1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quần xã thực vật rừng sau canh tác nương rẫy bỏ hóa làm cơ sở đề xuất chuyển hóa thành rừng nông lâm kết hợp tại xã háng đồng, huyện bắc yên, tỉnh sơn la

126 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CAM ĐOAN

  • Hà nội, ngày 10 tháng 10 năm 2005

    • Tác giả

  • LỜI CẢM ƠN

    • Tác giả

  • 1.1. Trên thế giới

  • 1.1.1. Nghiên cứu canh tác nương rẫy

  • 1.1.2. Nghiên cứu nông lâm kết hợp

  • 1.1.3. Nghiên cứu về chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp.

  • 1.2. Ở Việt Nam

  • 1.2.1. Nghiên cứu về canh tác nương rẫy

  • 1.2.2. Nghiên cứu nông lâm kết hợp và sử dụng đất dốc

  • 1.2.3. Nghiên cứu chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp

  • 2.1.Mục tiêu nghiên cứu

  • Xác định được quần xã thực vật rừng sau canh tác nương rẫy bỏ hóa.

  • Đề xuất các biện pháp kỹ thuật chuyển hóa rừng đang phục hồi và đất canh tác nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp theo hướng sử dụng rừng và dất rừng bền vững.

  • 2.2.Giới hạn nghiên cứu

  • 2.2.1. Giới hạn về khu vực và đối tượng nghiên cứu

  • 2.2.2. Giới hạn về nội dung

  • 2.3. Nội dung nghiên cứu

  • 2.3.1.Đặc điểm kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

  • 2.3.2. Đặc điểm cấu trúc thực vật rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy

  • 2.3.3. Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

  • 2.3.4.Đề xuất một số biện pháp lâm sinh nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp

  • 2.4. Phương pháp nghiên cứu

  • 2.4.1. Phương pháp luận

  • 2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu

  • 3.1. Điều kiện tự nhiên

  • 3.1.1. Vị trí địa lý

  • 3.1.2. Địa hình, địa mạo

  • 3.1.3. Thổ nhưỡng

  • 3.1.4. Khí hậu, thủy văn

    • 3.1.4.2. Thủy văn

  • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

  • 3.2.1. Dân số, dân tộc, tập quán và lao động

  • 3.2.2. Hiện trạng sản xuất nông, lâm nghiệp

  • 3.2.3. Cơ sở hạ tầng

    • Nhà ở: Theo số liệu điều tra nhà ở năm 2010, trên địa bàn xã có 277 nhà, trong đó:Nhà kiên cố và bán kiên cố: 56 nhà. Nhà tạm: 221 nhà.

  • 4.1.Đặc điểm kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa.

  • 4.1.1. Thực trạng canh tác nương rẫy.

  • Biểu 4.1: Diện tích các loại đất được phân bổ cho xã Háng Đồng

  • Bảng 4.2: Năng suất cây trồng trên đất nương rẫy (kg/ha)

  • 4.1.2.Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sử dụng đất

  • 4.1.3. Các kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

  • 4.2. Đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy

  • 4.2.1. Phân loại trạng thái rừng

  • 4.2.2.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 5 năm

  • Bảng 4.3. Tổ thành cây tái sinh

  • Bảng 4.4. Phân cấp số cây theo cấp chiều cao

  • Bảng 4.5. Mật độ và chất lượng cây tái sinh

  • 4.2.3. Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 5 - 10năm

  • Bảng 4.6. Công thức tổ thành của QXTV rừng

  • Bảng 4.7. Tổng hợp mật độ tầng cây gỗ của QXTV rừng

  • Bảng 4.8. Bảng tổng hợp độ tàn che của QXTV rừng

  • Bảng 4.9. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/D1.3 của QXTV rừng.

  • Hình 4.1.Phân bố N/D của QXTV rừngtheo hàm khoảng cách

  • Hình 4.2. Phân bố N/D1.3 của QXTV rừng theo hàm mayer

  • Bảng 4.10. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/Hvn của QXTV rừng.

  • Hình 4.3. Phân bố thực nghiệm (N/HVN) của QXTV rừng

  • Bảng 4.11. Cấu trúc tổ thành tái sinh rừng

  • Bảng 4.12. Phân bố cây tái sinh theo chiều cao

  • Bảng 4.13. Mật độ và chất lượng tái sinh

  • 4.2.4. Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa trên 10 năm

  • Bảng 4.14. Công thức tổ thành của QXTV rừng

  • Bảng 4.15.Tổng hợp mật độ tầng cây gỗ của QXTV rừng

  • Bảng 4.16. Bảng tổng hợp độ tàn che của QXTV rừng

  • Bảng 4.17. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/D1.3 của QXTV rừng

  • Hình 4.4.Phân bố số cây theo đường kính của quần xã thực vật rừng

  • Bảng 4.18. Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố N/Hvn của QXTV rừng.

  • Hình 4.5. Phân bố thực nghiệm (N/HVN) của QXTV rừng

  • Bảng 4.19.Cấu trúc tổ thành tái sinh

  • Bảng 4.20. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao

  • Bảng 4.21. Mật độ và chất lượng tái sinh

  • 4.3. Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

  • 4.3.1. Các sản phẩm từ gỗ

  • 4.3.2. Các sản phẩm ngoài gỗ

  • Bảng 4.22. Dach sách cây lâm sản ngoài gỗ

  • Bảng 4.23. Danh sách các loài lâm sản ngoài gỗ theo nhóm sử dụng

  • 4.4.Đề xuất một số biện pháp lâm sinh nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp

  • 4.4.1. Lựa chọn thành phần cây trồng, vật nuôi cho các mô hình rừng NLKH

  • 4.4.2. Lựa chọn một số biện pháp kỹ thuật, mô hình nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng NLKH

  • Hình 4.6. Lát cắt địa hình sau khi chuyển hóa thành rừng NLKH

  • 1. Kết luận

  • 1.2.Đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy

  • 1.3.Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

  • 1.4. Đề xuất các giải pháp chuyển hóa thành rừng nông lâm kết hợp

  • 2. Tồn tại

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập, được sự cho phép của khoa Sau đại học, Trường đại học Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp: “N

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu canh tác nương rẫy

Canh tác nương rẫy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nông nghiệp du canh, canh tác du canh, nhưng thường được hiểu là chặt cây – đốt nương – làm rẫy Thuật ngữ này mang nặng dấu ấn về phá hoại môi trường Định nghĩa được dùng nhiều nhất là “Canh tác nương rẫy được coi là những hệ thống canh tác nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin, 1957)” Trên quan điểm động, có một định nghĩa mới “Du canh là một chiến lược quản lý tài nguyên trong đó đất đai được luân canh nhằm khai thác năng lượng và vốn dinh dưỡng của phức hệ thực vật – đất của hiện trường canh tác (Mc Grath, 1987)” Trên quan điểm sử dụng đất, Anthony Young (1997) cho rằng “Du canh là một hệ thống luân canh trong đó sau một thời gian canh tác đất được bỏ hóa tự nhiên để rừng cây hoặc cây bụi mọc trở lại giúp cho đất phục hồi lại độ phì tự nhiên, đây là hệ thống hoàn toàn bền vững khi thời gian bỏ hóa đủ dài và mật độ dân số thấp [15]”

Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về canh tác nương rẫy, điển hình là các vấn đề sau:

Nghiên cứu về thực trạng nương rẫy: Hiện nay, trên quy mô toàn cầu ước tính có khoảng 5.000ha rừng/ngày bị chặt- đốt với khoảng 500 triệu người sống trực tiếp và một tỷ người sống gián tiếp của 3.000 tộc người khác nhau đang dựa vào canh tác nương rẫy Đây quả thật là con số báo động Do đó, bức tranh về thực trạng nương rẫy luôn là vấn đề quan tâm nghiên cứu đầu tiên ở hầu hết các nước có hoạt động này Tiêu biểu là “Tổng quan về nông nghiệp du canh” dưới góc nhìn về kiến thức và kinh nghiệm bản địa của người dân trong sử dụng đất khôn khéo và phục hồi rừng Dự án “Nông nghiệp du canh ở Thái Lan, Lào và Việt Nam, đặc điểm kinh tế, xã hội và môi trường so với các kiểu sử dụng đất thay thế (1991-1994)” của Viện Quốc tế và Môi trường Anh

Nghiên cứu về nguyên nhân không bền vững của canh tác nương rẫy, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, canh tác nương rẫy gây xói mòn mạnh, ước tính mất khoảng 0,5 – 1cm đất/năm nhưng để hình thành đất phải mất 300 năm mới tạo được lớp đất 2,5cm [12] Công trình “Các phương thức sử dụng đất dốc vùng cao bền vững ở Đông Nam Á” của Garrity (1993) đã chỉ ra các nguyên nhân về tính không bền vững của các phương thức sử dụng đất ở vùng cao, trong đó có nguyên nhân về sự phân chia “trách nhiệm giữa bên nông nghiệp và lâm nghiệp” [12]

Nghiên cứu về giải pháp cho nông nghiệp du canh Đây là bài toán khó mà thực tế đa số quốc gia chưa tìm được lời giải thấu đáo Tuy vậy, cũng đã có một số công trình điển hình như chương trình “Thay thế nông nghiệp du canh Chiến lược toàn cầu(ABS)” của Trung tâm nghiên cứu nông lâm kết hợp quốc tế ICRAF với nội dung cốt lõi là áp dụng các phương thức nông lâm kết hợp cho sử dụng đất Thời gian gần đây, ICRAF tiếp tục nghiên cứu về sử dụng đất bỏ hóa Hội nghị thế giới về “Lâm nghiệp và phát triển bền vững” tại Inđonesia(1996) cũng thảo luận hàng loạt các giải pháp bề canh tác nương rẫy [48]

