Luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học nông nghiệp I - hà Nội
- YZ -
Nguyễn Thị Tú
Nghiên cứu một số bệnh nấm hại đậu tương vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang và biện pháp phòng trừ
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Viên
Hà Nội - 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng công trình này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, ch−a từng đ−ợc
sử dụng cho một báo cáo luận văn nào và ch−a đ−ợc sử dụng bảo vệ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho tôi thực hiện luận văn này đã
đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tú
Trang 3Lời cảm ơn
Để thực hiện và hoàn thành tốt luận văn này trước hết tôi xin gửi lời cảm
ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Viên đã hướng dẫn, giúp đỡ, dìu dắt tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ khoa Sau đại học và bộ môn Bệnh cây - Nông dược, khoa nông học trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội
đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, cán bộ CNVC Chi cục Bảo
vệ thực vật tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, công nhân Xí nghiệp giống cây trồng Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi tiến hành đề tài được thuận lợi
Tôi xin cảm ơn tới sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2007
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tú
Trang 43 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 29
3.4 Công thức tính toán và xử lí số liệu 39
4.1 Kết quả xác định thành phần nấm hại hạt giống đậu tương 41
4.1.1 Kết quả xác định thành phần nấm hại hạt giống đậu tương
ĐT12 được dùng để trồng đại trà trong vụ xuân 2007 tại Tân
Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
41
4.1.2 Kết quả xác định thành phần nấm hại hạt một số giống đậu
tương dùng để trồng khảo nghiệm trong vụ xuân 2007 tại Tân
Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
45
Trang 54.2 Kết quả điều tra Thành phần và mức độ phổ biến bệnh nấm
hại đậu tương ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang -
Bắc Giang
52
4.3 Kết quả điều tra tình hình phát sinh và gây hại của một số nấm
hại cây đậu tương vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh- Lạng Giang -
Bắc Giang
57
4.4 Kết quả khảo sát hiệu lực của một số thuốc hóa học phòng trừ
bệnh nấm hại lá và hiệu lực của chế phẩm nấm Trichoderma
viride phòng trừ một số bệnh hại vùng rễ đậu tương ĐT12 vụ
xuân 2007
63
4.4.1 Kết quả khảo sát hiệu lực của một số thuốc hóa học phòng trừ
một số bệnh nấm hại lá đậu tương ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân
Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
63
4.4.2 Kết quả đánh giá hiệu lực của chế phấm nấm Trichoderma
viride phòng trừ bệnh hại vùng rễ đậu tương
65
4.5 Đánh giá năng suất của đậu tương ĐT12 trồng vụ xuân 2007
tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang (Xử lí Trichoderma
4.6 Đánh giá năng suất của một số giống đậu tương trồng khảo
nghiệm vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang 76
Trang 6Danh mục các bảng số liệu
3.1 Nguồn gốc của một số giống đậu tương khảo nghiệm vụ xuân
2007 tại Tân Dĩnh – Lạng Giang – Bắc Giang
29
4.1 Thành phần nấm hại hạt đậu tương ĐT12 được dùng để trồng
trong vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
42
4.2 Thành phần nấm hại hạt một số giống đậu tương được dùng để
trồng khảo nghiệm vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang -
Bắc Giang
46
4.3 Mức độ nhiễm nấm Aspergillus và Penicillium spp trên hạt của
một số giống đậu tương được dùng để trồng khảo nghiệm vụ
xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
47
4.4 Mức độ nhiễm nấm Fusarium trên hạt của một số giống đậu
tương được dùng để trồng khảo nghiệm vụ xuân 2007 tại Tân
Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
49
4.5 Mức độ nhiễm nấm Cercospora và Colletotrichum trên hạt của
một số giống đậu tương được dùng để trồng khảo nghiệm vụ
xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang- Bắc Giang
50
4.6 Mức độ nhiễm nấm Sclerotium rolfsii và Phoma sorghina trên
hạt của một số giống đậu tương được dùng để trồng khảo nghiệm
vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
51
4.7 Thành phần và mức độ phổ biến bệnh nấm hại cây đậu tương
ĐT12 trồng vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
55
4.8 Diễn biến bệnh lở cỗ rễ, héo rũ gốc mốc trắng, thối thân hại đậu
tương ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang – Bắc
Giang
58
4.9 Diễn biến bệnh héo rũ gốc mốc trắng, thối thân và lở cổ rễ hại
một số giống đậu tương trồng khảo nghiệm vụ xuân 2007 tại Tân
Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
60
Trang 74.10 Diễn biến bệnh gỉ sắt, phấn trắng và sương mai hại đậu tương
ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
62
4.11 Hiệu lực phòng trừ bệnh sương mai (P manshurica) hại đậu
tương ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh- Lạng Giang – Bắc Giang
64
4.12 Hiệu lực phòng trừ bệnh phấn trắng (O.polygony) hại đậu tương
ĐT12 vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
65
4.13 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride đối với nấm
Rhizoctonia solani hại đậu tương trên môi trường PGA
66
4.14 Hiệu lực đối kháng của nấm Trichoderma viride đối với nấm
Sclerotium rolfsii hại đâụ tương trên môi trường PGA
67
4.15 Hiệu lực của nấm Trichoderma viride phòng trừ bệnh lở cổ rễ
(R.solani) hại đậu tương trong điều kiện chậu vại (xử lí hạt)
69
4.16 Hiệu lực của nấm Trichoderma viride phòng trừ bệnh héo rũ gốc
mốc trắng (S rolfsii) hại đậu tương trong điều kiện chậu vại (xử lí
hạt)
69
4.17 Hiệu lực của nấm Trichoderma viride phòng trừ bệnh lở cổ rễ
(R.solani) hại đậu tương trong điều kiện chậu vại (xử lí cây con)
70
4.18 Hiệu lực của nấm Trichoderma viride phòng trừ bệnh héo rũ gốc
mốc trắng (S rolfsii) hại đậu tương trong điều kiện chậu vại (xử lí
cây con)
71
4.19 Hiệu lực của nấm Trichoderma viride phòng trừ bệnh lở cổ rễ
(R.solani) và bệnh héo rũ gốc mốc trắng (S.rolfsii) hại đậu tương
ngoài đồng vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh – Lạng Giang – Bắc Giang
73
4.20 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất đậu tương ĐT12 vụ
xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang (xử lí T.viride
vào đất, hạt và cây con)
75
4.21 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống
đậu tương trồng khảo nghiệm vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng
Giang - Bắc Giang
77
Trang 8Danh môc c¸c ¶nh
4.1a,b BÖnh hÐo rò gèc mèc tr¾ng (Sclerotium rolfsii)
4.2 BÖnh gØ s¾t ®Ëu t−¬ng (Phakopsora pachyrhizi)
4.3 BÖnh hÐo vµng ®Ëu t−¬ng (Fusarium oxysporum)
4.4 BÖnh Lë cæ rÔ (Rhizoctonia solani)
4.5 BÖnh s−¬ng mai ®Ëu t−¬ng (Peronospora manshurica)
4.6 BÖnh phÊn tr¾ng (Odium polygony)
4.7 BÖnh thèi th©n (Fusarium solani)
4.8 1.H¹t ®Ëu t−¬ng nhiÔm nÊm Apergillus niger
2 H¹t ®Ëu t−¬ng bÞ nhiÔm nÊm Apergillus flavus
4.9 H¹t ®Ëu t−¬ng bÞ nhiÔm nÊm Penicilium spp
Trang 9Danh môc c¸c h×nh
4.1 DiÔn biÕn TLB% mét sè bÖnh nÊm h¹i ®Ëu t−¬ng §T12 vô
xu©n 2007 t¹i T©n DÜnh - L¹ng Giang - B¾c Giang 58 4.2 DiÔn biÕn TLB% mét sè bÖnh nÊm h¹i l¸ ®Ëu t−¬ng §T12 vô
xu©n 2007 t¹i T©n DÜnh - L¹ng Giang - B¾c Giang 62 4.3 DiÔn biÕn CSB% mét sè bÖnh nÊm h¹i l¸ ®Ëu t−¬ng §T12 vô
xu©n 2007 t¹i T©n DÜnh - L¹ng Giang - B¾c Giang 63 4.4 N¨ng suÊt vµ c¸c yÕu tè cÊu thµnh n¨ng suÊt ®Ëu t−¬ng §T12
khi xö lý nÊm T.viride vô xu©n 2007 t¹i T©n DÜnh - L¹ng
Giang - B¾c Giang
76
4.5 N¨ng suÊt vµ yÕu tè cÊu thµnh n¨ng suÊt cña mét sè gièng ®Ëu
t−¬ng trång kh¶o nghiÖm vô xu©n 2007 t¹i T©n DÜnh - L¹ng
Trang 10Danh mục các chữa viết tắt
CSB : Chỉ số bệnh
