Luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
LÊ NGỌC HÀ
ðÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
ðẾN GIỐNG LẠC L14 TRỒNG VỤ XUÂN TẠI
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, ñây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện trong vụ xuân năm 2011, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Vũ Quang Sáng Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chưa từng ñược sử dụng trong một luận văn nào ở trong và ngoài nước
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này ñã ñược chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Quang Sáng, người ñã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện ñào tạo sau ðại học, Khoa Nông học, ñặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Sinh lý thực vật trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nôi
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Nông nghiệp huyện Cẩm Xuyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh, Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Hà Tĩnh, UBND xã Cẩm Duệ, Ban cán sự thôn Trung Thành – xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên; các bạn bè, ñồng nghiệp và người thân ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ, ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến tất cả các thành viên với sự giúp ñỡ quý báu này
Tác giả luận văn
Lê Ngọc Hà
Trang 4MỤC LỤC
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lạc 4
2.2 Yêu cầu về ñiều kiện sinh thái của cây lạc 4
2.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam 10
2.4 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới và ở Việt Nam 16
2.5 Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam 26
2.6 Tình hình sản xuất lạc của huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 28
2.6.2 Tình hình sản xuất lạc của huyện Cẩm Xuyên 29
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 36
Trang 53.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi về các yếu tố cấu thành năng suất và năng
3.6 Mức ñộ nhiễm sâu bệnh tính theo 10TCN340 - 2006 41
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 41
4.1 Thực trạng sản xuất lạc của huyện Cẩm Xuyên (Không thảo
luận) 42
4.2.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc ở vụ xuân 2011 tại
4.2.2 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lạc thí nghiệm
ở vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 44
4.2.3 ðộng thái ra lá trên thân chính của các giống lạc thí nghiệm ở vụ
xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 47
4.2.4 Khả năng hình thành cành cấp 1, cấp 2 và chiều dài cành cấp 1
của các giống lạc ở vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 48
4.2.5 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc thí nghiệm vụ xuân 2011 tại
4.2.8 Mức ñộ nhiễm sâu, bệnh hại của các giống lạc thí nghiệm ở vụ
xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 56
4.2.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở
vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 57
4.2.10 Năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân 2011 tại Cẩm
4.2.11 Hàm lượng protein và lipid của các giống lạc thí nghiệm 62
Trang 64.2.12 Hiệu quả kinh tế của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân 2011 tại
4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá khả năng sinh trưởng, phát triển
của giống lạc L14 trong ñiều kiện vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên -
4.3.1 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lạc L14 ở các
công thức sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà
4.3.2 ðộng thái ra lá trên thân chính của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 66
4.3.3 Khả năng hình thành cành cấp 1, cấp 2 và chiều dài cành cấp 1
của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân bón lá vụ xuân
2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 67
4.3.4 Chỉ số diện tích lá của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng
phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 69
4.3.5 Khả năng hình thành nốt sần của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 70
4.3.6 Khả năng tích luỹ chất khô của giống lạc L14 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 72
4.3.7 Mức ñộ nhiễm sâu, bệnh hại của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 73
4.3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của giống lạc L14 ở các công
thức sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 74
4.3.9 Năng suất của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân bón
lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 76
4.3.10 Hàm lượng protein và lipid của giống lạc L14 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 78
Trang 74.3.11 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá ñối với giống lạc
L14 trồng vụ xuân tại huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh 79
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ðVT: ðơn vị tính TGST: Thời gian sinh trưởng LAI: Chỉ số diện tích lá
Trang 92.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hà Tĩnh và huyện
Cẩm Xuyên giai ñoạn từ năm 2005 – 2009 29
4.2 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các giống lạc ở vụ xuân 2011
4.3 ðộng thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc ở
vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 45
4.4 ðộng thái ra lá trên thân chính của các giống lạc thí nghiệm trong
ñiều kiện vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 47
4.5 Khả năng hình thành cành cấp 1, cấp 2 và chiều dài cành cấp 1
của các giống lạc ở vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 49
4.6 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc thí nghiệm vụ xuân 2011 tại
4.9 Mức ñộ nhiễm sâu, bệnh hại của các giống lạc thí nghiệm ở vụ
xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 56
4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở
vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 58
Trang 104.11 Năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân 2011 tại Cẩm
4.12 Hàm lượng protein và lipid của các giống lạc thí nghiệm 63
4.13 Hiệu quả kinh tế của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân 2011
4.14 ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lạc L14 ở các
công thức sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà
4.15 ðộng thái ra lá trên thân chính của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 67
4.16 Khả năng hình thành cành cấp 1, cấp 2 và chiều dài cành cấp 1
của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân bón lá vụ xuân
2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 68
4.17 Chỉ số diện tích lá của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng
phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 69
4.18 Khả năng hình thành nốt sần của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 71
4.19 Khả năng tích luỹ chất khô của giống lạc L14 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 73
4.20 Mức ñộ nhiễm sâu, bệnh hại của giống lạc L14 ở các công thức
sử dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 74
4.21 Các yếu tố cấu thành năng suất giống lạc L14 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 75
4.22 Năng suất của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân bón
lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 76
4.23 Hàm lượng protein và lipid của giống lạc L14 ở các công thức sử
dụng phân bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 79
4.24 Hiệu quả kinh tế của các công thức sử dụng phân bón lá của