Nghiên cứu về tác động tích cực của canh tác nương rẫy, một số tác giả khác cho rằng, nếu mật độ dân số 50 người/km 2 , canh tác nương rẫy có thể được xem như các “ lỗ trống” trong rừng tự nhiên nên hoạt động này là cách hiệu quả nhất để đối phó với các thực thể sinh thái vùng nhiệt đới (Cox và Atkins, 1976) và có tác dụng tích cực trong quá trình diễn thế và tái tạo rừng ( Odum, 1971, Bodley, 1976)

Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng sự không phù hợp của canh tác nương rẫy ngày này Trong công cuộc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thay thế cho canh tác nương rẫy đã đi đến kết luận: Canh tác nông lâm kết hợp tỏ ra có nhiều triển vọng nhất để giải quyết các vấn đề bức xúc mà các nước đang phải đối mặt, bùng nổ dân số, đói nghèo và cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên (FAO, 1996)

1.1.2 Nghiên cứu nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp (Agroforesty) hoặc hệ sinh thái nông lâm kết hợp, kĩ thuật nông lâm nghiệp,… đã được gọi bằng nhiều tên, nhưng về nội dung cơ bản không có sự phân biệt lớn Lúc đầu gọi là nông lâm Agri - seilviculture đây là một thuật ngữ, được Ủy ban nghiên cứu kinh doanh nông lâm kết hợp của Liên Hợp Quốc là ICRAF do ông King( Ấn Độ) làm chủ tịch đề xuất, năm

1969, King đã viết cuốn sách “Taungya”, trong đó có định nghĩa Agri- eilviculture như sau: “Trên cùng một mảnh đất sản xuất nông, lâm và chăn nuôi cùng kết hợp lại với nhau, cho sức sản xuất của đất được bảo vệ và nâng cao”

Mấy năm sau, Lundgren định nghĩa như sau: “NLKH là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, các cây họ cau dừa, tre trúc, cây ăn quả, cây công nghiệp)… được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động tương hỗ qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần trong hệ thống ” Sau đó thuật ngữ chuyên môn Agroforestry được ứng dụng rộng hơn và tập trung được các loại khoa học

Theo ICRAF (1997): “NLKH là một hệ thống quản lý đất đai có thể chấp nhận được để tăng khả năng sản xuất của nhiều loại sản phẩm kết hợp sản phẩm nông nghiệp, cây công nghiệp, cây rừng và gia súc (được tiến hành đồng thời và kế tiếp nhau) và áp dụng các biện pháp quản lý kỹ thuật thích hợp với trình độ văn hóa của nhân dân địa phương”

Biện pháp nông lâm kết hợp là một hệ thống các biện pháp kỹ thuật tổng hợp bao gồm các biện pháp kỹ thuật lâm nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp,… được tiến hành trên một đơn vị diện tích đất đai nhằm đạt được những mục tiêu đã định sẵn và các sản phẩm hàng hóa

Ngay khi định nghĩa này ra đời đã được chấp nhận rộng khắp thế giới

Vì vậy, từ những năm 1984 trở lại đây thì khái niệm “Nông lâm kết hợp” ít được nhắc đến trong các nghiên cứu mà thay vào đó là việc xác định các kiểu, loại hệ thống NLKH đã thành một chủ đề chính của các nghiên cứu Việc xây dựng nên hệ thống NLKH trên những vùng những khu vực khác nhau có sự khác nhau về thành phần loài, phương thức trồng… một chút nhưng qua các nghiên cứu đó đã làm sáng tỏ đặc điểm của một hệ canh tác NLKH điển hình và có thể tóm tắt như sau:

Hệ canh tác Taungya (Taungya system) là hệ canh tác được sử dụng sớm nhất ở Myanmar nó biểu thị cho phương thức du canh Hệ canh tác này được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa việc trồng cây nông nghiệp và lâm nghiệp Cây nông nghiệp được trồng trong giai đoạn đầu của trồng rừng, khi cây rừng chưa khép tán người nông dân được phép trồng cây lương thực hoặc cây hàng hóa kết hợp với việc bảo vệ chăm sóc rừng Việc kết hợp này chỉ có thể diễn ra trong vài năm đầu

Khái niệm Taungya ngày càng phát triển và ngày nay nó còn bao hàm cả tư tưởng của kỹ thuật sử dụng đất tổng hợp phục vụ phát triển nông thôn, miền núi Không chỉ sử dụng đất tạm thời khi chưa khép tán và giúp người nông dân xóa đói giảm nghèo mà nó còn tạo ra sự thay đổi để đảm bảo cho sự tham gia bình đẳng của người nông dân trong nền kinh tế lâm nghiệp sinh thái bền vững Tuy nhiên hệ canh tác này đem lại hiệu quả kinh tế ban đầu cho người nông dân, nhưng ở những giai đoạn sau khi không còn trồng xen được cây nông nghiệp người dân không có thu nhập trước mắt nữa, đặc biệt trong các khu rừng phòng hộ đầu nguồn Vì vậy hệ canh tác Taungya này vẫn chưa thực sự bền vững và lâu dài được

Mô hình rừng rẫy luân canh có thể coi là phương thức duy trì hệ nông nghiệp sinh thái và quản lý rừng tự nhiên bền vững Trong canh tác nương rẫy truyền thống, giai đoạn bỏ hóa (Fallow) là rất quan trọng để phục hồi lại độ phì tự nhiên, tái tạo lại rừng đây cũng là thời kì bỏ hóa cho đất nghỉ Đứng về mặt sinh thái thì bỏ hóa hoàn toàn hợp lý nếu thời gian bỏ hóa được duy trì (Moran,1981), đây là giai đoạn nghỉ canh tác nông nghiệp để rừng được phục hồi lại Trong giai đoạn gần đây kỹ thuật làm giầu rừng (Enricher fallow) đã và đang được áp dụng rộng rãi và có thể chia hai phương án: Một là hữu canh làm giàu kinh tế, nghĩa là làm tăng giá trị kinh tế của thảm thực vật hữu canh bằng cách trồng thêm các loài cây có giá trị hàng hóa và cây lương thực thực phẩm khác Chẳng hạn mô hình trồng mây ở Luangan Dayaks của (Weistock,

Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về canh tác nương rẫy

Canh tác nương rẫy là một tập quán canh tác lâu đời gắn với người dân, họ thích sống gần gũi với thiên nhiên Thói quen này thay đổi không dễ, nhưng cũng không phải là không thay đổi được để tạo cho các dân tộc làm quen với việc canh tác lúa nước, trồng rừng đặc sản, Việc canh tác nương rẫy là một trong những nguyên nhân chính gây ra mất rừng Trong thời kỳ

1991 – 1995 hàng năm có hơn 46.000ha rừng bị mất do đốt nương làm rẫy, trong đó 63,4 % ở khu vực rừng sản xuất, 35 % rừng phòng hộ, 1,6 % ở rừng đặc dụng (Nguyễn Huy Phồn – Phạm Đức Lân, 1998) Ở nước ta diện tích cach tác nương rẫy gồm tất cả đất bỏ hóa cho chu kỳ canh tác sau vào khoảng 3,5 triệu ha, số người dân sống nhờ vào nương rẫy lên đến 3 triệu người trong đó 2,2 triệu người đã định cư, còn lại là du canh du cư (Đỗ Đình Sâm, 1994) [35]

Canh tác nương rẫy là một trong những nguyên nhân làm đất dốc bị xói mòn nghiêm trọng khi mật độ dân số tăng cao, chu kỳ canh tác ngày một co ngắn lại và quá trình sa mạc hóa tăng cường Hàng năm nước ta có ít nhất 1,16 triệu ha nương rẫy du canh do khoảng 3,1 triệu người thuộc 50 tộc người thiểu số tiến hành trên vùng đất dốc (Trần Đức Viên, 1996)

Tuy vậy không nên từ số liệu tuyệt đối theo dõi lượng xói mòn hàng năm ở một công thức tính nào đó mà suy diễn mức độ xói mòn cho toàn bộ quá trình canh tác nương rẫy vì quá trình phục hồi thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc chống xói mòn

Một yêu cầu đặt ra cho canh tác nương rẫy du canh là độ dài của chu kỳ bỏ hóa tính theo hệ số canh tác đất R:

R = Số năm canh tác/Tổng chu kỳ*100

Trong đó: Tổng chu kỳ canh tác = Số năm canh tác + Số năm bỏ hóa Thực tế tính toán người ta thấy rằng R tốt nhất để đảm bảo duy trì độ phì cho đất trong hệ canh tác du canh vùng nhiệt đới là từ 17 đến 33% tức là nếu chu kỳ canh tác là 4 năm thì thời gian bỏ hóa sẽ phải từ 8 đến 20 năm điều này rất khó để thực hiện

Những nghiên cứu về hệ canh tác nương rẫy Việt Nam đã được Đỗ Đình Sâm (1994 ) [16] tập hợp và công bố Trong những năm gần đây khi thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ miền núi thực hiện dự án 327 phát triển nông thôn đã có nhiều công bố về các kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ canh tác nương rẫy và mô hình sử dụng đất miền núi (Nguyễn Xuân Quát,

Qua tổng kết 30 năm Nhà nước áp dụng chính sách định canh định cư nhằm chấm dứt phương thức du canh, nhưng trên toàn quốc vẫn có khoảng

120 nghìn hộ với gần 1 triệu nhân khẩu sống du canh du cư, còn gần 2 triệu người đã định cư song vẫn du canh Hàng năm gần 60.000ha rừng tự nhiên bị mất vì nguyên nhân này (Hà Chu Chử,1997)

Nhìn chung các kết quả nghiên cứu về canh tác nương rẫy là một số nhận xét chung như sau:

+ Về mặt xã hội: Canh tác nương rẫy là một tập quán lâu đời của người dân, nó không đòi hỏi mức đầu tư cao, kỹ thuật canh tác đơn giản phù hợp với khả năng của người dân bản địa nên người dân chấp nhận canh tác nương rẫy là nơi để sản xuất ra nguồn lương thực chính của họ