HRGMT : Héo rũ gốc mốc trắng LCR : Lở cổ rễ
MĐPB : Mức độ phổ biến TH4 : Giống đậu tương tạp hoàng 4 TLB : Tỷ lệ bệnh
Trang 111 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max.( L) Merrill) là một trong những cây công
nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao trong nền nông nghiệp nước ta Sản phẩm từ cây đậu tương dùng để chế biến thực phẩm cho người và làm thức ăn cho gia súc Ngoài ra đậu tương còn là cây luân canh cải tạo đất có giá trị và là
mặt hàng nông sản quan trọng
ở Việt Nam đậu tương được biết đến sớm từ thời Hùng Vương, và từ lâu nhân dân ta đã biết chế biến đậu tương thành thức ăn và thành tập tục, đúc kết
thành câu ca dao : “ Còn ao rau muống, còn đầy chum tương”
Giá trị dinh dưỡng của đậu tương được thể hiện qua hàm lượng prôtêin rất cao chiếm 40 - 50%, prôtêin chứa đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết
đặc biệt là lizin, triptophan Hàm lượng lipit chiếm khoảng 12 - 24%, trong đó axit béo chưa no chiếm tỷ lệ cao Các sản phẩm tạo ra từ đậu tượng rất phong phú với nhiều loại thực phẩm khác nhau như : Sữa đậu nành, bột đậu, đậu phụ, bánh kẹo, sôcôla Dầu đậu tương chiếm 20 - 25% toàn bộ sản lượng dầu thực vật Dầu đậu tương có thể thay thế bằng các loại dầu khác như mỡ động vật Ngoài ra dầu đậu tương có chỉ số iốt là 122 - 150, chỉ số xà phòng là 188 - 195
do đó dầu đậu tương còn được sử dụng trong công nghiệp sản xuất xi, sơn, mực in, xà phòng Trong quá trình sản xuất thức ăn gia súc, hàm lượng đạm trong khô dầu đậu tượng chiếm 60% [3] Cây đậu tương dễ trồng, dễ chăm sóc, không kén đất, thời gian sinh trưởng ngắn và thu hoạch cho năng suất cao, có khả năng cố định đạm và có tác dụng cải tạo đất (1ha/1vụ có thể tích lũy 50-70kg N)
ở Việt Nam trước cách mạng tháng 8/1945 diện tích đậu tương còn nhỏ
bé khoảng 32.200 ha, năng suất thấp đạt 4,1tạ/ha, sau khi đất nước thống nhất diện tích đậu tương cả nước là 39.954 ha năng suất đạt 5,2 tạ/ha Cả nước đã
Trang 12hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương đó là : Vùng đồng bằng Nam Bộ, miền núi Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên Diện tích trồng cây đậu tương hàng năm không ngừng tăng do nhu cầu thị trường và tình hình phát triển nghề chăn
nuôi ngày càng được quan tâm
Trên thế giới có 4 nước sản xuất đậu tương lớn nhất là : Mỹ, Brazil, Trung Quốc và Achentina chiếm khoảng 90 - 95 % tổng sản lượng thế giới, trước những năm 1990 chỉ có Mỹ và Trung Quốc là hai nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới, tốc độ phát triển đậu tương ở Mỹ nhanh hơn Trung Quốc, sản lượng đậu tương trên thế giới của Mỹ tăng từ 60% năm 1960 đến
đỉnh cao là 75% năm 1969, trong khi đó sản lượng đậu tương của Trung Quốc trên thế giới giảm từ 32% xuống 6% tổng sản lượng đậu tương trên thế giới [3]
Nước Mỹ do nhu cầu về dầu để nấu nướng, làm salad và thịt bò đỏ đã làm tăng đáng kể diện tích đậu tương tăng từ 40 vạn ha (năm 1924) đến năm 1990 diện tích đậu tương là 22,86 triệu ha, hiện nay Mỹ là nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp Mỹ có 5 vùng sản xuất
đậu tương chính : Vành đai ngô phía Tây, phía Đông, Đông Nam, vùng Châu thổ và bang Atlantic Ngoài ra Mỹ là nước có diện tích và sản lượng đậu tương lớn nhất trong hơn 50 nước trồng đậu tương trên thế giới, tiếp đến là Brazil và Achentina
ở Việt Nam cây đậu tương được trồng từ rất lâu, nhưng diện tích, năng suất và sản lượng còn thấp, mặc dù nhiều tài liệu nghiên cứu gần đây trên thế giới đã chứng minh rằng điều kiện sinh thái nông nghiệp nhiệt đới trong đó có Việt Nam là nước rất thích hợp cho cây đậu tương phát triển, sản xuất đậu tương ở Việt Nam với 3 mục đích chính đó là : Cung cấp protêin cho người và
động vật, xuất khẩu và cải tạo đất, tuy nhiên diện tích trồng đậu tương nhiều năm gần đây ít có những biến đổi với tổng sản lượng 110.000 - 120.000 tấn
Trang 13mỗi năm, năng suất chất lượng đậu tương vẫn còn thấp và không ổn định, một
trong những nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng đậu tương là do
dịch hại gây ra mà trong đó các bệnh hại do nấm gây ra đóng vai trò quan
trọng
Bắc Giang là một tỉnh trung du - miền núi có diện tích đất tự nhiên là
3.822km2 Đất đai ở Bắc Giang nói chung chủ yếu là đất bạc màu độ phì thấp,
nên việc phát triển cây họ đậu, trong đó chủ yếu là cây đậu tương vừa mang
lại hiệu quả kinh tế, vừa có tác dụng cải tạo đất là rất cần thiết ở tỉnh Bắc
Giang đậu tương được trồng ở hầu hết các huyện trong tỉnh, một số huyện có
diện tích lớn đó là huyện Lạng Giang, Việt Yên, Hiệp Hoà và Tân Yên và
giống chủ yếu là DT84, DT99, ĐT12, Cúc Lục Ngạn…Theo thống kê của Cục
thống kê Bắc Giang, diện tích đậu tương của tỉnh năm từ năm 2001 đến năm
Do diện tích đậu tương ở tỉnh chủ yếu được trồng vào vụ xuân và vụ hè,
vụ xuân do thời tiết, nhiệt độ thấp, có mưa nhỏ, mưa phùn kéo dài, trời lạnh,
độ ẩm đất và độ ẩm không khí cao thuận lợi cho một số loại bệnh hại gây hại
đặc biệt là bệnh nấm như : Lở cỗ rễ, héo rũ gốc mốc trắng, phấn trắng và bệnh
Trang 14sương mai Do vậy diện tích và sản lượng đậu tương của tỉnh giảm dần từ 5,8 nghìn ha (năm 2001) xuống 4,2 nghìn ha (năm 2005), sản lượng giảm từ 7,8 nghìn tấn xuống còn 5,9 nghìn tấn, ngoài nguyên nhân do sâu bệnh hại còn do một phần giá cả không ổn định Bệnh hại đậu tương đang là một vấn đề nan giải và cần phải được quan tâm Để góp phần giữ vững năng suất và chất lượng
đậu tương, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên cây đậu tương của tỉnh, chúng
tôi tiến hành thực hiện đề tài : “Nghiên cứu một số bệnh nấm hại đậu tương
vụ xuân 2007 tại Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang và biện pháp phòng trừ”
1.2 Mục đích, yêu cầu
Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc trừ bệnh hại trên lá
Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh lở cổ rễ, bệnh héo rũ gốc mốc trắng và
bệnh thối thân bằng nấm đối kháng Trichoderma viride
Trang 152 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.1 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài
Dịch hại luôn là vấn đề phức tạp và nan giải trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cây đậu tương nói riêng Cây đậu tương có hơn
100 bệnh đã được biết đến gây hại ở tất cả các vùng trồng đậu tương trên thế giới làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, cây đậu tương dễ bị nhiễm bởi tác nhân gây bệnh, điều này phụ thuộc vào nguồn bệnh, tình trạng phát triển của cây và điều kiện môi trường, ở từng thời điểm bệnh có thể xuất hiện
và gây hại ở vùng này mà không gây hại ở vùng khác, phạm vi gây hại cũng như tính phức tạp của bệnh phụ thuộc chặt chẽ vào bản chất giống, mức độ nhiễm bệnh và khả năng kết hợp giữa cây ký chủ và nguồn bệnh với sự tác
động của các yếu tố môi trường
Theo Lesster W Burgess và các cộng sự [20] cho rằng “Nấm là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh hại trên nhiều loại cây trồng,
có khoảng 100 nghìn loài nấm đã được miêu tả trong đó có trên 8 nghìn loài là nguồn gây bệnh hại cây trồng vì thế còn rất nhiều loài chưa được quan tâm và nghiên cứu Nguồn nấm tồn tại trên các tàn dư cây trồng, trong đất, trong không khí, trong nước, trên quả, hạt hay trong các dụng cụ bảo quản bởi chúng sống không phụ thuộc vào ánh sáng, chúng có thể tồn tại và phát triển trong bóng tối giống như ngoài ánh sáng”
2.1.1 Lịch sử phát triển và đặc điểm sinh học của một số loài nấm hại đậu tương
Nấm gây hại đậu tương có rất nhiều loài, có loài gây hại trên cây ngoài ruộng sản xuất, có loài gây hại trên hạt trong quá trình bảo quản Nấm gây hại
ngoài đồng ruộng gồm một số loài hại thân, rễ, lá, quả như : Rhizoctonia
