ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH MÔI TRƯỜNG TRẦN THỊ HẠNH NGUYÊN NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNGGASTROPODA KHAI THÁC TẠI VÙN
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ HẠNH NGUYÊN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT
THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG(GASTROPODA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH MÔI TRƯỜNG
TRẦN THỊ HẠNH NGUYÊN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT
THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG(GASTROPODA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM
Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Tường Vi
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận
Trần Thị Hạnh Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường được sự quan tâm, giúp đỡ của khoa Sinh- Môi trường, trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS Nguyễn Thị Tường Vi, em tiến hành nghiên cứu đề tài Để hoàn thành khóa luận này, ngoài nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều giúp giúp
đỡ, đóng góp ý kiến của nhiều cá nhân và tập thể
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Nguyễn Thị Tường Vi đã quan tâm, giúp đỡ, góp phần định hướng bài luận, cũng như hỗ trợ
về tinh thần để em có thể thực hiện tốt Khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, anh chị cán bộ trong khoa Sinh- Môi trường, các thầy cô đã giảng dạy em trong suốt 4 năm học qua Quý thầy cô đã xây dựng cho em những kiến thức chuyên môn, truyền cho em nhiều kinh nghiệm để em có thể hoàn thành khóa luận này, cũng như công việc sau này của bản thân em Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân bạn bè, các bác ngư dân đã luôn quan tâm, động viên, hỗ trỡ em trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Hạnh Nguyên
Trang 5Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm
thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) khai thác
vùng biển ven bờ Quảng Nam
Sơn Chà- Hải Vân
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Số hiệu
hình vẽ Tên hình vẽ Trang
1.1 Hình thái cấu tạo của động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) 3
1.2 Đặc điểm đo lường của động vật lớp Chân bụng
3.1
Đa dạng bậc bộ của các loài động vật thân mềm lớp Chân
bụng (Gastropoda) vùng biển ven bờ Quảng Nam 32
3.2
Đa dạng bậc họ của các loài động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda) vùng biển ven bờ Quảng Nam 33
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của lớp Chân bụng (Gastropoda) 3
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo 4
1.1.2 Đặc điểm sinh sản 5
1.1.3 Phân loại 6
Phân lớp Mang trước (Prosobranchia) 6
Phân lớp Mang sau (Opisthobranchia) 7
Phân lớp Có phổi (Pulmonata) 8
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu động vật thân mềm trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới 9
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 14
1.3.1 Vị trí địa lý 14
1.3.2 Đặc điểm khí hậu 15
1.3.3 Điều kiện thủy văn 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ19 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU. 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 19
Trang 82.3.2 Phương pháp phân loại động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda) 20
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 21
3.1 DANH MỤC, CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM. 21
3.1.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) khai thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam 21
3.1.2 Cấu trúc thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) khai thác vùng biển ven bờ Quảng Nam 26
3.2 ĐẶC TRƯNG VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM 31
3.2.1 Đa dạng về taxon bậc bộ 31
3.2.2 Đa dạng về bậc taxon bậc họ 32
3.3 SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM THUỘC LỚP CHÂN BỤNG (GASTROPODA) KHAI THÁC VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM VỚI KHU VỰC SƠN CHÀ- HẢI VÂN 34
3.4.CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM LỚP CHÂN BỤNG (GASTROPODA) CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM. 37
3.4.1 Danh sách các loài động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế 37
3.4.2 Danh sách các loài động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế đối với người dân tại địa điểm nghiên cứu 38
3.5 CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) QUÝ HIẾM KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ QUẢNG NAM 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
Kết luận 42
Kiến nghị 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Quảng Nam có đường bờ biển dài 125km, kiểu khí hậu nhiệt đới cùng với nhiều hệ sinh thái khác nhau: hệ sinh thái thảm cỏ biển, hệ sinh thái rạn san hô
và đặc biệt là hệ sinh thái bãi triều, là môi trường sống, nơi cung cấp nguồn thức ăn chính cho nhiều loài động vật sinh sống, trong đó có cả một số lượng lớn động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ngành Thân mềm (Mollusca)
Trải qua hàng triệu năm tiến hóa, ngành Thân mềm (Mollusca) đã phát sinh nhiều loài và có số lượng loài rất phong phú Trong đó, lớp Chân bụng (Gastropoda)