+ Về mặt kinh tế: Canh tác nương rẫy không mang lại năng suất cây trồng cao, sản phẩm không đa dạng phong phú, vì vậy nên kiểu canh tác này chỉ đáp ứng nhu cầu cung cấp lương thực tại chỗ cho người dân, do vậy đồng bào dân tộc thiểu số sống nhờ canh tác nương rẫy đa phần là nghèo đói

+ Về mặt môi trường sinh thái: Canh tác nương rẫy làm cho độ phì của đất giảm rất nhanh, xói mòn xẩy ra mạnh làm cho nguy cơ thoái hóa đất lớn Xét về nguồn tài nguyên rừng canh tác nương rẫy là nguyên nhân chính làm suy giảm tài nguyên rừng Tổ chức FAO ước tính nguyên nhân gây mất rừng do canh tác nương rẫy hàng năm khoảng trên 50%

Mặc dù các nghiên cứu đều chỉ ra cho thấy những mặt hạn chế của việc canh tác nương rẫy đòi hỏi phải có dự cải tiến loại hình sử dụng đất này nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn và đề xuất những hướng đi để phát triển nông nghiệp ổn định trên đất dốc, đặc biệt là hướng phát triển hệ thống

NLKH thay thế dần canh tác nương rẫy Tuy nhiên những nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ điều tra sơ bộ cơ bản, Thiếu những giải pháp kỹ thuật cụ thể để chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nương rẫy thành rừng NLKH

Việc canh tác nương rẫy có nhiều hạn chế nhưng không phải bất cứ diện tích canh tác nương rẫy nào ta cũng chuyển hóa thành rừng NLKH là sẽ mang lại hiệu quả cao mà tùy điều kiện cụ thể, tùy đối tượng mà ta tiến hành việc chuyển hóa nương rẫy cho phù hợp nhất

1.2.2 Nghiên cứu nông lâm kết hợp và sử dụng đất dốc

Trước thực trạng tài nguyên rừng đang ngày càng bị cạn kiệt, các hiện tượng thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên, việc du canh, đốt nương làm rẫy của đồng bào làm cho diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên một cách nhanh chóng Trong mùa mưa, lượng mưa tập trung lớn bào mòn đất đai làm cho diện tích đất đai bị thái hóa ngày càng tăng lên Ở những vùng lòng hồ như hồ Hòa Bình việc CTNR làm cho đất bị xói mòn đổ xuống vùng lòng hồ làm cho lòng hồ bị lấp nông dần ảnh hưởng không nhỏ đến trữ lượng nước của hồ và hoạt động của nhà máy thủy điện Hòa Bình

Những thách thức trong việc sử dụng đất dốc ở nước ta đã được nhiều tác giả nghiên cứu để có thể đưa ra một giải pháp nhằm góp phần vào cải tiến việc canh tác đất dốc ở nước ta trong đó việc canh tác nương rẫy là hoạt động chủ yếu Chuyển hướng giúp đồng bào ổn định an ninh lương thực, phát triển nông lâm nghiệp bền vững

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được quần xã thực vật rừng sau canh tác nương rẫy bỏ hóa Đề xuất các biện pháp kỹ thuật chuyển hóa rừng đang phục hồi và đất canh tác nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp theo hướng sử dụng rừng và dất rừng bền vững.

Giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Giới hạn về khu vực và đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các quần xã thực vật rừng bỏ hóa sau canh tác nương rẫy tại xã Háng Đồng,huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La

2.2.2 Giới hạn về nội dung

Nghiên cứu quần xã thực vật rừng sau canh tác nương rẫy trên địa bàn từ đó đề xuất một số biện pháp kĩ thuật chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp.

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:

2.3.1.Đặc điểm kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

- Thực trạng canh tác nương rẫy và các loại hình canh tác nông lâm kết hợp

- Nghiên cứu kiến thức bản địa trong canh tác

- Các kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

2.3.2 Đặc điểm cấu trúc thực vật rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy

2.3.2.1 Phân loại trạng thái rừng

2.3.2.2.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 1-5 năm

- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ, độ tàn che

-Một số quy luật kết cấu quần xã (Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3), phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)

-Đặc điểm tái sinh rừng

-Đặc điểm cây bụi thảm tươi

2.3.2.3.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 5- 10năm

- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ, độ tàn che

-Một số quy luật kết cấu quần xã (Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3), phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)

-Đặc điểm tái sinh rừng

-Đặc điểm cây bụi thảm tươi

2.3.2.4.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa trên 10năm

- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ, độ tàn che

-Một số quy luật kết cấu quần xã (Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3), phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)

-Đặc điểm tái sinh rừng

-Đặc điểm cây bụi thảm tươi

2.3.3 Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

- Các sản phẩm từ gỗ

-Các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ

2.3.4.Đề xuất một số biện pháp lâm sinh nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên

Xã Háng Đồng là một xã miền núi của huyện, cách trung tâm huyện 32 km hướng đi xã Tà Xùa về phía Đông - Bắc Có tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là 13.108 ha bao gồm 6 bản phân bố rải rác trên toàn xã

Có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Đông giáp xã Suối Tọ - huyện Phù Yên

- Phía Nam giáp xã Tà Xùa - huyện Bắc Yên

- Phía Tây giáp xã Xím Vàng - huyện Bắc Yên

- Phía Bắc giáp xã Bản Mù huyện Trạm Tấu - Yên Bái

Xã Háng Đồng phía Bắc, phía Tây Bắc, phía Đông là đồi núi cao phù hợp việc khoanh nuôi bảo vệ rừng, tiếp đến là vùng đồi núi thấp phù hợp việc làm nương rẫy, trang trại Nhìn chung địa hình có độ dốc tương đối phù hợp cho việc canh tác (trồng lúa và những cây hàng năm khác)

Theo kết quả tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Sơn La tỷ lệ 1:100.000 trên địa bàn xã Háng Đồng có các loại đất chính như sau: Đất tại khu vực nghiên cứu thuộc các loại đất chính và có các đặc điểm cơ bản sau:

- Các loại đất chủ yếu là đất feralit Nâu đen (F) và đất mùn Feralit trên núi (H) Các loại đất này chiếm tới 90% diện tích đất lâm nghiệp toàn khu vực

- Nhìn chung, độ dày tầng đất từ trung bình đến dày, đất có tầng dày trên 100 cm, chiếm khoảng 30%; tầng dày 50-70cm, chiếm 40 % và dưới 50 cm, chiếm 30 %, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng

- Độ phì của đất mặc dù bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá và tập quán canh tác nương rãy lạc hậu trước đây nhưng nhìn chung còn đạt mức trung bình

Ngoài ta còn có các loại đất sau :

- Đất vàng nhạt trên đá cát (ký hiệu Fq): Phân bố trên địa hình đồi núi cao từ 800 m - 1.500 m Loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp như : Sơn tra, Chè,…

- Đất mùn vàng nhạt trên đá phiến sét (ký hiệu Fs): Phân bố trên các khu vực núi cao trên 1.500 m, loại đất này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp

- Đất phù sa ven suối (ký hiệu P'): Phân bố các khu vực có độ cao từ

350 m đến 700 m so với mực nước biển, ven các con suối loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa, hoa màu

Nhìn chung, hầu hết các loại đất trên địa bàn xã có độ dày tầng đất từ trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình Các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali… thấp Đất đai có độ dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên đang có hiện tượng bị xói mòn rửa trôi

Xã Háng Đồng nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết hàng năm được chia làm 2 mùa rõ rệt

- Mùa đông (mùa khô) thường ít mưa và được bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa này thịnh gió mùa Đông Bắc thường, thời tiết lạnh và khô và thường xuất hiện sương muối

- Mùa hè (mùa mưa ) được bắt đầu từ tháng tư đến cuối tháng 9, mùa này thịnh hành gió Tây nam, thời tiết nắng nóng và mưa nhiều Lượng mưa chiếm 75% lượng mưa cả năm

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 17,5 0 C – 18,5 0 C, tối cao trung bình

20 0 C và tối thấp trung bình 16,7 0 C, thấp nhất tuyệt đối vào các tháng 12, tháng 1 (0 - 5 0 C) Tổng tích ôn hàng năm trung bình là 7.550 0 C Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.641 giờ Trung bình số ngày nắng/tháng là 23 ngày Độ ẩm không khí: Nhìn chung độ ẩm không khí cao, độ ẩm tương đối trung bình năm 84-85% Độ ẩm tương đối cao nhất thường vào những tháng đầu năm (tháng 1 - 4) và khô nhất thường rơi vào các tháng cuối năm (tháng

Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân là 1.542,4 - 2.228,8mm với

118 ngày mưa/năm Lượng mưa trung bình tháng là 150mm/tháng Mùa mưa kéo dài 6-7 tháng (từ tháng 4-9), với lượng mưa chiếm 84-92% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa lớn, tập trung trong thời gian ngắn dễ gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, trượt lở đất, lũ ống, lũ quét… gây thiệt hại cho sản xuất, tài sản và đời sống nhân dân Ngược lại mùa khô kéo dài, gây khô hạn, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là các bản vùng cao, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng các loại cây trồng

Yếu tố cực đoan: Sương muối thường xuất hiện mỗi năm vài đợt vào các tháng 12 tháng 1 và gây ảnh hưởng tới tất cả các vùng trong khu vực ở mức độ khác nhau Tuy nhiên trong những năm gần đây tần suất xuất hiện sương muối có xu hướng giảm Về mùa mưa thường xảy ra lũ quét ở những vùng độ dốc lớn, độ che phủ thực bì thấp Mùa đông lạnh

Xã nằm trong vùng lưu vực của suối Bé với nhiều các suối nhánh Hệ thống suối bắt nguồn từ các dãy núi cao với lưu lượng nước tương đối lớn và ổn định, dòng chảy mạnh do có độ dốc lớn vì vậy có tiềm năng phát triển thuỷ điện Hệ thống các suối nhỏ với mật độ phân bố khá dày song lưu lượng nước thường không ổn định do mưa tập trung theo mùa Ảnh hưởng của yếu tố địa hình phức tạp nên hệ thống suối ở đây thường có độ dốc lớn, mùa mưa lưu lượng dũng chảy lớn thường gây lũ quét sạt lở đất, mùa khô nguồn nước hạn chế do vậy khả năng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn.

KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

4.1.1 Thực trạng canh tác nương rẫy Đất nương rẫy sử dụng thường là đất ở xa nhà, diện tích nương tập trung chủ yếu ở gần khu vực rừng trồng hoặc rừng thứ sinh nghèo Diện tích đất nương rẫy thực tế của xã còn lớn hơn nhiều so với số lượng thống kê Theo kết quả điều tra ngoài thực địa cho thấy hầu hết nương rẫy nằm phân bố ở độ cao bình quân 220m so với mực nước biển, độ dốc tối thiểu là 15 0 và tối đa là 42 0 , vị trí của nương rẫy phân bố chủ yếu ở sườn, đỉnh và một số ít phân bố rải rác ở chân các quả đồi trong khu vực

Theo số liệu thống kê ban đầu, hiện khu vực nghiên cứu vẫn còn tình trạng người dân đốt nương làm rẫy Đây là xã vùng cao có duy nhất đồng bào dân tộc H’Mông sinh sống, trình độ dân trí chưa cao và hơn 90% thu nhập của người dân phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp Hệ thống hạ tầng nông thôn chậm phát triển ô tô không đến được trụ sở UBND xã Tỷ lệ nhà tranh, tre lên đến 85% Phương thức canh tác lạc hậu nên năng suất, sản lượng đạt được trên một đơn vị diện tích thấp, dẫn đến tình trạng diện tích canh tác nương rẫy lớn nhưng vẫn không đủ ăn Khả năng tiếp cận với thông tin khoa học không có,thiếu vốn đầu tư cho canh tác, thiếu hiểu biết vê môi trường và pháp luật, do vậy sự phân hóa giữa các vùng miền ngày càng lớn Dưới đây là biểu hiện trạng sử dụng đất của xã

Biểu 4.1: Diện tích các loại đất được phân bổ cho xã Háng Đồng

STT Chỉ tiêu Mã Cấp huyện phân bổ

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN 13.108,00

1.1 Đất trồng lúa nước DLN 64,06

A Đất nương rẫy cố định DNR1 135,42

B Đất nương rẫy 1 vụ DNR2 112,41

1.3 Đất rừng phòng hộ RPH 2.374,78

1.4 Đất rừng đặc dụng RDD 7.448,00

1.5 Đất rừng sản xuất RSX 856,00

1.6 Đất nuôi trồng thuỷ sản tập trung NTS 2,41

2 Đất phi nông nghiệp PNN 268,03

2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 1,28

2.2 Đất để xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại DRA 0,40

2.3 Đất phát triển hạ tầng DHT 216,25

3 Đất khu bảo tồn thiên nhiên DBT 7.448,00

5 Đất chưa sử dụng còn lại DCS 1.580,76 Đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng 3.689,34

Hình thức canh tác nương rẫy chủ yếu là trồng cây lương thực như Lúa nương, Ngô, Khoai, Sắn Các hình thức làm nương rẫy gồm:

+ Nương rẫy cố định (chiếm 55 – 60%)

+ Nương rẫy một vụ (chiếm 40 – 45%)

Cơ cấu cây trồng trong canh tác nương rẫy được tổng hợp như sau: cây cung cấp lương thực như Ngô, Lúa nương, Dong riềngchiếm 70% diện tích: trong đó Lúa nương chiếm 30-45% toàn bộ diện tích canh tác nương rẫy Diện tích sử dụng cho việc trồng nhóm cây còn lại là: Rau và đậu các loại chiếm 6% còn lại là các loài cây khác chiếm 12%

Trung bình diện tích làm nương rẫy tại khu vực nghiên cứu chỉ canh tác được 1 vụ/năm Năng suất bình quân ngô là 3.6 tấn/ha Năng suất lúa nương đạt trung bình 1.1 tấn/ha/vụ và lương thực (quy ra gạo) bình quân đầu người chỉ được 146 kg/người/năm (ngô) là 56kg/người/năm Như vậy vùng núi cao người dân chỉ đảm bảo được khoảng 60 -70% nhu cầu lương thực tại chỗ Để đánh giá được thực trạng của việc canh tác nương rẫy ta tiến hành điều tra năng suất của các loài cây trồng trên nương rẫy

Bảng 4.2: Năng suất cây trồng trên đất nương rẫy (kg/ha)

Các loài cây trồng Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4

Theo kết quả điều tra cho thấy, năng suất các loại cây trồng trên đất nương rẫy hầu như đều giảm theo thời gian canh tác, nguyên nhân đất bị thoái hóa bạc màu, chất dinh dưỡng trong đất không được bổ sung, hiện tượng xói mòn rửa trôi trên đất nương rẫy diễn ra mạnh, người dân canh tác nương rẫy không bón phân để bổ sung lại các chất dinh dưỡng cho đất Người dân làm nương chủ yếu dựa vào thiên nhiên ưu đãi là chính nên cây trồng phụ thuộc vào thời tiết là chủ yếu, năng suất cây trồng cao hay thấp đều phụ thuộc vào thiên nhiên

Việc năng suất cây trồng giảm sút gây ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực của người dân Sự thiếu hụt này đẩy người dân vào việc tìm kiếm một phương thức sinh tồn mới mà trước hết là việc phá rừng và canh tác nương rẫy nhiều hơn Điều này nói lên khá rõ về vai trò của nông nghiệp đối với quản lý rừng và đất dốc, đồng thời cho thấy rằng khi đất nông nghiệp bị mất thì cần tìm cách sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên rừng và đất dốc để bù đắp sự thiếu hụt nông sản của người dân

Kết quả điều tra cho thấy nương rẫy phân bố chủ yếu ở những nơi có độ dốc trên 25 0 , có nương lên đến 40 –50 0 với cơ cấu cây trồng đơn giản, chủ yếu là 4 loài cây trồng: Ngô nương, Lúa nương, Thảo quả, Dong riềng ngoài ra còn có Sắn, Đậu tương, Dưa mèo

- Ngô: Ngô được trồng chủ yếu trên đất nương rẫy với phương thức chủ yếu là chọc lỗ bỏ hạt Thời vụ trồng là cuối tháng 5 đầu tháng 6 Nếu trồng muộn thì sang tháng 7 dương lịch Làm cỏ dại hai đợt rồi chờ thu hoạch, không bón phân

- Lúa nương: Lúa nương trồng một vụ thường được gieo vào đầu tháng

5, thu hoạch vào tháng 10 dương lịch Người ta phát nương vào mùa khô, phơi và đốt trước mùa mưa, khi có mưa đầu vụ là bắt đầu gieo trồng Trồng theo phương thức chọc lỗ bỏ hạt, xới một lần vào lúc cây Lúa còn nhỏ để trừ cỏ dại Nếu những mảnh đất trên các nương rẫy có cỏ tranh, cây phân xanh thì chúng thường bị bỏ không trồng trọt Vì vậy, diện tích đất tăng nhanh chóng Các giống Lúa nương chủ yếu là giống dài ngày (180-200 ngày), có nguồn gốc của địa phương và một số ít giống khác được nhập lâu đời từ Campuchia nhưng năng suất đều thấp, cao nhất chỉ đạt 7-8 tạ/ha Sau thời gian canh tác 3-

4 năm khi năng suất chỉ còn 3-4 tạ/ha thì những nương lúa này bị bỏ hóa

- Dong riềng: Dong riềng được trồng bằng rễ củ,không đánh luống, thường trồng tháng 2, thu hoạch tháng 10-11 dương lịch

- Sắn: Sắn được trồng bằng hom thân, không đánh luống, thường trồng tháng 3, thu hoạch tháng 11-12 dương lịch Một số nương Sắn để lưu niên 2-3 năm mới thu hoạch Đây là giống sắn địa phương (Sắn đỏ), củ dài và nhỏ, năng suất thấp Bình quân đạt 55 tạ/ha năm đầu tiên, cao nhất chỉ đạt 60-65 tạ/ha và giảm dần theo thời gian, người dân sử dụng sắn để nấu rượu và chăn nuôi

- Đậu tương + Lúa nương: Đậu tương thường được trồng vào tháng 2, và thu hoạch vào tháng 5, tiếp đó người dân lại sử dụng đất trồng lúa nương, Đậu tương thường được sử dụng để chế biến làm nhiều món ăn trong gia đình như đậu phụ, đậu tương rang mỡ, nước mắm, góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày cho người dân Ngoài ra, nó còn được sử dụng làm thức ăn cho gia cầm Năng suất đậu tương trồng trên đất nương rẫy cao nhất chỉ đạt khoảng 1 tạ/ha Tuy nhiên, với năng suất đạt được kể trên đã là một thắng lợi lớn vì trong thời gian từ khi gieo trồng đến khi Đậu tương ra hoa không có mưa hoặc mưa rải rác với lượng nhỏ Mô hình canh tác Đậu tương + Lúa nương đã tận dụng được bởi thời gian bỏ hóa đất trong năm trước khi trồng Lúa nương, góp phần tăng thu nhập cho người dân Việc canh tác nương rẫy là một trong những nguyên nhân làm giảm diện tích rừng tự nhiên, ngày nay khi diện tích rừng tự nhiên ngày càng khan hiếm thì canh tác nương rẫy tham gia vào quá trình này càng khó nhận biết hơn Bởi vì không phải người dân nào cũng nhận thức được hành động phá rừng của họ, họ không nhận thức được mối đe dọa ngày càng nguy hiểm đối với cuộc sống hàng ngày của chính họ mà nguyên nhân là do học phá rừng để canh tác nương rẫy Như vậy CTNR tại địa phương cũng phải đối mặt với những khó khăn và trước cuộc sống còn muôn vàn gian khó, người dân lại lâm vào vòng luẩn cuẩn của đói nghèo

