong vào Niu Zi-lân bị cấm nên ong ý ở đây được

đánh giá là có độ thuần và năng suất cao Do đó, Niu Zilân là một trong những nước xuất khẩu số lượng lớn ong chúa và đàn ong nhỏ đi các nước khác Ve

ký sinh Varroa mới xâm nhập vào ong A m ligustica của Niu Zi-lân từ năm

2000 ở các tỉnh miền Nam của nước này (Phùng Hữu Chính và cs., 2005) [4]

Trang 33

+ Phân loài ong Apis mellifera mellifera

Giống ong đen có nguồn gốc từ Bắc Âu, tên khoa học là Apis mellifera mellifera, do Linnaeus phân loại năm 1758 Chúng có khả năng thích nghi rất rộng vì chúng vừa cư trú ở những vùng có mùa đông giá rét đến cả những vùng nóng ẩm như khí hậu của Atlantic nên chúng rất được nuôi phổ biến trên thế giới, chúng tự di cư từ phía Tây Địa Trung Hải qua Đức, Pháp để sang Anh, tới phía Bắc của nước Nga; đồng thời chúng cũng đi qua phía Nam Địa Trung Hải để đến d4y Alps và phía nam của nước Nga (Rinderer, 1986) [72]

A m mellifera là giống ong có kích thước cơ thể bé, màu sắc sẫm nên gọi

là ong đen, chúng có khả năng qua đông rất tốt thậm chí nhiệt độ xuống đến

- 450C, là giống ong có ưu thế hơn các giống khác ở những vùng có mùa hè ngắn

và nguồn mật dồi dào Trong một số trường hợp bị quấy rối chúng rất hung dữ, hiện nay chúng bị lai tạp rất nhiều đặc biệt là ở châu Âu (Ruttner, 1988) [78]

+ Phân loài ong Apis mellifera caucasica

Giống ong xám vùng núi Caucasus, do Gorbatschev phân loại năm

1916 có tên khoa học là Apis mellifera caucasica

Theo Vinogradova (1977) [88] thì giống ong A m caucasica là phân loài ong có chiều dài vòi hút dài nhất so với các phân loài khác (dài trên 7

mm, có chủng ong của phân loài này đạt tới 7,35 mm), chúng có khả năng thu mật tốt ở những nguồn hoa có đài sâu như hoa cỏ ba lá đỏ và thích nghi rất tốt

ở điều kiện vùng núi cao Phân loài A m caucasica có cơ thể màu xám đen, kích thước cơ thể trung bình, khả năng thu hoạch mật tốt và rất hiền lành nên

được nuôi ở nhiều vùng trên thế giới Tuy nhiên phân loài này dễ bị mắc bệnh Nosema (Ruttner, 1988) [78]

1.2.1.3 Phương pháp và kết quả chọn, tạo giống ong trên thế giới

Các cơ sở giống ong trên thế giới tùy theo quy mô và điều kiện cho phép thường áp dụng một số phương pháp chọn lọc giống ong để tạo được ong chúa có chất lượng tốt đáp ứng cho sản xuất của ngành ong như:

Trang 34

+ Chọn lọc đại trà

Chọn lọc đại trà là phương pháp chọn lọc đơn giản, dễ áp dụng cho các trại ong và người nuôi ong Phương pháp này dựa trên nguyên tắc là chọn những đàn ong tốt sau đó phân ra nhóm đàn làm mẹ và nhóm đàn làm bố, hàng năm các trại ong thay toàn bộ ong chúa của những đàn ong trung bình và kém bằng các ong chúa được tạo ra từ những đàn ong tốt nhất Chọn lọc đại trà đúng theo phương pháp có thể làm tăng năng suất mật lên từ 20-25% trong một năm Tuy nhiên sau một số năm chọn lọc theo phương pháp này sẽ dẫn

đến hiện tượng cận huyết và năng suất mật không tăng nữa, thậm chí còn giảm (Rothenbuhler, 1979) [76]

+ Chọn lọc theo quần thể khép kín

Page và Laidlaw (1982) [68] đ4 đưa ra sơ đồ chọn giống ong theo phương pháp quần thể khép kín Nguyên lý của phương pháp này là tập hợp

được một quần thể đủ lớn gồm 20-30 dòng ong khác nhau về vùng miền địa lý

để hàng năm chọn những đàn tốt nhất vừa làm đàn mẹ, vừa làm đàn bố Mỗi dòng ong tạo 12-18 ong chúa tơ, ong chúa tơ được giao phối trong quần thể khép kín với các đàn bố của các dòng đ4 được chọn, khi ong chúa đẻ mỗi dòng chọn 10 ong chúa đẻ tốt để nuôi Lại theo dõi các chỉ tiêu về sản xuất trong thời gian 1 năm rồi chọn đàn tốt nhất của dòng để làm giống cho thế hệ sau, chu kỳ được lặp chọn giống lại hàng năm Phương pháp này cho phép chọn được ong chúa tốt, chống được cận huyết trong vòng 20-30 năm và nâng cao được chất lượng giống ong

+ Chọn lọc cá thể

Chọn lọc cá thể là phương pháp kiểm tra năng suất mật hoặc các đặc tính chọn lọc khác ở đời con để biết xem đặc tính đó có khả năng di truyền

được hay không (Rinderer, 1986) [72] Chọn lọc cá thể có thể làm tăng sức đẻ trứng của ong chúa lên từ 35-40% và năng suất mật lên 25-30%, tuy nhiên phương pháp này phức tạp hơn, cần chuyên môn cao, số lượng đàn ong và người tham gia chọn lọc lớn hơn và tốn kém hơn

Trang 35

Trên cơ sở của quá trình chọn lọc, có được nguồn gen ong tốt, các nước trên thế giới áp dụng phương pháp nhân giống ong lai như: lai trong dòng và lai chéo giữa các phân loài Lai trong dòng khá phức tạp, phải cho giao phối gần bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo hoặc giao phối cách ly Việc tạo và giữ các dòng thuần là khó và tốn kém vì dòng thuần có nhiều đồng hợp tử về gen lặn, tỷ lệ ong đực lưỡng bội cao vì vậy phương pháp này không phù hợp cho người nuôi ong sản xuất giống và người nuôi ong lấy mật (Page và Laidlaw, 1982) [68] Còn phương pháp lai chéo giữa các phân loài, do lai xa nguồn gốc nên con lai có ưu thế lai cao, năng suất mật tăng từ 40-50% ở thế

hệ thứ nhất của cặp lai A m ligustica với A m caucasica Tuy nhiên, qua các kết quả lai kinh tế cho thấy lai ba phân loài (A m ligustica x A m caucasica)

x A m mellifera là thành công nhất, năng suất mật của đàn ong tăng lên đến 116% so với đối chứng là A m ligustica (Freshaye và Laivie, 1976 [44]; Adam và Rothman, 1977 [25])

Baumgarter (1967) [28] thì việc lai tạo giữa hai giống ong A m carnica

và A m ligustica cho năng suất con lai khá cao nhưng ong thợ rất hay đốt, tuy nhiên cũng theo ông nếu cặp lai giữa A m carnica không qua chọn lọc với A

m ligustica thì con lai cho năng suất không cao bằng dòng thuần A m carnica đ4 qua chọn lọc

Melnichenko (1977) cho lai các giống ong của ba phân loài A m ligustica, A m carnica và A m mellifera ở Nga thấy rằng năng suất và lợi nhuận kinh tế của những tổ hợp lai ba nguồn thực sự cao, những tổ hợp lai

được chọn lọc có khả năng kháng bệnh Nosema, bệnh ỉa chảy ở ong trưởng thành (Бюpeнин, 1985) [2]

Ong ý (A m ligustica) được nuôi ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Canađa, Niu Zilân, áo, Nhật ở Mỹ giống ong ý đ4 được du nhập vào giữa thế kỷ 19, cùng với hầu hết các giống ong châu Âu khác để chọn lọc và lai tạo Đặc biệt trong quá trình chọn lọc và lai tạo tích cực, những nhà tạo giống

Trang 36

Mỹ đ4 tạo ra được giống ong ý mới có màu sắc khác với màu sắc giống ong

ý bản địa là: từ 3 sọc vàng tấm lưng bụng của ong thợ thành 4 hoặc 5 sọc vàng tấm lưng bụng, làm con ong vàng hơn (Anpatob, 1948) [26] Công tác chọn lọc theo các chỉ tiêu hình thái của ong ý, thậm chí theo các chỉ tiêu sinh vật học hay kinh tế khác của nó để chỉ ra được sự khác biệt của giống ong đó

đối với giống ong khác và có thể coi đó là giống ong bán tự tạo hay giống ong

tự tạo (ong nhà máy) (Malkov, 1985) [56]

Theo Ruttner (1972) [102] thì ưu thế lai cũng được biểu hiện khi cho các dòng ong khác nhau về địa lý lai với nhau, thậm chí bố mẹ chúng không phải là dòng thuần Tuy nhiên không phải bất cứ các dòng ong khác nhau về

địa lý cho lai với nhau đều cho ưu thế lai

Mục tiêu trong công tác chọn lọc và lai tạo giống ong ý cũng như các dòng ong của nó được những nhà nghiên cứu Mỹ quan tâm đến là nâng cao sức đẻ trứng của ong chúa, tăng hiệu quả thụ phấn đối với cây trồng, nâng cao năng suất mật và giảm tỷ lệ chia đàn tự nhiên

ở nhiều nước trên thế giới có nghề nuôi ong phát triển đ4 sản xuất được những giống ong Apis mellifera cho năng suất mật cao, trung bình tới 40-50 kg/đàn/năm như ở Mỹ, Canada, Acgentina, Trung Quốc, Đức trong thời gian 2006-2007 (Cvitkovic l và cs., 2009) [41]

1.2.1.4 Mô hình sản xuất ong chúa giống trên thế giới

Với ong mật do tập tính giao phối trên không, bên ngoài tổ ong, khoảng cách để bay đến điểm giao phối của ong đực là 10 km và ong chúa 1-3 km (Ruttner, 1986) [79] một ong chúa có thể giao phối với nhiều ong đực (10-17 con) chính vì vậy muốn kiểm soát được giao phối của ong chúa với ong đực buộc ta phải cho chúng giao phối cách ly về địa lý hoặc thụ tinh nhân tạo cho chúng Do đó ở một số nước có trình độ kỹ thuật nuôi ong thấp hoặc các cơ sở nuôi ong có quy mô nhỏ, người nuôi ong tự tạo ong chúa giống cho trại ong của mình bằng phương pháp chọn lọc đại trà Đôi khi họ mua một số con chúa

Trang 37

giống của trại khác hoặc trao đổi chúa cho nhau để bổ sung nguồn gen, làm giảm tỷ lệ cận huyết và tăng chất lượng con giống Còn ở các nước có kỹ thuật nuôi ong phát triển, họ có những trại nuôi ong lớn, chuyên sản xuất ong chúa giống bằng phương pháp công nghiệp tại khu vực cách ly giao phối (ở đó họ kiểm soát được nguồn gốc của những con ong đực tham gia vào quá trình giao phối với ong chúa), nên số ong chúa giống sản xuất được có được nguồn gốc khá chắc chắn và chúng được cung cấp cho các trại nuôi ong sản xuất mật hoặc trại ong sản xuất giống ong trong cả nước

Tuy nhiên, theo Roberts (1944) [74] để đảm bảo chắc chắn về kết quả giao phối của ong chúa chỉ có thụ tinh nhân tạo là đáng tin cậy nhất

Trên thế giới kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho ong chúa, đ4 thực hiện thành công từ những năm 1940 (Mackensen, 1947 [55]; Mackensen và Roberts, 1948 [54]) Sau đó phương pháp thụ tinh nhân tạo cho ong chúa đ4 được cải tiến, hoàn thiện cả về kỹ thuật và trang thiết bị để tạo ra được những con ong chúa có chất lượng tốt (Mackensen và Tucker, 1970 [52]; Woyke, 1988 [91])

Hiện nay ngoài việc hoàn thiện và ra đời những loại máy thụ tinh nhân tạo hoàn chỉnh hơn thì việc nghiên cứu bảo quản tinh trùng ong đực cũng được quan tâm và đ4 từng bước kéo dài thời gian bảo quản phục vụ tốt cho công tác giống và lưu giữ nguồn gen ong mật (Cobey và Lawrence, 1990) [100]

Các nước như Đức, Nam Tư và áo ứng dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo cho ong chúa, giống ong A m carnica đ4 và đang được các nhà chọn giống chọn lọc theo hướng dòng thuần rất tốt: ở áo người ta đ4 chọn ra các dòng ong từ giống ong này với các tên như: dòng Sklennar, Troiseck và từ năm 1948, sau 30 năm chọn lọc họ đ4 chọn ra dòng Lunz từ dòng Troiseck, ở

Đức các nhà chọn giống đ4 chọn ra dòng Peschetz Nhìn chung các dòng thuần này rất tốt, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, nguồn hoa tại vùng sản xuất, năng suất vượt trội so với các đàn không qua chọn lọc

Trang 38

1.2.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển ong ở Việt Nam

1.2.2.1 Sơ lược tình hình phát triển ong ở Việt Nam

Ong Apis cerana là một loài ong bản địa của Việt Nam, vốn được khai thác và thuần hoá từ rất lâu đời ở các vùng miền núi và trung du Các hình thức nuôi ong ở Việt Nam cũng phát triển từ thấp đến cao Bắt đầu bằng việc săn lùng tổ ong tự nhiên, nuôi ong trong các hốc cây, hốc đá tự nhiên, nuôi trong các thùng đõ cổ truyền, nuôi ong trong thùng có bánh tổ cố định và đặc biệt nuôi ong trong thùng đ4 có thanh ngang, đây là hình thức nuôi ong cổ truyền tiến bộ nhất vì các bánh tổ nhấc ra và đặt vào một cách dễ dàng khi ta kiểm tra đàn ong hoặc thu mật ít ảnh hưởng đến đàn ong, hình thức này phổ biến được nuôi ở miền Bắc Việt Nam và là hình thức duy nhất ở châu á đối với ong Apis cerana (Crane và cs., 1992b) [37]

Giống ong A m ligustica (ong ý) đ4 được đưa vào Việt Nam từ năm

1887, nhưng chỉ có 3 đàn làm cảnh chứ chưa có mục đích kinh tế (Rialan, 1887) [97] Sau đó những năm 1960- 1962 một số người Hồng Kông đ4 đưa vào miền Nam Việt Nam một số đàn ong ý, nhưng phát triển kém và đến năm

1975 chỉ tồn tại khoảng 2000 đàn Những đàn ong này đều bị ký sinh Varroa

và Tropilaelaps gây hại ở mức độ cao (Tạ Thành Cấu, 1986) [3]

Năm 1974, Công ty ong Trung ương có nhập một số đàn ong nội (Apis cerana) cao sản từ Viện nghiên cứu ong Bắc Kinh (Trung Quốc), vào địa bàn

Hà Nội Do không được nuôi theo dõi cách ly bệnh nên bệnh ấu trùng túi, một bệnh nguy hiểm do vi rút gây ra trên đàn ong, (trước đó ong nội Việt Nam chưa mắc phải) đ4 lây sang ong nội ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Phùng Hữu Chính và Vũ Văn Luyện, 1999) [6]

Năm 1977, Công ty ong cấp I thuộc Bộ Nông nghiệp đưa 50 đàn ong ý

ra miền Bắc và năm 1978 Trại nghiên cứu ong Đốc Tín đưa tiếp 50 đàn ong ý

ra miền Bắc để nuôi thí nghiệm nhưng không phát triển được, đến năm1979 bị chết hoàn toàn Từ năm 1980-1985, một số đơn vị sản xuất cũng đưa ong ý ra

Trang 39

Bắc nhưng không duy trì được quanh năm, bệnh ký sinh phát triển mạnh, đàn ong bị sa sút phải đưa trở lại miền Nam

Năm 1983, Công ty ong Trung ương tiếp nhận 150 ong chúa (Apis mellifera caucasica) và 150 ong chúa (Apis mellifera carpatica) từ Liên Xô (trước đây), 150 ong chúa (Apis mellifera) từ Cu Ba, giao cho Xí nghiệp giống ong Lương Sơn, Xí nghiệp giống ong Khu IV và Xí nghiệp giống ong Gia Lai quản lý theo dõi thích nghi, nhưng số ong này bị ký sinh Varroa và Tropilaelaps phá hại rất nghiêm trọng, thế đàn và số lượng đàn giảm sút rất nhanh chóng, đến năm 1989, số đàn ong trên đ4 bị huỷ hoàn toàn

Tuy nhiên, qua việc lai kinh tế giữa mẹ là ong A m caucasica với bố là ong A m ligustica Việt Nam cho năng suất vượt hơn từ 15% đến 20% so với

đối chứng là ong A m ligustica Việt Nam (Trần Đức Hà và Đồng Minh Hải, 1991) [15]

Từ sau năm 1985, các đơn vị nuôi ong đ4 áp dụng các phương pháp chọn lọc, phòng trị ký sinh có hiệu quả nên cho đến nay ong ý Việt Nam đ4

được nuôi quanh năm ở nhiều tỉnh của miền Bắc cho hiệu quả kinh tế cao

Năm 2001, Trung tâm nghiên cứu ong nhập 22 ong chúa Apis mellifera carnica từ Đức và 80 ong chúa Apis mellifera ligustica từ Niu Zi-lân Năm

2002, Trung tâm nghiên cứu ong nhập tiếp 52 ong chúa Apis mellifera carnica

từ áo và 110 ong chúa Apis mellifera ligustica từ ý Các ong chúa trên được nuôi cách ly bệnh tại đảo Cái Bầu, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh từ 6 đến

9 tháng, sau đó được đưa vào đất liền để nuôi theo dõi và nghiên cứu

Ngày 28 tháng 5 năm 2003 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đ4 công nhận thích nghi và cho phép đưa ra phục vụ sản xuất 2 giống ong A m carnica từ Đức và A m ligustica từ Niu Zi-lân theo quyết định số 1645/ QĐ -BNN-KHCN

Cả nước tính đến năm 2002 ước có 600.000 đàn ong trong đó 450.000

đàn ong ý, và 150.000 đàn ong nội, tăng 3 lần so với năm 1993 Sản lượng

Trang 40

năm 2002 đạt khoảng 16.000 tấn mật ong tăng 7,8 lần trong 10 năm, xuất khẩu gần 14.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu gần 20 triệu USD Việt Nam trở thành nước xuất khẩu mật ong lớn thứ hai ở châu á sau Trung quốc và là 1 trong 10 nước xuất khẩu mật ong hàng đầu trên thế giới Nuôi ong đ4 thu hút

và tạo công ăn việc làm cho một số lớn lao động ở nước ta với số người nuôi ong trên 26.000 người, trong đó có gần 3000 người nuôi ong chuyên nghiệp qui mô từ 200 đến trên 2000 đàn ong/ người Tuy nhiên năm 2003 lượng mật xuất khẩu bị giảm đi, giá mật xuất khẩu cũng bị giảm, lý do chủ yếu là chất lượng mật ong năm 2003 không được tốt và một số lô hàng có dư lượng kháng sinh cao (Phùng Hữu Chính và Đinh Quyết Tâm, 2004) [5]

Theo báo cáo tổng kết của Hội nuôi ong Việt Nam (2009) về tình hình phát triển của ngành ong Việt Nam từ năm 2000 đến 2008 với các số lượng

đàn ong nuôi và số lượng mật khai thác xuất khẩu được theo bảng 1.1

Bảng 1.1: Tình hình phát triển của ngành ong Việt Nam

từ năm 2000 đến 2008

Chỉ tiêu STT Năm

Số đàn ong (đàn) Sản lượng mật (tấn) Lượng mật XK (tấn)

Ngày đăng: 06/12/2013, 09:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu của đề tài  (Nguồn: Cục đo đạc bản đồ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu của đề tài (Nguồn: Cục đo đạc bản đồ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) (Trang 49)
Hình 2.2: Lấy tinh trùng ong đực (15 ngày tuổi)                        (Nguồn: Nguyễn Ngọc Vững, 2005) - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 2.2 Lấy tinh trùng ong đực (15 ngày tuổi) (Nguồn: Nguyễn Ngọc Vững, 2005) (Trang 55)
Bảng 3.1: Đặc điểm hình thái của các giống ong Apis mellifera   mới nhập nội vào Việt Nam (tháng 10 năm 2003) - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.1 Đặc điểm hình thái của các giống ong Apis mellifera mới nhập nội vào Việt Nam (tháng 10 năm 2003) (Trang 58)
Bảng 3.9: Số l−ợng nhộng bình quân đời con thế hệ (2-4) của giống ong  (Apis mellifera) míi nhËp néi 1 - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.9 Số l−ợng nhộng bình quân đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis mellifera) míi nhËp néi 1 (Trang 76)
Hình 3.2: Thế đàn ong của đời con thế hệ (2-4) của giống ong               (Apis mellifera) míi nhËp néi - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.2 Thế đàn ong của đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis mellifera) míi nhËp néi (Trang 79)
Hình 3.3: Tỷ lệ cận huyết của đàn ong đời con thế hệ (2-4) các giống ong   (Apis mellifera) míi nhËp néi - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.3 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong đời con thế hệ (2-4) các giống ong (Apis mellifera) míi nhËp néi (Trang 81)
Hình 3.5: Năng suất mật của đàn ong đời con thế hệ (2-4)   của giống ong (Apis mellifera) mới nhập nội - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.5 Năng suất mật của đàn ong đời con thế hệ (2-4) của giống ong (Apis mellifera) mới nhập nội (Trang 85)
Bảng 3.14: Số l−ợng nhộng bình quân của giống ong ý Việt Nam   sau khi phục tráng 1   (Đơn vị: nhộng/ngày đêm) - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.14 Số l−ợng nhộng bình quân của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 1 (Đơn vị: nhộng/ngày đêm) (Trang 89)
Hình 3.6: Số l−ợng nhộng của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.6 Số l−ợng nhộng của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng (Trang 90)
Bảng 3.15: Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 1 - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.15 Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng 1 (Trang 91)
Hình 3.7: Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.7 Thế đàn ong của giống ong ý Việt Nam sau khi phục tráng (Trang 92)
Bảng 3.16: Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam khi đ−ợc phục tráng 1 - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.16 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam khi đ−ợc phục tráng 1 (Trang 93)
Hình 3.8: Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam sau khi phục tráng - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.8 Tỷ lệ cận huyết của đàn ong ý Việt Nam sau khi phục tráng (Trang 94)
Bảng 3.17: Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng 1 - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Bảng 3.17 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng 1 (Trang 95)
Hình 3.9: Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng - Đặc điểm, hình thái sinh học của các giống ong apis mellifera linnaeus và tính năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa chúng với  apis mellifera ligustica
Hình 3.9 Tỷ lệ nhiễm ký sinh của đàn ong ý Việt Nam sau phục tráng (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w