giống lạc l14 ở vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 79
Trang 11DANH MỤC HÌNH
4.1 ðộng thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc ở
vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 46
4.2 Năng suất của các giống lạc thí nghiệm ở vụ xuân 2011 tại Cẩm
4.3 Một số hình ảnh các giống lạc thí nghiệm vụ xuân 2011 tại Cẩm
4.4 ðộng thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc ở
vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 65
4.5 Năng suất của giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân bón
lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 77
4.6 Một số hình ảnh giống lạc L14 ở các công thức sử dụng phân
bón lá vụ xuân 2011 tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh 77
Trang 121 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy
dầu có giá trị kinh tế cao ñược dùng làm thực phẩm và xuất khẩu Trong hạt lạc chứa khoảng 50% lipit, 22 - 25% protein, ñồng thời chứa 8 loại axit amin không thay thế và các vitamin hòa tan trong dầu như B1(Thiamin), B2 (Riboflavin), PP (Oxit Nicotinic), E, F Ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng cho con người, lạc còn là nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc, là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu, có giá trị của nước ta (sau dầu thô, dệt may, gạo, hải sản, cà phê, cao su, thủ công mỹ nghệ, ñồ da, than ñá), trong số các cây trồng hàng năm, lạc là mặt hàng xuất khẩu ñứng thứ 2 (sau cây lúa)
Cây lạc còn là cây có vai trò cải tạo ñất, bồi dưỡng ñất nhờ các vi khuẩn nốt sần sống cộng sinh trên rễ, ñồng thời cũng là cây có khả năng tạo tính ña dạng hoá cho sản xuất nông nghiệp bằng các hình thức trồng thuần, trồng xen canh, trồng gối vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Ở Việt Nam trong những năm gần ñây, nhờ áp dụng một số biện pháp kỹ thuật thâm canh như: cơ cấu giống hợp lý, bón phân cân ñối, mật ñộ, thời vụ trồng thích hợp và kỹ thuật che phủ nilon ñã làm cho năng suất cây lạc tăng lên 30 - 40% Trong những năm tới, chủ trương của nhà nước là tăng diện tích và sản lượng lạc ðể ñạt ñược mục tiêu ñó, trước hết chúng ta cần ñẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất, trên cơ sở áp dụng hệ thống các giải pháp kỹ thuật tổng hợp ñồng bộ Luôn tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới, kinh nghiệm của các nước trong thời gian tới, ñể việc sản xuất lạc ở nước ta phát triển theo hướng nông nghiệp bền vững, tăng xuất khẩu, tăng thu nhập và nâng cao ñời sống nhân dân
Hà Tĩnh là một tỉnh vùng Duyên Hải Bắc Trung Bộ nằm giữa hai tỉnh Nghệ An và Quảng Bình, có lợi thế về diện tích ñất trồng lạc ðất trồng lạc chủ
Trang 13yếu là các bãi bồi ven sông, ven biển, khá phì nhiêu màu mỡ, ựồng thời còn nhiều khả năng mở rộng diện tắch lạc theo hướng tăng năng suất, chất lượng
Cẩm Xuyên là một huyện nằm phắa ở phắa đông Nam của tỉnh Hà Tĩnh, ựây là vùng ựất hình thành sớm trong vùng ựồng bằng duyên hải Miền Trung Là một huyện có cả núi, ựồng bằng và biển, ựịa hình lại không ựều, có vùng rất cao lại có vùng rất thấp nên sản xuất nông nghiệp luôn gặp những khó khăn nhất ựịnh Trong chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện, quan ựiểm chỉ ựạo trong sản xuất nông nghiệp là giảm diện tắch trồng lúa năng suất thấp khó tưới ựể chuyển sang các loại cây trồng mà hiệu quả kinh tế cao hơn với tinh thần ựa cây, ựa con, ựa thời vụ Cây lạc là một trong những cây trồng ựóng vai trò rất quan trọng trong công thức luân canh tăng vụ, tăng thu nhập trên ựơn vị diện tắch Những năm gần ựây, nhờ áp dụng một số biện pháp kỹ thuật, năng suất lạc của huyện Cẩm Xuyên ựã tăng lên ựáng kể để năng suất lạc ựược tăng hơn nữa chúng ta cần nghiên cứu, áp dụng ựồng bộ các biện pháp kỹ thuật như che phủ nilon, sử dụng phân cân ựối, ựặc biệt việc xác ựịnh bộ giống hợp lý cho từng vùng sinh thái là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn trên, ựược sự thống nhất của Viện sau ựại học và Bộ mốn Sinh lý thực vật Trường đại học Nông nghiệp
Hà Nội cùng sự giúp ựỡ hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Sáng chúng tôi
tiến hành ựề tài : Ộđánh giá sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số giống lạc và ảnh hưởng của phân bón lá ựến giống lạc L14 trồng vụ xuân tại huyện Cẩm Xuyên - Hà TĩnhỢ
1.2 Mục ựắch của ựề tài
1.2.1 Mục ựắch
Trên cơ sở ựánh giá sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống lạc và sử dụng phân bón lá ựể xác ựịnh ựược giống lạc và phân bón lá phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất vụ Xuân tại huyện Cẩm Xuyên Hà Tĩnh
Trang 141.2.2 Yêu cầu
- Tìm hiểu sinh trưởng, phát triển, năng suất và mức ñộ nhiễm sâu bệnh hại của một số giống lạc trồng trong ñiều kiện vụ Xuân tại huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
- Tìm hiểu ảnh hưởng của phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14 trong ñiều kiện vụ Xuân tại huyện Cẩm Xuyên -
- Kết quả nghiên cứu ñề tài sẽ bổ sung những tài liệu nghiên cứu về cây lạc tại Hà Tĩnh cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy và chỉ ñạo sản xuất
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Bổ sung một số giống lạc có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với ñiều kiện sinh thái tại ñịa phương nhằm phát triển sản xuất lạc trong vụ Xuân tại huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh
- Góp phần vào xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, phát triển sản xuất lạc tại Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh với hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và phân bố của cây lạc
Dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ựặc biệt ở những vùng ựảo thuộc Tây ấn, Mêhicô, vùng biển đông - đông Bắc Braxin, trên những vùng ấm áp thuộc lòng chảo Rio-Plata bao gồm: Achentina, Paragoay, Bolivia, Cực Tây Nam Braxin, Pêru Sau ựó cây lạc ựược phổ biến sang Châu
Âu, tới vùng bờ biển Châu Phi, Châu Á (Trung Quốc, Indonesia, ấn độ), tới quần ựảo Thái Bình Dương và cuối cùng tới vùng đông Nam Hoa Kỳ Tuy nhiên, giới hạn sản xuất rộng rãi của cây lạc ở khoảng 400 Bắc ựến 400 Nam (Vũ Công Hậu và CS biên dịch, 1995) [19]
Hiện nay, lạc ựược trồng nhiều ở các nước ấn độ, Trung Quốc, Mỹ, Senegan, Indonesia, Nigeria, Myanma, Braxin và Achentina, Thái Lan, Việt Nam, (Vũ Công Hậu và CS biên dịch, 1995) [19]
2.2 Yêu cầu về ựiều kiện sinh thái của cây lạc
2.2.1 Khắ hậu
2.2.1.1 Nhiệt ựộ
Nhiệt ựộ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có liên quan ựến thời gian sinh trưởng của lạc Lạc là cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt ựới, phát triển thắch hợp trong ựiều kiện khắ hậu ấm áp (Morse 1950) [51]; (Tata, 1988) [39], [48] Hiện nay cây lạc ựược gieo trồng và ựã thắch nghi với ựiều kiện ở nhiều vùng á nhiệt ựới và cả ôn ựới, vì vậy ựã có những giống lạc chịu ựược ựiều kiện nhiệt ựộ khá thấp Tuỳ theo nguồn gốc của từng giống mà yêu cầu của chúng với ựiều kiện nhiệt ựộ cũng khác nhau Tổng tắch ôn của các giống lạc Valencia là 3200 -
35000C, với các giống Spanish có thời gian sinh trưởng ngắn hơn, tổng tắch ôn chỉ khoảng 2800 - 32000C
Nhiệt ựộ tối thấp của lạc cho các thời kỳ sinh trưởng là 12 - 130C, cho
Trang 16sự hình thành của các cơ quan sinh thực là 17 - 200C (Degens, 1978) [40]
Nhiệt ñộ trung bình thích hợp cho suốt chu kỳ sống của cây lạc khoảng
25 - 300C, yêu cầu về nhiệt ñộ thay ñổi tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng của cây Theo Degens (1978) [40] tốc ñộ tăng trưởng của lạc thuận lợi ở nhiệt ñộ trung bình từ 20 - 300C, nếu nhiệt ñộ thấp dưới 180C thì tỉ lệ mọc và quá trình sinh trưởng của lạc ở thời kỳ cây con bị giảm (Degens, 1978) [40]