Canh tác NLKH ở khu vực nghiên cứu chưa phổ biến Trong toàn xã chỉ có 14 hộ gia đình trồng kết hợp giữa các cây công nghiệp và lâm nghiệp với diện tích khoảng 1000 – 2000m 2 trên một phần quả đồi của mình Phần lớn diện tích còn lại vẫn là canh tác nương rẫy

- Loại hình canh tác Thông+ Táo mèo+ lúa nương Đây là loại hình được trồng trên đất đồi trọc, ít cây bụi, đất có hàm lượng mùn thấp Thông thường được trồng trên cao, tiếp đó đến Táo Mèo và Lúa nương với tỷ lệ diện tích các loài là: 45% Thông + 25% Lúa nương +

30% Táo mèo Chu kỳ kinh doanh của loại hình này là 15- 20 năm Khí hậu khu vực lạnh thường xuyên có mây mù nên đây là mô hình rất thích hợp tại khu vực

- Loại hình canh tác Trẩu + Sắn + Táo mèo

Loại hình này có sự kết hợp giữa cây Lâm nghiệp, Nông nghiệp và cây cho LSNG Cây trồng được bố trí theo dải: Cây Trẩu được trồng trên cao, tiếp đó đến Sắn và Táo mèo với tỷ lệ diện tích với các loài 45% Trẩu + 25% Sắn + 30% Táo Mèo

Đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy

4.2.1 Phân loại trạng thái rừng

Rừng ở khu vực nghiên cứu là rừng tự nhiên phục hồi sau nương rẫy, với thời gian khác nhau Vì vậy, cần thiết phải phân loại trạng thái hiện tại của rừng nhằm đánh giá đặc điểm, tình hình và tiềm năng của rừng, nghiên cứu các đặc điểm cấu trức và đề xuất biện pháp lâm sinh chuyển hóa thành rừng nông lâm kết hợp Áp dụng Theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT về qui định tiêu chí xác định và phân loại rừng và số liệu điều tra trên 12 OTC (diện tích 1000m 2 ), đối tượng rừng nghiên cứu là rừng phục hồi được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do nương rẫy

Nguyên nhân hình thành là do nương rẫy bị bỏ hoá, có thời gian phục hồi khác nhau Sau nương rẫy đầu tiên là sự phát triển của lớp cây bụi, thảm tươi, khi cây bụi thảm tươi phát triển mạnh, hình thành môt lớp che phủ và xuất hiện lớp cây gỗ tái sinh Cây tái sinh chủ yếu là cây con của các loài ưa sáng, mọc nhanh, mới đầu mật độ thấp, sau đó mật độ tăng dần Tổ thành rừng là những loài cây gỗ tiên phong ưa sáng Ở khu vực nghiên cứu đối tượng này được hình thành sau nương rẫy Thế hệ rừng trước kia bị phá làm nương rẫy, sau một thời gian không canh tác, rẫy bỏ hoang, các loại cây ưa sáng mọc nhanh như: Hu đay, Lá nến, Tống quả sủ, Chè Súm, Thành ngạnh, Sau sau, tái sinh và phát triển thành rừng Rừng phục hồi sau nương rẫy không có cây mẹ chung sống, sau một thời gian, loài cây tiên phong định vị mọc xen vào và phát triển dần dần thay thế loài cây mọc trước đó

Từ kết quả điều tra cho thấy, việc phân loại trạng thái rừng đòi hỏi phải phân tích đánh giá một cách toàn diện về định lượng cũng như định tính, đặc biêt là đối với các quần thể rừng mà các chỉ tiêu đặc trưng nằm ở ngưỡng ranh giới giữa hai trạng thái liền kề nhau, thì việc phân tích đánh giá phải kỹ và đứng trên quan điểm sinh thái mới có thể xác định được trạng thái phù hợp

4.2.2.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 5 năm

QXTV rừng bỏ hóa 5 năm thời gian bỏ hóa ngắn cho nên rừng mới chỉ xuất hiện trảng cỏ cây bụi, và một số loài cây tái sinh của các loài từ nơi khác đến thích hợp với điều kiện khu vực nghiên cứu, chưa xuất hiện các tầng cây gỗ Các loài cây chủ yếu là cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, chất lượng gỗ kém

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của quần xã thực vật rừng Nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng để làm rõ hướng phát triển của rừng hiện tại và tiềm năng của chúng trong tương lai Các đặc điểm tái sinh rừng là cơ sở khoa học để điều chỉnh các quá trình tái sinh rừng phù hợp a)Tổ thành cây tái sinh

Tổ thành cây tái sinh là một chỉ tiêu trung thực thuyết minh mức độ tham gia của các loài cây trong lâm phần, đánh giá tính ổn định, bền vững và sự đa dạng sinh sinh học của một hệ sinh thái rừng Do đó cấu trúc tổ thành cây tái sinh hiện tại sẽ là tổ thành tầng cây cao của lâm phần trong tương lai, nếu nó hội tụ đủ các điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây tái sinh sinh trưởng và phát triển Trong công thức tổ thành hiện tại giữa chúng có nhiều biến đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau

Nhìn vào công thức tổ thành cây tái sinh có thể biết được loài nào sẽ là loài ưu thế trong tương lai và ta cũng có thể dự đoán được diễn thế của rừng trong tương lai Tổ thành cây tái sinh càng phong phú đa dạng thì chứng tỏ hệ sinh thái tầng cây cao cũng rất phong phú đa dạng về loài và khả nẵng gieo giống của tầng cây mẹ là rất tốt, các loài đó có khẳ năng thích nghi với điều kiện sống tại rừng Vì vậy việc nghiên cứu tổ thành cây tái sinh có thể dự đoán tình hình rừng trong tương lai và qua đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng, để điều chỉnh tổ thành cây tái sinh phù hợp với mục đích

Với 3 ô tiêu chuẩn điều tra cho thấy, mật độ cây tái sinh biến động từ 630

- 1300 cây/ha Chất lượng cây tái sinh trung bình, tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng không lớn, qua nhiều năm đã xuất hiện thêm môt số cây tái sinh của những loài cây gỗ lớn Tổ thành cây tái sinh được thể hiện trong biểu 4.3 sau

Bảng 4.3 Tổ thành cây tái sinh

Công thức tổ thành cây tái sinh là:

1,92 Ss + 1,03 Cc + 0.98 Bs + 0,89 Bb + 0,84 Kv + 0,84 Ts + 0,75 Đl + 0,75 Nl+ 0,51 Mk + 1,5 Loài khác

Từ bảng 4.3 cho thấy có 9 loài tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh Các loài cây tái sinh chính ở đây là Chân chim, Sau sau, Ba soi, Bùm bụp, kháo vàng, Tống quả sủ, Đỏm lông,Ngõa lông,Mé cò ke Đây là các loài cây mọc nhanh, chất lượng cây tái sinh tốt b)Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao

Bảng 4.4 Phân cấp số cây theo cấp chiều cao

OTC Mật độ cây /ha Số cây/ô

Từ bảng 4.4 cho thấy số cây phân bố rất đều giữa các cấp chiều cao Ở cấp chiều cao nhỏ hơn 0,5m chiếm 23,85%, 0,5-1m chiếm 23,85%, 1-2m chiếm 27,78%, lớn hơn 2m chiếm 24,51% Với sự phân bố đều như vậy sẽ ảnh hưởng tới quá trình hình thành rừng sau này Do trạng thái chưa có cây gỗ tầng trên cho nên những cây sinh trưởng tốt kết hợp với cây bụi thảm tươi sẽ ức chế khả năng sinh trưởng của một số cây tái sinh có chiều cao thấp dẫn đến quá trình đào thải các cây tái sinh và khó có thể duy trì bảo vệ tái sinh để tác động chúng trở thành rừng c)Mật độ và chất lượng cây tái sinh

Bảng 4.5 Mật độ và chất lượng cây tái sinh

Cây Tỷ lệ Cây Tỷ lệ Cây Tỷ lệ

Mật độ của quần xã thực vật rừng bỏ hóa trước 5 năm dao động trong khoảng 630-1300 cây/ha Trong đó tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng dao động trong khoảng từ 23,01- 44,44% Với tỷ lệ cây tái sinh triển vọng như đã có được trên thì khả năng hình thành rừng là rất khó, và chất lượng rừng hình thành được cũng không tốt

4.2.2.2.Đặc điểm cây bụi thảm tươi

Lớp cây bụi thảm tươi là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây tái sinh, đặc biệt là sự cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng dưới tán rừng Nhiều nghiên cứu cho thấy khi độ tàn che giảm thì cây bụi thảm tươi phát triển, thuận lợi cho những cây tái sinh chịu bóng tuổi nhỏ nhưng chúng sẽ gây trở ngại khi cây tái sinh lớn Cây bụi thảm tươi còn ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống tại chỗ Khi cây mẹ gieo giống, hạt được phát tán nhờ gió, động vật, gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm phát triển thành cây con Ngược lại nếu hạt giống rơi vào tầng cây bụi, thảm tươi dày sẽ không tiếp xúc được với đất nên hạt giống sẽ không nảy mầm được Đặc biệt tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng thường sẽ không cao do tốc độ sinh trưởng và phát triển của cây bụi thảm tươi thường nhanh hơn, sức cạnh tranh mạnh mẽ hơn và dần dần lấn át cây tái sinh