solani, Sclerotium rolfsii, Fusarium solani, Fusarium oxysporum, Colletotrichum sp.… sự tồn tại của chúng trên đồng ruộng làm ảnh hưởng lớn
Trang 16đến năng suất và chất lượng đậu tương, trong đó đáng quan tâm nhất đó là
nhóm nấm đất : R.solani, S.rolfsii và F.solani, nguồn bệnh chủ yếu của chúng
là trong đất, tàn dư cây bệnh, trong nước, không khí
Trên hạt giống có nhóm bệnh hại hạt và truyền qua hạt, nhóm bệnh hại hạt nhưng không truyền qua hạt, sự tồn tại của nguồn bệnh trên hạt giống là phương thức tồn tại bảo đảm và quan trọng nhất của nguồn bệnh chúng có thể truyền sang cây con chỉ cần một tỷ lệ nhiễm nhỏ cũng làm ảnh hưởng tới sức sống của cây con sau này, nguồn bệnh tồn tại trên hạt giống bao gồm : các loại bào tử nấm, sợi nấm tiềm sinh, keo vi khuẩn và các tinh thể virus Nhóm bệnh này gồm bệnh gây đốm lá, thối hạt, thán thư, thối thân, mốc sương Chúng có thể truyền bệnh qua hạt giống Trong các bệnh truyền qua hạt giống thì nhóm bệnh nấm hại hạt giống là nhóm chiếm đa số [21] Theo thống kê
đến năm 1997 có khoảng trên 100 loài nấm hại hạt gây hại trên một số cây trồng có ý nghĩa kinh tế như : Cây lúa, ngô, cây họ đậu, cây bông, cây bầu bí, cây rau, cây dưa, cây hồ tiêu… nhóm bệnh nấm hại hạt phần lớn thuộc nhóm nấm bán kí sinh, nấm kí sinh chuyên tính chiếm tỷ lệ nhỏ, chúng xâm nhập vào cây và qua hạt, qua các lỗ hở tự nhiên hay các vết thương xây sát
Trong suốt những năm 1995 - 1997, ở Mato Grosso do Sul State, Brazil
đã nghiên cứu về bệnh nấm hại hạt đậu tương, các loài nấm Aspergilluss
flavus, R.solani, S.rolfsii và Marcrophomina phaseolina thường xuyên được
phát hiện trên hạt giống và cây con đậu tương đã tìm thấy từ năm 1995 - 1996
ở vùng Tarai - Uttar Pradesh, ấn Độ, khi tiến hành trong phòng thí nghiệm trên 5 giống đậu tương tất cả các nấm đều ảnh hưởng đến sự nảy mầm và gây bệnh ở cây con (Uma Singh và P.N Thapliyal (1999) [56])
Theo Ahmad, I.S và cộng sự (1999) [24] khi phân tích màu sắc hạt cho thấy sự khác nhau rõ rệt về màu sắc giữa hạt có triệu chứng bị bệnh và hạt không có triệu chứng bị bệnh, trên cơ sở đó có thể phân loại hạt theo sự biến
đổi màu sắc hạt và trong tương lai có thể tự động hóa tuyển chọn hạt giống
Trang 17Theo Arafa, M.K.M.; E.I Mohamed (1999)[26], tàn dư cây lúa mì và cây
lúa miến trong đất làm giảm đáng kể số lượng nấm F.oxysporum trên giống
đậu tương Clark và làm tăng khả năng phát triển của cây trong chậu thí nghiệm
2.1.1.1 Tóm tắt một số bệnh nấm hại cây đậu tương ngoài ruộng sản xuất
Bệnh lở cổ rễ ( Rhizoctonia solani Kuhn )
Đây là loại bệnh ngày càng phổ biến và nghiêm trọng đối với các vùng sản xuất đậu tương, bệnh xuất hiện trước và sau khi nảy mầm, có thể gây hại cả rễ, thân, lá, bệnh này đã được các vùng trồng đậu tương trên thế giới ghi nhận Giai đoạn trước và sau nảy mầm, bệnh xuất hiện và khi gây hại nặng sẽ làm giảm thiệt hại tới 50% diện tích, và làm giảm năng suất 40% ở Brazil và
Mỹ bệnh gây hại nặng làm giảm năng suất tới 42 - 48% [13]
Nấm bệnh gây hại có phổ ký chủ rộng, có thể gây hại trên nhiều loại cây trồng như : Rau, cây ăn quả, cây cảnh
Bệnh xuất hiện sau khi hạt nảy mầm được vài ngày, triệu chứng bệnh có thể xuất hiện ngay trên thân sau khi mầm nhú lên khỏi mặt đất, làm chết cây con, làm giảm mật độ trồng, nấm gây bệnh còn có thể phát triển trên các vết nứt gây hiện tượng thối thân ở cây con, vết bệnh có màu nâu đen hoặc đỏ nhạt, vết bệnh phát triển bao quanh thân và làm cho cây bị chết, sự phát triển của bệnh phụ thuộc vào điều kiện đất đai và sự phá huỷ của độc tố nấm vào mô cây, nấm bệnh còn gây ra hiện tượng làm cho bó mạch trong thân bị tắc hoặc
chỗ vết bệnh trên thân lở loét, cuối cùng làm cho cây đổ và chết Nấm R.solani
gây hại ở tất cả các vụ trong năm, những cây bị nhiễm bệnh mà còn sống sót trên đồng ruộng thì cho năng suất rất thấp
R.solani có đặc tính thay đổi khi cấy trên môi trường nhân tạo, nấm gây
hại từ khi cây mới mọc, ở những vùng đất ẩm ướt nấm có thể gây hại kéo dài
Trang 18đến khi cây ra hoa, kết quả, nhiều khi các mẫu nấm gây hại ở rễ mà nuôi cấy trên môi trường lại không gây hại ở lá, nấm này được phân ra làm 13 nhóm phụ kéo dài từ nhóm GA1 đến GA9, thường thì gây hại nặng ở nhóm GA4, trong đó có một số mẫu phân lập không ký sinh gây hại trên đậu tương như
GA1; GA2 - 4; GA3; GA5, nấm R.solani phát triển trên môi trường PDA ở
nhiệt độ 25 - 30oC và cũng có thể phát triển trên các môi trường khác nhau, sợi nấm có màu trong suốt khi non, về già nó biến đổi từ trắng sang màu nâu nhạt, kích thước 4 - 12àm, sợi nấm đa bào, nhánh của sợi nấm khi non có
điểm thắt lại nối với nhánh mẹ tạo thành một góc 45 - 90o, hạch nấm có màu nâu đến nâu đen tùy thuộc vào tuổi cây, hạch nấm thường không hình thành ở các mẫu phân lập
Nấm R.solani là một loại nấm hoại sinh điển hình, có thể tồn tại trong 3
tháng, thậm chí đến 9 tháng khi vắng mặt cây ký chủ, nấm tồn tại trong đất và bảo tồn trong những hợp chất hữu cơ, sự phát triển của nấm phụ thuộc vào nhiệt độ, ph và sự cạnh tranh vi sinh vật trong đất Quần thể nấm thường tồn tại và sinh trưởng trong độ sâu 10 cm, bảo tồn dưới dạng hạch nấm và sợi nấm khi gặp điều kiện thuận lợi chúng phát sinh và gây hại, nấm gây bệnh có khả năng phân giải mô tế bào bởi các enzym, sự phát triển của nấm còn liên quan tới tiềm năng lây nhiễm
Theo Rajeev Plant; Mukhopadhyay, A.N (1999)[51], nấm R.solani đã được
phân lập từ hạt và cây con đậu tương ở ấn Độ và được nhận dạng theo nhóm IIB
Nấm R.solani là nguyên nhân ngăn cản sự nảy mầm và gây bệnh ở cây con (Uma
Singh và cộng sự, (1999)[56]) Sợi nấm ký sinh có màu vàng và chuyển dần sang màu nâu theo tuổi, sợi nấm mảnh 4 -12àm, tỷ số chiều dài trên chiều rộng là 5/1 Sợi nấm phân nhánh góc bên phải và có ngăn ở cuối cùng, hạch nấm dạng hạt dẻ màu nâu đến đen (Denis C McGee (1991)[35]) Bệnh xuất hiện ở nhiều vùng trồng đậu tương trên thế giới đây là bệnh hại chính
Trang 19Bệnh héo rũ gốc mốc trắng( Sclerotium rolfsii Sacc)
Đây là loại bệnh hại thứ yếu trên cây đậu tương, bệnh xuất hiện và gây hại từ khi cây có 3 lá thật tới khi hình thành quả, bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ (năm 1924), ngoài ra bệnh phổ biến ở các nước như : Argentina, Brazil, Canada Nấm bệnh gây hại trên 500 loại cây trồng và 100 họ thực vật khác nhau, bệnh đựơc phát hiện nhiều ở vùng có khí hậu ấm áp
Nấm có thể gây bệnh trên cây đậu tương từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch, khi gặp điều kiện thuận lợi nấm bệnh phát triển và lây lan từ cây này sang cây khác, vết bệnh thường xuất hiện trên thân chính cách mặt đất 15 - 40cm, lúc đầu vết bệnh có màu nâu nhạt đến nâu đen, sau đó lan dần lên lá làm cho cây bị héo dần, chuyển màu vàng và chết, đôi khi có hiện tượng cây chết khô và tạo thành vết đốm, ở rìa mép lá có màu nâu đến nâu đen Dấu hiệu
đặc trưng của nấm là hình thành các sợi nấm màu trắng, đâm tia ở gốc thân, thời tiết nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển, một số chủng nấm hình thành hạch nấm màu nâu dạng hình cầu, kích thước nấm có thể thay đổi
Nấm S.rolfsii, sợi nấm đa bào, trong suốt, giai đoạn sinh sản vô tính
không hình thành, giai đoạn sinh sản hữu tính ít khi phát triển trên môi trường nhân tạo, trong điều kiện thiếu dinh dưỡng nguồn nấm bảo tồn dưới dạng hạch nấm màu trắng khi non và chuyển sang màu nâu đen khi già, nấm bệnh có thể sống trong đất thời gian dài dưới dạng hạch cứng
Nấm phát triển trong điều kiện nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 25 - 300C,
sự thiệt hại do bệnh gây ra tùy thuộc vào nhiệt độ không khí và độ ẩm đất, nấm thường phát sinh và phá hại nặng ở đất cát pha, tỷ lệ bệnh có thể giảm nếu bón canxi, nguồn bảo tồn là hạch nấm, hạch nấm có thể lây lan qua quá trình làm đất và chăm sóc, hạch nấm cũng là nơi bảo tồn nguồn bệnh, nấm bệnh sản sinh ra các men như : Enzim, axit oxalic, đồng thời giết chết mô tế bào