là lớp đa dạng và phong phú nhất, khoảng 90.000 loài, chiếm khoảng 70% tổng số loài trong ngành [10] và có số loài được đặt tên chỉ đứng sau lớp côn trùng (Insecta) Các động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) không chỉ đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên: là một mắt xích quan trọng trong chuỗi, lưới thức ăn trong hệ sinh thái vùng biển, làm sạch môi trường nước [20] mà còn mang lại rất nhiều
nguồn lợi cho con người
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2011, nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học ở biển ven bờ Việt Nam đang sụt giảm nghiêm trọng, trong đó có cả sự suy giảm của động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) Những hoạt động khai thác, sử dụng không hợp lý vùng biển ven bờ, môi trường nước bị ô nhiễm nghiêm trọng là những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm này Theo báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới, khoảng 80% rạn san hô và thảm cỏ biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở tình trạng rủi ro cao Trong khi đó đây lại là một trong những môi trường sống , cung cấp thức ăn chính cho các động vật lớp Chân bụng (Gastrpoda) [13] Nhìn chung, động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) không những duy trì đa dạng sinh học mà còn cung cấp nguồn lợi lớn cho xã hội, người dân Tuy nhiên, việc nghiên cứu về động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ở tỉnh Quảng Nam còn hạn chế Gần như chua có một nghiên cứu nào
đi sâu nghiên cứu thành phần loài động vật lớp Chân bụng (Gastropoda)
Trang 10Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài : “Nghiên cứu thành phần loài
động vật thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) khai thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam” nhằm cung cấp thêm những tư liệu cho việc bảo tồn đa dạng
sinh học động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) khai thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam
2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) nhằm cung cấp những tư liệu cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và
quản lý khai thác hợp lý nguồn lợi động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) tại vùng
biển ven bờ Quảng Nam
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu quan trọng trong lĩnh vực đa dạng sinh học, cung cấp thông tin về thành phần loài cho các nghiên cứu sâu hơn về động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) tại vùng biển ven bờ Quảng Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của lớp Chân bụng (Gastropoda)
Lớp chân bụng (Gastropoda) là một lớp động vật thuộc ngành thân mềm (Mollusca) Lớp chân bụng bao gồm tất cả các loại ốc với mọi kích cỡ từ nhỏ đến lớn Lớp chân bụng là lớp phong phú nhất trong ngành, chiếm 75-80% số loài thân mềm hiện sống Có khoảng 90.000 loài (trong số này khoảng 15.000 loài hóa đá) [2, tr.177]
Những loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) có các đặc điểm chung sau:
- Vách xoang miệng cơ rất phát triển, hình thành túi xoang miệng
- Trong túi xoang miệng có lưỡi sừng
- Tim nằm ở mặt lưng gồm 1 tâm thất và 1-2 tâm nhĩ
- Trung khu hệ thần kinh gồm các đôi hạch: hạch não, hạch chân, hạch bên, hạch nội tạng và hạch thần kinh dạ dày- ruột
- Các loài thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) đơn tính hoặc lưỡng tính
- Quá trình phát sinh trải qua giai đoạn ấu trùng veliger sống trôi nổi và ấu trùng bò sống đáy
Hình 1.1 Hình thái cấu tạo của động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) (Nguồn: Aarhus University, 1999, The Invertebrates, An Illustrated Glossary
International M.Sc Programme in Marine Sciences)
Trang 12Hình 1.2 Đặc điểm đo lường của động vật lớp Chân bụng (Gastropoda)
(Nguồn: FAO, 1998 [22, tr 364])
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo
Lớp Chân bụng (Gastropoda) có phần thân xoắn chóp làm cơ thể mất đối xứng Cơ thể thường chia làm 3 phần chính là phần đầu, phần thân và phần chân
- Đầu ở phía trước, có mắt và các tua cảm giác (râu)
- Thân (hay được gọi là khối phủ nội tạng ) nằm trên chân, là một túi xoắn
- Chân là khối cơ khỏe nằm ở mặt bụng, cử động uốn sóng khi bò [2, tr 177] Phần vỏ là bộ xương ngoài có nhiệm vụ là nơi đính của các cơ, bảo vệ một phần cơ thể nội tạng bên trong khỏi kẻ thù hoặc các tác động vật lý, hóa học bên ngoài Vỏ thường ở dạng xoắn cuộn Đa số (trên 90%) các loài thuộc lớp Chân bụng
có chiều xoắn cuộn của vỏ là cùng chiều kim đồng hồ, hay còn gọi là cuộn phải (dextral) [15] Tuy nhiên vẫn có số ít loài có xắn cuộn vỏ ngược chiều kim đồng hồ
(từ phải sang trái) như loài Amphidromus perversus [31] Chỉ có những loài tiến hóa
thấp (gần như tổ tiên, tiêu biểu như bộ Archaeogastropoda) thì cơ thể còn giữ cấu trúc đối xứng [15] Hình dạng vỏ ở lớp Chân bụng (Gastropoda) rất đa dạng : hình nón, thuôn dài hay hình cầu… Kích thước vỏ lớn nhất được ghi nhận thuộc về loài
ốc biển Syrinx aruanus (91cm) [35] Số vòng xoắn của vỏ ốc trưởng thành thay đổi
Trang 13ví dụ như ở ốc nhồi (Pila polita) là 5, ở ốc sên (Achatina fulica) thường là từ 6 đến