Trạng thái này cây bụi thảm tươi chủ yếu là Dương xỉ, Cỏ lào tím, Rau tàu bay, Cói lá dứa… Với chiều cao trung bình là 0,41m, độ che phủ trung bình là 50,87% (Chi tiết xem phụ biểu 05) Để hình thành rừng NLKH cần có biện pháp xử lý tốt đối với lớp cây bụi thảm tươi này

4.2.3 Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa 5 - 10năm

Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỷ lệ của một loài hay một nhóm loài cây nào đó trong lâm phần, là chỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng Trong điều tra lâm phần, để biểu thị tổ thành rừng, người ta sử dụng công thức tổ thành cho cả hai đối tượng tầng cây cao và tầng cây tái sinh Về bản chất, công thức tổ thành có ý nghĩa sinh học sâu sắc, phản ánh mối quan hê giữa các loài cây trong một quần xã thực vật và mối quan hê giữa quần xã thực vật với điều kiên ngoại cảnh Trong nghiên cứu, đề tài sử dụng chỉ tiêu IV% (tính theo tiết diện ngang và theo số cây) của Daniel Marmillod làm công thức đánh giá tổ thành

QXTV rừng khu vực điều tra có tổng số 23 loài cây được thống kê trên

6 OTC điểnhình (Chi tiết xem phụ lục 1)

Tổng số loài ưu thế giữa các ô biến động từ 5 - 9 loài Đây cũng là các loài chủ yếu tham gia vào công thức tổ thành

Bảng 4.6 Công thức tổ thành của QXTV rừng

OTC Số loài ưu thế

IIA 1 6 30,99Ts +11,29 De + 10,40Kh + 7,79Sb +

7,46Ss + 5,35Ct IIA 2 7 18,74Tt + 10,16Bb + 9,08Ss + 8,76 Mo +

6,69Mk+ 5,35Cs + 5,20Ln IIA 3 8 29,78Ts + 10,91Mk + 7,44 Đl+ 7,20Ss + 6,44Hq

+ 5,28Mo + 5,18Cs + 5,12Tt IIA 4 5 14,11Rl + 16,92Bb+ 7,53Đn + 7,51 Ss + 6,64Sb IIA 5 9 14,58 Cc + 11,56Ss + 11,47Th + 8,57Cm

Mk IIA 6 8 15,63Mt + 13,17Bs + 10,83Ln + 8,81Ss +

8,18Ts + 7,78,Rl + 7,63Mu + 5,82 Cm Bảng 4.6 cho thấy loài cây chiếm ưu thế ở quần xã thực vật rừng phục hồi sau nương rẫy từ 5-10 năm là loài cây Tống quả sủ, Sau sau, Mé cò ke, Sổ bà, Kháo, Chân chim, Bùm bụp, Trâm trắng

Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

4.3.1 Các sản phẩm từ gỗ

Khu vực nghiên cứu là rừng phục hồi sau nương rẫy các cây gỗ chủ yếu là loài cây mọc nhanh, ưa sáng nên chất lượng gỗ thấp Không thể sử dụng làm các đồ thủ công mỹ nghệ cao cấp, hay xuất khẩu được Tuy nhiên chúng có thể sử dụng để làm gỗ trụ mỏ, đóng đồ gia dụng trong nhà Người dân nơi đây vẫn tận dụng một số loại cây có giá trị để làm rầm, trần nhà, cột trống như Trâm trắng, Kháo, Sau sau…

4.3.2 Các sản phẩm ngoài gỗ a.Danh mục các loại lâm sản ngoài gỗ

Trên cơ sở kết quả điều tra tầng cây gỗ, cây bụi và thảm tươi trong các ô nghiên cứu, bước đầu xác định được 3 loài cho lâm sản phụ, thuộc 3 họ thực vật khác nhau Dưới đây là danh sách các loài LSNG trong 12 OTC điều tra tại khu vực nghiên cứu:

Bảng 4.22 Dach sách cây lâm sản ngoài gỗ Stt Tên Việt

Tê khoa học Họ thực vật

1 Táo mèo Docynia indica Rosaceae

2 Mắc khén Eberhardtia tonkinensis Illiciaceae

3 Nứa B chirostachyoides Kurz ex Gamble Poaceae b.Bảng phân loại lâm sản ngoài gỗ theo công dụng

Sau khi lập danh sách các loài thực vật thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ, tiến hành phân loài theo nhóm giá trị sử dụng và thống kê ở bảng sau:

Bảng 4.23 Danh sách các loài lâm sản ngoài gỗ theo nhóm sử dụng

Nhóm công dụng Nhóm loài cây cho sợi

Ngoài các loại LSNG kể trên với các công dụng được phân chia trong bảng Thảm thực vật rừng bỏ hóa còn có thể tận dụng được nguồn gỗ củi từ các loại cây gỗ, một số loại rau rừng như đắng cảy, chua chắt,… và còn có nguồn thức ăn cho trâu bò nếu tận dụng tốt lớp cây bụi thảm tươi c.Đánh giá trữ sản lượng một số LSNG có giá trị cao

Khu vực nghiên cứu được xác định là một trong các khu vực có tài nguyên thực vật rừng phong phú, tuy đề tài chỉ nghiên cứu tại các thảm thực vật rừng bị bỏ hóa nhưng cũng tìm ra được nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao Những nghiên cứu gần đây cho thấy tại Háng Đồng đã xác định được

3 nhóm công dụng khác nhau Tại OTC nghiên cứu nhận được 2 nhóm trong đó: thực phẩn 3 loài, Làm thuốc 1 loài, nhóm thực công dụng khác 1 loài.

Đề xuất một số biện pháp lâm sinh nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp

Từ kết quả phân tích của đề tài cho thấy việc cần thiết phải có những biện pháp nhất định chuyển hóa QXTV rừng bỏ hóa thành rừng NLKH, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả môi trường phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương, đảm bảo tính phát triển bền vững tại địa bàn nghiên cứu

Việc lựa chọn các giải pháp đề xuất dựa trên quan điểm đa dạng hóa các loại cây trồng Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội thì hiệu quả bảo vệ môi trường là cấp thiết thông qua việc đa dạng hóa các loại cây trồng, tăng thời gian cũng như tỷ lệ và thời gian che phủ mặt đất Các mô hình rừng NLKH đưa ra được dựa sự tham gia của cộng đồng và trên quan điểm nông lâm kết hợp; lấy ngắn nuôi dài, đa dạng về cấu trúc của hệ thống cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm đảm bảo tính hiệu quả và bền vững

4.4.1 Lựa chọn thành phần cây trồng, vật nuôi cho các mô hình rừng NLKH

Nhận định chung: Qua quá trình khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu có thể đưa ra một số kết luận sau: Đất: chủ yếu là đất feralit Nâu đen (F) và đất mùn Feralit trên núi (H) Các loại đất này chiếm tới 90% diện tích đất lâm nghiệp toàn khu vực

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết hàng năm được chia làm 2 mùa rõ rệt

- Mùa đông (mùa khô) thường ít mưa và được bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa này thịnh gió mùa Đông Bắc thường, thời tiết lạnh và khô và thường xuất hiện sương muối

- Mùa hè (mùa mưa ) được bắt đầu từ tháng tư đến cuối tháng 9, mùa này thịnh hành gió Tây nam, thời tiết nắng nóng và mưa nhiều Lượng mưa chiếm 75% lượng mưa cả năm

Nhiệt độ trung bình 25 0 C, Độ ẩm không khí dao động từ 85 – 87%, trung bình năm 86%

Nhìn chung khí hậu thuận lợi cho các cây trồng như: Lúa ngô, Khoai Sắn vv, các loại cây ăn quả, cây rừng sinh trưởng phát triển tốt Tuy nhiên ở vùng có gió Tây nam còng có nhiều ảnh hưởng xấu tới qúa trình ra hoa kết quả của cây trồng

Từ nhận định trên để có thể lựa chọn các loại cây trồng phù hợp với điều kiện khu vực

Lựa chọn cây trồng vật nuôi là một khâu cực kỳ quan trọng nó quyết định đến tính thành bại của việc chuyển hóa nương rẫy thành rừng NLKH, giúp cho hộ gia đình lựa chọn đúng loài cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện của khu vực, lựa chọn loại cây trồng, vật nuôi thích hợp sẽ tăng thêm thu nhập cho mỗi hộ gia đình Kết quả điều tra cho thấy đa số người dân lựa chọn cây lâm nghiệp là cây Keo lai Còn các loại cây: Tông dù, Bồ đề, Luồng, Vầu… được lựa chọn ít hơn Cây công nghiệp được lựa chọn là Táo mèo, chè Cây nông nghiệp được lựa chọn trồng xen gồm: Ngô, lúa nương, sắn, đậu tương trong đó sắn và Lúa Nương vẫn được lựa chọn nhiều hơn

Có thể bổ sung kết hợp với chăn nuôi dưới tán rừng Đối với các loài vật nuôi: Các loài Trâu, bò, Dê, Ong được người dân chọn là vật nuôi chính, sau đó mới đến Lợn, Gà, Vịt Đối với Trâu, Bò khi nuôi ngoài hiệu quả kinh tế còn sử dụng sức kéo và cung cấp phân bón phục vụ cho sản xuất, nhưng đây là các loài vật lớn nên chúng tiêu thụ nhiều thức ăn, vốn đầu tư lớn, rủi ro cao nên không thể nuôi nhiều con một lúc Mặt khác bãi chăn thả chưa đủ rộng để nuôi nhiều

4.4.2 Lựa chọn một số biện pháp kỹ thuật, mô hình nhằm chuyển hóa nương rẫy thành rừng NLKH

4.4.2.1 Lựa chọn biện pháp kỹ thuật

-Biện pháp sử dụng đất sau bỏ hóa diện tích đất lâm nghiệp:

Các biện pháp sử dụng đất rừng là tổ chức các biện pháp như tái sinh, cải tạo, nuôi dưỡng rừng, kết hợp với các mô hình nông lâm kết hợp để sản xuất kinh doanh sử dụng đất một cách hiệu quả nhất đảm bảo cho việc sử dụng đất sau bỏ hóa và kinh doanh rừng lâu dài liên tục đáp ứng tối đa nhu cầu cung cấp lâm sản đồng thời nâng cao thu phập cho người dân trên địa bàn

+Trồng rừng: Biện pháp trồng rừng được áp dụng trên những diện tích đất trống chưa sử dụng, loài cây được chọn là keo lai Trong những năm đầu tiên sẽ trồng xen canh các loại cây hoa màu ngắn ngày để hạn chế xói mòn, rửa trôi cải tạo đất như sắn, ngô…Keo lai: Mật độ trồng là 1667 cây/ha, cự ly trồng 2x3m, phương thức trồng trên toàn bộ diện tích đất trống, trồng bằng cây con có bầu, thời vụ trồng là vụ xuân, hoặc thu

-Khoanh nuôi phục hồi rừng: trên địa bàn nghiên cứu chủ yếu là đất rừng tự nhiên bị khai thác cạn kiệt, và đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy nhằm tận dụng khả năng tái sinh và diễn thế rừng tự nhiên trên đất trống có khả năng tự phục hồi thì tiến hành khoanh nuôi bảo vệ để phục hồi rừng Biện pháp chính là ngăn chặn các tác động từ bên ngoài như chặt phá, chăn thả gia súc… Có một số diện tích cần tiến hành trồng dặm để tăng độ che phủ của rừng

-Các biện pháp cải tạo nuôi dưỡng rừng: Chủ yếu là dọn vệ sinh rừng thường xuyên, phát dây leo bụi rậm, chặt bỏ cây sâu bệnh, loại bỏ dần các cây phi mục đích, đồng thời tăng cường công tác bảo vệ tránh những tác động có hại vào rừng, ngăn chặn lửa rừng

4.4.4.2.Lựa chọn mô hình chuyển hóa thành rừng NLKH a)Mô hình canh tác theo đường đồng mức với băng cây xanh

Trên các vị trí nghiên cứu có cây tái sinh tiến hành khoanh nuôi, phục hồi rừng

Tại các vị trí đất trống bên dưới tiến hành trồng băng cây xanh theo đường đồng mức Với phương thức canh tác này,các loài cây lương thực được trồng xen lẫn với các băng cây xanh, hoặc giữa các luống cỏ trên nương Hệ thống này vừa hạn chế xói mòn, vừa giữ được độ phì cho đất từ năm này qua năm khác Những băng cây rừng, cây bụi hoặc dải cỏ được trồng dày có tác dụng như vật chắn sống ngăn chặn sự rửa trôi của đất khi có mưa lớn Những vật chắn sống được hình thành bằng các đia cây xanh làm cho đất luôn màu mỡ, rễ cây ăn sâu xuống đất và hts lấy chất dinh dưỡng Lá cây họ đậu rụng xuống tạo thêm dinh dưỡng cho lớp đất mặt, ở đây lá đóng vai trò như “phân xanh” Có rất nhiều loại cây được trồng theo băng xanh nhưng cây được lựa chọn nhiều nhất là keo lai, và cây bụi như lại dại Thông thường đây là những cây mọc nhanh và là nguồn phân xanh rất tốt b)Mô hình trồng xen canh giữa các vườn cây

Phía trên vẫn là các khu vực rừng phục hồi sau nương rẫy được khoanh nuôi

-Chè được trồng theo đường đồng mức:

Chè là loại cay được trồng phổ biến trên địa bàn do có lãi suất cao được ứng dụng ở nhiều nơi trong nước Mô hình trồng chè theo đường đồng mức giúp cải tạo đất dốc và chống xói mòn

-Xen đó trồng thêm Táo mèo trên các băng đất trống Táo mèo là loại cây đặc sản rất thích hợp trồng tại khu vực nghiên cứu Vừa tận dụng được nguồn đất còn trống lại tăng độ phì cho đất, cũng như thu nhập cho người dân c) Mô hình trồng xen cây keo lai với cây nông nghiệp

Kết luận

1.1 Đặc điểm kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và kinh nghiệm quản lý đất bỏ hóa

Do địa hình phức tạp nên hiện trạng sử dụng đất đai ở khu vực chủ yếu là canh tác nương rẫy, mới chỉ có 14 hộ áp dụng phương pháp nông lâm kết hợp

Tại xã Háng Đồng, người H’Mông đã tích lũy được các kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy Những kiến thức này qua điều tra thực tế cho thấy chúng không được lưu giữ qua sách vở mà chỉ bằng hình thức truyền miệng Các kinh nghiệm được đúc kết qua quá trình sản xuất như quá trình khai khẩn, quá trình canh tác, thu hái đều được truyền từ đời này sang đời khác Họ học tập các kinh nghiệm của những hộ có năng suất cao trong sản xuất và áp dụng vào cho gia đình của mình Ở nơi đây, khi chuẩn bị khai khẩn nương rẫy thì người đàn ông sẽ là người đi tìm vị trí thuận lợi để bắt đầu quá trình canh tác Họ đã biết dựa vào chỉ thị thực vật, màu sắc của đất để chọn được ra những mảnh đất thích hợp cho sản xuất Điều đặc sắc trong quá trình canh tác là cùng một hốc người H’Mông bỏ chung nhiều loại hạt của các loài cây khác nhau Đây chính là nét riêng của tập quán canh tác nương rẫy của người H’Mông mà không tìm thấy ở các dân tộc khác

Các kinh nghiệm bỏ hóa của người dân ở đây chủ yếu là bỏ hóa tự nhiên, bởi quá trình canh tác nương rẫy của họ phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên ưu đãi là chính Cho nên khi đất thoái hóa bạc màu họ sẵn ràng bỏ vùng đất đó đi tìm một vùng đất mới Tuy nhiên những nương ở thấp hoặc gần nhà thì người dân lại chú trọng cải tạo phục hồi bằng cách chuyển chúng sang ruộng bậc thang để trồng hoa màu, hay làm vườn cây thuốc, cây ăn quả

1.2.Đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau canh tác nương rẫy a.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa sau 5 năm

Qua điều tra nghiên cứu cho thấy quá trình phục hồi rừng ngắn, cho nên sau 5 năm vẫn chưa hình thành rừng.Tại đây chỉ có tầng cây tái sinh và cây bụi là chủ yếu Tổng cộng có 14 loài trong đó có 9 loài tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh, chất lượng tái sinh trung bình, mật độ dao động trong khoảng từ 630 -1300 cây/ha Tầng cây bụi thảm tươi phát triển tốt, với độ che phủ bình quân là 50,87% b.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa từ 5 – 10 năm

-Đặc điểm tầng cây gỗ

+Về tổ thành rừng tại khu vực nghiên cứu có nhiều loài tham gia vào công thức tổ thành Chủ yếu là các loài cây ưa sáng, mọc nhanh, chất lượng gỗ thấp Tổng số có 23 loài trên 06 OTC điều tra, các loài cây tham gia vào công thức tổ thành chủ yếu là: Tống quả sủ, Sau sau, Mé cò ke, Sổ bà, Kháo, Chân chim, Bùm bụp, Trâm trắng Tuy nhiên tại QXTV rừng chưa hình thành được ưu hợp thực vật

+Về mật độ, độ tàn che: Mật độ trung bình là 500 cây/ha Độ tàn che của rừng phục hồi sau nương rẫy tương đối thấp là 0,26

Về phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) tuân theo quy luật phân bố của hàm khoảng cách Trạng thái rừng bỏ hóa từ 5-10 năm còn tuân theo quy luật của hàm Mayer với cỡ kính tập trung từ 7-11cm Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H) không tuân theo quy luật phân bố đã khảo sát Nguyên nhân là do rừng không có sự phân hóa về chiều cao một cách rõ ràng

-Đặc điểm tái sinh tự nhiên: Có 5 loài tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh Tống quả sủ, Sau sau, Hoắc quang, Bời lời, Trâm trắng Phân bố số cây theo chiều thẳng đứng tập trung đều ở các cỡ chiều cao

-Đặc điểm cây bụi thảm tươi: Ở quần xã thực vật rừng bỏ hóa cây bụi thảm tươi phát triển tốt Các loài cây bụi thảm tươi chủ yếu là Dương xỉ, Dong riềng, Đơn nem, Guột, Mâm xôi, Lấu, Dum nhọn, Cỏ chân gà, Cỏ tranh, Cỏ đắng… chiều cao trung bình 0,66m, độ che phủ bình quân là 62,85% c.Đặc điểm cấu trúc QXTV rừng bỏ hóa trên 10 năm

-Đặc điểm tầng cây gỗ

+Về tổ thành rừng:Không có sự khác biệt so với QXTV rừng bỏ hóa từ

5 -10 năm Các loài cây chủ yếu Tống quả sủ, Mé cò ke, Sau sau, Thành ngạnh, Dẻ trắng ,tại QXTV rừng đã hình thành được ưu hợp thực vật

+Về mật độ, độ tàn che: Mật độ trung bình là 610cây/ha Độ tàn che của rừng phục hồi sau nương rẫy tương đối thấp là 0,38

Về phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) tuân theo quy luật phân bố của hàm khoảng cách, cỡ kính tập trung từ 7,5-13,5 cm Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H) không tuân theo quy luật phân bố đã khảo sát

-Đặc điểm tái sinh tự nhiên:Có 9 loài tham gia vào công thức tổ thành là các loài Hu đay, Kháo vàng, Mần tang, Sổ bà, Chân chim, Tống quả sủ, Trâm trắng, Tu hú, dẻ trắng Phân bố số cây theo chiều thẳng đứng tập trung tương đối đều ở các cỡ chiều cao