Thời kỳ nảy mầm nhiệt ñộ thích hợp ñối với lạc từ 25 - 300C Theo (Chu Thị Thơm và CS, 2006) [31] Khi nhiệt ñộ 16 - 170C hạt lạc nảy mầm khó khăn, thời gian nảy mầm bị kéo dài 15 - 20 ngày, tỷ lệ mọc mầm thấp Tốc ñộ nảy mầm nhanh nhất ở nhiệt ñộ 32 - 330C, nhiệt ñộ tối cao cho sự nảy mầm là 41 - 450C, nhưng sức nảy mầm giảm và sức sống của cây con yếu, hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm ở 540C Nhiệt ñộ tối thấp cho sự nảy mầm của hạt là 120C, hạt có thể chết ở nhiệt ñộ 50C mặc dù trong thời gian rất ngắn (Chu Thị Thơm, 2006) [31]
Sinh trưởng sinh thực của lạc mạnh nhất trong khoảng nhiệt ñộ 24 -
270C Nếu nhiệt ñộ khoảng 330C kéo dài sẽ làm ảnh hưởng ñến sức sống của hạt phấn (De Beer, 1963) [30]
Nhiệt ñộ dưới 200C ảnh hưởng xấu ñến quá trình ra hoa và tỉ lệ ñậu quả (Chand, 1974) [39] Biên ñộ nhiệt ñộ ngày ñêm lớn cũng ảnh hưởng ñến quá trình sinh trưởng và thời gian xuất hiện hoa ñầu tiên, ngay ở nhiệt ñộ trung bình tối thích nếu biên ñộ nhiệt ñộ ngày ñêm lên tới 200C thì hoa cũng không nở ñược Hệ
số hoa có ích ñạt 21% khi nhiệt ñộ ban ngày là 290C và ban ñêm là 230C (ðoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [27] Tốc ñộ hình thành tia quả tăng từ 19 - 230C, nhiệt ñộ tối ưu cho quá trình phát triển nằm trong khoảng 30 - 340C Nhiệt ñộ quá cao làm cho hạt bị teo, lép
2.2.1.2 Ánh sáng
Lạc là cây C3, do vậy ánh sáng có ảnh hưởng tới cả hoạt ñộng quang hợp và hô hấp Cây lạc phản ứng tích cực với cường ñộ ánh sáng trời toàn
Trang 17phần (Pallmas và Samish, 1974) [55] Lạc là cây mẫn cảm với ñộ dài ngày (Forestier, 1957) [43] Ono và Otaki (1971) [54] cho rằng 60% bức xạ mặt trời trong 60 ngày sau khi mọc là cần thiết cho cây lạc Cường ñộ ánh sáng thấp trong thời kỳ sinh trưởng làm tăng nhanh chiều cao cây nhưng giảm khối lượng lá và số hoa (Hang và MC Cloud, 1976) [45] Việc ra hoa không phụ thuộc vào quang chu kỳ, nhưng quá trình phân hoá mầm hoa và tổng số hoa hình thành quả phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng (Forestier, 1957) [43]
Sinh trưởng và phát triển của các cành sinh sản bị ức chế nếu cường ñộ ánh sáng thấp, do tổng số hoa giảm (Ono và Otaki, 1971) [54] Khi trồng trong ñiều kiện ngày ngắn, cây lạc ra hoa chậm hơn so với khi trồng trong ñiều kiện ngày dài, sự ra hoa rất nhạy cảm khi cường ñộ ánh sáng giảm và nếu cường ñộ ánh sáng giảm trước thời kỳ ra hoa sẽ gây nên rụng hoa Các tác giả cũng cho rằng nếu cường ñộ ánh sáng thấp ở thời kỳ ñâm tia, hình thành quả thì làm cho số lượng tia, quả giảm ñi một cách có ý nghĩa, ñồng thời khối lượng quả cũng bị giảm theo
Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc Quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng ñạt khoảng 200 giờ/tháng Trong thời kỳ nở hoa, trong những ngày nắng hoa nở sớm, nở tập trung và quá trình thụ phấn, thụ tinh cũng thuận lợi hơn so với những ngày không có nắng (ðoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [27]
2.2.1.3 ðộ ẩm
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất ñến năng suất lạc Tuy lạc ñược xem là một loài cây chịu hạn nhưng trong thực tế, lạc chỉ có khả năng chịu hạn tương ñối ở một số thời kỳ sinh trưởng và phát triển nhất ñịnh Thiếu nước ở một số giai ñoạn cần thiết ñều gây ảnh hưởng xấu tới năng suất Hiện nay, trên thế giới có khoảng 90% tổng số diện tích trồng lạc phụ thuộc vào nước trời Vì vậy, tổng lượng mưa và lượng mưa phân bố trong chu kỳ sống của cây lạc là một trong những yếu tố khí hậu làm ảnh hưởng ñến sinh trưởng,
Trang 18phát triển và cuối cùng là năng suất lạc Cây lạc có thể ñạt ñược năng suất cao
ở những khu vực có lượng mưa từ 500 - 1200 mm và ñược phân phối ñều (ðoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996) [27]
Theo John (1949) [49], lượng mưa lý tưởng ñể trồng lạc ñạt kết quả tốt trong khoảng 50 - 1200 mm trước khi gieo ñể dễ dàng làm ñất, khoảng 100 -
120 mm khi gieo vì ñây là lượng mưa cần thiết ñể cho lạc mọc tốt và ñảm bảo mật ñộ Lạc chịu hạn nhất ở thời kỳ trước ra hoa, vì vậy nếu có một thời gian khô hạn kéo dài 15 - 30 ngày sau khi trồng kích thích cho lạc ra hoa nhiều (Sankara Reddi, 1982) [58] Lạc mẫn cảm nhất với hạn vào thời kỳ hoa rộ, vì vậy lượng mưa cần cho thời kỳ từ khi bắt ñầu ra hoa ñến khi tia quả ñâm xuống ñất vào khoảng 200 mm và khoảng 220 mm từ khi quả bắt ñầu phát triển ñến khi chín Mưa vào thời kỳ thu hoạch làm cho hạt nảy mầm ngay
ngoài ruộng ở những giống không có tính ngủ nghỉ (Spanish và Valencia) dẫn
ñến giảm năng suất và chất lượng (John, 1949) [49]
2.2.2 Yêu cầu của lạc ñối với ñiều kiện ñất ñai
Lạc là cây trồng không yêu cầu khắt khe về ñộ phì của ñất ðiều kiện ñất ñai quan trọng nhất ñối với cây lạc là lý tính của ñất Theo Agasimani (1989) [34] thì ñất trồng lạc lý tưởng phải là ñất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước nhanh, có màu sáng, tơi xốp và một lượng chất hữu cơ vừa phải Tuy nhiên, cây lạc có khả năng thích ứng trong phạm vi rộng
Ở ñất bí, quả lạc hô hấp kém làm cho khối lượng quả bị giảm ðất nhiều nước quá không cung cấp ñủ oxy cho rễ hô hấp sẽ làm ức chế sinh trưởng của rễ
và quá trình trao ñổi chất của cây chậm lại, úng nước chỉ trong vài ngày ñủ ñể cho lá trở nên vàng do thiếu oxy ở vùng rễ, vi khuẩn cố ñịnh ñạm mất hiệu lực
và sẽ không thể hút ñược nitơ từ ñất (Thompson, 1957) [63]
ðất thoát nước, tơi xốp tạo ñiều tốt cho lạc nảy mầm, dễ dàng ngoi lên mặt ñất và sinh trưởng tốt, ñồng thời tạo ñiều kiện cho lạc ñâm tia, hình thành quả tốt
và thu hoạch dễ dàng, ít bị sót lại trong ñất giảm thiệt hại năng suất ðủ canxi
Trang 19trong ñất cũng rất cần thiết cho lạc phát triển, chín ñều Thường ở những loại ñất
có kết cấu hạt thô chứa dưới 2% chất hữu cơ, nâng cao khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của ñất (Thompson, 1957) [63]
Lạc yêu cầu ñất hơi chua gần trung tính, pH từ 5,5 - 7,0 là thích hợp song khả năng chịu pH của lạc cũng rất cao Lạc có thể chịu ñược pH từ 4,5 tới 8 -
9 [4], trên thế giới lạc ñược trồng trên nhiều loại ñất khác nhau như ñất phù sa ñược bồi hoặc không ñược bồi hàng năm, ñất Feralit, ñất Potzon, ñất cát, ñất xám, ñất bán khô hạn cằn nhiệt ñới Ấn ðộ, châu Phi (Tata S.N, 1988) [62]
Ở nước ta, trừ những loại ñất thịt nặng, ñất chua mặn, còn hầu như lạc ñược trồng trên tất cả các loại ñất khác ðiều này chứng minh khả năng thích ứng của lạc rất rộng ñối với ñiều kiện ñất ñai
Nhiều nghiên cứu cho thấy lạc mẫn cảm với ñất mặn (Shalhevet và cộng
sự, 1968) [59] ñã nghiên cứu khả năng chịu mặn của cây lạc trong ñiều kiện gây mặn nhân tạo cho thấy: ảnh hưởng của ñộ mặn ñến năng suất lạc là do làm giảm cả khối lượng quả và số lượng quả trên cây
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, một số vùng trồng lạc truyền thống có ñất ñai tương ñối phù hợp Phân tích một số ñặc ñiểm nổi bật của một số loại ñất chính ở các vùng chuyên canh lạc như: ðất cát ven biển Thanh Hoá, Nghệ
An, ñất bạc màu vùng Trung Du Bắc Bộ như Bắc Giang, Hà Nội và ñất phù
sa Sông Hồng cho thấy ở những vùng này ñều có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước thấp ðất cát ven biển và ñất bạc màu ñều có ñộ phì tự nhiên thấp và hàm lượng chất hữu cơ lớp mặt < 1% (Nguyễn Thị Dần và cs, 1991) [8] Các tác giả ñều kết luận vùng ñất trồng lạc chính của phía Bắc ñều có ñộ phì thấp hơn so với yêu cầu của cây lạc
2.2.3 Cơ sờ khoa học của dinh dưỡng qua lá:
Dinh dưỡng khoáng ñã và ñang ñược nghiên cứu và ứng dụng ñể bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng khoáng cho cây trồng bằng phương pháp phun qua
lá Cơ sở khoa học của phương pháp này là các chất khoáng hòa tan ñược hấp
Trang 20thu qua các bộ phận trên mặt ñất, ñặc biệt là qua hệ thống lá Theo cơ chế này chất khoáng có thể vận chuyển qua hệ thống các lỗ có mật ñộ lớn 1010lỗ/dm2
lá của hệ thống lá và mẻnảe của hệ thống của tế bào và qua hệ thống khí khổng Hệ thóng lỗ nàu theo Nguyễn Văn Phú (2002) có ñường kính 1mm tron gñó ñường kính pghân từ chất tan lớn nhất 0,4nm Vì vậy tất cả các chất khoáng hòa tan ñều dễ dàng hấp thụ Tuy niên phương phá này không cho phép hấp thu các chất Chelat và các chất hữu cơ
Quá trình hấp thụ qua lá là quá trình bị ñộng, quá trình vận chuyển chất khoáng từ nơi có nông ñộ cao vào tế bào có nông ñộ thấp theo cơ chế khuâch tán sự hấp thu chất khoáng qua lá xẩy ra với các cation mạnh hơn anion
Phương pháp này ñã và ñang là một tiến bộ trong nông nghiệp, d dã và ñáng ñược áp dụng nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam vì nó nhiều
ưu thế ñiểm ñặc biệt:
Trong thời gian gần ñây, việc sử dụng các yếu tố vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng ñã trở thành phổ biến trong thâm canh cây trồng, trong
ñó có lạc (ðường Hồng Dật, 2003) [10]
Molipden có tác dụng tăng hoạt tính vi khuản nốt sần, tăng việc ñồng hoá ñạm Phần lớn ñất trồng lạc ở nnước ta ñều thiếu Molipden Tuy nhiên việc tăng hàm lượng Mo cho cây bằng cách bón qua lá ñã là một biện pháp
kỹ thuật quan trọng ñể ñạt năng suất lạc cao (Vũ Hữu Yêm, 1996) [33] Khi lạc ñược phun Mo sẽ tăng năng suất 16% (Nguyễn Thị Dần, 1991) [8]
Bo giúp cho quá trình hình thành rễ ñược thuận lợi, tia quả không bị nứt, hạn chế nấm sâm nhập Thiếu Bo làm giảm tỷ lệ ñậu quả, hạt lép, sức sống hạt giống giảm Phun dung dịch axit Boric có thể làm tăng năng suất 4 – 10%, sử dụng Sunphat mangan cũng ñã góp phần tăng năng suất lạc (Nguyễn Thị Dân, 1991) []
Hiệu quả của phân vi lượng ñến năng suất lạc ñã thể hiện rất rõ khi phun kết hợp cả Mo, Bo, Mn với liều lượng mỗi lần phun 100g Moliñat
Trang 21Amon, 100g Axit Boric và 100g Sunphat mangan/ha (nồng ñộ 1/100), tăng so với ñối chứng không phun tới 22% (Nguyễn Thị Dân, 1991) []
2.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn
ngày Mặc dù ñã có từ rất lâu ñời nhưng vai trò kinh tế của lạc chỉ ñược xác ñịnh trên 100 năm trở lại ñây Trên thế giới, hiện nay nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng và ñang khuyến khích nhiều nước ñầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng mở rộng Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới có xu hướng tăng, diện tích trung bình 6 năm gần ñây (2000 - 2006) là 22,42 triệu ha, tăng so với những năm 70 của thế kỷ trước là 24,8%, so với những năm 90 là 8,7% Năm 2006, diện tích trồng lạc của thế giới ñạt 21,67 triệu
ha, năng suất bình quân ñạt 15,6 tạ/ha và sản lượng ñạt 33,8 triệu tấn So với năm 1994, diện tích lạc tăng 10,3%, năng suất tăng 28,8% và sản lượng tăng 42,3%, (FAOSTAT Database Wibsite) [47], (USDA, 2000-2006) [80]
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới
giai ñoạn 2000 - 2006
Chỉ
tiêu
ðV tính 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Diện tích Triệu ha 24,10 24,04 24,10 26,46 22,73 25,22 21,67 Năng suất tạ/ha 14,50 15,00 13,48 14,03 14,71 14,47 15,6 Sản lượng Triệu tấn 34,90 36,08 33,30 35,66 33,45 36,49 33,8
Nguồn: FAOSTAT, 2007
Theo thống kê của FAO (FAOSTAT Database Wibsite) [42], USDA (USDA, 2000-2006) [80], châu á có diện tích trồng lạc lớn nhất thế giới (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc trên thế giới - năm 2005)
Trang 22Trong ựó, diện tắch khu vực đông á tăng mạnh nhất từ 2,0 triệu ha lên 3,7 triệu ha, khu vực đông Nam á tăng 15,5%, Tây á tăng 14,1%
Ấn độ là nước có diện tắch sản xuất lạc lớn nhất trên thế giới Do lạc chủ yếu ựược trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn nên năng suất lạc rất thấp, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới Năm 1995, diện tắch trồng lạc của ấn độ là 7,8 triệu ha, chiếm 37% diện tắch trồng lạc trên thế giới, năng suất ựạt 9,5 tạ/ha và sản lượng ựạt 7,3 triệu tấn (Florkowski V.J., 1994) [41] Theo thống kê từ năm 2000-2004 diện tắch lạc trung bình hàng năm của ấn ựộ là 8,2 triệu ha (chiếm 36,2%), năng suất trung bình là 8,6 tạ/ha, giảm 8,5% so với những năm 90 của thế kỷ 20 (USDA, 2000-2006) [80]
Trung Quốc là nước ựứng thứ hai về diện tắch trồng lạc (USDA, 2006) [80] Những năm gần ựây trung bình diện tắch trồng lạc hàng năm của Trung Quốc là 5,03 triệu ha, chiếm 20% tổng diện tắch lạc toàn thế giới Năng suất lạc trung bình là 28,2 tạ/ha, cao gần gấp ựôi năng suất lạc trung bình của toàn thế giới Sản lượng là 14,16 triệu tấn, chiếm gần 40% tổng sản lượng lạc trên toàn thế giới Tỉnh Sơn đông là tỉnh có diện tắch trồng lạc lớn nhất Trung Quốc, chiếm 23% diện tắch, 33,3% tổng sản lượng lạc của cả nước, năng suất lạc trung bình ở Sơn đông cao hơn năng suất trung bình của cả nước là 34% [46]
2000-Có ựược những thành tựu này là do Trung Quốc ựặc biệt quan tâm ựến công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua
Mỹ là nước có diện tắch, năng suất lạc khá ổn ựịnh, sản lượng ựứng thứ
ba sau Trung Quốc và ấn ựộ Những năm 90 của thế kỷ 20, diện tắch lạc hàng năm của Mỹ là 0,57 triệu ha, năng suất là 27,9 tạ/ha (Ceasar L.Revoredo et al., 2002) [38] Giai ựoạn từ 2000-2004, diện tắch trồng lạc trung bình là 0,578 triệu ha/năm Năng suất trung bình hàng năm là 31,7 tạ/ha, cao hơn những năm trước là 13,6% (USDA, 2000-2006) [80]
Ngoài các nước trên, cây lạc còn ựược trồng ở nhiều nước khác trên thế
Trang 23giới như Achentina, Indonesia, Hàn Quốc, Senegan, Braxin, Isaren,
Tình hình tiêu thụ lạc:
Trung Quốc, Mỹ, Achentina, ấn ðộ, Việt Nam là những nước xuất khẩu lạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, ðức, Nhật, Singapore, Pháp, là những nước nhập khẩu lạc nhiều trên thế giới
Từ năm 1991 ñến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới ðứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng năm xuất khẩu 67,3 nghìn tấn, chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới Achentina là nước ñứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới (USDA, 2000-2006) [80]
Hà lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991-2000, trung bình hàng năm nhập khẩu 39,8 nghìn tấn, chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới ðứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu 34,3 nghìn tấn
Từ năm 2001-2005, châu âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng 460 nghìn tấn mỗi năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu 130 nghìn tấn lạc mỗi năm (USDA, 2000-2006) [80]
2.3.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc ñược trồng và sử dụng từ rất lâu ñời, lạc là cây trồng ñem lại hiệu quả kinh tế có giá trị ña dạng và phong phú, vì vậy cây lạc ñang ñược trồng trên tất cả các vùng sinh thái của nước ta Diện tích trồng lạc chiếm khoảng 40% diện tích cây công nghiệp ngắn ngày Theo Lê Văn Diễn
và CS (1991) [12], ở Việt Nam cây lạc ñược trồng ở 59/64 tỉnh thành
Ở các tỉnh phía Bắc, trong thời kỳ thuộc Pháp, diện tích lạc vào năm 1939
là 4.600 ha Từ khi có chính quyền cách mạng, nhà nước ta có chủ trương thúc
Trang 24ựẩy phát triển cây lạc, cho nên diện tắch trồng lạc tăng lên ựáng kể Lạc ựược trồng ở khắp các tỉnh phắa Bắc, trong ựó các tỉnh có diện tắch trồng lạc lớn là: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Bắc Giang, Hà Tĩnh, Ninh Bình Thời kỳ này, sản xuất lạc ở các tỉnh phắa Bắc ở trong tình trạng phân tán, năng suất thấp, trình
ựộ kỹ thuật thâm canh chưa cao, do cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu, khoa học công nghệ chưa phát triển (đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [27]
Ở các tỉnh phắa Nam, lạc ựược sản xuất tập trung ở các tỉnh miền đông Nam Bộ và các tỉnh ven biển miền Trung Tình trạng sản xuất lạc cũng phân tán và năng suất thấp như ở các tỉnh phắa Bắc vào thời kỳ này (đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [27]
Trong thời gian từ năm 1960 ựến 1974, diện tắch trồng lạc ựều tăng qua các năm Tuy nhiên, năng suất tăng chậm và chỉ ựạt mức thấp so với năng suất lạc ở các nước khác Năng suất thường bấp bênh, năm cao, năm thấp và chưa ựều giữa các vùng và các ựịa phương trong nước Vào thời kỳ này năng suất lạc ở các tỉnh phắa Bắc ựạt dưới 10 tạ/ha, ở các tỉnh phắa Nam dao ựộng xung quanh 10 tạ/ha Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, nhiều ựơn vị sản xuất lạc ựược phân bố ở tất cả các vùng trồng lạc và trên nhiều loại ựất khác nhau, do thực hiện thâm canh tốt ựã ựạt ựược những năng suất lạc khá cao như: Nam đàn (Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hoá), Nam Trực (Hà Tĩnh), Thuận Thành (Bắc Ninh), Việt Yên (Bắc Giang), trên hàng trăm ha ựã thu ựược năng suất lạc bình quân 14 Ờ 18 tạ/ha, có nơi ựạt 20 Ờ 26 tạ/ha (Lê Song Dự, 1979) [13]
Lạc ựang là một trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Ngoài ra lạc còn ựược dùng làm thực phẩm ở nhiều dạng khác nhau, vì vậy sản xuất lạc ở nước ta trong những năm gần ựây ngày càng tăng Trong vòng
10 năm từ năm 1990 - 1999 sản xuất lạc tăng cả về diện tắch, năng suất lẫn sản lượng với tốc ựộ tăng năng suất ựạt 3,8% cao hơn tốc ựộ tăng diện tắch (3,7%), sản lượng tăng 7,7%/năm Năng suất lạc tăng nhanh từ năm 1990 ựến nay, công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc ở nước ta
Trang 25ñã ñược quan tâm hơn trước (Nguyễn Thị Chinh, 1999) [1]
Trong những năm gần ñây, nhà nước ta có chủ trương phát triển mạnh cây lạc, cho nên diện tích trồng lạc tăng lên ñáng kể Quá trình phát triển sản xuất lạc
ở nước ta trong giai ñoạn từ năm 2000 – 2008 ñược thể hiện qua bảng 2.2
Qua bảng 2.2 trong 8 năm gần ñây từ năm 2000 - 2008 diện tích trồng lạc của nước ta luôn biến ñộng (từ 244,9 - 256,0 nghìn ha) (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2009) [32]
Năng suất lạc nước ta cũng không ổn ñịnh, một phần do ñiều kiện canh tác, khí hậu và một phần do giống sử dụng Tuy nhiên trong 8 năm gần ñây năng suất lạc bình quân của Việt Nam ñã tăng ñáng kể (từ 14,51 tạ/ha lên 20,90 tạ/ha)
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Việt Nam
giai ñoạn từ năm 2000 - 2008
Năm Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng(1000 tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2009) [32]
Cùng với việc tăng năng suất, sản lượng lạc của Việt Nam trong những năm gần ñây cũng tăng lên ñáng kể Cụ thể: Tăng từ 355,3 nghìn tấn năm
2000 lên 533,9 nghìn tấn năm 2008 Ta thấy năm 2005 diện tích trồng lạc ñạt cao nhất 269,9 nghìn ha, sang năm 2008 chỉ còn 256,0 nghìn ha nhưng sản
Trang 26lượng vẫn tăng do năng suất tăng (Tổng cục thống kê Việt Nam, 2009) [32] Nguyên nhân chắnh khiến cho sản lượng lạc không ngừng tăng lên là nhờ ựã chọn và nhập nội những giống lạc mới có năng suất cao, khả năng chống chịu với sâu bệnh và ựiều kiện ngoại cảnh khá ựang dần thay thế các giống ựịa phương có năng suất thấp Mặt khác, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới kết hợp với thâm canh cao ựã góp phần ựáng kể trong việc tăng suất lạc trong những năm gần ựây
Hiện nay, lạc ựang ựược trồng hầu hết ở các tỉnh thành và ựược phân thành 8 vùng chắnh (Vũ đình Chắnh, 2008) [4]
+ Vùng ựồng bằng sông Hồng: Lạc ựược trồng chủ yếu ở Vĩnh Phúc,
Hà Tây, Hà Tĩnh, Ninh Bình Năm 2007 với diện tắch 32,1 nghìn ha, sản lượng lạc của vùng ựạt 73,7 nghìn tấn
+ Vùng đông Bắc: Chủ yếu trồng ở Bắc Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ Năm 2007, với diện tắch 39,1 nghìn ha nhưng sản lượng chỉ ựạt ựược 63,9 nghìn tấn Năng suất thấp hơn so với vùng ựồng bằng sông Hồng
+ Vùng Tây Bắc: Phân bố chủ yếu ở điện Biên, Sơn La đây là vùng
có diện tắch, sản lượng lạc thấp nhất cả nước, chỉ ựạt 11,4 nghìn tấn trên 8,5 nghìn ha (năm 2007)
+ Vùng Bắc Trung Bộ: đây là vùng trọng ựiểm trồng lạc của miền Bắc
Là vùng có diện tắch trồng lạc lớn nhất cả nước với diện tắch 77,7 nghìn ha ựạt ựược sản lượng 147,6 nghìn tấn (năm 2007) Tập trung chủ yếu ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
+ Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Tình hình sản xuất lạc trong những năm gần ựây cũng gặp nhiều khó khăn, năm 2007 với diện tắch 26,5 nghìn ha ựạt sản lượng 44,8 nghìn tấn
+ Vùng đông Nam Bộ: Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương Năm 2007, với diện tắch 36,7 nghìn ha ựạt sản lượng 88,7 nghìn tấn
+ Vùng ựồng bằng sông Cửu Long: Tuy là vùng có diện tắch gần thấp
Trang 27nhất cả nước (13,5 nghìn ha năm 2007) nhưng là vùng có năng suất cao nhất
cả nước (ựạt 31 tạ/ha năm 2007)
Qua số liệu thống kê cho thấy: Trình ựộ thâm canh và sản xuất lạc của nước ta không ựều, giữa các vùng có chênh lệch lớn Nhiều nơi năng suất ựạt mức khá như ựồng bằng sông Hồng, vùng đông Nam Bộ Bên cạnh ựó còn có những vùng có năng suất thấp như Tây Bắc, Tây Nguyên
2.4 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.2 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới
2.4.2.1 Một số kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới
Giống là một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng lạc Do ựó từ nhiều năm qua, các Quốc gia, các nhà khoa học trên thế giới ựã ựặc biệt quan tâm ựến chương trình chọn tạo giống lạc phục vụ sản xuất
Viện Nghiên cứu Cây trồng vùng nhiệt ựới bán khô hạn (ICRISAT) là
cơ sở nghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tắnh ựến năm 1993, ICRISAT ựã thu thập ựược 13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 nước trên thế giới Trong ựó, từ châu Phi là 4.078 mẫu, châu á 4.609, châu âu 53, châu Mỹ là 3.905, châu úc
và châu ựại dương 59, còn 1.245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc đặc biệt, ICRISAT ựã thu thập ựược 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi
Arachis, ựây là nguồn gen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo
hướng chống bệnh và chống chịu với ựiều kiện ngoại cảnh bất thuận (Mengesha M.H, 1993) [50]
ICRISAT ựã chọn ựược nhiều giống lạc mới có năng suất cao như: ICGV - SM 83005 (Nigam S.N et al, 1998) [53], ICGV88438, ICGV89214, ICGV91098 (Hadjichristodoulou A et al, 1997) [46], và các giống lạc chắn sớm ICGV 86105 (Nigam S.N et al, 1995) [52], ICGS (E) 52, ICGV 86062
Ở Trung Quốc, việc cải tiến giống ựã ựóng góp một phần rất lớn cho việc tăng sản lượng lạc Hơn 200 giống có năng suất cao ựã ựược phát triển và
Trang 28phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ 50 của thế kỷ 20 Kết quả ghi nhận là các giống lạc ñược trồng ở tất cả các vùng ñạt tới 5,46 triệu ha Trong số ñó những giống có năng suất cao là Haihua1, Xuzhou 68-4, Hua 37, Luhua 9,11,14 và 8130, tiềm năng năng suất của mỗi giống tới 7,5 tấn/ha (Duan Shufen, 1998) []
Các giống lạc có chất lượng hạt tốt bao gồm: Baisha 1016, Hua 11, Hua
17, Luhua 10 và 8130 ñã sản xuất chủ yếu ñể xuất khẩu Một số giống kháng cao với bệnh héo xanh vi khuẩn và bệnh gỉ sắt như giống: Luhua 3, Zhonghua
2, Zhonghua 4, Yueyou 256 ñã ñược sử dụng rộng rãi ở các vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao, nhờ ñó mà năng suất lạc luôn ñược giữ ổn ñịnh Trong những năm 2003 và 2004, Trung Quốc ñã công nhận 17 giống lạc mới, trong
ñó ñiển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-2101, Yuznza 9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha (ICRISAT, 2005) [47]
Ấn ðộ ñã lai tạo và chọn ñược các giống lạc thương mại mang tính ñặc trưng cho từng vùng Mỗi bang của ấn ðộ trồng các giống khác nhau Tại Bang Andhra Pradessh, trồng giống Kadiri-2, Giống Karidi-3, chiều cao cây 23-28 cm, thời gian sinh trưởng 115-120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỷ lệ nhân 76% Bang Gujarat, trồng giống GAUG-1, dạng cây ñứng, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, thích ứng trong ñiều kiện canh tác nước trời Bang Haryana, trồng giống MH, dạng thân ñứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 105-110 ngày Bang Uttar pradesh, trồng giống T-28, dạng thân bò, lá xanh ñen, hạt chứa 48% dầu, năng suất cao Giống Kaushal, dạng thân ñứng,
lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 108 ñến 112 ngày, năng suất cao, tỷ lệ nhân 72% (Groundnut) [44]
Ở Mỹ, các nhà khoa học không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống và
ñã tạo ñược nhiều giống có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh phục vụ sản xuất (Florigant Florkowski V.J.1994) [41], giống F2
Trang 29VA93B ( Coffelt T.A et al, 1994) [35], VGP9 ( Coffelt T.A et al, 1994) [36] Giống VGS1 và VGS2 ñều là 2 giống có năng suất cao ñược trồng nhiều ở Florida ( Coffelt T.A et al, 1995) [37] Giống Andru 93 là giống có năng suất cao, hàm lượng dầu là 50,7%, giống NC12C có khả năng kháng bệnh ñốm lá,
gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao từ 30-50 tạ/ha ñược trồng phổ biến
ở Georgia, Florida và Alabam (Isleib T.G et al, 1997) [48] Giống Tarmun
96, năng suất cao và có khả năng kháng bệnh thối quả và một số bệnh do virus khác (Smith và CS., 1998) [60]
Australia ñã thu thập ñược 12.160 lượt mẫu giống từ nhiều nước trên thế giới như châu phi, Trung Quốc, Bắc Mỹ, châu á, châu âu, châu ñại Dương Hầu hết các mẫu giống ñều thuộc 2 kiểu phân cành liên tục và xen kẽ Theo FAO (2007) [42]
Philipin ñã ñưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8
và BPIP n8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh ñốm lá (Perdido, 1996) [6]
Thái Lan cũng ñã chọn tạo và ñưa vào sản xuất các giống lạc có ñặc tính năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, kháng bệnh ñốm lá, gỉ sắt có kích thước hạt lớn như: Khon Kean 60-3; Khon Kean 60-2; Khon Kean 60-1 và Tainan 9 (Sanun Joglog và CS., 1996) [61]
2.4.2.2 Kết quả nghiên cứu về sử dụng phân bón cho lạc trên thế giới
Các nhà khoa học ñều khẳng ñịnh, cây lạc cần lượng ñạm lớn ñể sinh trưởng và tạo năng suất, lượng ñạm này chủ yếu lấy từ quá trình cố ñịnh ñạm sinh học Tuy nhiên, ñể lạc cho năng suất cao cần phải bón bổ sung thêm các dinh dưỡng khoáng vào những giai ñoạn cần thiết
- Liều lượng bón ñạm thích hợp cho lạc: khả năng nâng cao năng suất lạc bằng việc bón N, cho ñến nay vẫn có những ý kiến khác nhau Tuy nhiên, các nhà khoa học ñều khẳng ñịnh, cây lạc cần một lượng N lớn ñể sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu lấy từ quá trình cố
Trang 30ñịnh ñạm sinh học ở nốt sần Theo Wiliam (1979) [], trong ñiều kiện tối ưu, cây lạc có thể cố ñịnh ñược 200 – 260 kgN/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượg N bón cho lạc
Nghiên cứu của Reddy và Cs (1988) [57], thì lượng phân bón là 20kg N/ha trên ñất Limon cất có thể ñạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong ñiều kiện các yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn ñạt ñược năng suất cao hơn mới cần bón thêm N (Vũ Công hậu và Cs, 1995) [19]
Loại phân ñạm bón cho lạc có tương quan tỷ lệ thuận giữa tỷ lệ ñạm bón và chiều cao cây, số cành và chiều dài cành Lạc trồng ở ñất xấu năng suất tăng có ý nghĩa ñối với lượng ñạm khi bón kết hợp với các loại phân hữu
cơ ở cả giai ñoạn bón lót và thúc Bón lót 187,5 kg/ha phân ñạm có chứa 20%N nguyên chất thì năng suất lạc tăng lên từ 4,8 – 20 % Bón lót từ 7,5 –
15 kg ñạm Amon sunphat ở cây con ñã tăng năng suất 9 – 11% ðất trung bình lượng ñạm trong ñất 0,045 – 0,065%, bón 56kg/ha làm tăng năng suất lạc ðất màu mỡ, có lượng ñạm trong ñất lớn hơn 0,065% thì bón N năng suất lạc không tăng (Vũ Công Hậu, 1995) [19]
- Kết quả nghiên cứu về bón phân lân cho lạc: việc bổ sung dinh dưỡng khoáng hợp lý cho ñất trồng lạc là biện pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế về
ñộ chua và dinh dưỡng Ở Ấn ðộ tổng hợp từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại ñất ñã có kết quả rằng: bón 14,5kg P2O5/ha cho lạc nhờ tưới nước trời năng suất tăng 201kg/ha, trên ñất Limon ñỏ nghèo N, P bón 15kg P2O5/ha năng suất tăng 14,7% ðối với loại ñất Feralit mầu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàng ñầu Nhờ việc bón lân ở liều lượng 75kg P2O5/ha năng suất lạc
có thể tăng 100%, theo Degens LG, 1978 [40] cho rằng chỉ cần bón 400- 500
mg P/ha ñã kích thích sự hoạt ñộng của vi khuẩn Rhizobium Vigna sống cộng sinh làm tăng khối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc
Ở Trung Quốc thường bón Supe photphat và canxi photphat Phân lân supe photphat có 18% hầm lượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân
Trang 31này bón trên ñất trồng lạc có ñộ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ ñạt năng suất cao Phân canxi photphat, phân giải chậm phù hợp với ñất trồng lạc
có ñộ phì trung bình, ñất chua (Duan Shufen, 1998) []
Tại Senegan phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loại ñất khác nhau bón với liều lượng 12 – 14 kg P2O5/ha ñã làm tăng năng suất qảu lên 10- 15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong ñất >155 ppm
- Kết quả nghiên cứu bón Kali cho lạc: việc bón kali cho ñất có ñộ phì
từ trung bình ñến giàu ñã làm tăng khả năng hấp thu n và P của cây lạc Bón
25 kgK/ha cho lạc ñã làm tăng năng suất lên 12,7% so với không bón (Duan Shufen, 1999) [14] Hiệu quả của việc bón kali cho lạc trên ñất Limon là rất kém Cũng vậy trên ñất ñen Puntamkar (1967), không thấy tăng năng suất khi bón 25kg K2O/ha (dẫn theo Vũ Công Hậu và Cs, 1995) [19]
Ở Tây Ban Nha trồng khoai tây sau ñó trồng lạc và tập trung bón phân cho khoai tây với liều lượng như: 60tấn phân chuồng + 600 tấn supe lân + 200 – 300 kg kali clorua /ha Nhưng năng suất lạc vẫn có thể ñạt 2,5 – 3,5 tấn/ha Theo Reddy (1988) [57], trên ñất limon cát vùng Tyrupaty trồng lạc trong ñiều kiện phu thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón với liều lượng 60kg
K2O/ha Mức bón ñể tăng năng suất tối ña là 83,0kg K2O/ha và có hiệu quả nhất là bon 59,9kg K2O/ha
- Kết quả nghiên cứu bón Canxi (Ca) cho lạc: vôi là một nhân tố không thể thiếu khi trồng lạc, vôi làm thay ñổi ñộ chua của ñát ðất trồng lạc thiếu
Ca sẽ dẫn ñến giảm quá trình hình thành hoa và tia, dẫn ñến củ bi ốp và phôi hạt bị ñen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không ñầy ñủ của noãn, tăn số quả/cây, dẫn ñến tăng năng suất (Vũ Công Hậu, 1995) [19]
Theo Duan Shufen (1999), ở Trung Quốc vôi bón cho ñất chua làm trung hoà ñộ pH của ñất, cải thiện phần lý tính của ñất và ngăn ngừa sự tích luỹ của ñộc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liều lượng 375 kg/ha
Trang 32cho đất nâu đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng khơng bĩn vơi
Thompson L.M (1957) [63], bĩn vơi làm pH tăng kéo theo đạm và lân
dễ tiêu trong đất tăng, cung cấp dinh dưỡng cho cây lạc
2.4.2 Tình hình nghiên cứu lạc ở Việt Nam
2.4.2.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống
Ở Việt Nam cơng tác thu thập, bảo quản và sử dụng tập đồn lạc đã được tiến hành từ những năm 1980 ở các trường ðại học Nơng nghiệp, các trung tâm và viện nghiên cứu nơng nghiệp Song phần lớn các tập đồn này chỉ được giữ ở mức tập đồn cơng tác, việc tiến hành thu thập khơng mang tính hệ thống ðến khi viện KHKT Viẹt Nam ra đời mới tiến hành thu thập và nhập nội một cách cĩ hệ thống các loại cây trồng trong đĩ cĩ lạc Số lượng mẫu giống trong tập đồn lạc cĩ tới 1271 giống gốm 1171 mẫu nhập từ 40 nước trên thế giới và 100 giống địa phương (Ngơ Thế Dân, 2000) [7]
Những thành tựu đáng ghi nhận trong cơng tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã và đang tập trung cào các mục tiêu:
- Năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái
- Thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với cơng thức luân canh cây trồng trong đĩ chú trọng giống cĩ TGST ngắn (dưới 120 ngày)
- Giống cĩ khả năng kháng/ chống chịu với bệnh lá (gỉ sắt, đốm đen) với bệnh héo xanh vi khuẩn
- Giống cĩ khả năng chịu hạn
- Giống kháng bệnh mốc vàng (Aspegilus ssp)
- Giống chịu sâu
- Giống cĩ tính ngủ tươi của hạt
- Giống cĩ chất lượng cao phù hợp cho ép dầu và xuát khẩu
Những đặc tính trên của giống phải kết hợp trong một tổng thể chung
đĩ là giống cho vùng thâm canh và giống cho vùng nước trời
Trang 33Ở Việt Nam, công tác thu thập và bảo tồn những nguồn gen quý phục
vụ cho công tác chọn tạo giống lạc ñược quan tâm nhiều Từ những năm
1980, Trung tâm giống cây trồng Việt Xô-Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VKHKTNNVN) ñã tiến hành thu thập có hệ thống và nhập nội nguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập và nhập nội ñã lên tới 1.271 mẫu, trong ñó gồm 100 giống ñịa phương và 1.171 giống nhập từ 40 nước trên thế giới (Ngô Thế Dân, 2000) [7]
Công tác chọn tạo giống ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao, thích ứng rộng, chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng, giống có chất lượng cao phục vụ ép dầu và xuất khẩu
Từ năm 1974, bộ môn Cây Công nghiệp - Trường ðại học nông nghiệp
I Hà Nội ñã bắt ñầu nghiên cứu chọn tạo giống lạc bằng phương pháp lai hữu tính và phương pháp ñột biến phóng xạ
Các giống ñược chọn tạo bằng phương pháp ñột biến: Từ giống Bachsa,
sử dụng phương pháp ñột biến phóng xạ tạo ra giống B5000 có hạt to, vỏ lụa màu hồng, năng suất cao ổn ñịnh (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS., 1996) [15] Từ 1986 ñến 1990, Viện KHNN Miền Nam ñã xử lí ñột biến 3 giống: Lì, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên ñã chọn ñược các dòng triển vọng là: L15-2-1, L25-4-1, TX15-1-2, TX 10-7-2BS 1-1-1 Giống 4329 ñược chọn tạo
từ xử lý ñột biến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung Quốc, có thời gian sinh trưởng 130-140 ngày, năng suất ñạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ hạt cao
Các giống ñược chọn tạo bằng phương pháp lai hữu tính: Giống lạc Sen lai 75/23 ñược chọn tạo từ việc lai hữu tính 2 giống Mộc Châu trắng và Trạm Xuyên, có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tương ñối chịu rét, vỏ lạc màu hồng, hạt to phù hợp xuất khẩu (Lê Song Dự và CS, 1991) [14] Giống L12 ñược chọn tạo từ tổ hợp lai giữa V79 và ICGV 87157, có năng suất trung bình là 30 tạ/ha, chịu hạn khá, nhiễm trung bình một số bệnh như ñốm nâu,
Trang 34ựốm ựen, gỉ sắt, khối lượng 100 hạt 50-60 g (Nguyễn Văn Thắng và CS, 2002) [30]
Giai ựoạn 1996 - 2004 chương trình giống Quốc gia ựã chọn tạo ựược
16 giống lạc, trong ựó các giống lạc có năng suất vượt trội là L18, L14; giống
có khả năng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn năng suất khá MD7, giống chất lượng cao L08, giống chịu hạn L12 hiện ựang phát triển mạnh ở các tỉnh Phắa Bắc Các giống lạc VD1, VD2 năng suất cao hơn Lỳ ựịa phương, phù hợp cho các tỉnh phắa Nam (Trần đình Long, CS., 2005) [26]
Một số giống tiến bộ kỹ thuật ựiển hình ựang trồng phổ biến ngoài sản xuất trên cả nước:
Giống L02: Năng suất trung bình ựạt 35 tạ/ha, trong ựiều kiện thâm canh
tốt, năng suất có thể ựạt tới 50 tạ/ha, kháng khá với bệnh ựốm lá, gỉ sắt, héo xanh
vi khuẩn (Nguyễn Thế Dân, 2000)
Giống L08: Năng suất trung bình ựạt 30 tạ/ha, kháng sâu chắch hút,
bệnh hại lá và bệnh héo xanh vi khuẩn ở mức trung bình (Nguyễn Xuân Hồng, 2004) [23]
Giống MD7: Là giống có tắnh thắch ứng rộng, trồng thuần hay trồng
xen ựều có năng suất, trung bình ựạt 35 tạ/ha, kháng bệnh héo xanh rất cao hiện ựược trồng phổ biến ở nhiều vùng sinh thái của nước ta [21]
Giống L14: Là giống có năng suất tương ựối cao, thắch ứng rộng có thể
ựạt 40 tạ/ha, có khả năng chịu hạn khá, kháng bệnh hại lá khá (Nguyễn Xuân
Hồng, 2000) [21]
Giống L18: Là giống thắch hợp cho vùng thâm canh, năng suất cao từ
50 - 55 tạ/ha, nhiễm trung bình với các bệnh hại lá [27]
Giống VD1: Chọn lọc từ giống Lỳ ựịa phương, có thời gian chắn rất
sớm, năng suất trung bình ựạt 30 tạ/ha, thắch hợp với các tỉnh phắa Nam (Ngô Thị Lâm Giang, 1999) [18]
Mặc dù còn một số hạn chế nhất ựịnh song công tác chọn tạo giống lạc
Trang 35ở Việt Nam trong thời gian qua ñã ñạt ñược nhiều kết quả ñáng ghi nhận Nhiều giống lạc mới có năng suất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh
ñã ñược giới thiệu cho sản xuất và ñược nông dân chấp nhận Bên cạnh ñó, hàng loạt các giống ñịa phương cổ truyền và số lượng ñáng kể các vật liệu di truyền từ các nước khác nhau ñã ñược thu thập và bảo quản trong ngân hàng gen cây trồng của Viện KHKTNNVN trước ñây và ngày nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) là nguồn vật liệu quý phục vụ cho công tác chọn tạo giống lạc hiện tại và tương lai
2.4.2.2 Một số kết quả ứng dụng về phân bón cho lạc
Lạc là cây có khả năng cố ñịnh ñạm nhưng giai ñoạn ñầu cây rất cần ñạm do lượng dự trữ trong hạt không ñáp ứng ñược nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón ñạm phải có chuẩn mực, vì bón ñạm quá ngưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu ñến quá trình hình thành quả và hạt dẫn ñến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hoá thổ nhưỡng trên ñất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8- 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng
và hiệu lực giảm ñi rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000) [7]
Nguyễn Thị Dần (1995) [9], Ngô Thế Dân (2000) [7], Trần Danh Thìn (2001) [29] ñều cho rằng, ñể việc bón ñạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [29] trên ñất ñồi bạc màu ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100kgN/ha năng suất tăng 6,5-11,3 tạ/ha, bón 40kgN/ha năng suất tăng 5,7 lên 7,1 tạ/ha so với không bón phân
Trên ñất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg
P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất trên nhiều loại ñất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [8] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4-6kg lạc vỏ Nếu bón 90kg P2O5 năng suất cao nhưng hiệu quả không cao [4]
Trang 36Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS.,(1979) [13], phân kali thường có hiệu lực cao ñối với lạc trồng trên các loại ñất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: ðất cát thô ven biển, ñất bạc màu Hiệu lực 1 kg K2O trong các thí nghiệm biến ñộng từ 5,0 - 11,5 kg quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40 kg K2O trên nền 20 kgN
và 80 kg P2O5
Bón phân cân ñối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón
và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [8], trên ñất cát ven biển Thanh Hoá bón 10 tấn phân chuồng và 30 kg N + 90 kg P2O5 +
60 kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc 6,4 – 7,0 tạ/ha so với không bón
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2000) [29] cho biết, trên ñất ñồi Thái Nguyên, vụ xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với ñạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, ñạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón
Ngô Thế Dân và CS., (2000) [7] cho rằng, trên ñất bạc màu Bắc Giang, bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất
là 3,6 - 5 kg , nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4- 6 kg
Bón vôi không chỉ kiểm soát và quản lý ñộ chua của ñất mà còn là một trong những biện pháp quan trọng nhất ñể làm tăng năng suất lạc Vôi làm tăng trị số pH của ñất từ ñó tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cố ñịnh ñạm, và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, tạo quả của lạc
Tác dụng của vôi ñược xác ñịnh ở tất cả các loại ñất trồng lạc ở nước
ta, kể cả các loại ñất có pH tương ñối cao (pH = 6), vai trò của vôi là cung cấp
Ca cho lạc và nâng cao pH ñối với ñất chua Những thí nghiệm về bón vôi ñược thực hiện tại trường ðại học Nông nghiệp I cho thấy: bón vôi làm tăng
rõ rệt lượng Ca trong cây, tăng cường khả năng dinh dưỡng N và hoạt ñộng của vi khuẩn nốt sần ñến tăng năng suất do tăng số hoa, số quả và trọng lượng
Trang 37quả (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [13]
Trên ựất bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thắ nghiệm cho thấy, năng suất lạc tăng từ 0,2 - 0,4 tấn/ha, khi bón 300 - 600 kg vôi trên nền 8 tấn phân chuồng + 90kg P2O5 và 40kg K2O (Nguyễn Thị Dần và CS., 1995) [9]
Theo Ngô Thị Lâm Giang (1999) [18], ở vùng đông Nam Bộ, bón vôi ựã làm tăng năng suất 2 giống lạc hạt to VD3 và VD4 lên 3 - 11% Bón lót 300 kg và thúc 300 kg vôi không những cho năng suất cao nhất (3,37 tấn/ha) vượt ựối chứng 11% mà lãi suất ựầu tư một ựồng vôi cũng cao nhất (3,58 ựồng)
Bón 500 kg vôi chia 2 lần, tại vùng ựất ựồi Chương mỹ, Hà Tây và sử dụng rơm phủ cho ựất sau khi gieo lạc ựã làm tăng sức chống chịu bệnh cho cây từ ựó giảm nhiễm nấm và tăng năng suất lạc (Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Ly và CS., 2003) [22]
Nguyễn Thị Chinh và CS., 2002 [2] cho rằng, lượng vôi phù hợp với chân ựất vùng đồng bằng sông Hồng là 400 kg vôi/ha chia 2 lần bón (bón lót
và sau khi ra hoa) có thể làm tăng năng suất lạc từ 13- 26% so với ựối chứng không bón
2.5 Một số yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Việt Nam
Cây lạc cũng như nhiều loại cây trồng khác, năng suất lạc bị hạn chế bởi 3 nhóm yếu tố, ựó là: Yếu tố sinh học, yếu tố phi sinh học và yếu tố kinh tế xã hội
Yếu tố sinh học:
Ngô Thế Dân (2000) [7] cho biết: Năng suất lạc ở Việt Nam bị hạn chế bởi thiếu giống chịu thâm canh, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thắch ứng rộng với nhiều vùng sinh thái trong cả nước
Sâu bệnh cũng là một trong các yếu tố sinh học làm hạn chế nhiều ựến năng suất lạc của nhiều vùng trồng lạc trong cả nước, ựặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn Ờ một trong những bệnh hại nguy hiểm và có chiều hướng ngày càng gia tăng Theo kết quả ựiều tra của Nguyễn Văn Liễu (1999) [25], cho
Trang 38thấy bệnh này có ở hầu khắp các vùng trồng lạc của miền Bắc Các tỉnh có diện tích trồng lạc lớn như Nghệ An, Thanh Hoá, Bắc Giang lại là những vùng bị hại nặng (10 - 20% số cây bị chết)
Việt Nam có lượng mưa lớn, phân bố không ñều giữa các tháng trong năm, trong khi có tới 70% diện tích trồng lạc nhờ nước trời ðầu vụ xuân, cuối vụ thu ñông ñất khô và nhiệt ñộ thấp; cuối vụ xuân, ñầu vụ thu ñông mưa lớn và nhiệt ñộ cao ñã làm ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng, phát triển cũng như năng suất, chất lượng lạc ở miền Bắc nước ta (ðỗ Thị Dung, 1994) [6]
Theo Ngô Thế Dân (2000) [7], Nguyễn Thị Chinh (2005) [3], Trần Văn Lài (1993) [24], các vùng trồng lạc chính ở phía Bắc, ñất ñều có ñộ phì thấp hơn so với yêu cầu của cây lạc, ñất ñồi phía Bắc Việt Nam chua, xói mòn, rửa trôi mạnh, hấp phụ trao ñổi thấp, lân dễ tiêu thấp là yếu tố làm trở ngại lớn ñối với sản xuất lạc ở nước ta Trên thực tế, nông dân chưa thực sự coi cây lạc là cây trồng chính nên cây lạc thường trồng trên ñất bạc màu, ñất xám nghèo dinh dưỡng, ý thức ñầu tư thâm canh của người dân còn hạn chế, nên chưa phát huy hết tiềm năng năng suất lạc của giống
Yếu tố kinh tế xã hội:
Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) [3], yếu tố kinh tế xã hội hạn chế năng suất lạc ở Việt Nam là vốn ñầu tư sản xuất Hầu hết nông dân trồng lạc thiếu vốn ñể mua giống tốt và vật tư ñáp ứng ñược quy trình tiến bộ nên năng suất lạc chưa cao so với tiềm năng của giống mới
Theo Ngô Thế Dân và CS (2000) [7], hệ thống cung ứng giống lạc thiếu và không ñảm bảo về ñộ tin cậy và chất lượng giống ðến nay trong cả nước chưa có một cơ quan hay công ty nào chuyên tâm chịu trách nhiệm sản suất và cung ứng giống ñậu ñỗ các cấp như các cây trồng khác (lúa, ngô, cà phê, cây ăn quả ), vì hạt giống lạc chứa hàm lượng dầu cao nên dễ bị mất sức nảy mầm trong quá trình bảo quản Giống ñậu ñỗ nói chung và giống lạc nói riêng là do nông dân tự sản xuất, bảo quản và trao ñổi lẫn nhau, do vậy dẫn
Trang 39ñến tình trạng lẫn giống ðây chính là một trong những nguyên nhân làm cho năng suất lạc thấp và không ổn ñịnh qua các năm
Các cơ quan nghiên cứu chọn tạo ra giống mới có tiềm năng năng suất cao, nhưng do thiếu vốn, thiếu cơ sở vật chất ñể tổ chức sản xuất và dịch vụ cung ứng nên tốc ñộ phát triển giống mới còn chậm so với nhu cầu sản xuất Công tác quy hoạch vùng sản xuất lạc chưa có chính sách quy hoạch tổng thể các vùng sản xuất tập trung mang tính sản xuất hàng hoá lớn Do ñiều kiện canh tác hạn chế, ñặc biệt là các tỉnh phía Bắc, ruộng ñất manh mún nên việc ñưa công nghệ cao vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, làm cho giá thành sản xuất lạc còn cao Hệ thống thuỷ lợi ở những vùng sản xuất lạc trọng ñiểm hầu như chưa ñược chú trọng ñầu tư hỗ trợ Thiếu nước vào thời ñiểm gieo trồng và quá dư thừa nước vào thời kỳ thu hoạch vẫn thường xuyên xảy ra làm giảm năng suất và ảnh hưởng không nhỏ ñến chất lượng sản phẩm (Ngô Thế Dân, 2000) [7]
2.6 Tình hình sản xuất lạc của huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
2.6.1 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Hà Tĩnh
Trong những năm gần ñây, sản xuất nông nghiệp của Hà Tĩnh phát triển vững chắc Trong ñó, lạc là cây trồng truyền thống ở một số vùng của nhân dân Hà Tĩnh Lạc ñược trồng chủ yếu trong vụ xuân, trên nhiều loại ñất khác nhau Tuy vậy, việc thâm canh lạc chủ yếu ñược trồng trên ñất chuyên màu và chân 3 vụ/năm Với chủ trương của tỉnh, trong các năm tới sẽ ñẩy mạnh sản xuất những cây trồng có giá trị kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người sản xuất thì cây lạc là một trong những cây trồng ñóng vai trò quan trọng trong công thức luân canh tăng vụ, tăng thu nhập trên ñơn vị diện tích
Trang 40Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hà Tĩnh và
huyện Cẩm Xuyên giai ñoạn từ năm 2005 – 2009
2.6.2 Tình hình sản xuất lạc của huyện Cẩm Xuyên
* Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện Cẩm Xuyên
Với tổng diện tích ñất tự nhiên gần 63.000 ha, trong ñó có gần 12000
ha ñược sử dụng cho sản xuất nông nghiệp (chiếm 19,1%), Cẩm Xuyên vốn ñược coi là một huyện nông nghiệp của tỉnh Hà Tĩnh Kinh tế nông nghiệp của Cẩm Xuyên từ xưa tới nay luôn giữ vai trò chủ ñạo trong nền kinh tế của ñịa phương, 85% dân số của huyện gắn với nghề nông (Chi cục thống kê huyện Cẩm Xuyên, 2010) []
Trong thực tế, nhờ những chính sách phù hợp của ðảng và nhà nước, những chủ trương, biện pháp tích cực của ñịa phương nên sản xuất nông nghiêp