7 vòng [2, tr.178]
Phần lớn động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ăn thực vật, mùn bã hữu cơ, rêu, nấm Các đặc điểm đáng chú ý của hệ tiêu hóa của chân bụng là: 1 Có lưỡi bào nhiều răng (từ 16-75.0000 răng); 2 Tiêu hóa ngoại bào, tụy gan có khả năng hấp thụ thức ăn và ở một số loài là tiêu hóa nội bào; 3 Thực quản đổ vào dạ dày ở phần cuối, dạ dày chuyển vào ruột ở phần trước (kết quả đổi hướng của phần thân
so tương đối với phân chân và đầu do hiện tượng quay) Một số ốc có thể ăn thịt
(họ Cypraeidae, Doliidae ) Một số loài ăn lọc qua mang, chúng lọc các tế bào tảo
hoặc các sinh vật phù du trực tiếp từ nước làm thức ăn Một số loài sống kí sinh, chúng hấp thụ trực tiếp chất dinh dưỡng của cơ thể vật chủ qua bề mặt cơ thể Các loài ăn thịt hay ăn lọc có nhiều lưỡi gai, tuyến nước bọt có thể tiết các chất hòa
tan được đá vôi hay chất độc (Ốc cối Conus) [2, tr 178]
1.1.2 Đặc điểm sinh sản
Phần lớn Chân bụng đẻ trứng thành đám, chìm trong khối chất nhầy bám vào
cây thủy sinh (như ốc đá, ốc Limnaea, Busycon, Aplysia v.v ) Một số đẻ trứng
từng đám bám vào hốc đất, bùn (ốc nhồi, ốc sên ) Trứng phân cắt xoắn ốc, xác định, hoàn toàn và không đều Ở Mang trước hai tâm nhĩ, trứng nở thành ấu trùng
Trochophora Các động vật Chân bụng còn lại thì giai đoạn ấu trùng Trochophora chỉ xảy ra trong trứng và trứng nở ra ấu trùng Veliger bơi lội tự do Đáng chú ý là
ấu trùng Veliger có qua một giai đoạn xoắn vỏ và quay khối nội tạng một góc 1800
(so tương đối với phần đầu) Quá trình xoắn xảy ra rất nhanh (3 phút như ở các loài
thuộc giống Acmaea) hay khá lâu như ở giống Pomatias (10 ngày) Ở ốc nón Patella, bào ngư Haliotis có 2 lần xoắn, mỗi lần quay 900, lần đầu thì nhanh hơn,
lần sau thì chậm hơn Quá trình xoắn của ấu trùng Veliger của bào ngư nhờ vào sự
hoạt động của 6 tế bào cơ có một đầu đính vào đỉnh vỏ, một đầu kia đính vào phần
chân Một số Mang trước sống ở biển như Busycon, Conus, Natica cùng với tất cả
mang trước sống ở nước ngọt có phổi, trứng nở trực tiếp thành con non Một số
khác như Littorina và mang trước thuộc họ Viviparidae đẻ con [2, tr 180]
Trang 141.1.3 Phân loại
Với khoảng 90.000 loài, Chân bụng được chia làm 3 phân lớp là Mang trước, Mang sau và Có phổi
- Phân lớp Mang trước (Prosobranchia)
Mang ở trước tim, thường có 1 mang, ít khi gặp 2 mang Xoang áo ở phía trước cơ thể, có dây thần kinh bên tạng bắt chéo Vỏ phát triển và có nắp vỏ Đơn tính, phần lớn sống ở biển, một số ít sống ở nước ngọt Có 2 bộ
Bộ Chân bụng cổ (ArchaeoGastropoda): Chân bụng nguyên thủy nhất, đặc
điểm cấu tạo cơ thể còn giữ nhiều nét đối xứng hai bên như có 2 tâm nhĩ, phức hợp
cơ quan áo chẵn (2 mang, 2 thận ) Do có 2 tâm nhĩ nên bộ này còn được gọi là bộ
hai tâm nhĩ (Diotocardia) Có dây thần kinh bắt chéo, chưa hình thành hạch chân,
dây thần kinh dài Mang gồm có hai dãy, phần ngọn không đính vào thành áo Tuyến sinh dục đổ vào thận phải Thụ tinh ngoài, phát triển qua ấu trùng
trochophora Sống chủ yếu ở biển, một số ít sống ở nước ngọt (Theodoxus) hay trên cạn (Helicina) Các họ thường gặp là Neritidae, Trochidae, Turbinidae, Haliotidae, Patellidae Ở Việt Nam các loài ốc thuộc bộ này thường gặp ở vùng nước lợ, ven
biển, rừng sú vẹt, vùng dưới triều và vùng triều Các giống phổ biến là ốc đĩa, ốc
ngọt (Nerita), ốc tháp (Trochus), ốc đụn (Monodonta), Ốc mành (Umbonium), ốc nón (Fissurella), ốc xà cừ (Turbopetholatus), bào ngư (Haliotis)
Bộ Chân bụng trung (MesoGastropoda): Cơ thể mất đối xứng, tim chỉ có một
tâm nhĩ, phức hợp cơ quan áo lẻ (một mang, một osphradi, một thận) Vì chỉ có một
tâm nhĩ nên được gọi là bộ một tâm nhĩ (Monotocardia) Hệ thần kinh có dây bên
tạng bắt chéo, đã hình thành hạch chân Mang có cấu tạo một dãy, dính sát vào thành áo Tuyến sinh dục không đổ vào thận Thụ tinh trong, phần lớn phát triển qua
ấu trùng ốc tháp ốc tháp Veliger Bao gồm phần lớn các loài Chân bụng hiện có,
thích nghi rộng với điều khiển sống của môi trường như ở biển, nước ngọt, ở cạn, một số sống ký sinh Ở vùng triều và nước lợ hay gặp ốc cỡ bé thuộc họ
Littrorinidae, Cerithiidae, Potamididae, Assimineidae Ở vùng dưới triều thành
phần loài rất đa dạng, có các loài ốc cỡ lớn trên 100 cm như một số loài thuộc họ
Trang 15Cassididae, Doliidae Các họ khác có kích thước nhỏ hơn như Cypraeidae, Turitellidae, Epitoniidae, Natacidae Một số nhóm thích nghi với đời sống trong tầng nước như họ Jamthinidae có vỏ nhẹ và bám vào sứa ống, nhóm ốc Heteropoda
có chân hẹp kéo dài thành tấm bơi, bao nội tạng thu nhỏ, vỏ mỏng hay tiêu giảm
(Pterotrachea, Carinaria, Atlantia) Một số loài khác lại sống ký sinh trên động vật
da gai như các giống Parenteroxenos, Stylifer, Thyca, Entococha, Paedophorus Trong nước ngọt thường gặp các họ Valvatidae, Thiaridae, Viviparidae, Pilidae, Hydrobiidae Ở rừng đá vôi gặp họ Cyclophoridae có mang tiêu giảm Ở vùng
biển Việt Nam, thành phần loài thuộc Chân bụng trung rất phong phú Các loài
thường gặp và có giá trị cao như: Telescopium telescopium, Terebralia sulcata, ốc đụn, ốc mút (Cerithidea sinensis) phân bố ở rừng sú vẹt và nước lợ; ốc tù và (Charonia tritonis), Hemifurus tuba, ốc kim khôi (Cassis cornuta), ốc mũ (Dolium variegatum), ốc lợi đỏ (Laevistrombus isabella), ốc mõ chù da hổ (Cypraea tigris), Natica maculosa Một số loài là vật chủ trung gian truyền bệnh giun sán như Melanoides tuberculatus và Stenomelania testudinaria
Bộ Chân bụng mới (NeoGastropoda): Cấu trúc cơ thể phân hoá cao nhất, lưỡi
gai có ít răng, đầu kéo dài thành mõm, hệ thần kinh tập trung, miệng có nắp vỏ, có rãnh xi phông kéo dài Hầu hết sống ở biển và ăn thịt Thụ tinh trong Nhiều loài có trứng phát triển trực tiếp thành con non Ở biển Việt Nam, thường gặp các đại diện
của bộ này có vỏ với màu sắc đẹp Các họ có số lượng lớn là Volutidae, Nassidae, Muricidae, Conidae, Harpidae, Mitridae, Galeodidae Một số có thể tiết chất độc (Conus) hay chất màu dùng để nhuộm (Murex) Bao gồm các giống thường gặp là Murex, Rapana, Conus, Harpa, Mitra, Nassarius, Hemifuscus, Babylonia Trong
đó có các loài thường gặp là Cymbium melo (ốc bù giác, ốc gáo) có nhiều thịt, vỏ đẹp, ốc hương (Babylonia areolata) có thịt ngon, Columbella rulgurans, Mitra rugosum, Phossenticosus có vỏ đẹp [2, tr 183]
- Phân lớp Mang sau (Opisthobranchia)
Cấu tạo cơ thể của động vật mang sau thể hiện sự vặn xoắn không hoàn toàn (do quá trình nhả xoắn điều hoà về phía sau nên làm cho dây thần kinh bắt xoắn
Trang 16duỗi trở lại, đồng thời đưa xoang áo lệch hẳn một bên) Bao gồm các loài động vật Chân bụng vỏ tiêu giảm hay chỉ còn lại rất ít Hệ thần kinh lệch Xoang áo nằm ở phía bên phải cơ thể, đôi khi tiêu giảm hay mất hẳn Tim chỉ có 1 tâm nhĩ Một mang nằm ở phía sau tim Đôi khi mang được thay thế bởi mang thứ sinh Lưỡng tính, chỉ sống ở biển Phân lớp Mang sau được chia làm 4 bộ:
Bộ Mang kín hay Mang ẩn (Tectibranchia): Có xoang áo và mang chính thức,
mang được áo che kín Chân chia thành 2 thùy ở hai bên lớn Sống bò dưới đáy Ở
Việt Nam đã gặp các giống Dolabella, Atys, Bulla, Hydatina, Cyclichna, Pupa
Bộ Chân cánh (Pteropoda): Hai tấm bên chân phát triển thành vây bơi, thích ứng với đời sống bơi Đại diện có giống Clione không có vỏ, không có mang, phân
bố nhiều ở vùng cận cực, là thức ăn của cá voi Ở Việt Nam đã gặp giống Limacina
và các loài Creseis acicula Cresies clava có số lượng lớn và phân bố rộng Khi chết
đi vỏ đá vôi lắng xuống tạo thànhthành phần cát bùn của đáy biển
Bộ Ốc hai mảnh vỏ (Saccoglossa): Bên cạnh các đặc điểm về cấu tạo lưỡi gai, hầu
tiêu biểu cho động vật Chân bụng thì nhóm này còn có vỏ hai mảnh như vỏ trai
(Berthelinia, Midorigai) Ở Việt Nam gặp các giống Phyllobrachus, Placobranchus…
Bộ Mang trần (Nudibranchia): Mang chính thức (nguyên sinh) tiêu biến, thay
thế là mang phụ (thứ sinh) ở mặt lưng Các hạch thần kinh tập trung về phía đầu Cơ thể có dạng sên, bên ngoài đối xứng, không có vỏ, không có xoang áo Ở biển Việt
Nam đã biết có 200 loài, các giống có nhiều loài là Hexabranchus, Phyllidia, Armina, Phyllirhoe, Melibe, Glossodoris [2, tr 186]
- Phân lớp Có phổi (Pulmonata)
Do mang tiêu biến nên được thay thế bằng phổi Phổi là mặt trong của xoang
áo, có nhiều mạch máu, có lỗ thở nhỏ ở bên phải Cơ quan áo lẻ, thần kinh lệch, các hạch thần kinh tập trung ở phần đầu Vỏ phát triển hay tiêu giảm, không có nắp vỏ Lưỡng tính, một số đẻ con Sống ở nước ngọt hay trên cạn Được chia thành 2 bộ
Bộ Mắt ở gốc (Basommatophora): Có mắt nằm ở gốc tua đầu, tua đầu có 1
đôi, không co duỗi được Vỏ phát triển Phần lớn chuyển sang đời sống thứ sinh
Trang 17nước ngọt Gặp phổ biến các giống như Lymnea, Gyraulus, Polypylis, Hippeutis, Pettancylus, Indoplanobris
Bộ Mắt ở đỉnh (Styllommatophora): Có 2 đôi tua đầu co duỗi được, mắt nằm ở
ngọn đôi tua đầu sau Vỏ có thể tiêu giảm Sống chủ yếu trên cạn Bao gồm các loài
thuộc ốc sên, sên trần, sên núi Các họ phổ biến là Succineidae, Enidae, Ariophantidae, Achatidae, Zonitidae, Bulimulidae, Helicidae, Limacidae, Arionidae Ở Việt Nam gặp phổ biến các giống như Achatina, Hemiphaedusa, Bradybaena, Camaena [2, tr
187]
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu động vật thân mềm trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về thành phần loài động vật Chân bụng (Gastropoda) đã bắt đầu
và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các loài chân bụng ở nước ngọt nhiều hơn là nghiên cứu các loài chân bụng ở biển: Timothy
W Stewart (2006), Timothy Ư Stewart và Robert T Dillon Jr (2004), Dillon (2000), Strong, Ellen E , Gargominy, Olivier, Winston F (2007)…
Các nghiên cứu về động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ở biển trên toàn thế giới có thể kể đến như: Chapman, A.D (2009), Colin R Beasley, Carlos M Femandes, Cleidson P Gome; Bethania A Brito; Soonia M Lima dó Santo & Claudia H Tagliaro (2005)….Vì có số lượng lớn nên động vật lớp chân bụng (Gastropoda) thường được khoanh vùng để nghiên cứu đạt kết quả cao nhất: nghiên cứu chân bụng thuộc khu vực Ấn Độ-Tây Thái Bình Dương (Alan J Kohn, 1967), các vịnh Tây Ban Nha (P Drake và AM Arias, 1994)…
Trong suốt thế kỷ XX, những nghiên cứu về thành phần loài động vật lớp chân bụng thường dựa theo tiêu chuẩn phân loại của Thiele (1929-1031) và được trình bày trong nhiều sách khoa học trên toàn thế giới (Brusca & Brusca, 2003) [23].Sau
đó, dựa trên tiêu chuẩn của Thiele, Bouchet và Rocroi đã đưa ra một hệ thống phân loại mới, hoàn chỉnh hơn vào năm 2005 [28]
Trang 18Trong nghiên cứu tại vùng ven biển phía Bắc và Đông Bắc Brazil, Colin R Beasley cùng các cộng sự đã nghiên cứu và thống kê có hơn 19 loài chân bụng thuộc 15 họ, trong đó có 3 loài từ rừng ngập mặn, 9 loài từ đáy cát và 3 loài từ đáy bùn cát [26] Dựa trên những hệ thống phân loại trên, Chapman trong nghiên cứu về
động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ở Úc và trên thế giới đã thống kê có khoảng
85.00 loài chân bụng trên thế giới (tối thiểu 50.000, tối đa là 120.000 loài) [25] và trong đó có khoảng 30.000 loài chân bụng sống ở biển [27] Với độ đa dạng và phong phú chỉ đứng sau lớp Côn trùng (Insecta) nên danh sách các loài chân bụng trên thế giới đã liên tiếp được bổ sung thêm nhiều loài mới từ năm 2008-2015 Các nhà khoa học đã tiến hành sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phân tích độ đa dạng sinh học ở các cấp độ loài, chi nhằm xác định thành phần loài động vật chân bụng Từ cơ sở đó thành lập danh sách các loài chân bụng trên thế giới và những điểm nóng đa dạng sinh học (hot spot) về động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) ở các vùng biển phía Nam và trên thế giới bao gồm phần lục địa Nam cực không bao gồm bán đảo Nam cực, vùng biển Scotia hay các đảo lân cận vùng Nam cực hiện nay [22] Bên cạnh đó, ngoài việc nghiên cứu về sự đa dạng thành phần loài chân bụng, các nghiên cứu còn thống kê, đưa ra hàng loạt các danh sách khác : danh sách
các loài có giá trị ở vùng biển Bắc và Đông bắc Brazil : Mytella sp, Crassostrea sp…, danh sách về động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) sống ở biển bị đe dọa ở
Singapore bao gồm: 32 loài thuộc 18 họ [32] hay danh sách về động vật chân bụng
có giá trị kinh tế ở vùng biển Tây Thái Bình Dương với gần 300 loài thuộc 43 chi,
trong đó có số lượng lớn nhất là chi Cypraeidae với 25 loài có giá trị kinh tế [24]
Hay danh sách các loài chân bụng có giá trị làm thực phẩm hoặc không có giá trị làm thực phẩm lần lượt được ghi nhận 384, 44, 22 và 15 loài trong khu vực Đông Nam Á ( Wong và Arshad, 2011, Ashton et at, 2003, Matsuura et at, 2000, Phuket Marine Biological Center, 2006 ) [29]
Ngoài các nghiên cứu về toàn bộ lớp Chân bụng, do số lượng lớn nên đã có nhiều nghiên cứu tiến hành đi sâu về từng chi, loài cụ thể: nghiên cứu về chi ốc
Trang 19Echinolittorina [33], chi ốc Hydrobiidae (P Drake và AM Arias, 1994), ốc Cerithidea Swainson , loài ốc đá dép Crepidula fornicata [30]
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu khảo sát về đa dạng sinh vật biển Những nghiên cứu về động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) đầu tiên ở Việt Nam có thể kể đến là: khu vực phía Nam: khảo sát về trai, ốc biển ở vùng biển Côn Đảo, công bố năm 1784 (Martin và Chemntiz, 1784), các nghiên cứu của Eydoux, Souleyet, Grandichau (1857), Michau (1861) hay Le Mesle (1894), khu vực phía Bắc với các nghiên cứu của: Crosse và Fisher (1890), Fisher (1891)…Và báo cáo đầu tiên về sinh vật đáy ở biển Việt Nam phải kể đến là của Dautzenberg P.H et Fischer H (1905) Nhìn chung, các hoạt động nghiên cứu còn lẻ tẻ, mang tính chất khu vực, chưa thống nhất và hầu như chưa có nghiên cứu nào mang tính khái quát
về đa dạng động vật chân bụng ở biển Việt Nam
Theo thống kê trên biển Việt Nam có 2.500 loài sinh vật biển thuộc 163 họ,
trong đó có một số loài chân bụng thường gặp là: Pyramidellidae, turbinidae, Muricidae, Cypraeidae, Nasidae, Mitridae…Những loài động vật chân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) thường gặp ở vùng biển miền Bắc: Distorsio reticulata, Turricula tuberculata, Bursa rana, Murex trapa, Drupa margariticola, vùng biển miền Trung: Cerithium mochi, Natica chinensis, Surcula tuberculata, Terebellum terebellum, Trochus niloticus, vùng biển miền Nam: Turbo bruneus, Nerita albicilla, Thais aculeata, Strombus succinctus [1].
Một số nghiên cứu khác cũng đã cho thấy độ đa dạng sinh học cụ thể hơn ở các vùng biển Việt Nam
Trong chuyên đề tổng quan nghiên cứu về động vật đáy trong hệ sinh thái rạn san hô và ven đảo ở 19 đảo, sau khi tập hợp các nghiên cứu đã công bố nghiên cứu
về Ba Mùn- Quảng Ninh, Đỗ Thanh An và Hoàng Đình Chiểu đã thống kê cho thấy:
“Thân mềm là nhóm động vật đáy chiếm số lượng lớn với tổng số 197 loài Trong nhóm này, lớp Chân bụng (Gastropoda) có 28 họ, 51 giống, 97 loài, chiếm 49,2%
Các họ có số loài nhiều bao gồm họ Ốc Đụn (Trochidae) với 15 loài, Cerithiidae-
Trang 2011 loài, Ốc Xương (Muricidae)- 11 loài), Ốc Vùng Triều (Littorinidae)- 9 loài, các
họ còn lại có từ 1 đến 6 loài Các loài thường gặp là Cerithidea cingulata, Littoraria intermedia, Nodilittorina pyramidalis, Planaxis sulcatus, Nerita albicilla, Clypemorus biscilatus, Chicoreus torefactus, Trochus pyramis Cũng trong chuyên
đề này, các nghiên cứu về Đảo Cát Bà– Quảng Ninh đã ghi nhận nhiều loài động
vật chân bụng quý hiếm như: Ốc Đụn đực, Ốc Đụn cái (Trochus sp) và nhiều loài có giá trị kinh tế cao như : Ốc Nón (Trochus maculatus), họ Ốc Sứ (Cypreidae) [1].
Vùng ngập mặn ven biển phía Bắc Việt Nam từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa,
có các công trình của Phạm Đình Trọng (1996), Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc và Tạ Thị Kim Hoa, từ năm 1998 dến 2007, đã công bố danh sách 71 loài chân bụng thuộc 21 họ và 35 giống Tác giả khẳng định: nhóm chân bụng
(Gastropoda) rất phong phú các loài không có vỏ như : Onchidium sp., Playtyvindex
sp Còn các nhóm chân bụng khác phần lớn gặp Terebralia sulcata, vốn là loài thích hợp với nền đáy cứng với thành phần chính là sỏi sạn Ốc Cánh (Cerithidea micropter) là loài đặc trung cho nền đáy lún có bùn Vùng triều đáy cát có các cây ngập mặn thường khá tập trung các loài trong họ Ellobiidae (Casidula nucleus, Ellobium chinensis), sống dưới gốc cây ngập mặn có hai loài điển hình cho vùng cao triều là: Cerithidea ornate và vùng triều thấp và các loài trong họ Littorinidae
[14]
Trong điều tra nguồn lợi đặc sản vùng biển ven bờ và ven đảo từ Móng Cái đến Bắc đèo Hải Vân, Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Huy Yết đã tiến hành điều tra trên 90 điểm thuộc 9 tỉnh và xác định được 233 loài thân mềm khác nhau [21]
Nguyễn Thị Hải đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài động vật đáy tại 28 tỉnh thành ven biển trong cả nước Đã xác định được 206 loài thuộc 70 họ, 15 bộ, 5 lớp Trong đó, lớp chân bụng chiếm 86 loài, chiếm 41,75% tổng số loài thu được và
10 loài thân mềm có giá trị kinh tế trong đó có 3 loài ốc ốc đĩa (Neria balteata Reeve, 1855); ốc đỏ môi - ốc chân châu (Neritina violacea (Gmelin, 1791)); ốc vùng triều thô (Littoraria scabra (Linnaeus, 1758) [8]
Trang 21Trong báo cáo về các loài trong họ ốc khế tại vùng biển Việt Nam, Bùi Quang
Nghị đã thống kê, mô tả 4 loài ốc khế: Harpa amouretta (Roeding, 1798), Harpa articularis (Lamarck, 1822), Harpa harpa (Linnaeus, 1758), Harpa major
(Roeding, 1798); đã xây dựng được khóa định loại các loài trong họ này Các tên đồng danh (synonymes), mô tả hình dạng, kích thước, cấu trúc, màu sắc vỏ, môi trường sống và phân bố của các loài cũng đã được trình bày trong báo cáo [11].Sau khi tiến hành phần loại dựa trên các đặc điểm hình thái và di truyền, Nguyễn Thị Thúy Hà đã xác định được 8 loài ốc cối ở vùng biển nam trung bộ Việt
Nam: Conus marmoreus (Linnaeus, 1758), Conus bandamus (Rruguiere, 1792), Conus imoerialis (Linnaeus, 1758), Conus quercinus (Lightfoot, 1786), Conus lividus (Hwass in Bruguiere, 1792), Conus capitaneus (Linné, 1758), Conus caracteristicus (Fisscher, 1807), Conus betulinus (Linné 1758) [7].
Các nghiên cứu về động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) ở vùng biển ven bờ Quảng Nam- Đà Nẵng còn khá ít
Tại vùng biển Đà Nẵng, Nguyễn Thị Ngọc (2014) trong nghiên cứu “Thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) tại vùng biển Đà Nẵng” đã ghi nhận được 64 loài thuộc 27 họ thuộc 9 bộ khác nhau Theo thống kê
của tác giả, số loài ưu thế nhất thuộc về bộ Sorbeoconcha với 29 loài chiếm 45,31% tổng số mẫu thu được Tiếp theo là bộ NeoGastropoda với 23 loài, chiếm 35,93%, các bộ Architaenioglossa, Ptenoglossa, Littorimorpha, PatelloGastropoda
mỗi bộ thu được 2 loài, chiếm 3,31% tổng số loài thu được Số mẫu vật thu được
thuộc các bộ VetiGastropoda, Heterostropha, MesoGastropoda ít hơn, chiếm
1,56% tổng số mẫu thu được Qua quá trình nghiên cứu, tác giả cũng ghi nhận được
16 loài có giá trị kinh tế cao, phần lớn thuộc vào bộ Sorbeoconcha và chưa thu được
loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam Nghiên cứu cũng tiến hành so sánh thành phần loài động vật thân mềm ở biển Đà Nẵng với khu hệ động vật thân mềm
thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) ở khu vực Hải Vân-Sơn Chà Sau khi tiến hành
so sánh, tác giả rút ta kết luận thành phần loài ốc ở biển Đà Nẵng ít đa dạng hơn cả
về số loài và họ [12]
Trang 22Tại vùng biển nghiên cứu
Quảng Nam hầu như không có một nghiên cứu nào cụ thể đi sâu vào nghiên cứu động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng (Gastropoda) mà chủ yếu là các nghiên cứu chung về động vật đáy: Nguyễn Thị Sim (2011) đã nghiên cứu nhận thấy ở vùng hạ lưu sông Thu Bồn Quảng Nam có 6 loài Chân bụng với hai dạng sống chính là: sống bám trên thân, rễ cây thủy sinh hay sống vùi trong lớp thầm tích đáy Bên cạnh đó cũng đã xác định được 3 loài Chân bụng, cụ thể là Ốc Hương
Babylonia ambulacrrum, Ốc Dừa Neritina coromandeliana và Ốc dừa Neritina cornucopis [16]
1.3 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Nam nằm ở tọa độ 15033’25”B, 108002’12”Đ, có tổng diện tích 10.440 km2 Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía Tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ Địa hình tỉnh Quảng Nam có hướng địa hình nghiên dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn) Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quang, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang [9]
Nằm bên bờ bắc hạ lưu sông Thu Bồn, Hội An là vùng cửa sông - ven biển và
là nơi hội tụ của các con sông lớn của Quảng Nam: sông Thu Bồn-Vu Gia theo trục Đông–Tây (đoạn sông Thu Bồn chảy qua Hội An được gọi là sông Cái hoặc sông Hội An, với chiều dài qua địa phận thành phố là 8,5 km), sông Trường Giang theo
Trang 23trục Nam-Bắc, sông Cổ Cò (tên chữ là Lộ Cảnh Giang) theo trục ngang Bắc–Nam (đoạn sông Cổ Cò chảy qua Hội An gọi là sông Đế Võng, chiều dài 7km) Phần lớn diện tích tự nhiên của Hội An được bao bọc bởi hệ thống sông lớn nhỏ, mương lạch chằng chịt và bị chia cắt bởi những bãi, nổng, trảng, dốc, cồn cát; những bàu, đầm, hói, vũng, ao…và những rừng dừa nước Các con sông này hầu hết đổ ra biển tại Cửa Đại Phần phía Đông xã Cẩm Thanh chịu tác động mạnh của thủy triều và nước sông hình thành nên vùng lầy ven biển, là nơi tập trung sinh sống chủ yếu của thực vật nước lợ [3]
Quảng Nam có đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành) Cù Lao Chàm là cụm đảo ven bờ với hệ sinh thái phong phú được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới Cách đất liền 18 km, cụm đảo Cù Lao Chàm với diện tích 15,49km2
(chiếm 25,1% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố), ở vị trí tọa độ : 15052’30’’ đến 16 000’00’’ Bắc và
108024’30’’ đến 108034’30’’ kinh độ Đông Cù Lao Chàm bao gồm nhiều hòn đảo lớn nhỏ: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Ông, Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Khô (Khô
Mẹ, Khô Con), Hòn Nồm Các hòn đảo này quần tụ thành hình cánh cung hướng mặt ra Biển Đông Cù Lao Chàm-Hội An đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới (ngày 26/5/2009) [5]
1.3.2 Đặc điểm khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Từ tháng 5 đến tháng 10, gió Tây Nam Ðông Bắc (gió Nồm) mang hơi nước từ vịnh Thái Lan vào, nhưng bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nên không mưa (chỉ mưa ở miền Nam, vùng Ðồng bằng sông Cửu Long) và ngược lại, mang hơi nóng của vùng núi Vôi Ðồng Chum của Lào qua, nên rất oi bức (Gió Lào) [4]
Trang 24Nhiệt độ
Nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, Quảng Nam có nền nhiệt độ cao và
ít biến động, không có mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau Nhiệt độ không khí ở Quảng Nam lệ thuộc nhiều vào khí hậu nhiệt đới gió mùa (gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam, gió mùa đông–đông nam) và chế độ mưa Nhiệt độ trung bình năm là 25,60C; nhiệt độ cao nhất: 39,8 0C; nhiệt độ thấp nhất: 190C Tuy nhiên vào mùa đông, ở vùng núi nhiệt độ có thể xuống thấp hơn, khoảng 120
C [4]
Độ ẩm
Độ ẩm tương đối trung bình năm: 84%, mùa khô 75%, mùa mưa 85% Khí hậu Quảng Nam có đặc điểm nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bão và mùa nắng nóng kết hợp thêm tính chất khí hậu duyên hải Miền Trung [4]
Lượng mưa, bão
Tổng lượng mưa bình quân 3.738 mm/năm, phân bố không đều theo thời gian
và không gian Lượng mưa cao nhất vào tháng 9,10, 11,12 (320-735 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 2, 3, 4 (40-46 mm/tháng) Mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung (các huyện Đông Giang, Tây Giang
và Nam Giang) có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn (các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức)
có lượng mưa lớn nhất Trà My là một trong những trung tâm mưa lớn nhất của Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt quá 4,000 mm Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trong 3 tháng mùa mưa trên một địa hình hẹp, dốc tạo điều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh Mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão
đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện Nam Trà My, Bắc Trà
My, Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang và ngập lụt ở các huyện đồng bằng [4]
Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình: 2.107 mm/năm Lượng bốc hơi tháng lớn nhất: 241
mm Lượng bốc hơi tháng ít nhất: 119 mm [4]
Trang 25Gió
Chế độ gió cũng có hai mùa rõ rệt: Gió mùa đông từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, gió mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 Hướng gió thịnh hành mùa hè: Đông Hướng gió thịnh hành mùa Đông: Bắc và Tây Bắc Tốc độ gió trung bình: 3,3 m/s Tốc độ gió mạnh nhất: 40 m/s Chế độ gió có 2 mùa rõ rệt [4]
1.3.3 Điều kiện thủy văn
Dòng chảy
Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm Lưu lượng dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến Thạnh Mỹ với diện tích lưu vực 1,850 km2) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến Nông Sơn với diện tích lưu vực 3,130 km2) là 281 m3/s Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng 2 đến tháng 8) rất thấp Hai tháng 1và 9 là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là 10,600 m3/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s Trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu
là 10.5 m3/s Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng [34]
Ở biển tồn tại hai hệ thống dòng chảy: dòng chảy mùa đông (tháng 2), có hướng Đông Bắc-Tây Nam và dòng chảy mùa hè ( tháng 8), có hướng Tây Nam-Đông Bắc Theo các kết quả tính toán cho thấy ở ngoài khơi có tốc độ dòng chảy lớn hơn Các dòng chảy ảnh hưởng rất lớn đến địa hình ở vùng bờ Khi vào gần bờ, cộng thêm tác động của dòng chảy ven bờ, thì ảnh hưởng này [3]
Chế độ thủy triều
Ở Quảng Nam có hai dạng thay đổi mực nước biển:
- Dao động thủy triều: Vùng biển Quảng Nam có chế độ bán nhật triều không đồng đều Trong một tháng có cả ngày hai lần triều lên xuống lẫn ngày một lần triều lên xuống Biên độ thủy triều ở đáy không lớn Tại Cửa Đại, biên độ triều bé nhất là
Trang 260,8m và lớn nhất là 1,5m Do biên độ triều không lớn cùng với độ dốc lớn nên phần diện tích bãi triều lộ ra khi triều xuống là không đáng kể
- Các dao động không theo chu kỳ: là sự thay đổi mực nước biển trong những khoảng thời gian khác nhau Đó là các đợt biển tiến và lùi Hiện tượng biển tiến đang xảy ra ngày càng thường xuyên hơn ở vùng biển Cửa Đại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và sự phát triển của Hội An nói riêng và Quảng Nam nói chung [3]
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) thuộc ngành Thân mềm (Mollusca) khai thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Vùng biển ven bờ Quảng Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
6 tháng (Từ 17 tháng 10 năm 2015 đến 29 tháng 3 năm 2016)
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thành phần loài động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) khai thác tại vùng biển
ven bờ Quảng Nam
2.2.2 Đặc trưng về đa dạng sinh học của động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) khai
thác tại vùng biển ven bờ Quảng nam
2.2.3 So sánh độ đa dạng về thành phần động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) khai
thác tại vùng biển ven bờ Quảng Nam với vùng biển khác
2.2.4 Các loài động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế cao khai thác
tại vùng biển ven bờ Quảng Nam
2.2.5 Các loài động vật lớp Chân bụng (Gastropoda) quý hiếm tại vùng biển ven bờ
Quảng Nam
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Trong thời gian nghiên cứu đã tiến hành 5 đợt thu mẫu Việc thu mẫu ngoài thực địa được tiến hành bằng cách mua mẫu từ bến cá, chợ cá, thu mẫu trực tiếp ở tại các bãi triều hay thu mua lại từ người dân đang khai thác trực tiếp, thu mẫu từ ghe thuyền của các ngư dân khai thác động vật thân mềm lớp Chân bụng
(Gastropoda) hoạt động trong vùng biển ven bờ Quảng Nam Mỗi tháng tiến hành
Trang 28thu 1 đợt Mỗi đợt thu từ 1-2 ngày Mẫu thu được phân loại và chụp ảnh ngay tại điểm thu Những mẫu chưa phân loại được xử lý , đưa về để tiếp tục nghiên cứu Trong quá trình thu mẫu, tôi kết hợp phỏng vấn, hỏi ngư dân, chủ nậu về loài động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda) có giá trị kinh tế tại địa phương
2.3.2 Phương pháp phân loại động vật thân mềm lớp Chân bụng (Gastropoda)
Mẫu vật được định loại bằng phương pháp so sánh hình thái theo Nguyễn Ngọc Thạch (2007) và Carpenter, K.E và Niem, V H (1998) Trình tự các bộ, họ, loài trong danh mục thành phần loài được sắp xếp theo thứ tự abc
Các mẫu chưa rõ hoặc hoặc chưa phân lọai được sẽ được gửi vào phòng Thủy sinh vật Viện Hải Dương học Nha Trang phân loại
Trang 29CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1 DANH MỤC, CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT THÂN
MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN
Bảng 3.1 Danh mục thành phần loài động vật thân mềm thuộc lớp Chân bụng
(Gastropoda) khai thác vùng biển ven bờ Quảng Nam
STT TÊN KHOA HỌC TÊN VIỆT NAM
TÊN ĐỊA PHƯƠNG (I) BỘ ALLOGASTROPODA
(1) Họ Architectonicidae Họ ốc cuốn chiếu
1 Architectonica perspectiva
(Linnaeus, 1758)
Ốc cuốn chiếu Vân dọc Ốc cuốn chiếu
(II) BỘ CYCLONERITIMORPHA
(2) Họ Neritidae Họ ốc móng ngựa
2 Clithon retropitus
3 Nerita albicilla (Linnaeus, 1758) Ốc móng ngựa Ốc móng ngựa
Trang 307 Neritina turrita (Gmelin, 1791) Ốc móng ngựa
đuôi dài Ốc móng ngựa
(III) BỘ LITTORINIMORPHA
(3) Họ Bursidae Họ ốc cóc
8 Bufonaria rana (Linnaeus, 1758) Ốc cóc đuôi dài Ốc gai
9 Tutufa rubeta (Roding, 1798) Ốc rube Ốc gai lỗ
(4) Họ Cassidae Họ ốc kim khôi
10 Phalium bandatum (Perry, 1811) Ốc miệng méo mắt
dẹp Ốc giấy vằn
11 Semicassis bisulcata
(Schubert & Wagner, 1829)
Ốc miệng méo đít bằng Ốc tỏi
14 Cypraea miliaris (Gmelin, 1791) Ốc bướm
15 Lyncina carneola (Linnaeus, 1758) Ốc bướm
16 Lycina lynx (Linnaeus, 1758) Óc sứ vân báo Ôc bướm
17 Lyncina vitellus (Linnaeus, 1758) Ốc nga chấm trắng Ốc bướm
(6) Họ Ficidae Họ ốc vỏ vả
18 Ficus ficus (Orbigny, 1852) Ốc đùi gà
19 Ficus gracilis Ốc quả bầu vân Ốc đùi gà
Trang 31(Sowerby GB I, 1825)
(7) Họ Naticidae Họ ốc mỡ
20 Neverita didyma (Roding, 1798) Ốc mỡ
21 Natica vitellus (Linnaeus, 1758) Ốc mỡ
28 Tonna chinensis (Hinton, 1972) Ốc giấy
29 Tonna dolium (Linnaeus, 1758) Ốc giấy
30 Tonna sulcosa (Born, 1778) Ốc giấy
(Petuch& Sargent, 2011) Ốc lựu đạn
34 Conus textile (Linnaeus, 1758) Ốc cối hoa lưới Ốc cối da rắn
35 Dendroconus betulinus lacteus Ốc cối cát Ốc cối
Trang 3239 Murex trapa (Roding, 1798) Ốc xương Ốc gai trâm
40 Purpura persica (Roding, 1798) Ốc mắt trâu
41 Rapana rapiformis (Born, 1778) Ốc xương rapi
(16) Họ Nassariidae Họ ốc nho
42 Nassarius crematus (Hinds, 1844) Ốc nho
43 Nassarius dorri (Wattebled, 1886) Ốc nho
Trang 33(24) Họ Haliotidae Họ ốc bào ngư
54 Haliotis ovina (Gmelin, 1791) Bào ngư hình
bầu dục Bào ngư
57 Turbo concinnus (Philippi, 1848) Ốc mặt trăng
(26) Họ Trochidae Họ ốc nón
58 Monodonta labio (Linnaeus, 1758) Ốc nón gân phẳng Ốc nón
59 Tectus conus (Gmelin, 1791) Ốc nón
60 Tectus pyramis (Born, 1778) Ốc nón gai nhọn
Ốc đụn đực Ốc nón
61 Tectus virgatus (Gmelin, 1791) Ốc nón đỉnh teo Ốc nón
62 Tegula euryomphala (Jonas, 1844)
63 Umbonium vestiarium
(Linnaeus, 1758)
Ốc mành, ốc cờm,
ốc ruốc Ốc lể