Bệnh thối thân (Fusarium solani (Mart) Appel & Wollned Emend)
Trang 20Nấm F.solani thường gây hại vụ đậu tương xuân và hè, chúng gây hại từ
khi cây có 1 lá thật đến khi thu hoạch, bệnh trên hạt thường có màu trắng đến màu kem, sợi nấm mảnh và xốp, đặc biệt loài này khi có mặt của các giọt nước chứa đầy các bào tử phân sinh trên các nhánh dài của cành bào tử phân sinh, giọt nước mang bào tử không màu, trong suốt không có hình dạng nhất
định Theo Denis C McGee, Popoola, T.O.S và Akueshi, C.O.(1986) [35], khả
năng nhiễm nấm F.solani trong điều kiện vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là 29%
(Barnet, H.L và cộng sự (1998) [28]; CD Room (2002) [32]; Denis C.McGee (1991) [35]; Elis, M.B (1991) [40])
Bệnh héo vàng( Fusarium oxysporum (Schlechtend.) Snyder)
Đây là một lại bệnh nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho rau quả, củ ở nhiều nước như Trung Quốc, Mỹ, ý, Anh, Nam Phi, ấn Độ, Australia Bệnh này có phạm vi ký chủ rộng, xuất hiện gây hại ở nhiều nơi nhất là vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [10]
ở Việt Nam loài Fusarium sp gây hại trên nhiều loại cây trồng, cây cảnh,
cỏ dại,…gây ra các triệu chứng khác nhau, để phòng trừ bệnh này bằng thuốc hóa học là rất khó, vì nấm sống và tồn tại trong đất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật bao gồm luân canh với cây họ hòa thảo 2 - 3 năm, ở những vùng có mức
độ bệnh cao hay luân canh từng vụ ở những nơi có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp Chủ
động tưới tiêu, duy trì độ ẩm thích hợp, có thể sử dụng vôi bột, tro bếp kết hợp với các lần vun gốc tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, dùng giống chống chịu [15]
Bệnh thán thư (Colletotrichum truncatum)
Theo Vũ Triệu Mân, Lê Lương Tề (1998)[10]; Denis C McGee (1991)[35]; Denis, Persley (1994)[36]; Ellis, M.B (1991)[40]; Waller, J.M (1992)[58]; nấm gây bệnh ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây, cây con thường bị chết vì ngập nước cả trước và sau khi nảy mầm, trên lá mầm nhiễm
Trang 21bệnh thường có vết lõm xuống, màu nâu tối, vết bệnh lan dần lên trụ lá mầm hoặc xuống dưới rễ
Bệnh phổ biến ở tất cả các vùng trồng đậu tương ở Mỹ và các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Brazil, bệnh được ghi nhận năm 1917 tại Nam Triều Tiên, trước đây bệnh được coi là không nghiêm trọng, nhưng gần đây nó
đã trở thành bệnh gây hại nghiêm trọng, làm giảm năng suất ở Mỹ 16 - 20%, ở Thái Lan 30 - 50%, ấn Độ 100%
Cây đậu tương có thể bị nhiễm ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây, triệu chứng điển hình là ở giai đoạn phát triển thân cây con, trên lá chét thường tạo thành đốm nâu không đồng đều, có thể gây hiện tượng cháy thân cây, nấm có thể huỷ diệt 1 - 2 lá mầm hoặc xâm nhập vào mô thân non của cây gây ra những chấn thương màu nâu đỏ, nhỏ, dài, nông hoặc vết nâu sẫm,
to, sâu, làm chết cây con, nấm bệnh có thể sinh trưởng trong mô thân cây, lá, quả mà không biểu hiện ra ngoài cho tới khi gặp điều kiện thuận lợi, hạt, quả
bị nhiễm bệnh thường nhăn nheo, có nấm hoặc không có nấm trên bề mặt mô bệnh
C truncatum có sợi nấm đa bào, phân nhánh, màu nâu nhạt, sợi nấm nằm
giữa các tế bào hình thành đĩa cành màu đen có lông gai nhọn, mọc riêng rẽ, cành bào tử phân sinh hình gậy, đơn bào, không màu đôi khi có mầu sẫm dưới gốc, nấm tồn tại chủ yếu ở dạng sợi trên vỏ hạt hoặc trên tàn dư mô bệnh, khi nảy mầm khỏi mặt đất chúng xâm nhập vào lá, làm cây con bị chết Bào tử phân sinh lan truyền nhờ gió, nước mưa, chúng dễ dàng nảy mầm khi có giọt nước, mỗi bào tử hình thành 2 ống mầm, đôi khi hình thành 4 ống mầm, nhờ
áp lực cơ giới mà ống mầm chọc thủng tầng cutin sau đó xuyên thủng qua biểu bì nhờ tác động hoá học
Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 16 - 200C, bào tử nảy mầm ở 4 -
340C, ở nhiệt độ thấp dưới 130C bệnh ngừng phát triển, thời kỳ tiềm dục của bệnh từ 4 - 7 ngày, hạt bị bệnh là nguồn lây nhiễm sang vụ sau
Trang 22Bệnh gỉ sắt đậu tương (Phakopra pachyrhizi Sydow)
Nấm gỉ sắt đậu tương lần đầu tiên được thu thập nghiên cứu và thông báo
ở vùng Caribe năm 1913 F.Lyivan đã nghiên cứu nấm này trên các cây trồng
họ đậu hoang dại (Dolichos lablab L và Teramnus unioinatus L) mọc gần
Tayesi (Puecto Ricô) Người ta cho rằng chỉ có hạ bào tử của nấm này là gây hại mặc dù giai đoạn đông bào tử đã được quan sát thấy ở các mô tế bào lá
đậu tương, nhưng chưa tác giả nào quan sát thấy chúng nảy mầm, nấm này ở Tây bán cầu thường được coi là có nguồn gốc xuất phát từ Puecto ricô và cũng tại đây thì công trình nghiên cứu về nó là phát triển nhất, nấm này đã lần lượt
được thông báo ở Mỹ năm 1922, Cuba năm 1926, Brazil năm 1940, Cotia rica năm 1976 Bệnh xuất hiện nhiều ở Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan từ các năm
1902, 1906 và 1914, đây là một loại bệnh gây trở ngại chủ yếu tới việc mở rộng diện tích trồng đậu tương ở các vùng Nhiệt đới và á nhiệt đới của Đông bán cầu, có thể do bệnh gỉ sắt mà cho đến nay cây đậu tương vẫn chưa phát triển thành cây trồng chính ở vùng này
Tại Philipin đã có những nghiên cứu về mặt sinh học của nấm này gây bệnh gỉ sắt đậu tương và được Bêchcơ phát hiện đầu tiên năm 1914 và tại Philipin bệnh gỉ sắt đã làm sản lượng đậu tương giảm 30 - 80% Những nghiên cứu về bệnh gỉ sắt đậu tương ở Philipin chủ yếu tập trung vào hai hướng :
Các nhà khoa học trên thế giới xác định rằng các giống đậu tương khác nhau trồng cạnh nhau thường có các phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt, mặc
dù các giống này đều chịu tác dụng của cùng một nguồn bệnh và trong những
điều kiện như nhau, sự khác nhau về mức độ nghiêm trọng của bệnh trên từng giống đã chứng tỏ mỗi giống có sức đề kháng khác nhau đối với nguồn bệnh Những nghiên cứu về phòng trừ bằng sinh học và thiên địch ở nước này
đối với bệnh gỉ sắt thì hầu như chưa được đề cập đến Người ta nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian chiếu sáng đến sự nảy mầm và phát triển của nấm bệnh trong ống nghiệm của hạ bào tử nấm này, đã thu thập các mẫu còn
Trang 23tươi được lấy từ các mẫu bệnh đặt lên các đĩa đựng thạch agar 1,5 rồi bảo quản lần lượt ở các nhiệt độ : 0; 5; 10; 15; 20; 25; 30 và 350C Các đĩa nhiệt độ
từ 20 - 300C được đặt trong điều kiện chiếu sáng sau :
+ Chiếu sáng liên tục từ 24 - 48 giờ
+ Để chiếu sáng 15 giờ, tiếp theo để 9 giờ trong bóng tối
+ Để trong bóng tối 15 giờ và chiếu sáng 9 giờ
Các đĩa được để trong bóng tối liên tục và ở các mức nhiệt độ khác nhau, một số bào tử trên thạch agar được giữ trong điều kiện chiếu sáng bình thường của phòng làm việc (23 -300C), 13 giờ trong bóng tối và 11 giờ chiếu sáng, tỷ
lệ bào tử nảy mầm và chiều dài mầm bệnh trong ống nghiệm ở mỗi công thức
được xác định sau 24 - 28giờ Kết quả cho thấy : ở 00C không có bào tử nảy mầm, 10 - 300C bào từ nảy mầm bình thường, người ta quan sát thấy mầm bệnh phát triển ngắn trong các ống nghiệm chứa hạ bào tử đặt ở nhiệt độ 5 -
350C, các ống nghiệm đặt ở nhiệt độ từ 15 - 300C có tỷ lệ nảy mầm cao và mầm bệnh phát triển dài Các điều kiện chiếu sáng khác nhau không ảnh hưởng rõ đến tỷ lệ nảy mầm của hạ bào tử giữ ở nhiệt độ 20 - 300C, tuy nhiên sau 48 giờ thí nghiệm người ta thấy rằng mầm bệnh phát triển ngắn nhất (380 micron) trong điều kiện chiếu sáng liên tục hoặc để tối liên tục ở 300C và mầm bệnh phát triển dài nhất (950 micron) ở các ống nghiệm đặt trong điều kiện 15 giờ để tối và 9 giờ chiếu sáng ở 200C
Nấm Phakopsora pachyrhizi ngày nay vẫn được đánh giá là loài nấm ký
sinh bắt buộc, vì vậy trên cánh đồng không có đậu tương thì chúng chỉ còn sống bằng cách ký sinh lên các cây ký chủ khác như đậu tương dại Lupile xanh, đậu trắng, đậu xanh
Bệnh gây hại trên thân, lá, quả, hạt, lúc đầu ở mặt dưới lá, vết bệnh xuất hiện dưới dạng những chấm nhỏ có đường kính 0,2 – 1,0 mm, màu vàng trong, sau đó nổi lên trên mặt lá, làm biểu bì lá bị rách nát sau những đợt không khí lạnh, vết bệnh trên lá sẽ xuất hiện các ổ bào tử màu đen, đó là ổ bào tử đông,
Trang 24cây bị bệnh nặng, lá vàng úa, khô cháy, làm giảm hàm lượng diệp lục, giảm cường độ quang hợp và trao đổi chất trong cây, dẫn đến làm giảm năng suất, phẩm chất, khi bị nặng có thể không cho thu hoạch
Bào tử hạ của nấm thường gặp trên vết bệnh, nó thường có hình trứng hoặc hình tròn, có gai nhỏ trên bề mặt, màu vàng nâu, bào tử đông màu đen,
đơn bào, vỏ nhẵn, xếp thành băng chặt chẽ bên trong ổ bào tử, bào tử hạ là nguồn bệnh quan trọng nhất, nó có thể bán giữ trên thân, lá, quả bị bệnh rơi trên đất và trên bề mặt của hạt giống, vỏ quả khi giữ làm giống
Nấm Phakopsora pachyrhizi phát sinh gây hại thích hợp ở ngưỡng nhiệt
độ từ 20 - 250C, thời kỳ tiềm dục của bệnh kéo dài tới 13 ngày ở nhiệt độ
150C, nhưng khi ở mức nhiệt độ 20 - 300C thì thời kỳ tiềm dục của bệnh chỉ còn lại 6 - 8 ngày, ở nhiệt độ 300C tỷ lệ nảy mầm giảm rõ rệt, bệnh phát sinh
và phát triển tốt ở nhiệt độ 18 - 200C khi cây có 5 lá kép
Bệnh sương mai (Peronospors manshurica Syd)
Bệnh sương mai đậu tương được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm
1923 Bệnh thường xuất hiện trên lá non, lúc đầu có màu xanh tái sau tạo thành vết đốm, màu vàng nhạt lan rộng hoặc giới hạn bởi gân lá, xung quanh vết bệnh thường có viền màu xanh vàng, khi vết bệnh khô thì nó có màu nâu xám hoặc nâu đen Trong điều kiện ẩm độ cao, vào sáng sớm ở mặt dưới lá nơi vết bệnh thường xuất hiện lớp nấm màu xám hoặc phớt tím, đây là đặc trưng của bệnh sương mai, trường hợp bị nặng, lá bị khô, mép ngoài cong và rụng sớm, làm hạt lép, có thể làm giảm năng suất tới 8 - 10%, một số cây bị bệnh có thể thể hiện trên toàn thân, cây phát triển chậm và lá nhỏ hơn cây bình thường
Bệnh do nấm Peronospora manshurica gây nên Đây là loài nấm ký sinh chuyên tính, thuộc họ Peronosporales, lớp nấm tảo, cành bào tử phân sinh
dạng cây đâm nhánh kép, bào tử phân sinh đơn bào, không màu, hình cầu hoặc hình trứng tròn, đỉnh nhánh hơi cong, giai đoạn sinh sản hữu tính tạo ra
Trang 25bào tử trứng màu nâu vàng tồn tại trên quả hoặc mô lá bệnh, nó trở thành nguồn bệnh lâu dài Khi nảy mầm bào tử tạo thành ống mầm và vòi hút, nấm gây bệnh có khoảng 33 chủng gây bệnh khác nhau
Nấm Peronospora manshurica thường phát sinh phát triển thích hợp ở
nhiệt độ từ 20 - 220C, bào tử phân sinh hình thành ở nhiệt độ 10 - 250C, bệnh hình thành trên các lá non, thời kỳ tiềm dục của bệnh từ 5 - 6 ngày hoặc có thể lâu hơn, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và dinh dưỡng của cây, bệnh thường phát triển mạnh ở giai đoạn cây con có từ 3 - 5 lá trở lên, các giống đậu tương mẫn cảm hay chống chịu với bệnh tuỳ thuộc vào tuổi lá
Bệnh đốm lá (Cercospora sojina Hara)
Theo Denis C McGee (1991)[35]; Agarwal, V K và cộng sự (1996)[23] Bệnh này gây hại hầu hết các vùng trồng đậu tương trên thế giới đặc biệt phổ biến ỏ các vùng có khí hậu nóng ẩm như : Châu Mỹ, Châu Phi, Châu á gây ra vết đốm lá, quả và lan vào hạt nhưng ít khi gây hại lá mầm và phôi
Bệnh này hại chủ yếu trên lá, tuy nhiên trên thân, quả, hạt cũng có thể bị nhiễm, vết bệnh trên lá có kích thước, hình dạng biến động, ở giữa vết bệnh có màu xám hoặc hơi trắng, xung quanh có đường viền nhỏ màu nâu đỏ hoặc hơi tím, các vết bệnh xuất hiện nhiều làm cho lá khô và rụng, trên hạt vết bệnh có màu xám tới nâu thường kèm theo vết nứt trên vỏ quả, khi bệnh nặng làm giảm năng suất tới 10 - 15%
Bệnh do nấm Cercospora sojina gây ra được phát hiện đầu tiên ở Nhật
Bản năm 1915, nguồn bệnh ban đầu từ thân, lá, hạt bị bệnh, hạt bị nhiễm bệnh thường nảy mầm kém, lá mầm bị tổn thương Nấm thích hợp phát triển ở nhiệt
độ 28 - 300C, nắng nóng kéo dài tạo điều kiện cho bệnh phát triển mạnh, bào
tử phân sinh thường chiếm một phần lớn trên tản nấm Từ năm 1972 - 1975 ở những vùng trồng đậu tương có điều kiện thích hợp cho bệnh phát triển làm giảm 80% mật độ cây con, năm 1987 - 1988 có 0,5 triệu tấn đậu tương bị thiệt hại do bệnh này gây nên ở Nigiêria qua theo dõi và so sánh giữa vùng trồng
Trang 26đậu tương có sử dụng thuốc trừ nấm bệnh với vùng nhiễm bệnh tự nhiên cho thấy vùng nhiễm bệnh tự nhiên năng suất giảm rõ rệt Phạm vi lan rộng và tính phức tạp của dịch bệnh đã được thông báo ở Trung Quốc và Nga, đây là nấm gây bệnh có sự biến đổi phức tạp, người ta tìm thấy trên 20 chủng ở Brazil, chủng thứ 1 và thứ 2 được tìm thấy vào năm 1962 tại Mỹ, chủng thứ 3 và 4
được phát hiện vào năm 1968 và chủng thứ 5 phát hiện vào năm 1981, có thêm 7 chủng nữa được công bố vào năm 1982
Bệnh đốm cháy lá (Cercospora kikuchii Matsumoto)
Bệnh phân bố ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt phổ biến ở Mỹ, ấn Độ, Châu Phi Bệnh xuất hiện gây hại ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây, gây
ra vết đốm, cháy lá Trên thân vết bệnh có mầu tím đỏ, trên quả là các vết đốm mầu tím đen và trên hạt có các vết đốm màu nâu
Nấm có thể phát triển bên trong hạt và khi nảy mầm sẽ gây hại lá mầm Tuy nhiên có những hạt bị nhiễm nặng nhưng không biểu hiện triệu chứng và bệnh có thể gây thiệt hại làm giảm từ 15 - 30% năng suất Cành bào tử phân sinh mầu xám đậm, thưa, dài, thường tập trung thành từng nhóm, phát triển từ các vết đốm mầu nâu trên bề mặt hạt, đặc biệt ở vùng rốn hạt Cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh thường khó nhận biết khi quan sát do chúng bị
bao phủ bởi tản nấm màu xám sáng của nấm Cladosporrium sp cùng phát
triển trên bề mặt hạt
2.1.1.2 Nấm hại hạt đậu tương
Sự tồn tại của nguồn bệnh trên hạt giống là phương thức tồn tại bảo đảm
và quan trọng nhất của nguồn bệnh và có thể truyền sang cây con sau đó phát tán và lan truyền gây ra những thiệt hại rất lớn về năng suất Thiệt hại gây ra
do nguồn bệnh trên hạt giống thể hiện ở năng suất cây trồng giảm : Châu Âu thiệt hại là 25%, Châu á 30%, Nam Mỹ 15%, hạt bị nhiễm bệnh thường giảm sức sống cây con do mất sức nảy mầm, tuy nhiên sự nhiễm bệnh của hạt giống còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như đặc điểm của cây ký chủ, độ ẩm, nhiệt
Trang 27độ, lượng mưa, gió, nước tưới, các biện pháp canh tác kỹ thuật, giai đoạn sinh trưởng của cây, chất lượng hạt giống, mức độ nhiễm bệnh, dạng tồn tại của nguồn bệnh, mức độ phá hại của côn trùng và mối quan hệ của các tác nhân gây bệnh
Trong những năm từ 1995 đến 1997 ở Grosso do Sul State, Brazil đã điều tra nghiên cứu về bệnh nấm hại đậu tương, qua phân tích trên 985 mẫu bằng
phương pháp giấy thấm cho thấy trên đậu tương nấm Fusarium semitectum phổ biến nhất, nấm Phomopsis sp, Colectotrichum truncatum và Cercospora
kikuchii xuất hiện ở mức thấp hơn, nấm Aspergillus spp và Penicillium sp xuất
hiện rất phổ biến và tỷ lệ hại cao trên các cây kiểm tra
Các loài nấm Aspergillus flavus, R.solani, S.rolfsii và Macrophomina
phaseolina thường xuyên xuất hiện trên hạt và cây con đậu tương đã được tìm
thấy từ năm 1995 - 1996 ở vùng Tarai- Uttar Pradesh, ấn Độ, khi tiến hành kiểm tra trong phòng thí nghiệm trên 5 giống đậu tương, tất cả các nấm trên
đều ảnh hưởng đến sự nảy mầm và gây bệnh ở cây con (Uma Singh và P.N Thanpliyal) (1999)[56]
Tóm tắt đặc điểm một số nấm hại hạt giống đậu tương
Nấm Aspergillus flavus : Nấm này gây bệnh héo gốc mốc vàng cây dậu
tương Theo Barnet, H.L và cộng sự (1998)[28]); Agarwal, V.K và cộng sự (1996)[23]; James, B.Sinclair [42]; Kulwant Singh và cộng sự (1991)[45] đây
là nấm bán hoại sinh phổ biến tồn tại trong đất, không khí, trên tàn dư cây trồng, động vật và phân bố ở khắp nơi trên thế giới như : Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu á, Châu Phi… Nấm có thể xâm nhập ngay từ ngoài đồng trước khi thu hoạch qua các vết đục của côn trùng hoặc có thể xâm nhập vào hạt giống bảo quản, nấm truyền qua đất gây hại cho cây trồng ở thời kỳ cây con mới mọc, giai đoạn chuẩn bị thu hoạch, sau thu hoạch và bảo quản, nấm phát triển trong
điều kiện nhiệt độ từ 17 - 420C và có khả năng sinh ra độc tố ở điều kiện 25 -
Trang 28300C với ẩm độ thấp, trong điều kiện thiếu nước nấm có thể xâm nhập một
cách dễ dàng
Nấm Aspergillus niger : Bệnh được coi là rất quan trọng gây hại trung
bình khoảng 1% có khi lên tới 50%, trên hạt nấm thường gây ra hiện tượng thối hạt, trên cây ở vết bệnh có các sợi nấm và cành bào tử phân sinh thường
được quan sát thấy ở vùng cổ rễ và xuất hiện rất nhanh sau khi hạt nảy mầm gây chết cây con, bệnh có thể truyền qua đất và phát triển mạnh trong điều kiện biến động lớn của độ ẩm đất, chất lượng hạt giống kém và khi rễ có nhiều vết thương cơ học, cành bào tử phân sinh không màu mang các cục bào tử phân sinh hình tròn, màu nâu hoặc đen, đây là đặc điểm đặc trưng của loài (Branet, H.L và cộng sự (1998)[28]; James, B.Sinclair [42])
Nấm Phoma sorghina : Là loại nấm gây thối hạt, quả cành của nấm gây
bệnh có thể tập trung thành từng đám lớn hoặc nhỏ, cái nọ nối cái kia bao phủ trên bề mặt hạt, quả cành có màu đen bóng, phần cổ có kích thước to nhỏ khác nhau Bào tử phân sinh không màu, ngắn có dạng hình trụ đơn bào và có thể nhìn rõ các hạt nhỏ bên trong tế bào với kích thước từ 3 - 7 x 2 - 2,5 àm (Barnet, H.L và cộng sự (1998)[28]; Denis C McGee (1991)[35]; Ellis, M.B.(1991)[40]; James, B.Sinclair[42]; Kulwant Singh và cộng sự (1991)[45]; The Asian Vegetable Research and Development Center Shanhua, Taiwan, China (1986)[54])
Nấm Fusarium solani : Tản nấm ở trên hạt có màu trắng đến màu kem,
sợi nấm mảnh và xốp, đặc biệt loài nấm này khi có mặt của giọt nước chứa
đầy các bào tử phân sinh trên các nhánh dài của cành bào tử phân sinh, giọt nước mang bào tử không màu, trong suốt không có hình dạng nhất định Theo Denis C McGee, Popoola, T O.S và Akueshi, C.O (1986)[35], khả năng
nhiễm nấm F.solani trong điều kiện vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là 29%
(Barnet, H.L và cộng sự (1998)[28]; Denis C McGee (1991)[35]; Ellis,
Trang 29M.B.(1991)[40]; James, B.Sinclair [42]; Kulwant Singh và cộng sự (1991) [45]; Lester W Burgess và cộng sự (1994)[46])
Hạt nhiễm nấm F.semitectum vỏ hạt và mầm có sự thay đổi từ màu nâu
tối đến đen, hạt nhăn nheo, sức nảy mầm kém Theo Barnet H.l., Hepperly,
P.R (1985)[28], khi kiểm tra hạt nhiễm nấm F.semitectum bằng giấy thấm
cho thấy khả năng nảy mầm giảm 70 - 90% và nấm có thể truyền qua hạt đến cây mầm Theo Denis C McGee, Saharan, G.S và Gupta, V.K (1973)[35] cho thấy ở ấn Độ trong trang trại hạt đậu tương lấy dầu có hiện tượng thối vỏ
hạt do nấm F.semitectum là 24%, ở ấn Độ là 15%, ở Brazil là 40%, ả Rập là
73%, ở Malaysia là 16% [35]
Nấm Sclerotium rolfsii : Gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trên cây đậu
tương Theo Uma Singh; P.N Thapliyal (1998)[57], ở mật độ trồng khác nhau
và các điều kiện bảo quản hạt khác nhau có gây ảnh hưởng tới hạt và cây con,
bệnh phát sinh mạnh khi mật độ trồng tăng, những giống nhiễm nấm S.rolfsii
khả năng nảy mầm là 17,5% và 5% cây con bình thường so với những giống
có xử lí hạt tỷ lệ nảy mầm là 77% và tỷ lệ cây con khỏe là 70% Theo Mueller, D.S và cộng sự (2002)[50], đây là bệnh hại chủ yếu trên đậu tương ở vùng Bắc Mỹ năm 1992, 1994 bệnh được xếp vào loại bệnh nguy hiểm nhất trên đậu tương ở Argentina và là bệnh hại quan trọng thứ hai ở Mỹ
Theo Koetskiy, A: Koshevskiy, I (1998)[44], qua điều tra ở một số trung tâm nghiên cứu của Châu Âu, Pháp, Chabany, Ukraine… trên những cây đậu
tương phát triển từ hạt nhiễm bào tử trứng của nấm Peronospora manshurica
năng suất giảm hơn so với cây không nhiễm nhưng có biện pháp phòng trừ, mặc dù đây là bệnh phổ biến trên thế giới nhưng hiếm khi gây ra thiệt hại
đáng kể về kinh tế, bào tử trứng trên lớp vỏ hạt ít ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm nhưng lại là nguyên nhân làm giảm hình thức và chất lượng hạt, trên 825
cánh đồng điều tra ở Lowa phát hiện thấy có 50% cánh đồng bị nhiễm nấm
Trang 30P.manshurica (Denis C McGee, Dunleavy, J.M và cộng sự (1984)[35])
Những nghiên cứu so sánh giữa cánh đồng có phun thuốc trừ nấm và không phun thuốc cho thấy năng suất trung bình giảm 11,8% đối với những giống mẫn cảm với bệnh và không giảm với những giống có tính kháng Theo báo cáo từ Romania cánh đồng trồng giống mẫn cảm, năng suất đậu tương giảm 10% so với vùng trồng giống kháng Nghiên cứu trong phòng cho thấy nguồn bệnh được truyền từ bào tử ở lớp vỏ ngoài của hạt có điều kiện nhiệt độ 150C
là 16%, ở 200C là 1% và ở 250C là 0%, hạt bị nhiễm nấm P.manshurica hạt
nhỏ có màu sáng hơn so với hạt khỏe
Theo Rajeev Plant : Mukhopadhyay, A N(1999)[51], nấm R.solani đã
được phân lập từ hạt và cây con cây đậu tương ở ấn Độ và được nhận dạng
theo nhóm IIB, nấm R.solani là nguyên nhân ngăn cản sự nảy mầm và gây
bệnh ở cây con (Uma Singh và cộng sự, (1999)[56], hiện tượng thối rễ do nấm
R.solani gây hại trên cây đậu tương được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1950 ở
Minnesota, những báo cáo này cho biết ở Lowa bệnh làm giảm 50% sản lượng
Nấm Alternaria hại hạt làm hạt nhỏ, nhiều nếp nhăn với những vết bệnh
màu sáng đến nâu tối, đây là nguồn bệnh hại trên cây đậu tương, ở nhiều vùng trồng đậu tương như : Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Châu á cho thấy hạt nhiễm nấm ở mức độ cao với 67% (Denis C McGee và cộng sự, (1989)[35]) Nghiên cứu cho thấy cành bào từ phân sinh và hệ sợi nấm tập trung ở khu vực rốn hạt và hệ sợi nấm được quan sát trên tất cả lớp vỏ hạt và nội nhũ hạt
2.1.1.3 Sự ra đời và ứng dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma
sp để phòng trừ bệnh hại cây trồng ở ngoài nước
Việc sử dụng các vi sinh vật đối kháng để phòng chống nhiều loại bệnh hại đã được tiến hành ở các nước trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan, úc
Trang 31sử dụng các vi sinh vật đối kháng là một trong những hướng chính của biện pháp sinh học phòng trừ bệnh hại cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Theo Elad và CTV (1980)[39]; thì hiện tượng đối kháng là rất phổ biến đối với các
vi sinh vật đất, chúng là các loài vi khuẩn, nấm đối kháng
Theo Martin và CTV (1985)[47]; khi nghiên cứu về vi sinh vật đất cho
thấy loài nấm Trichoderma sp là một trong những loài nấm đứng đầu của hệ
vi sinh vật đất, nó có tính đối kháng cao và đã được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Có rất nhiều nấm đối kháng với các loài nấm gây bệnh, nấm đối kháng có thể kìm hãm, ức chế sự sinh trưởng, phát triển của các
nấm gây bệnh Các loài nấm Penicilium oxalicum, P.frequentans,
P.nigiricaus, P.chrysogetum là những loài nấm đối kháng của nấm Pythium
sp, R.solani, S.cepivorum, Verticillum alboatrum (Martin (1985)[47])
Người đầu tiên đề xuất sử dụng loài nấm đối kháng Trichoderma sp để
phòng trừ nguồn bệnh hại cây trồng là Weidling Tác giả đã đề nghị dùng nấm
Trichoderma sp để trừ nấm hại Rhizoctonia sp gây bệnh thối lở cổ rễ cây con
mới mọc từ hạt của cam quýt Từ đó các nghiên cứu về loài nấm Trichoderma
sp nhằm sử dụng chúng để phòng trừ bệnh hại cây trồng đã đực tiến hành ở nhiều nước trên thế giới Cho đến nay đã có khoảng 30 nước nghiên cứu và sử
dụng nấm Trichoderma sp để phòng trừ bệnh hại cây trồng như ở Nga, Mỹ,
Anh, Đức, Hungari, ấn Độ, Thái Lan, Philipin…
Có nhiều thí nghiệm trong phòng đã được tiến hành nhằm đánh giá hiệu
quả của nấm Trichoderma sp đối với bệnh hại cây trồng Kết quả cho thấy ở trong phòng thí nghiệm nấm Trichoderma sp có khả năng ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh cao Loài Trichoderma sp biểu hiện tính đối kháng cao đối với nấm R.solani Dung dịch chứa 50% dịch nuôi cấy nấm T.viride (có kháng
sinh không bay hơi) có hiệu quả ức chế được 61,1% sự phát triển của tản nấm
Trang 32R.solani trên môi trường nhân tạo (Decma và CTV (1991)[34]; D’ercole và CTV(1983)[33]; Dubey (1995)[37]; Wu (1983)[60])
Việc sử dụng chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma sp (từ loài nấm
Trichoderma lignorum) trên cây bông đã làm giảm từ 15 - 20% bệnh héo do
nấm Verticillium sp và làm tăng năng suất từ 3 - 9 tạ bông/ha Sử dụng chế phẩm nấm Trichoderma sp cũng làm giảm 2,5 - 3 lần bệnh thối rễ cây con thuốc lá và rau màu ở Nhật Bản đã nghiên cứu nấm Trichoderma lignorum
để trừ bệnh thối thân thuốc lá do nấm Corticium rolfsii Theo Yang Hetong và
CTV(1996)[61]; Wang wei và CTV (1996)[59]; đã chỉ ra rằng nấm
Trichoderma sp có hiệu lực đối kháng mạnh với các loài nấm gây bệnh lở cổ
rễ, héo vàng, thối xám trên cây cà chua và dưa chuột trong nhà kính
Theo Anderens và CTV(1983)[25]; Barros và CTV(1996)[29]; Bhard waj
và CTV(1990)[30]; cho biết khi quả táo được xử lí bằng nấm T.viride đã làm giảm được 20 - 40% tỷ lệ thối quả do nấm Botrytis cinerea, Alternaria tenuis
Nấm này có thể bảo vệ hoàn toàn cây cà chua không bị thối thân do loài nấm
S.rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng trong nhà lưới ở Thái Lan (Decma và
CTV(1991)[34]) Theo Dubos và CTV (1979)[38]; ở Boocdo (Pháp) người ta
đã thí nghiệm nấm T.viride có hiệu quả phòng trừ bệnh thối xám quả nho
giảm 70% so với đối chứng Theo Sing R.S và CTV (1995)[52] thì nấm
T.viride có thể ức chế sự phát triển của bệnh hại khoai tây do loài R.solani gây
nên, hiệu quả ức chế tối đa là 83,4%
Nấm Trichoderma sp không chỉ có tính đối kháng với các vi sinh vật hại
cây mà còn có một loài có thể có tác dụng thuận lợi đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng Khi tiến hành nghiên cứu tác động kích thích nảy mầm hạt
của một số chủng nấm Trichoderma sp, những hạt được thử nghiệm là ngô,
lúa mì và đậu Hà Lan Kết quả nghiên cứu cho thấy các chủng nấm
Trichoderma sp có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình nảy mầm của tất cả
Trang 33các hạt thử nghiệm (như chủng 240 - 323) và một số chủng có chất trao đổi ức chế nảy mầm của hạt cây này nhưng lại kích thích nảy mầm của loài hạt cây khác (chủng 225, 154)
Theo Buimistru (1979)[31]; Elad và CTV (1980)[39]; Johnson và CTV (1990)[43]; Udaidulaev và CTV (1979)[55]; Wu.W.S (1996)[60]; dùng chế
phẩm Trichoderma sp có tác dụng phòng trừ bệnh hại cây trồng, làm giảm tỷ
lệ cây bị bệnh rõ rệt, chế phẩm nấm đối kháng Trichoderma sp có thể giúp
cây khỏe hơn, tăng sức đề kháng với vi sinh vật gây bệnh, tác dụng kích thích sinh trưởng đối với cây
2.1.1.4 Công tác xử lí hạt giống trong phòng trừ bệnh hại cây trồng
Theo Mueller, D.S và cộng sự (1999)[50]; hạt đậu tương nhiễm nấm
Sclerotinia sclerotium có thể xử lí hạt bằng một số thuốc trừ nấm bệnh như :
Captan + Pentachloronitrobenzene + Thiabendazole : Fludioxonil và Thiram +
Thiabendazole có thể làm giảm khả năng hồi phục của nấm Sclerotiorum đến
90%
Theo Uma Singh và P.N thapliyal, (1998)[57]; đối với nấm S.rolfsii hại hạt và cây con cây đậu tương sử dụng Trichoderma harzianum hoặc
Gliocladium virens kết hợp với 1 trong các thuốc trừ nấm Thiram, Bavistin xử
lí hạt đậu tương trước và sau nảy mầm sẽ cho kết quả tốt
2.2 Tổng quan nghiên cứu ở trong nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh hại đậu tương ở Việt Nam
Tuy đậu tương được trồng rộng rãi ở nước ta từ lâu, nhưng công tác nghiên cứu khoa học chưa được phát triển tương xứng với vị trí, khả năng và tiềm lực của chúng, trong suốt 80 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, hầu như các cơ quan nông nghiệp không bố trí một thí nghiệm nào về cây đậu tương, những nghiên cứu chính qui về cây đậu tương ở Việt Nam là những nghiên cứu từ vụ xuân năm 1953 ở Trại thí nghiệm Sông Lô thuộc Viện trồng
Trang 34trọt Tuyên Quang dưới sự chỉ huy trực tiếp của Viện trưởng Bùi Huy Đáp, sau khi hoà bình lập lại (1954), chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học nông nghiệp, tuy nhiên những nghiên cứu về bệnh hại đậu tương và biện pháp phòng trừ chưa có hiệu quả nhất định Theo kết quả điều tra cơ bản, năm 1967 – 1968 ở các tỉnh phía Bắc đã ghi nhận và
định tên 17 loại bệnh hại trên đậu tương, trong đó có 15 loại bệnh nấm, 1 bệnh tuyến trùng và 1 bệnh do vi khuẩn ở phía Nam qua điều tra năm 1977 - 1979 cũng đã phát hiện và định tên 13 loại bệnh hại trong đó có 9 bệnh do nấm, 1 bệnh do vi khuẩn, 2 bệnh do tuyến trùng, 1 bệnh do virus, đáng quan tâm nhất
đó là bệnh gỉ sắt, ở nước ta bệnh gỉ sắt phát triển mạnh trong 15 năm gần đây, bệnh gây tác hại nặng làm giảm năng suất có khi còn bị thất thu như năm
1982 ở xã Phúc Thọ - Hà Tây
Qua nghiên cứu người ta thấy rằng, các giống đậu tương khác nhau thì bị nhiễm bệnh ở mức độ khác nhau, nhìn chung các giống có thời gian sinh trưởng ngắn thường bị bệnh nặng hơn các giống có thời gian sinh trưởng dài, trong cùng một giống thì ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau có mức dộ nhiễm bệnh cũng khác nhau, bệnh lở cổ rễ thường gây hại từ khi cây có 2 lá thật đến ra hoa, bệnh lở cổ rễ ngày càng trở nên nghiêm trọng đối với các vùng sản xuất đậu tương, độc canh và dùng thuốc trừ cỏ là hai nguyên nhân dẫn đến bệnh phát triển mạnh, vết bệnh có màu nâu đỏ ở vùng vỏ cây sát mặt
đất, vết đỏ phát triển rộng, bao quanh thân và làm cho cây chết, ở những vùng
đất ẩm ướt, độ ẩm không khí cao, bệnh có thể tồn tại cho đến khi cây ra hoa,
đậu quả, phần dưới rễ cọc và rễ phụ thường chết, khi đất bị khô cây bị bệnh héo và chết Bệnh nặng làm giảm năng suất 42 - 48% (Tachibana và cộng sự, 1971)[15]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh hại hạt giống ở Việt Nam
Việc nghiên cứu xác định bệnh trên hạt giống góp phần nâng cao hiệu quả trồng trọt, nâng cao chất lượng hạt giống, giảm tỷ lệ bệnh trên đồng ruộng
Trang 35và hoàn thiện danh mục đối tượng cũng như phương pháp kiểm định thực vật cho ngành kiểm dịch thực vật
Kết quả giám định các mẫu hạt giống lúa, ngô, đậu tương và rau về sự có mặt của các loài nấm gây bệnh truyền qua hạt giống tại Viện nghiên cứu bệnh hạt giống Đan Mạch năm 1992 (Phạm Thị Thoa, Trần Đình Nhật Dũng, 2000)[13] Trong đó phân lập được 7 loài nấm bệnh trên hạt giống lúa :
R.solani, Pyriculatia oryzae, Bipolarí oryzae, Alternaria padwickii, Microdochium oryzae và Fusarium monilfiorme, tỷ lệ hạt giống mang bệnh là
15 - 38%
Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm giống cây trồng Trung Ương đã báo cáo kết quả khảo nghiệm và kiểm nghiệm giống cây trồng năm 2000 đã đưa ra
được danh mục bệnh hại hạt giống trên một cây trồng chính như : Lúa, ngô,
đậu đỗ… (Phạm Thị Thoa, Trần Đình Nhật Dũng, 2000)[13] Theo kết quả giám định bệnh hại hạt giống nhập nội tại Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau
nhập khẩu I năm 1999 cho thấy tần suất xuất hiện nấm Aspergilus spp và nấm
Penicillium spp trên các mẫu hạt giống kiểm tra là 100%, tiếp đó là các loại
nấm hoại sinh như : Cladosporium sp, các nấm gây đốm lá như Alternaria sp,
Corynesopora sp, các loại Fusarium sp, Colletorichum spp xuất hiện ít hơn
ở nước ta đã thực hiện chương trình hợp tác với Danida - Đan Mạch về chọn tạo giống và bệnh hại hạt giống giai đoạn 2001 - 2005 đưa ra danh mục nguồn bệnh tồn tại trên hạt giống và tỷ lệ bệnh truyền qua hạt giống trên một
số loại cây trồng chính
2.2.3 ứng dụng chế phẩm nấm đối kháng T.viride trong phòng trừ
bệnh hại cây trồng ở Việt Nam
ở Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụng các chế phẩm sinh học phòng trừ
bệnh hại còn ít Theo PTS Phạm Văn Lầm, (1995) “ Biện pháp phòng chống
bệnh cây trồng” Các loài nấm thuộc giống Trichoderma có tính đối kháng với
Trang 36nhiều loài nấm gây bệnh cho cây trồng như : R.solani, S.rolfsii, Fusarium sp,
Pythium [16]
Đỗ Tấn Dũng, (2007)[5] -Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội đã
nghiên cứu ứng dụng chế phấm nấm đối kháng T.viride trong phòng trừ bệnh
lở cổ rễ trên cây dưa chuột, cà chua Kết quả cho thấy nấm đối kháng T.viride
có tác dụng hạn chế sự phát triển của nấm bệnh tùy thuộc vào phương pháp xử
lí phòng trừ bệnh, khi xử lí hạt (cà chua, dưa chuột) bằng nấm đối kháng
T.viride trước nấm bệnh R.solani thì hiệu lực phòng trừ bệnh lở cổ rễ cà chua
đạt 85,90% và bệnh lở cổ rễ hại dưa chuột đạt 77,80%, nhưng khi nấm đối kháng có mặt cùng hoặc sau nấm bệnh lở cổ rễ thì hiệu lực phòng trừ bệnh thấp hơn
Kết quả nghiên cứu một số biện pháp xử lí hạt giống để phòng trừ bệnh trên hạt giống lúa, ngô, đậu tương, lạc, rau cho thấy phương pháp xử lí hạt
bằng chế phẩm sinh học (vi sinh vật đối kháng Trichoderma sp) có hiệu quả
cao phòng trừ các loài nấm bệnh trên hạt so với đối chứng [21]
Một nghiên cứu của Đỗ Tấn Dũng, (2006)[4] - Trường Đại học Nông
nghiệp I - Hà Nội cho thấy khi khảo sát hiệu lực của nấm T.viride với các isolate nấm S.rolfsii trên môi trường nhân tạo thấy rằng khi nấm T.viride có
mặt trước nấm gây bệnh thì bản thân nó có khả năng chiếm chỗ, cạnh tranh,
ức chế và tiêu diệt nấm S.rolfsii và trong điều kiện chậu vại nấm đối kháng
T.viride có thể sử dụng để phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng do nấm S.rolfsii đạt hiệu quả trừ bệnh cao 94,4% (Cây đậu tương)
Kết quả nghiên cứu của Ngô Bích Hảo, Vũ Duy Nam, (2006)[6] - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội về khảo sát hiệu lực đối kháng của
nấm T.viride phòng trừ bệnh héo rũ gốc mốc trắng hại lạc trên môi trường PGA và trong điều kiện chậu vại Nghiên cứu cho thấy nấm đối kháng T.viride
có khả năng ức chế S.rolfsii trên môi trường PGA, thể hiện rỗ sau nuôi cấy 3
Trang 37ngày đường kính tản nấm đạt 87,8 mm hơn 1,7 lần so với nấm S.rolfsii và sau
4 ngày nuôi cấy đường kính tản nấm của T.viride là 57,8 mm bằng 2,6 lần so với tản nấm S.rolfsii, hiệu lực ức chế đạt 75,20%
Trong điều kiện chậu vại T.viride có khả năng ức chế, kìm hãm sự phát triển gây hại của S.rolfsii ở các công thức có xử lí T.viride tỷ lệ cây bị nhiễm
bệnh đều thấp hơn công thức đối chứng Hiệu lực ức chế cao nhất là 88,43%
khi T.viride có mặt trước nấm S.rolfsii 3 ngày và thấp nhất khi xử lí T.viride sau khi lây nhiễm S.rolfsii 3 ngày là 34,42%, sự có mặt của T.viride trước
nấm bệnh cho khả năng ức chế nấm bệnh tốt nhất nhờ khả năng phát triển nhanh, mạnh đã cạnh tranh, lấn chiếm được sự phát triển của nấm bệnh ngay
từ đầu nên hiệu quả ức chế cao, ngược lại khi T.viride có mặt cùng hoặc sau
thì nấm bệnh có cơ hội phát triển cùng hoặc đã phát triển được một thời gian,
do đó khả năng ức chế nấm bệnh kém hơn Vì thế để nâng cao hiệu lực của nấm đối kháng thì nên xử lí trước khi trồng cây như xử lí hạt giống, ủ với phân chuồng trước khi bón vào đất
Theo Trần Thị Thuần, Nguyễn Thị Ly, Nguyễn Văn Dũng, (2000)[14]
khi sử dụng chế phẩm nấm đối kháng T.viride phòng trừ bệnh nấm lở cổ rễ hại lạc, đậu tương kết quả cho thấy khi xử lí nấm T.viride vào đất trước khi trồng
đã hạn chế được bệnh, hiệu quả đạt từ 41,25 - 55,48%
2.2.4 Biện pháp xử lí hạt giống trong phòng trừ bệnh hại cây trồng
Xử lí hạt giống được coi là khâu quan trọng trong biện pháp phòng trừ dịch hại cây trồng nói chung và bệnh hại nói riêng, hạt giống được xử lí trước khi đem gieo trồng nhằm hạn chế nguồn dịch hại hạt giống, giúp cây con khỏe, sinh trưởng phát triển tốt, ít sâu bệnh, đôi khi xử lí hạt giống lại kích thích sự nảy mầm của hạt Có 3 phương pháp xử lí hạt giống : Xử lí ướt; xử lí bán khô và xử lí khô (Trần Quang Hùng, (2001) [8], tùy từng loại hạt giống, loại thuốc xử lí khác nhau, lựa chọn phương pháp xử lí thích hợp : Hạt cây ngũ
Trang 38cốc thường sử dụng phương pháp xử lí ướt như : Lúa, ngô… hạt cây lấy dầu như : Hạt đậu tương, lạc…thường sử dụng phương pháp xử lí khô hoặc bán
ướt, có thể xử lí bằng nước nóng ở 540C hoặc dùng nhiệt độ, kết hợp xử lí nước nóng với nước muối, hoặc sử dụng thuốc hóa học, chế phẩm sinh học,
chế phẩm nấm đối kháng T.viride (đặc biệt là các thuốc trừ nấm bệnh)
Cơ chế đối kháng của nấm T.viride là nấm T.viride biểu hiện tính đối
kháng với nấm gây bệnh thông qua cơ chế ký sinh và kháng sinh, cơ chế ký sinh biểu hiện ở sự xoắn quanh sợi nấm gây bệnh làm cho sợi nấm teo đi và chết, còn cơ chế kháng sinh biểu hiện ở sự ức chế nấm gây bệnh khi chúng
không tiếp xúc với nhau, ngoài ra nấm T.viride còn sinh ra chất kháng sinh
bay hơi gây ức chế hình thành hạch
Trang 393 Đối tượng, địa điểm, nội dung và
phương pháp nghiên cứu 3.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu
- Giống đậu tương ĐT12 trồng đại trà
- Một số giống đậu tương khảo nghiệm
Bảng 3.1 Nguồn gốc của một số giống đậu tương khảo nghiệm vụ xuân
2007 tại Tân Dĩnh – Lạng Giang – Bắc Giang
1 DT96 Viện Di truyền Nông nghiệp
2 Đ2501 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
3 QX1 Viện Di truyền Nông nghiệp
4 ĐT26 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
5 ĐT27 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
6 DT84 Viện Di truyền Nông nghiệp
7 TH4 Công ty giống cây trồng Hà Nam
8 ĐT23 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
9 ĐT22-4 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
10 ĐVN10 Viện nghiên cứu Ngô
11 DT2003 Viện Di truyền Nông nghiệp
12 ĐT24 Trung tâm NC đậu đỗ - Viện KHKTNN Việt Nam
Nguồn: Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm giống cây trồng Trung Ương [17]
- Nấm S.rolfsii gây bệnh héo rũ gốc mốc trắng được phân lập từ mẫu cây
đậu tương bị bệnh
Trang 40- Nguồn nấm đối kháng T.viride được lấy từ bộ môn bệnh cây Nông dược Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội chế phẩm nấm đối kháng T.viride
được sản xuất tại phòng thí nghiệm JICA với 5x107 bào tử/gam
- Hoá chất và nguyên liệu khác
- Thuốc trừ nấm : Oxycloruađồng 30WP, Ridomil 68WP, TopsinM 70WP, Anvil 5SC
3.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại nấm gây bệnh trên cây đậu tương
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Xí nghiệp giống cây trồng Tân Dĩnh - Lạng Giang - Bắc Giang
- Bộ môn Bệnh cây - Nông dược Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội
3.1.4 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2007
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra và xác định thành phần nấm hại hạt giống đậu tương
+ Điều tra xác định thành phần nấm hại hạt giống đậu tương ĐT12 dùng
để gieo trên ruộng sản xuất đại trà
+ Điều tra xác định thành phần nấm hại hạt một số giống đậu tương dùng
để gieo trồng trên ruộng khảo nghiệm
3.2.2 Đánh giá mức độ nhiễm nấm hại hạt của một số giống đậu tương trồng khảo nghiệm
+ Mức độ nhiễm nấm Aspergillus và Penicilium spp hại hạt một số giống
đậu tương được dùng trồng khảo nghiệm
+ Mức độ nhiễm nấm Fusarium hại hạt một số giống đậu tương được
dùng trồng khảo nghiệm
+ Mức độ nhiễm nấm Cercospora và Colletotrichum hại hạt một số
giống đậu tương được dùng trồng khảo nghiệm