-Đặc điểm cây bụi thảm tươi: chiều cao trung bình là 0,53m, độ che phủ mặt đất bình quân 66,06% So với thảm thực vật rừng bị bỏ hóa 5 – 10 năm thì chiều cao của tầng cây bụi thảm tươi đã giảm xuống nhưng độ che phủ lại tăng lên

1.3.Những sản phẩm phục vụ cho sinh kế của người dân từ TTV rừng bỏ hóa

Thảm thực vật rừng bỏ hóa không phải nguồn sinh kế chính của người dân Tuy nhiên chúng cũng góp một phần nhỏ cải thiện đời sống của người dân trong bản

Là nguồn cung cấp thực phẩm cho các hộ dân tại đây, khi mùa măng tới họ vào rừng khai thác măng không chỉ phục vụ thức ăn cho gia đình, nhiều hộ còn tăng thu nhập nếu khai thác được nhiều sẽ mang xuống chợ huyện bán Mắc kén là một loại gia vị có giá trị đối với các hộ dân trong vùng, sử dụng để chế biến món ăn hấp dẫn hơn, và cũng là một mặt hàng thương phẩm có giá trị Táo mèo ngoài giá trị làm thức ăn có thể làm thuốc, ngâm rượu chữa một số bệnh như chán ăn, béo phì… có thể sử dụng một chút rượu Táo mèo, tinh dầu Táo mèo giúp lưu thông mạch máu, cung cấp ô xy lên các tế bào cơ tim

Là nguồn cung cấp gỗ trụ mỏ, rầm nhà có thể sử dụng một số loại gỗ như Trám trắng, Trâm trắng, Sau sau…

Cung cấp vật liệu làm vách nhà từ nứa của thảm thực vật bỏ hóa, bằng cách đan chúng lại để dựng vách nhà

Ngoài ra thảm thực vật rừng bỏ hóa còn là nguồn thức ăn cho trâu, bò, dê, ong nuôi

1.4 Đề xuất các giải pháp chuyển hóa thành rừng nông lâm kết hợp

- Lựa chọn biện pháp kỹ thuật: Biện pháp sử dụng đất sau bỏ hóa diện tích đất lâm nghiệp biện pháp như tái sinh, cải tạo, nuôi dưỡng rừng, kết hợp với các mô hình nông lâm kết hợp để sản xuất kinh doanh sử dụng đất một cách hiệu quả nhất Biện pháp sản xuất nông nghiệptrồng cây hoa màu, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp Biện pháp chăn nuôi: đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc tạo thu nhập hàng năm và đồng thời giải quyết nhu cầu sức kéo cho người dân và nguồn phân bón cho cây trồng

-Lựa chọn mô hình chuyển hóa thành rừng NLKH: Mô hình canh tác theo đường đồng mức với băng cây xanh, mô hình trồng xen canh giữa các vườn cây, mô hình trồng xen cây keo lai với cây nông nghiệp

-Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của việc chuyển hóa quần xã thực vật rừng bỏ hóa thành rừng NLKH:

Tồn tại 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Vì điều kiện thời gian có hạn nên đề tài còn một số tồn tại sau:

Diện tích rừng tự nhiên bỏ hoa sau canh tác nương rẫy tại Xã Háng Đồng tương đối lớn nhưng mới chỉ nghiên cứu trên đối tượng điển hình nhất, nên không thể bao quát hết được tình hình cụ thể của rừng trên phạm vi toàn huyện

Nghiên cứu độ tàn che mang tính chất định tính nên chưa có độ chính xác cao Đề tài chưa đủ điều kiện để nghiên cứu đặc điểm của các tầng đất để đưa ra những đề xuất cụ thể cho từng quần xã thực vật rừng Đề xuất biện pháp kỹ thuật mới chỉ mang tính tổng quát, chưa cụ thể hóa từng biện pháp và cách xử lý

Bố trí các ô mẫu nghiên cứu ở nhiều trạng thái hơn nữa, để có kết luận khách quan hơn về thực trạng phục hồi rừng sau nương rẫy bỏ hóa Độ tàn che cần nghiên cứu theo hình thức vẽ trắc đồ tính toán để có kết quả chính xác hơn Điều tra các đặc điểm tầng đất tại các thảm thực vật rừng bỏ hóa, để có giải pháp đề xuất cụ thể hơn

Các đề xuất cần mang tính chất chi tiết, có khả năng thực hiện dễ dàng và đạt hiệu quả cao nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt

1 Trần Thanh Bình (1999), Một số vấn đề về mối quan hệ kinh tế - xã hội và sinh thái nông thôn miền núi Việt Nam, Trường đại học Lâm nghiệp, kết quả nghiên cứu khoa học 1995-1999 NXB Nông nghiệp, Hà Nội

2 Trần Thanh Bình (1999), Nhận biết thực trạng và khuyến nghị nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La, Trường Đai học Lâm Nghiệp Kết quả nghiên cứu khoa học 1995-1999 NXB Nông nghiệp, Hà Nội

3 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Bài giảng kỹ thuật chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp Cục Kiểm lâm

4 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Chiến lược phát triển

Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, NXB Nông nghiệp Hà

5 Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (2004), Chương chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng tại Việt Nam Cẩm nang ngành

Lâm nghiệp, Chương trình Hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác, NXB Giao thông vận tải Hà Nội

6 Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn(2004), Chương trình Lâm sản ngoài gỗ Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác NXB Giao thông vận tải Hà Nội

7 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Chương quản lý rừng bền vững Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành

Lâm nghiệp và đối tác, NXB Giao thông vận tải Hà Nội

8 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Chương Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác, NXB Giao thông vận tải Hà Nội

9 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Chương Sản xuất Nông lâm kết hợp ở Việt Nam Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác, NXB Giao thông vận tải Hà Nội

10 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Chương Thương mại và tiếp thị Lâm sản Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác, NXB Giao thông vận tải Hà Nội

11 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007), Đề án Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy giai đoạn 2008-2012

12 Bộ Lâm nghiệp (1995) Các phương án kỹ thuật cho phát triển nương rẫy trong vùng đầu nguồn sông Đà và các tiêu chuẩn cho tính bền vững

Tài liệu làm việc số 2 của Chương trình Hợp tác kỹ thuật Việt Nam- Đức, Dự án phát triển Lâm nghiêp xã hội song Đà, Bộ Lâm nghiệp GTZ/GFA

13 Phạm Văn Điển (2009), Sổ tay quản lý rừng đầu nguồn ở Việt Nam

Trường đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội

14 Nguyễn Thanh Hà (2006), Giải pháp chuyển hóa nương rẫy thành rừng nông lâm kết hợp cung cấp lâm sản ngoài gỗ ở vùng hồ huyện Mường la- Tỉnh Sơn la Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

15 Võ Đại Hải (Chủ biên), Nguyễn Đình Quế, Phạm Ngọc Thường (2003),

Canh tác nương rẫy và phục hồi rừng sau nương rẫy ở Việt Nam Viên

Nghiên cứu và phổ biến kiến thức Bách khoa, Tủ sách hồng phổ biến kiến thức Bách Khoa NXB Nghệ An

16 Hội bảo vệ Thiên nhiên và môi trường Việt Nam (2006), Tìm lại chiếc áo khoác cho đất

17 Đặng Tùng Hoa(2006) Nghiên cứu sử dụng tài nguyên rừng theo quan điểm sinh thái văn hóa ở khu vực miền núi Yên Châu, vùng Tây Bắc

Việt Nam dưới khía cạnh nghiên cứu về giới của các dân tộc Thái, H’mông, và Kinh- Luận án Tiến sỹ ( Bản dịch từ tiếng Đức) Đại học

18 Phạm Xuân Hoàn ( Chủ biên), Triệu Văn Hùng, Phạm Văn Điển, Nguyễn

Trung Thành, Võ Đại Hải (2004), Giáo trình Lâm học nhiệt đới, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội

19 Nguyễn Hoàn (2009), Mô hình nông lâm kết hợp bảo tồn phát triển rừng –

Bài viết trên trang tin Khoa học Công nghệ Bảo Vĩnh Phúc, ngày 23/07/2009

20 Lê Quốc Huy (2005), Phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thực vật Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kết quả khoa học Công nghệ và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới tập 5: Lâm nghiệp, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội

21 Phan Nguyên Hy(2003), Xây dựng mô hình cấu trúc và sinh trưởng áp dụng cho các lâm phần thông Nhựa ( Pinus merkusi) ở Tỉnh Thừa Thiên Huế, với sự trợ giúp của phần mềm SPSS, Luận văn thạc sỹ

22 Phạm Ngọc Giao(1996) Mô phỏng động thái một số quy luật kết cấu lâm phần và ứng dụng của chúng trong điều tra và kinh doanh rừng Thông đuôi ngựa vùng Đông bắc Việt Nam, Luận án PTSKHNN

23 Ngô Kim Khôi(1998) Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội

24 Phùng Ngọc Lan và Hoàng Kim Ngũ (1995) Sinh thái rừng, Đại học Lâm nghiệp

25 Loeschau (1961), Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn loài lá rộng thường xanh nhiệt đới, Nguyễn Văn Khanh và

26 Nguyễn Ngọc Lung(1989), Những cơ sở bước đầu để xây dựng quy phạm khai thác gỗ, Một số kết quả nghiên cứu KHKTLN, 1976, 1985, NXB

27 Nguyễn Ngọc Lung(2001) Báo cáo khảo sát về Lâm nghiệp cộng đồng và chính sách lâm nghiệp tại Sơn La, Lai Châu Báo cáo tư vấn trong nước số 13 Dự án phát triển Lâm nghiệp xã hội (SFDP) sông Đà

28 Phạm Nhật (2001) Đa dạng sinh học, Trường Đại học Lâm nghiệp

Ngày đăng: 16/05/2021, 22:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm