Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
trường đại học nông nghiệp i
-
trần tú anh
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất đậu tương trên đất phù sa trong đê huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: TS vũ đình chính
Hà nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đ2 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Trần Tú Anh
Trang 3Lời cám ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Vũ Đình Chính người đ2 hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suất thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy, cô giáo khoa Sau đại học, khoa Nông học, bộ môn Cây công nghiệp- Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, l2nh
đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, phòng Trồng trọt của Sở, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Phú Thọ, Trung tâm giống cây trồng Phú Thọ, các phòng chuyên môn của huyện Lâm Thao, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đ2 động viên cổ vũ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./
Tác giả luận văn
Trần Tú Anh
Trang 4Mục lục
2.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 112.4 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam 202.5 Các yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậu tương ở Việt Nam 33
3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 38
3.2 Thời gian nghiên cứu, địa điểm, điều kiện đất đai 38
4.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở địa bàn huyện 48
Trang 54.2 Hiện trạng sản xuất và một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở huyện
4.3 Kết quả thí nghiệm đồng ruộng về một số biện pháp kỹ thuật nâng cao
4.3.1 Kết quả so sánh một số dòng giống đậu tương trong điều kiện vụ
đông và vụ xuân trên đất Lâm Thao - Phú Thọ 544.3.2 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của biện pháp làm đất đến sinh
trưởng phát triển và năng suất của đậu tương trong vụ đông 734.3.3 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của liều lượng đạm bón khác
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh môc c¸c b¶ng
B¶ng 2.1 DiÖn tÝch, n¨ng suÊt s¶n l−îng ®Ëu t−¬ng trªn thÕ giíi (1996-2005) 12B¶ng 2.2 DiÖn tÝch, n¨ng suÊt, s¶n l−îng ®Ëu t−¬ng cña 4 n−íc s¶n xuÊt
B¶ng 2.3 DiÖn tÝch, n¨ng suÊt, s¶n l−îng ®Ëu t−¬ng cña ViÖt Nam
Trang 8Bảng 4.16 ảnh hưởng của các biện pháp làm đất đến sinh trưởng,
Bảng 4.17 ảnh hưởng của các biện pháp làm đất đến mức độ nhiễm sâu
bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương D140 75Bảng 4.18 ảnh hưởng của biện pháp làm đất đến các yếu tố cấu thành
Bảng 4.19 ảnh hưởng của các biện pháp làm đất đến năng suất của giống
Bảng 4.20 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất đậu tương ở các
Bảng 4.21 ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá
Bảng 4.22 ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sự hình thành nốt sần
Bảng 4.23 ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến thời gian sinh trưởng,
khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống
Bảng 4.24 ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống đậu tương D140 85Bảng 4.25 Hiệu quả kinh tế của liều lượng đạm bón khác nhau
Trang 9Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Biểu đồ 4.1 Năng suất thực thu của các dòng giống đậu tương
Biểu đồ 4.2 Hàm lượng Protein và Lipit của các dòng, giống đậu tương 72Biểu đồ 4.3 Năng suất thực thu của giống đậu tương D140 ở các phương
Biểu đồ 4.4 Năng suất thực thu của giống đậu tương D140 ở các liều lượng
Trang 101 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Đậu tương là cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao,trong hạt đậu tương có tới 38 - 42% Protein, 18 - 22% Lipit, 4 - 5% lượng chất khô… [33], ngoài ra trong hạt đậu tương còn có các Vitamin A, B, C, E, K… Protein đậu tương có chất lượng tốt nhất trong các loại Protein thực vật Hàm lượng các axit amin chứa lưu huỳnh như Methionin, Xistein, Xistin gần giống với Protein của trứng cá Riêng hàm lượng Lizin cao gấp 1,5 lần của trứng
Đậu tương là nguyên liệu chế biến dầu thực vật, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, tương… đồng thời cũng là nguyên liệu quan trọng để chế biến thức ăn chăn nuôi (Lê Hoàng Độ, 1997[14])
Đậu tương là cây cải tạo đất tốt nhờ việc cố định Nitơ tự do thông qua hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Japonicum cộng sinh với rễ cây đậu tương Các nghiên cứu cho thấy sau mỗi vụ trồng, đậu tương đ2 cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80kg N/ha, tương đương với 300 - 400kg đạm Sunphat [33]
Thân lá đậu tương có giá trị cao trong chăn nuôi và dùng chế biến phân xanh rất tốt
Với những ưu thế như trên cộng với thời gian sinh trưởng ngắn, đáp ứng
được yêu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, đậu tương ngày càng có một vai trò quan trọng trong cơ cấu giống cây trồng của thế giới và Việt Nam
Phú Thọ là một tỉnh miền núi có điều kiện khá thuận lợi để phát triển
đậu tương Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 97.513 ha, trong đó đất lúa
và màu là 48.494 ha mà phần lớn có thể trồng đậu tương
Trang 11Những năm 2000 - 2005 an ninh lương thực được đặt lên hàng đầu, tỉnh chủ trương đẩy mạnh sản xuất lương thực Đến nay vấn đề đó đ2 cơ bản được giải quyết Năm 2005 sản lượng lương thực đạt 43,07 vạn tấn, đưa bình quân lương thực đầu người đạt 324,2kg/người/năm
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất theo hướng hình thành các vùng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn có hiệu quả, gắn sản xuất với tiêu thụ,
đảm bảo sản xuất an toàn, bền vững là hướng đi cho những năm tiếp theo
Trong số những cây trồng được lựa chọn thì đậu tương giữ một vai trò quan trọng Diện tích - Năng suất - Sản lượng đậu tương của tỉnh Phú Thọ tăng không ngừng qua các năm Năm 2006 diện tích đậu tương đạt 2.354 ha (tăng
666 ha), năng suất: 14,5 tạ/ha (tăng 4,3 tạ/ha) và sản lượng đạt 3414 tấn (tăng 1.679 tấn) so với năm 2000
Định hướng của tỉnh đến năm 2010 đưa diện tích đậu tương đạt 3.000
ha, sản lượng đạt 6 ngàn tấn, đến năm 2020 đạt diện tích 4.000 ha, sản lượng khoảng 10 ngàn tấn [19]
Tuy vậy việc phát triển đậu tương trong hệ thống cây trồng ở Phú Thọ còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, nhân lực, điều kiện
tự nhiên vốn có…
Năng suất thấp dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao là yếu tố hạn chế
mở rộng diện tích đậu tương ở Phú Thọ Trong số các nguyên nhân trước hết thấy rằng công tác giống chưa được chú trọng đúng mức (cả việc lựa chọn giống tốt cho sản xuất và công tác duy trì, phục tráng, sản xuất hạt giống có phẩm cấp cung cấp cho nông dân), thứ hai là hiểu biết của người dân về đậu tương còn hạn chế dẫn đến thiếu đầu tư thâm canh, không chú ý áp dụng các biện pháp kỹ thuật, hơn nữa đậu tương là cây trồng có sinh khối không lớn, sâu bệnh nhiều nhưng công tác phòng trừ chưa được chú trọng Giải quyết tốt
Trang 12các tồn tại trên làm tăng năng suất, hiệu quả sản xuất sẽ mở ra khả năng khai thác tiềm năng to lớn về đất đai để mở rộng diện tích, thực hiện thắng lợi việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống của tỉnh
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất
đậu tương trên đất phù sa trong đê huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
Xác định được một số giống tốt, liều lượng đạm bón và kỹ thuật làm đất hợp lý cho đậu tương trên đất phù sa trong đê tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong điều kiện vụ xuân và vụ đông
- Tìm hiểu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất của giống đậu tương D140 trên đất phù sa trong đê huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ
- Tìm hiểu ảnh hưởng của các biện pháp làm đất khác nhau cho đậu tương vụ đông trên đất phù sa trong đê sông Hồng huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ
Trang 131.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
Xác định được cơ sở khoa học của những biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm thâm canh tăng năng suất đậu tương trên đất phù sa trong đê huyện Lâm Thao, Phú Thọ
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm các thông tin, các dữ liệu khoa học về cây đậu tương làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
1.4 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu tương có triển vọng như DT84, DT96, D140, D915,và
ĐT22 trong điều kiện vụ đông và vụ xuân, đó là 2 vụ trồng đậu tương chính ở Phú Thọ
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu tác động của các biện pháp làm đất đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương vụ đông, ảnh hưởng của liều lượng đạm bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của đậu tương vụ xuân trên đất phù sa trong đê huyện Lâm Thao, Tỉnh Phú Thọ
Trang 142 Tổng quan tài liệu
2.1 Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
2.1.1 Yêu cầu về các yếu tố khí hậu
Về phân vùng địa lý: đậu tương là cây trồng có nguồn gốc ôn đới (M2n Châu- Trung Quốc) Vào khoảng 200 năm trước công nguyên được đưa sang trồng ở Triều Tiên, Nhật Bản và m2i đến sau này mới được trồng ở Mỹ và lan rộng nhanh chóng trên khắp các châu lục Hiện nay đậu tương được trồng từ
550 vỹ độ Bắc đến 550 vỹ độ Nam
Về nhiệt độ: đậu tương có nguồn gốc ôn đới, cần nhiệt độ ôn hoà để sinh trưởng và phát triển Tổng tích ôn yêu cầu của cây đậu tương để sinh trưởng phát triển tuỳ theo giống chín sớm hay muộn mà biến động từ 1.888 - 2.7000C Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh lý khác của cây đậu tương Phạm vi nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho thời kỳ mọc mầm là từ 5 - 400C, thích hợp nhất cho đậu tương mọc nhanh là
300C (Delouche, 1953) Sự sinh trưởng của cây giai đoạn trước lúc ra hoa có tương quan chặt chẽ với nhiệt độ Nhiệt độ trung bình ở các vùng trồng đậu tương là từ 22oC đến 38oC, thích hợp nhất cho sự sinh trưởng là 22 - 270C Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến ra hoa kết quả Nhiệt độ xuống tới 100C ngăn cản sự phân hoá hoa, dưới 180C đ2 có khả năng làm cho hoa không đậu quả
Nhiệt độ cao trên 400C ảnh hưởng sâu sắc đến sự phân hoá đốt sinh trưởng lóng và phân hoá hoa
Nhiệt độ không khí thích hợp nhất cho quang hợp của đậu tương là 25 -
300C (Whigham, 1983) [51]
Nhiệt độ thích hợp nhất cho hoạt động của vi khuẩn nốt sần là 25 - 270C
Sự vận chuyển các chất trong cây càng chậm khi nhiệt độ càng thấp và
Trang 15ngừng lại khi nhiệt độ ở 2 - 30C (Lê Song Dự, 1988) [12]
ẩm độ: nhu cầu nước của cây đậu tương thay đổi tuỳ điều kiện khí hậu,
kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng Đậu tương cần lượng mưa từ 350
mm đến 600mm cho cả quá trình sinh trưởng Hệ số sử dụng nước từ 1.500 - 3.500m3 cho việc hình thành một tấn hạt (Sichcar (1987), Vũ Thế Hùng (1981) [21])
Tuy nhiên tuỳ từng giai đoạn phát triển đậu tương có nhu cầu nước khác nhau Thời kỳ mọc đậu tương cần đủ ẩm để mọc nhanh và đều, khô hạn hoặc ngập úng lúc này làm đậu tương bị thối, mất sức nảy mầm Nhu cầu nước tăng dần khi cây lớn lên và lớn nhất ở thời kỳ quả mẩy Hạn vào thời kỳ ra hoa đậu quả sẽ gây rụng hoa, quả nhiều Nếu hạn vào thời kỳ quả vào chắc sẽ giảm năng suất do giảm trọng lượng hạt hoặc hạt bị lép nhiều Tuy vậy so với ngô
và đậu xanh thì đậu tương có sức chịu hạn khá hơn
ánh sáng: ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương vì nó thay đổi thời gian nở hoa và chín, ảnh hưởng đến chiều cao cây diện tích lá và nhiều đặc tính khác của cây Đậu tương là cây ngày ngắn điển hình, có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày Để ra hoa kết quả được đòi hỏi phải có ngày ngắn, nhưng các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau Cây sẽ ra hoa khi độ dài ngày nơi trồng ngắn hơn trị số giới hạn của giống Các giống chín muộn phản ứng chặt chẽ với độ dài thiếu sáng hơn giống chín sớm
Trong một giống thời kỳ cây con (1,2 lá thật) mẫn cảm nhất với ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và hầu như ngừng ở giai đoạn ra hoa Giai đoạn từ ra hoa đến chín phản ứng ánh sáng có xu hướng giống nhau giữa các nhóm chín
Cường độ ánh sáng: đậu tương là cây C3, b2o hoà ánh sáng ở cường độ 23.680lux Mức b2o hoà ánh sáng với quang hợp của đậu tương phụ thuộc vào
Trang 16cường độ ánh sáng của môi trường trồng trọt Chất lượng ánh sáng ảnh hưởng
đến sinh trưởng của cây Cường độ ánh sáng mạnh thì cây sinh trương phát triển tốt khả năng cho năng suất cao, ánh sáng quá yếu, lóng vươn dài, cây có
xu hướng leo và năng suất hạt thấp Cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường làm giảm số cành, đốt quả, năng suất hạt có thể giảm 50% [12],[27] 2.1.2 Yêu cầu về đất đai
Đậu tương thích ứng khá rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau
từ đất sét, đất thịt, đất thịt pha cát… cho đến đất cát nhẹ nhưng thích hợp nhất
là đất thịt nhẹ, cát pha Nhìn chung đất trồng hoa màu và thoát nước tốt thì trồng đậu tương tốt Trên đất thịt nặng đậu tương khó mọc nhưng sau khi mọc lại thích ứng tốt hơn so với loại cây màu khác Trên đất cát đậu tương cho năng suất không ổn định Đất có độ pH bằng 6 - 7 thích hợp cho cây sinh trưởng và hình thành nốt sần [27]
2.1.3 Yêu cầu dinh dưỡng
Cây đậu tương yêu cầu một lượng dinh dưỡng khá lớn Để đạt sản lượng 3.000kg hạt/ha cây đậu tương cần 285kg N, 170kg K2O, 85kg P2O5, 65kg CaO, 52kg MgO… và nhiều chất vi lượng khác Ba nguyên tố cây cần với lượng lớn là N, P, K.[27]
Đạm: đạm là nguyên tố quan trọng nhất của cây đậu tương Nhu cầu
đạm của cây đậu tương khá lớn và tăng nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa, kết quả,
đặc biệt từ hoa rộ đến hạt mẩy Để tạo một tấn hạt cần 95kg N Cây đậu tương
có thể lấy đạm từ 3 nguồn: Nguồn đạm trong đất, đạm từ phân bón và đạm do
vi khuẩn sống cộng sinh cố định được, riêng nguồn đạm cộng sinh có thể đáp ứng 40-60% lượng đạm cây cần
Lân: lân là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng, lân xúc tiến phát triển bộ
rễ và hình thành nốt sần, các cơ quan sinh sản hoa, quả, hạt,… Cây đậu tương hút lân trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây nhưng nhiều nhất
Trang 17trong thời kỳ đầu; thời kỳ cuối lân chuyển từ thân lá về quả, hạt Tuỳ theo yêu cầu về năng suất đậu tương cao hay thấp và hàm lượng lân có sẵn trong đất để xác định mức bón lân cho hợp lý Lượng phân lân trung bình nên bón xung quanh 300kg Suppe lân/ha, bón lót cùng phân hữu cơ
Kali: kali có vai trò rất quan trọng trong trao đổi đạm, chuyển hoá Gluxit cũng như hàng loạt các phản ứng khác, kali có vai trò điều hoà cân bằng nước, tổng hợp Protein, tăng tính chống chịu của cây… Cây hút kali trong quá trình sinh trường phát triển nhưng nhiều nhất là thời kỳ ra hoa Thời
kỳ cuối kali chuyển từ thân lá về hạt Kali cần được bón sớm với lượng bón từ
80 - 150kg K2SO4 hoặc KCl/ha
Can xi: có tác dụng điều chỉnh pH đất, cung cấp can xi cho cây Trên các loại đất lúa, đất đồi nương của nước ta phần nhiều là chua cần bón vôi để trung hoà độ chua tạo pH thích hợp 6 - 6,5 cho cây sinh trưởng và vi khuẩn nốt sần hoạt động tốt Lượng vôi cần bón tuỳ theo độ chua của đất, trung bình khoảng 300 - 500kg/ha
2.1.4 Cơ sở khoa học của việc bố trí các biện pháp làm đất cho đậu tương
đông
Để nảy mầm hạt cần hút nước trương lên mầm phôi được phát động sinh trưởng, sau đó mầm mọc lên khỏi mặt đất nhờ sự duỗi ra của vòng cung nằm ở trục dưới lá mầm, xoè lá tử diệp Thời kỳ này cây đậu tương chủ yếu dựa vào dinh dưỡng do lá mầm cung cấp Chất dinh dưỡng trong lá mầm là nguồn thức
ăn chủ yếu cho cây trong vòng một tuần sau khi mọc
Vì vậy để hạt đậu nảy mầm tốt vấn đề làm đất rất quan trọng, dù làm đất theo cách nào cũng phải đảm bảo hạt đậu phải tiếp xúc với đất, hút được ẩm mới có thể nảy mầm và sau đó (5 - 7 ngày) phải có nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây
Thời vụ cụ thể trong từng mùa vụ chịu ảnh hưởng chi phối lớn của biện
Trang 18pháp làm đất, mà ta biết rằng thời vụ kịp thời là một yếu tố quan trọng (có khi
là quyết định) nhằm tận dụng điều kiện thiên nhiên, khí hậu, khắc phục những yếu tố bất thuận… để cho năng suất, hiệu quả cao
Trong điều kiện vụ đông trên đất sau thu hoạch lúa mùa sớm, thời vụ gieo trồng đậu tương rất ngắn trong phạm vi xung quanh 10 - 12 ngày, đặc biệt trong điều kiện đất ướt thì vấn đề làm đất càng có ảnh hưởng sâu sắc đến thời vụ gieo hạt cụ thể, từ đó ảnh hưởng tới sinh trưởng, năng suất, hiệu qủa sản xuất về sau
2.1.5 Cơ sở khoa học của việc bón đạm
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây đậu tương Nhu cầu đạm của cây rất lớn và tăng nhiều nhất vào thời kỳ ra hoa, kết quả, đặc biệt từ hoa rộ đến khi hạt mẩy Thiếu đạm lá đậu tương chuyển màu xanh vàng và rụng khi có gió, phiến lá hẹp, lá nhỏ, cằn cỗi… Thời kỳ ra hoa tạo quả nếu thiếu đạm thì hoa, quả rụng nhiều, hoặc lép, trọng lượng hạt thấp [27] Nhu cầu đạm của đậu tương lớn, để tạo một tấn hạt cần 95kg N (tương
đương với 207kg Urê) như vậy để có năng suất đậu tương 2.000kg/ha thì cần 190kg N tương đương 414kg Urê/ha Tuy nhu cầu đạm của đậu tương lớn nhưng do rễ đậu tương sống cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nên đậu tương có thể lấy đạm từ 3 nguồn: Đất, phân bón và đạm do vi khuẩn sống cộng sinh cố định được Giữa 3 nguồn này có mối quan hệ qua lại, riêng nguồn đạm cộng sinh có thể đáp ứng 40 - 60% lượng đạm cây cần; nguồn đạm này được tăng dần bắt đầu từ khi cây có 3 lá kép (nốt sần hình thành) và đạt tối đa khi cây ra hoa, quả sau đó giảm dần
Vì vậy không phải bất kỳ một loại đất trồng nào cũng cần bón đạm nhiều Tuỳ theo từng loại đất trồng mà quyết định bón nhiều hay ít, đối với đất nghèo dinh dưỡng bón nhiều đạm sẽ cho hiệu lực cao; đất giàu đạm thì nên bón ít, vì bón nhiều hiệu lực đạm không cao
Trang 19Như vậy tuỳ điều kiện cụ thể cần xác định được lượng đạm cần bón vào
đất để cây đậu tương sử dụng có hiệu quả nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh
tế cao
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Thực tiễn sản xuất cho thấy đậu tương là cây trồng cạn ăn hạt có một vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là một mắt xích không thể thiếu trong các công thức luân canh cây trồng của các hệ thống nông nghiệp bền vững; hoặc trong các công thức xen canh có hiệu quả (ngô trồng xen đậu tương, đậu tương trồng xen mía, đậu tương xen táo, đu đủ…)
Từ cuối năm 1980 phong trào sản xuất đậu tương đông ở miền Bắc được triển khai và ngày càng phát triển Vụ đông năm 1980 miền Bắc trồng được 3.000 ha, từ đó diện tích đậu tương đặc biệt đậu tương đông ngày càng mở rộng
Vụ đông 2003 diện tích đậu tương đông đạt 33.100 ha đến vụ đông 2004
đạt 47.600 ha và vụ đông năm 2005 tăng lên 56.200 ha Chỉ riêng tỉnh Hà Tây trong diện tích vụ đông 50.565 ha của năm 2005 thì đậu tương đông chiếm tới 28.830 ha, vụ đông 2006 kế hoạch trồng 53.000 ha trong đó riêng đậu tương
là 30.000 ha (Cục Nông nghiệp (2005)[10]
Song song với mở rộng diện tích, các biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm
đảm bảo kịp thời vụ và giảm giá thành sản phẩm như: Làm đất tối thiểu, gieo v2i, tách hạt bằng máy được nông dân ứng dụng có hiệu quả tại nhiều địa phương như Phú Xuyên, ứng Hoà (Hà Tây), Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) Liều lượng và kỹ thuật bón phân, đặc biệt là bón đạm cho đậu tương cũng được người dân quan tâm áp dụng
Như vậy có thể thấy điều kiện khí hậu miền Bắc cho phép mở rộng phát triển vụ đậu tương đông, ngoài 2 vụ xuân và hè thu đồng thời có thể áp dụng các biện pháp làm đất gieo trồng đặc trưng cho phù hợp với điều kiện đất ướt sau 2 lúa
Trang 20Từ năm 2003, Bộ Nông nghiệp & PTNT phát động phong trào xây dựng cánh đồng khu đồi rừng hộ nông dân thu nhập cao Nhiều tỉnh đồng bằng và Trung du Bắc bộ đ2 xây dựng được nhiều cánh đồng 50 triệu trong đó cây đậu tương có vai trò quan trọng trong các công thức luân canh
Một số công thức luân canh, xen canh có hiệu quả:
+ Ngô đông xuân - Đậu tương hè - Cây vụ đông
+ Lúa xuân - Lúa mùa sớm - Đậu tương đông
+ Lúa xuân - Đậu tương hè thu - Cây vụ đông
+ Đậu tương xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông
+ Mía xen đậu tương, ngô xen đậu tương kết hợp chăn nuôi bò, đậu tương xen cây ăn quả
Tại tỉnh Phú Thọ cây đậu tương có một vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, do vậy được phát triển và mở rộng điện tích, đặc biệt là vụ đậu tương đông sau 2 lúa và vụ đậu tương xuân Tuy nhiên trong sản xuất nông dân còn sử dụng các giống đậu tương cũ, không được phục tráng, đồng thời các biện pháp kỹ thuật chưa được hiểu biết đúng và áp dụng kịp thời, thiếu
đầu tư thâm canh.v.v do vậy năng suất thấp, hiệu quả sản xuất không cao Việc giải quyết tốt khâu giống, kỹ thuật canh tác và phối hợp tốt trong khâu thâm canh sẽ là những yếu tố tạo năng suất cao, hiệu quả sản xuất thuyết phục trong việc phát triển sản xuất đậu tương
2.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: Đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa
và cọ dầu Do vậy đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước Châu Mỹ chiếm tới 73,0% tiếp đó
là các nước thuộc khu vực Châu á (Trung Quốc, ấn Độ) chiếm 23,15% (Lê Hoàng Độ và CTV, 1977) [14]
Trang 21Theo tổ chức nông lương thế giới FAO (2005) diện tích đậu tương toàn thế giới năm 2004 là 91,61 triệu ha, tăng 28,43 triệu ha so với năm 1996
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất sản lượng đậu tương
trên thế giới (1996-2005)
Năm Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
(Nguồn: FAO STAT 2005 và food Outlook, FAO, No-1, June 2006)
Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suất đậu tương cũng có sự tăng trưởng đáng kể, năm 2002 năng suất đậu tương là 23,34tạ/ha tăng 3,08 tạ/ha
so với năm 1995
Như vậy trong vòng 10 năm diện tích đậu tương tăng 29,50 triệu ha, năng suất tăng 3,08 tạ/ha và sản lượng tăng 88,82 triệu tấn đ2 khẳng định hiệu quả, vai trò của cây đậu tương trong nền nông nghiệp thế giới
Tổng sản lượng đậu tương thế giới năm 2006 dự báo sẽ đạt 220,18 triệu tấn tăng nhẹ so với năm 2005
Trang 22Đậu tương được trồng ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên bốn nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Mỹ, Braxin, Achentina, và Trung Quốc chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng thế giới
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước sản xuất đậu tương chủ yếu trên thế giới
(Nguồn: WAP, Jun 2006; Oilseeds: WM&T, jun 2006)
Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu đậu tương lớn nhất thế giới Năm 2005 diện tích đậu tương của Mỹ là 28,88 triệu ha, năng suất 29,10 tạ/ha, sản lượng 84,00 triệu tấn giảm nhẹ so với năm 2004 Dự báo năm 2006 diện tích đậu tương của Mỹ đạt 29,92 triệu ha, năng suất 27,40tạ/ha (giảm 1,7tạ/ha) sản lượng sẽ đạt 81,92 triệu tấn, giảm 2,48% so với năm 2005 Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương sang EU, Nhật, Tây Ban Nha, Tây Âu…Năm 2004
Mỹ xuất khẩu 27,49 triệu tấn, tăng 3,40 triệu tấn so với năm 2003 Năm 2006 xuất khẩu đậu tương của Mỹ dự báo sẽ đạt 29,67 triệu tấn
Trang 23Nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới là Braxin Bắt đầu từ năm 1960 do nhiều yếu tố tác động cũng như lợi ích từ sản xuất đậu tương mang lại mà diện tích đậu tương của nước này tăng với tốc độ cao và trở thành nước sản xuất
đậu tương lớn thứ 2 thế giới Năm 2005 diên tích đậu tương của Braxin đạt 22,0 triệu ha, năng suất đạt 25,00 tạ/ha, sản lượng đạt kỷ lục 55 triệu tấn Dự báo năm 2006 năng suất sẽ tăng đạt 26,70 tạ/ha do vậy sản lượng sẽ đạt 56 triệu tấn
Năm 2005 Braxin xuất khẩu 25,30 triệu tấn, dự kiến năm 2006 xuất khẩu 25,40 triệu tấn
Nước sản xuất đậu tương lớn thứ 3 là Achentina Năm 2005 diện tích
đậu tương của Achentina đạt 15,00 triệu ha, năng suất đạt rất cao 26,80tạ/ha
và sản lượng 40,50 triệu tấn, tăng 91% so vơí năm 2000 Dự kiến năm 2006 diện tích sẽ đạt 15,40 triệu ha, năng suất 26,80tạ/ha, sản lượng 41,30 triệu tấn
Trung Quốc đứng đầu Châu á và đứng thứ 4 thế giới về sản xuất đậu tương Năm 2000 diện tích đậu tương của Trung Quốc là 8,18 triệu ha, Sản lượng: 14,29 triệu tấn, đến năm 2004 diện tích đ2 đạt 10,58 triệu ha, sản lượng
đạt 17,75 triệu tấn Năm 2005 diện tích giảm xuống còn 9,50 triệu ha, nhưng năng suất đạt 18,10 tạ/ha (tăng 1,30 tạ/ha) nên sản lượng giảm không đáng kể vẫn đạt 17,20 triệu tấn Nhìn chung so với các nước Mỹ, Brazin, Achentina thì năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn từ 7,0 tạ đến 11 tạ/ha
Ngoài 4 nước nói trên thì Pháp, úc, ấn Độ, Nhật Bản cũng là những nước sản xuất đậu tương lâu đời Năm 1990 diện tích trồng đậu tương tại Pháp
đạt 135.000 ha, năng suất rất cao: 36,5 tạ/.ha, sản lượng 492.750 tấn [38] Tại Nhật Bản theo Nogata (2000) [48] cây đậu tương tuy đ2 được đưa vào khoảng 200 năm trước và sau công nguyên, nhưng phải đến năm 1960 cây đậu tương mới được chú ý phát triển Diện tích đậu tương của Nhật Bản năm 1960 là
340 ngàn ha, năng suất 78,5 tạ/ha cao nhất thế giới với giống Miyagishironma,
Trang 24năm 1997 diện tích đạt tới 832 ngàn ha (Nguyễn Văn Luật (2005)[26]
ở ấn Độ đậu tương là cây trồng được chú ý phát triển khá mạnh Năm
1997 ấn Độ có diện tích đậu tương là 5,1 triệu ha, năng suất 10,5 tạ/ha, sản lượng 5,35 triệu tấn Thành công đáng kể trong những năm gần đây của ấn Độ
là áp dụng giống mới và kỹ thuật thâm canh nên năng suất bình quân đ2 tăng gấp 2,5 lần đạt 26,7 tạ/ha [49]
Nhìn chung Châu á mới chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu đậu tương, còn lại phải nhập khẩu Các nước nhập khẩu nhiều đậu tương phải kể đến là Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Inđonêxia, Philippin…
Một số nước Đông âu cũng có nhu cầu nhập đậu tương lớn chủ yếu từ
Mỹ và Braxin như Hà Lan: 5,06 triệu tấn; Đức: 3,9 triệu tấn; Tây Ban Nha: trên 3 triệu tấn (Ngô Thế Dân, 1999) [11]
Tổng sản lượng đậu tương thế giới năm 2005 là 219,49 triệu tấn, lượng
đem ép dầu 182,65 triệu tấn Tổng sản lượng dầu đậu tương năm 2005 đạt 33,8 triệu tấn, tổng sản lượng bột đậu tương 143,14 triệu tấn
Xuất khẩu đậu tương thế giới năm 2005 đạt 65,47 triệu tấn, xuất khẩu dầu đậu tương 9,28 triệu tấn, bột đậu tương 48,86 triệu tấn (dẫn theo [2])
2.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Vỉệt Nam có lịch sử trồng đậu tương lâu đời Trong thư tích thế kỷ thứ
VI cho biết ở Bắc bộ có trồng đậu tương Trong “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đề cập nhiều đến cây đậu tương Dân ta biết trồng trọt
và sử dụng đậu tương từ hàng ngàn năm nay Đến nay cây đậu tương đ2 và
đang trở nên là cây trồng quan trọng có ý nghĩa trong sản xuất nông nghiệp của nước ta
ở Châu á, Việt Nam xếp thứ 6 về sản xuất đậu tương sau Trung Quốc,
ấn Độ, Indonexia, Triều Tiên và Thái Lan
Trang 25Theo Tổng cục Thống kê thì trong những năm 1998 - 2000 diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương không thay đổi nhiều, biến động diện tích từ 122,3 - 129,4 ngàn ha, Năng suất 11,3 - 11,6 tạ/ha, sản lượng 141,9 - 147,2 ngàn tấn
Những năm tiếp theo 2000 – 2005, diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Việt Nam có bước tăng trưởng khá
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương
của Việt Nam từ năm 2000 - 2005
(1.000ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
Trong 6 năm (2000 - 2005) diện tích đậu tương tăng 81,3 ngàn ha, năng suất tăng 2,7 tạ/ha và sản lượng tăng 149,6 ngàn tấn một con số rất có ý nghĩa, thể hiện vai trò quan trọng của cây đậu tương trong cơ cấu cây trồng ở Việt Nam
ở miền Bắc nước ta hiện nay đ2 hình thành 3 vụ đậu tương trong một năm đó là:
Trang 26+ Vụ xuân: Gieo tập trung từ 10/2 - 10/3 Vùng Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh có thể gieo sớm hơn từ 20/1 - 10/2 để tránh gió Tây cuối tháng 4, vùng Tây bắc Bắc bộ (Sơn La, Lai Châu…) gieo muộn hơn từ 1/3 - 20/3 + Vụ hè: Gieo 25/5 - 20/6 (một số tỉnh có tập quán gieo đậu tương hè giữa 2 vụ lúa thì phải gieo kết thúc trước 8/6 và dùng giống ngắn ngày như
ĐT12 (75 ngày)
+ Vụ đông: Gieo 15/9 - 5/10
Hiện nay một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ như Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ… để tranh thủ thời vụ trên đất sau lúa mùa sớm, nông dân đ2 trồng đậu tương bằng phương thức làm đất tối thiểu hoặc gieo v2i không làm đất nhờ đó tiết kiệm nhân lực, tiết kiệm chi phí và cho thu nhập khá, mở ra khả năng khai thác
mở rộng diện tích đậu tương vụ đông Điển hình tại tỉnh Hà Tây vụ đông 2004 trồng 24.000 ha đậu tương thì có 10.000 ha gieo v2i, năm 2005 trồng 28.830 ha thì chủ yếu là gieo v2i và làm đất tối thiểu (Cục Nông nghiệp, 2005) [10]
ở các tỉnh phía Nam: thường chỉ có 2 vụ đậu tương/năm và tuỳ từng vùng địa lý cụ thể có thời vụ trồng thích hợp Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Vụ 1 gieo tháng 4, 5 thu hoạch tháng 7, 8 (Hay gặp mưa, chất lượng hạt kém); Vụ 2 gieo tháng 7, 8 và thu hoạch tháng 10, 11
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: vụ 1 gieo tháng 12, thu hoạch tháng 2, 3; vụ 2 gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3, thu hoạch tháng 5 [27]
Về giống đậu tương: những năm qua rất nhiều giống đậu tương được nhập nội, tuyển chọn, lai tạo và đưa vào sản xuất tạo nên bộ giống đậu tương khá phong phú
Theo Nguyễn Chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiên Lương, Trịnh Khắc Quang (2005)[4] cả nước năm 2003 có 78 giống đậu tương được gieo trồng, trong đó có 13 giống chủ lực với diện tích gieo trồng trên 1.000 ha được phân bố như sau: DT84, Bông Trắng (> 10.000 ha); MTĐ176, DT99, 17A
Trang 27(5.000 - 10.000 ha); AK03, ĐT12, Nam Vang, ĐH4, V74, AK05, VX93 (1.000 - 5.000 ha)
Cũng theo các tác giả trên, 7 giống được công nhận chính thức giai đoạn
2001 - 2004 được gieo trồng trên diện tích 7.097 ha làm tăng sản lượng 944 tấn làm lợi cho sản xuất 4,8 tỷ đồng
Tuỳ theo đất đai, mùa vụ, cơ cấu cây trồng của từng địa phương mà sử dụng giống thích hợp Các nhà khoa học khuyến cáo việc bố trí giống thích hợp cho các mùa vụ như sau
+ Các giống thích hợp cho vụ xuân: VX93, AK06, D140, ĐT2000, DT96…
+ Các giống thích hợp cho vụ hè: DT84, M103, ĐT93, ĐT12, ĐT80… + Các giống thích hợp cho vụ đông, thu đông: DT84, DN42, DT96,
ĐT93, VX93
+ Bộ giống của các tỉnh phía Nam: MTĐ176, HL92, HL2, G87-1… [35]
Về định hướng phát triển đậu tương: tới đây Việt Nam sẽ là thành viên WTO, việc nhập khẩu ngô, đậu tương phục vụ chăn nuôi sẽ là bất hợp lý, vì tiềm năng trồng cây họ đậu của chúng ta rất lớn, lao động nông nghiệp và đất trồng trọt còn rất tốt; những cây trồng tiết kiệm nước như đậu tương nên được
ưu tiên phát triển Đậu tương rau cũng có tiềm năng phát triển ở một số vùng của Việt Nam, nếu chúng ta giải quyết đầu ra cho người sản xuất một cách ổn
định Mục tiêu ưu tiên cho cải tiến giống cây họ đậu: là tăng khả năng chống chịu bệnh, khả năng cố định đạm cao, chống chịu hạn, phẩm chất dinh dưỡng cao và cải tiến công nghệ chế biến
Theo Quyết định số 150/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản cả nước đến 2010 và tầm nhìn 2020 nêu rõ: “Đến năm 2010 diện tích đậu tương khoảng 400.000 ha, trong đó trồng trên đất chuyên màu là 200.000 ha, còn lại
Trang 28bố trí luân canh trên đất 2 vụ lúa, 1 lúa - 1 màu Định hướng năm 2020 khoảng
430 ngàn ha Bố trí chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng, Trung du miền núi Bắc Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên” Như vậy định hướng đ2 rõ ràng, cây
đậu tương đ2 và đang được Nhà nước nhìn nhận đúng vai trò và vị trí
2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Trung du, miền núi Bắc bộ có tiềm năng để phát triển đậu tương Diện tích đất tự nhiên của tỉnh 3.519,65 km2 dân số 1,3 triệu người, diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 94.960 ha Trong đó đất lúa màu là 48.494 ha, mà phần lớn có thể gieo trồng đậu tương được Với ưu thế
là cây ngắn ngày, có giá trị kinh tế và có tác dụng cải tạo đất tốt, đậu tương đ2
đang và sẽ khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu giống cây trồng của tỉnh Phú Thọ Chính vì vậy những năm qua diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Phú Thọ đều tăng
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương tỉnh Phú Thọ
qua các năm (2000 – 2006)
Năm Diện tích
(Ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (Tấn)
Trang 29Trong vòng 6 năm diện tích đậu tương của tỉnh Phú Thọ đ2 tăng đáng
kể, đạt 2.354,7 ha, tăng 666 ha (39,4%) so với năm 2000
Về năng suất đậu tương cũng có bước tăng trưởng rõ nét năm 2005 đạt 14,50 tạ/ha, tương đương năng suất bình quân cả nước (14,3 tạ/ha) và tăng 4,3 tạ/ha so với năm 2000
Về sản lượng: do tăng về diện tích và năng suất mà sản lượng đậu tương
đạt được khá cao: 3.413,7 tấn cao gấp 2 lần năm 2000
Mặc dù diện tích, năng suất sản lượng đều tăng nhưng cũng thấy rằng do thiếu giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái cụ thể, đầu tư thâm canh chưa thoả đáng, thiếu hiểu biết về kỹ thuật canh tác nên năng suất đậu tương của Phú Thọ chưa cao dẫn đến hiệu quả sản xuất còn hạn chế
Sản xuất đậu tương ở Việt Nam nói chung và Phú Thọ nói riêng còn nhiều bất cập, năng suất thấp chỉ bằng khoảng 60% năng suất đậu tương thế giới Sản lượng đậu tương của Việt Nam chỉ đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng trong nước, chúng ta thiếu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi
2.4 Một số nghiên cứu về đậu tương trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
2.4.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn giống đậu tương
Nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 14 nước: Trung Quốc, úc, Đài Loan, Pháp, ấn Độ, Nigieria, Nhật Bản, Indonexia, Hàn Quốc, Nam Phi, Thuỵ Điển, Thái Lan, Mỹ và Nga (Liên Xô) với tổng số 45.038 mẫu giống (Trần Đình Long (1991),[23])
Mỹ và Canada là những nước chú ý đến chọn tạo giống đậu tương ở 2 nước này có gần 10.000 mẫu giống, đưa vào sản xuất hơn 100 dòng có khả
Trang 30năng chống chịu tốt với bệnh Phytopthora và thích ứng rộng như các giống Amsoy71, Lec 36, Clark 63… Hướng chủ yếu trong công tác nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ là sử dụng các tổ hợp lai phức tạp, cũng như nhập nội để làm phong phú thêm quỹ gen chọn lọc, chọn những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, hàm lượng Protein cao (Johnson HW, Bernard, 1976) [44]
Braxin là nước rất coi trọng công tác chọn giống, từ 1976 đến nay Trung tâm nghiên cứu quốc gia đ2 chọn từ 1.500 dòng đậu tương những giống thích hợp Nhiều giống tốt đ2 được tạo ra như DoKo, Numbaira, Cristalina…trong
đó năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 38 tạ/ha Thời gian tới Braxin chọn giống đậu tương theo hướng có thời gian sinh trưởng 107 - 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt, kháng sâu bệnh [50]
Để chọn tạo giống đậu tương người ta ứng dụng nhiều phương pháp khác nhau như gây đột biến, tạo đa bội thể, lai hữu tính… tạo ra thế hệ mới có nhiều ưu điểm
Năm 1961 Viện Khoa học nông nghiệp Đài Loan đ2 dùng phương pháp gây đột biến bằng Nơtron và tia X tạo các giống Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và quả không bị nứt [18]
Weber và Moorthey (1952) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tương quan
di truyền và kiểu hình của 7 tính trạng trong 3 quần thể đậu tương ở thế hệ F2 kết luận: Năng suất hạt có mối tương quan thuận với ngày chín, chiều cao cây
và trọng lượng hạt Nhưng Kwon và cộng sự (1972) [47] khi nghiên cứu tập
đoàn giống đậu tương lại cho rằng: Năng suất hạt có tương quan nghịch với thời gian sinh trưởng và giai đoạn từ gieo đến ra hoa
Kaw và Menon (1972) [46] khẳng định mối tương quan thuận chặt giữa năng suất hạt với số quả trên cây, chiều cao cây, thời gian 50% ra hoa và thời gian sinh trưởng
Trang 31Johnson và cộng sự (1955) [45] lại xác định giữa năng suất và thời gian sinh trưởng, khối lượng hạt và tính chống tách hạt có tương quan di truyền thuận và chặt, Malhotra và cộng sự (1972) xác định hệ số tương quan thuận chặt giữa năng suất với số quả trên cây và số cành cấp I, tương quan nghịch giữa năng suất với khối lượng 1.000 hạt
Châu á là khu vực sản xuất đậu tương có vai trò quan trọng, nơi đây nhận được sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu về đậu đỗ như Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu á (AVRDC), ICRISAT, TARI, Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế IITA Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu Châu á đ2 và đang nghiên cứu chọn tạo các giống đậu tương có tiềm năng năng suất rất cao trên 70 tạ/ha như G2120 Giống đậu tương có năng suất cao nhất thế giới trong những năm 1970 là giống Miyagishiroma (Nhật Bản) với tiềm năng năng suất 78 tạ/ha [39]
Trung Quốc là quốc gia sản xuất đậu tương hàng đầu Châu á, rất chú trọng tới công tác nghiên cứu chọn tạo giống Trung Quốc đ2 thu thập nguồn vật liệu di truyền phong phú ở nhiều quốc gia, các vùng sinh thái khác nhau phục vụ cho công tác chọn tạo giống Nhờ đó họ đ2 tạo hàng loạt giống đậu tương mới có năng suất, chất lượng và tính chống chịu điều kiện bất thuận vượt trội, điển hình là các giống: CN001, CN002, YAT12, HTF18, có năng suất 34 - 42 tạ/ha trên diện rộng [43]
Gần đây Trung Quốc lai tạo được một số giống đậu tương có năng suất cao, một trong số đó được nhập khẩu vào Việt Nam là giống Tạp Hoàng số 4, giống này có tiềm năng năng suất 40-50 tạ/ha [37]
Chọn giống theo hướng ăn tươi cũng được Trung Quốc chú trọng Giống
đậu tương Thẩm Tiên số 1, giàu Protein, ăn ngon, có thời gian từ gieo đến thu quả tươi khoảng 65 ngày, năng suất quả tươi 15 tấn/ha, tỷ lệ quả 3 hạt đạt 70%[2]
Trang 32ấn Độ là quốc gia cũng rất chú trọng phát triển đậu tương Năm 1967 ấn
Độ thành lập tổ chức AICRPS và NRCS để nghiên cứu về đậu đỗ, đ2 tập trung nghiên cứu về gen, phát hiện 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt
đới, đồng thời chọn tạo một số giống có khả năng chống chịu với bệnh khảm virus như Birsasoil, ĐS74-24-2
Năm 1985 hai tác giả Gings và Chandhary đ2 xác định được 6 giống có năng suất cao, ổn định là HM93, PK73-92, PK73-94, PK321, Bragg và SH1 [43]
2.4.1.2 Những nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương
Song song với nghiên cứu chọn tạo giống Việc nghiên cứu về chế độ phân bón, chế độ trồng, chăm sóc… để cây sinh trưởng phát triển tốt và phát huy hết tiềm năng của giống là vấn đề rất quan trọng Trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tác giả đ2 dành thời gian nghiên cứu phân bón cho cây đậu tương
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây đậu tương, cây
đậu tương cần nhiều đạm để sinh trưởng phát triển và tạo năng suất; Tuy nhiên
đậu tương là cây trồng có khả năng cố định đạm tự do để cung cấp cho cây, nên người ta bón cho đậu tương một lượng đạm không nhiều
Harper (1974) thấy rằng việc cố định N2 và sử dụng Nitrate (NO3-) có tầm quan trọng để thu được năng suất tối đa Tuy nhiên ông thấy nếu NO3- dư thừa có hại tới năng suất vì lúc đó sự cố định N2 bị ức chế Bón đạm quá nhiều hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành, phát triển và hoạt động của vi khuẩn nốt sần
Trên đất giàu dinh dưỡng đáp ứng đủ nhu cầu (NO3) cho cây thì bón
đạm không có tác dụng tăng năng suất (Porter và cộng sự, 1981), tuy nhiên trên đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước thì bón đạm với lượng 50 - 110kg/ha có tác dụng tăng năng suất
Với phân lân: bón lân cho đậu tương làm giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa,
Trang 33tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt ở Australia, Dikson và cộng sự, (1987) [42] đ2 tiến hành những thí nghiệm về bón phân lân cho các cánh đồng tại vùng Queen- Sland đ2 chỉ ra rằng: Năng suất đậu tương được tăng lên đáng
kể khi được bón phân lân, sự mẫn cảm của đậu tương đối với phân lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất
ở Indonexia bón phân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu dưới 18ppm đ2 làm tăng năng suất đậu tương đáng kể, thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng AL, Fe, Mn cao gây trở ngại cho sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất (Salesh và Sumarno (1993) [49]
Nhiều tác giả còn cho rằng đất nhiệt đới giàu Fe, Al, thì Supe lân sẽ bị cố
định thành phốt phát sắt, nhôm khó hoà tan nên cây trồng khó sử dụng được
Như vậy với đất chua việc nâng cao pH bằng bón vôi sẽ làm tăng hàm lượng lân dễ tiêu cho cây tạo điều kiện cho cây hút được lân
Khi bón lân cho cây làm tăng năng suất đậu tương thì các đòi hỏi Kali của cây cũng tăng lên
ở Nigieria (1990 - 1991) qua 6 công thức nghiên cứu về hiệu quả tác
động của việc kết hợp giữa phân khoáng N, P, K đ2 đưa ra kết luận rằng: Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất ở công thức: 60 tấn phân chuồng + 200kg N, P, K (15:15:15)/ha bón thời kỳ phân cành
2.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.4.2.1 Nghiên cứu về chọn giống
Đậu tương là cây trồng truyền thống của người dân Việt Nam, tuy nhiên công tác nghiên cứu về đậu tương trước đây chưa nhiều Từ năm 1986 Nhà nước có chủ trương khuyến khích công tác nghiên cứu về đậu đỗ từ đó các nghiên cứu về đậu tương, đậu xanh, lạc được triển khai mạnh mẽ hơn
Về nghiên cứu tập đoàn phục vụ công tác chọn giống trong 20 năm
Trang 34(1985 - 2005) chương trình nghiên cứu đậu đỗ thông qua các đề tài đ2 thu thập, nhập nội trên 5.000 mẫu giống đậu tương trong đó có trên 300 mẫu địa phương Đ2 khảo sát đánh giá 4.188 mẫu dòng/giống đậu tương chủ yếu nhập
từ Viện nghiên cứu cây trồng trên toàn Liên Bang Nga mang tên Vavilop (VIR), ngoài ra một số mẫu nhập từ Trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Châu á (AVRDC), úc, Nhật, Mỹ và Viện cây trồng nhiệt đới Quốc tế (IITA) Phân lập các dòng giống có các tính trạng đặc biệt khác nhau như thời gian sinh trưởng ngắn, chịu hạn, chịu rét, kháng bệnh rỉ sắt… phục vụ cho công tác chọn giống (Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh (2005)[25]
Kết quả chọn tạo được thể hiện trên 3 nhóm sau đây:
Chọn tạo bằng con đường tuyển chọn từ tập đoàn nhập nội:
+ Trần Văn Lài và cộng sự (1987) qua nghiên cứu thấy rằng một trong những yếu tố hạn chế năng suất đậu tương ở nhóm ngắn ngày là diện tích lá, giữa năng suất và diện tích lá có tương quan rất chặt (r = 0,89) Ngoài ra số hạt/cây và khối lượng hạt cũng là một trong những yếu tố hạn chế năng suất của các giống đậu tương nhóm này
+ Vũ Đình Chính (1995) [5] khi nghiên cứu tập đoàn đậu tương đ2 phân lập các chỉ tiêu làm 3 nhóm theo mức độ quan hệ của chúng với năng suất hạt Nhóm thứ nhất gồm các chỉ tiêu không tương quan chặt với năng suất (r<0,5); như thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số đốt /cây… (18 chỉ tiêu); Nhóm thứ 2 tương quan chặt với năng suất (r > 0,6) gồm 15 chỉ tiêu (Số quả/cây, tỷ
lệ quả chắc, số đốt mang quả, số nốt sần, diện tích lá…) Nhóm thứ 3 gồm các chỉ tiêu tương quan nghịch với năng suất đó là 5 chỉ tiêu (tỷ lệ quả 1 hạt, tỷ lệ quả lép, tỷ lệ bệnh virút, tỷ lệ bệnh đốm vi khuẩn và tỷ lệ sâu đục quả) từ đó tác giả đưa ra mô hình cây đậu tương có năng suất cao là: Số quả/cây nhiều, tỷ
lệ quả chắc cao, khối lượng 1000 hạt lớn, tỷ lệ quả 2 - 3 hạt cao, diện tích lá thời kỳ quả mẩy lớn và nốt sần trên cây nhiều
Trang 35+ Năm 1987 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn
được giống AK03 từ dòng G2261 nhập nội có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, năng suất bình quân 13 - 16 tạ/ha, thích hợp cho vụ đông và cũng từ dòng G2261 chọn được giống AK05 có thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày năng suất 15 - 18 tạ/ha, kháng bệnh rỉ sắt, thích hợp vụ đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng
+ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn từ tập đoàn nhập nội của Trung Quốc giống ĐT12 có thời gian sinh trưởng cực ngắn, thích hợp cho vụ hè 72 - 78 ngày, năng suất 14 - 23 tạ/ha [35]
+ Cũng thời gian này Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc từ tập đoàn nhập nội của AVRDC Đài Loan giống ĐT2000 có thời gian sinh trưởng 105 - 110 ngày có ưu thế cây cao to, nhiều đốt (18 - 22 đốt) tỷ
lệ quả 3 hạt cao (30%) năng suất 20 - 40 tạ/ha thích hợp cho vụ xuân, thu đông
+ Giống HL-2 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn lọc từ tập đoàn nhập nội AVRDC có năng suất 18 - 20 tạ/ha thích hợp cho các tỉnh phía Nam
Nhìn chung trong thời gian qua bằng con đường tuyển chọn tập đoàn các nhà khoa học đ2 cho ra đời 7 giống đậu tương mới gồm: AK03, AK05, VX92, VX93, ĐT12, ĐT2000, HL2
* Chọn tạo giống bằng con đường lai hữu tính
Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1983), khi nghiên cứu chọn giống đậu tương bằng phương pháp lai hữu tính cho biết các tính trạng khác nhau có hệ số biến dị và di truyền khác nhau Các tính trạng như chiều cao cây, số lá trên thân
có hệ số biến dị thấp, hệ số di truyền cao, các tính trạng như số quả chắc/cây và trọng lượng hạt/trên cây thì ngược lại có hệ số biến dị cao và hệ số di truyền thấp Một số tính trạng có hệ số tương quan thuận chặt như số đốt mang quả r = 0,53;
và tương quan rất chặt với năng suất là trọng lượng hạt/cây (r = 0,94)
Trang 36Bộ môn Cây công nghiệp Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam năm 1996 đ2 chọn từ tổ hợp lai (Dòng 821X134 Nhật Bản) tạo giống ĐT93, thích hợp cho vụ hè năng suất
15 - 18 tạ/ha
Bằng phương pháp lai hữu tính tác giả Vũ Đình Chính đ2 lai tạo giống
đậu tương D140 từ tổ hợp lai DL02 x ĐH4 Giống D140 có khả năng thích ứng rộng, có thể gieo trồng được cả 3 vụ trong năm và cho năng suất cao đạt 15- 27 tạ/ha
Trường Đại học Cần Thơ chọn từ tổ hợp lai ĐT76/CES7913 giống MTĐ-176, giống có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày, năng suất 15 tạ/ha thích hợp cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Đông và Tây Nam Bộ
Ngoài ra còn các giống như ĐT80 do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn từ (V70/vàng Mộc Châu) thích hợp cho vụ hè ở miền núi Giống ĐT92 do Viện cây lương thực và cây thực phẩm chọn từ tổ hợp lai (ĐH4/TH84) cho vụ xuân vùng Đồng bằng sông Hồng Giống TL57 cũng do Viện cây lương thực và cây thực phẩm chọn có khả năng chịu rét, năng suất
15 - 20 tạ/ha thích hợp cho vụ xuân vùng Đồng bằng Bắc bộ
*Chọn giống bằng tác nhân gây đột biến
Viện sỹ Trần Đình Long là một trong những người đầu tiên thành công
về chọn tạo giống đậu tương bằng phương pháp xử lý đột biến Năm 1978 ông dùng tia γ và các loại hoá chất gây đột biến tác động vào vật liệu từ đó phân lập các dòng, đánh giá lựa chọn được một số giống có năng suất cao, chịu
được khí hậu nóng Trong số các giống đáng chú ý là giống M103 chọn tạo từ dòng đột biến của giống V70 năm 1987 (Trần Đình Long, Ngô Thế Dân và CTV (1999)[11] thích hợp với vụ hè, hè thu
+ Cũng bằng phương pháp xử lý đột biến dùng tia γ, nguồn Co60 năm
1985 tác giả Mai Quang Vinh và cộng sự đ2 tạo ra giống đậu tương DT84 từ
Trang 37dòng lai 8 - 33, DT84 có thời gian sinh trưởng 80 - 85 ngày năng suất 15 - 20 tạ/ha, trồng được 3 vụ/năm thích hợp vụ hè Hiện nay DT84 là một trong 10 giống được trồng diện tích lớn nhất [35]
+ Trần Tú Ngà (1994) [28] đ2 dùng phương pháp gây đột biến chọn ra một số dòng đậu tương có triển vọng
+ Trường Đại học Nông nghiệp I, Viện Di truyền Nông nghiệp và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam tuyển chọn giống đậu tương AK06 thích hợp cả 3 vụ/năm ở các tỉnh phía Bắc, tiềm năng năng suất cao 17 - 25 tạ/ha + Cũng bằng phương pháp gây đột biến Viện Di truyền Nông nghiệp đ2 chọn tạo ra các giống đậu tương có năng suất cao như DT90 (Đột biến từ K7002/Cọc chùm F2), DT96 (Đột biến từ DT90/DT84)
2.4.2.2 Nghiên cứu về phân bón
Dinh dưỡng đầy đủ sẽ phát huy tiềm năng năng suất giống Cây đậu tương có khả năng cố định Nitơ trong không khí nhờ sự cộng sinh của vi khuẩn Rhizobium Japonicum với nốt sần ở bộ rễ Do vậy mặc dù nhu cầu đạm của cây đậu tương rất lớn, nhưng lượng phân đạm bón cho cây đậu tương không cần nhiều, bởi nguồn đạm cộng sinh đáp ứng 40 - 60% nhu cầu của cây; nguồn đạm này được tăng dần từ khi cây có 3 lá kép (nốt sần bắt đầu hình thành) và đạt tối đa khi cây ra hoa, làm quả sau đó giảm dần
Theo Lê Đình Sơn (1988) [30] lân, đạm có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau trong việc làm tăng số cấp cành cho quả, số quả/cây
Theo Nguyễn Văn Bộ (2001) [1] nếu chỉ bón riêng N cho bội thu 1,4 tạ/ha, trong khi đó cũng lượng đạm như vậy trên nền có bón lân cho bội thu 2,3 tạ/ha
Theo Tiến sỹ Vũ Đình Chính (1998) [6] bón kết hợp N, P trên đất bạc màu nghèo đinh dưỡng với mức 90kg P2O5/ha trên nền 40kg N/ha làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt Cũng theo tác giả trong điều
Trang 38kiện vụ hè trên đất bạc màu (Hiệp Hoà - Bắc Giang) bón cho giống đậu tương Xanh lơ Hà Bắc thích hợp nhất là 20kg N: 90kg P2O5: 90kg K2O
Theo Trần Danh Thìn (2001) [31] bón kết hợp N, P, Ca đ2 có tác dụng rõ rệt trong việc khắc phục hạn chế của các yếu tố dinh dưỡng đất, nâng cao năng suất đậu tương và lạc Việc bón kết hợp cả 3 yếu tố N, P, K cho năng suất cao nhất ở cả 2 nền phân cao và thấp
Đối với đất chua nghèo dinh dưỡng bón 100N: 150P2O5: 800Ca: 50
K2O/ha đ2 cho hiệu quả kinh tế của đậu tương và lạc cao
Theo Trần Thị Trường, Trần Thanh Bình (2005) [34] tỷ lệ sử dụng phân
đạm, lân, kali thích hợp nhất cho đậu tương là 1:2:2
Đạm và kali là 2 yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất tới năng suất đậu tương
và cho bội thu 1,4 - 5,4 tạ/ha với đạm và 2,6 - 4,3 tạ/ha với kali Nếu bón kali riêng rẽ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trên nền đạm cho bội thu 4,3 tạ/ha Bón riêng rẽ
đạm chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ha, trên nền có lân: 2,3 tạ/ha; trên nền có kali: 3,1 tạ/ha; trên nền có kali và lân là 5,4 tạ/ha
Để đánh giá khả năng cung cấp đạm cho cây người ta phải dựa vào hàm lượng đạm tổng số và đạm thuỷ phân có ở trong đất
Hàm lượng đạm tổng số (%) được đánh giá là: Rất cao > 0,300%, cao
từ 0,226%- 0,300%, trung bình 0,126%- 0,225%, thấp 0,050%- 0,125%, rất thấp < 0,050%
Hàm lượng đạm thuỷ phân (Theo Tiurin và Kononova) (mg/100g đất):
- Đất nghèo đạm là đất có hàm lượng đạm thuỷ phân < 4mg: đất này cần bón đạm, bón đạm sẽ có hiệu quả
- Đất trung bình đạm có 4 - 8mg: bón đạm có hiệu lực trung bình
- Đất giàu đạm có > 8mg: bón đạm không có hiệu quả
Nói chung bón phân cho đậu tương cần cân đối và tuỳ thuộc vào đất đai
Trang 39cụ thể của từng vùng Theo một số tác giả thì vùng đất xám bạc màu nên bón
5 tấn phân chuồng + 40kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O, đất Bazan bón 30kg N + 60kg P2O5 + 60kg K2O
* Về phân Lân:
Theo Nguyễn Thị Dần (1996): bón phân lân cho lạc và đậu tương trên
đất bạc màu có hiệu quả kinh tế cao
Theo tác giả Trần Văn Điền (2001) [13] khi nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất
đồi Trung du phía Bắc Việt Nam đ2 cho rằng: khi bón lân cho đậu tương tăng lên, với giống đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng gì Còn với giống đậu tương có nốt sần thì có tác dụng tăng năng suất hạt và thân lá rõ rệt
Theo Nguyễn Văn Bộ [1] ở Việt Nam trên đất phèn nếu không bón phân lân cây chỉ hút được 40 - 50kg N/ha, song bón lân đ2 làm cho cây trồng hút
ở nước ta, một phần khá lớn diện tích đất canh tác là nghèo lân, đặc biệt
đất đồi thấp, đất chua, bạc màu
Để đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất cho cây trồng cần dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu Theo phương pháp đang dùng hiện nay trên thế giới (Phương pháp Olsen) tính theo P2O5 dễ tiêu mg/100g đất
- Nghèo lân: < 2,5mg: Đất nghèo lân, rất cần bón lân, bón lân sẽ cho hiệu quả cao
Trang 40- Trung bình: 2,5 - 5,0 mg: đất có lân trung bình cần bón lân, nếu bón lân có hiệu lực khá
- Khá giàu: 5 - 9 mg: đất có lân khá, bón lân cho hiệu quả thấp
- Giàu: > 9 mg: đất giàu lân, bón lân ít hoặc không có hiệu lực
Dựa vào kết quả phân tích trên ta có thể đánh giá sự thiếu hụt lân trong đất,
đó là một cơ sở rất quan trọng để xây dựng lượng phân lân cần bón cho cây 2.4.2.3 Nghiên cứu về làm đất cho đậu tương
Làm đất được hiểu là những biện pháp vật lý làm thay đổi nhiều mặt
đến trạng thái lớp đất canh tác Bằng công cụ hoặc máy móc làm đất có thể tách, đảo, lật, trộn đất, làm vụn xốp hoặc làm đất khá nhanh theo yêu cầu trồng trọt
Làm đất có ảnh hưởng đến độ xốp, độ ẩm, không khí, nhiệt độ, khu hệ sinh vật sống trong đất, mùn, kết cấu viên đất và độ phì đất, vì vậy làm đất để tạo cho đất có một trạng thái vật lý thích hợp, điều hoà được chế độ nước, không khí và dinh dưỡng đối với cây trồng
Làm đất không đúng cách dễ dẫn tới phá hoại kết cấu đất Vì vậy đ2 xuất hiện cách làm đất tối thiểu Làm đất tối thiểu không có nghĩa là làm dối mà trên cơ sở nghiên cứu các tính chất vật lý của đất, nghiên cứu yêu cầu về đất của cây trồng để đề ra cách làm đất sao cho vừa đủ Làm đất tối thiểu là phương pháp làm đất trên cơ sở đảm bảo sự mọc mầm, sinh trưởng tốt và năng suất cao của cây trồng đồng thời giảm đến mức ít nhất sự gia công đối với đất
Trong một số trường hợp làm đất tối thiểu có những ảnh hưởng tốt như:
đất đỡ bị phân tán, đỡ bị phá vỡ kiến trúc viên, giữ được độ ẩm, đỡ bị sói mòn,
đảm bảo thời vụ cho cây, đỡ tốn kém nhiên liệu,…
Từ trước tới nay, đất trồng đậu tương vẫn được làm theo phương pháp truyền thống, cày bừa, đập nhỏ, lên luống, gieo hạt Chưa có nhiều nghiên cứu
về các biện pháp làm đất khác nhau cho đậu tương Một vài năm gần đây,