1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật trồng thâm canh cây bương mốc (dendrocalamus sp1) tại huyện ba vì hà nội

94 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vì vậy, để góp phần làm cơ sở khoa học phát triển cây Bương mốc tại Ba Vì nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân địa phương, đồng thời góp phần vào việc phòng hộ và bảo vệ

Trang 1

VŨ QUỐC PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ KỸ THUẬT

TRỒNG THÂM CANH CÂY BƯƠNG MỐC (Dendrocalamus sp1)

TẠI HUYỆN BA VÌ - HÀ NỘI

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60620201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN HUY SƠN

Hà Nội - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng, được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác Các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Mọi sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân cho việc hoàn thành luận văn đều được tác giả chân thành cảm ơn

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Hà Nội, tháng 3 năm 2013

Người làm cam đoan

Vũ Quốc Phương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật trồng thâm canh cây Bương Mốc(Dendrocalamus sp1) tại huyện Ba Vì – Hà Nội” được hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc sỹ khóa 2010 - 2012 tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp; Khoa đào tạo sau đại học; Các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp; Các anh, chị, em, bạn bè đồng nghiệp ở Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản Nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm và giúp đỡ quý báu đó Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn ThS Lê Văn Thành đã cho tác giả kế thừa số liệu và làm cộng tác viên của đề tài để hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Huy Sơn, người thầy đã hướng dẫn nhiệt tình, truyền đạt kinh nghiệm quý báu, những ý tưởng trong nghiên cứu khoa học và giúp tác giả hoàn thành luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng và nỗ lực, nhưng kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, đặc biệt là hạn chế về mặt thời gian trong quá trình nghiên cứu nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được

sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để cho luận văn được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Vũ Quốc Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hính, sơ đồ, biểu đồ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.1.1 Phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới 3

1.1.2 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống tre trúc 3

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc 9

1.1.4 Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng măng và thân khí sinh 11

1.1.5 Nghiên cứu về cây Bương mốc 14

1.2 Trong nước 15

1.2.1 Phân loại và phân bố các loài tre trúc ở Việt Nam 15

1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật chọn và nhân giống tre trúc 15

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc 15

1.2.4 Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng măng và thân khí sinh 16

1.3 Nghiên cứu về cây Bương mốc 17

1.4 Thảo luận 18

Trang 5

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Mục tiêu 19

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 19

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 19

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.3.1 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái cây Bương mốc tại Ba Vì 19

2.3.2 Đánh giá thực trạng gây trồng, khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng Bương mốc tại Ba Vì 20

2.3.3 Nghiên cứu kỹ thuật chiết cành và giâm hom cây Bương mốc 20

2.3.4 Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh cây Bương mốc 20

2.3.5 Nghiên cứu kỹ thuật phục tráng rừng Bương mốc đã già cỗi 20

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quát 20

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 21

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI - KHU VỰC NGHIÊN CỨU 30

3.1 Vườn Quốc gia Ba Vì 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội vùng đệm 34

3.2 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì 35

3.2.1 Vị trí địa lý và địa hình 35

3.2.2 Khí hậu thuỷ văn 36

Trang 6

3.2.3 Đất đai 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Đặc điểm sinh thái cây Bương mốc tại Ba Vì 38

4.1.1 Đặc điểm khí hậu 38

4.1.2 Đặc điểm đất đai 39

4.1.3 Một số đặc điểm địa hình nơi gây trồng Bương mốc 43

4.2 Thực trạng gây trồng, khai thác, chế biến và tiêu thụ măng Bương mốc tại Ba Vì 44

4.2.1 Về diện tích gây trồng 44

4.2.2 Kỹ thuật trồng 45

4.2.3 Khả năng sinh trưởng của Bương mốc 48

4.2.4 Thực trạng kỹ thuật khai thác và chế biến măng 50

4.2.5 Thực trạng thị trường tiêu thụ măng Bương mốc 52

4.3 Kỹ thuật chiết cành và giâm hom Bương mốc 54

4.3.1 Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành Bương mốc 54

4.3.2 Kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp giâm hom Bương mốc 63

4.4 Kết quả bước đầu của 1 số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh 66

4.4.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng phát triển của cây Bương mốc 66

4.4.2 Ảnh hưởng đồng thời của loại giống và phân bón đến sinh trưởng của Bương mốc 70

4.5 Kỹ thuật phục tráng rừng Bương mốc già cỗi 73

4.5.1 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất măng trên mô hình cải tạo 73

4.5.2 Ảnh hưởng của biện pháp chặt tỉa cây già đến năng suất măng 75

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

5 D buị Đường kính bụi

6 F Tiêu chuẩn Fisher

7 H vn Chiều cao vút ngọn

8 HSSM Hệ số sinh măng

10 IBA Indole Butyic Acid

11 NAA Naphthalence acetic acid

13 NXB Nhà xuất bản

14 OTC Ô tiêu chuẩn

15 ppm Đơn vị tính nồng độ (phần triệu)

16 PTPS Phân tích phương sai

17 S Sai tiêu chuẩn

18 SPSS Statistical Products for Social Services

19 TB Trung bình

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Đặc điểm khí hậu khu vực đã trồng Bương mốc ở Ba Vì năm 2009 38 4.2 Tính chất vật lý của đất dưới tán rừng Bương mốc 41 4.3 Tính chất hóa học của đất dưới tán rừng Bương mốc 42

4.5 Kết quả tổng hợp kinh nghiệm và các biện pháp kỹ thuật trồng

4.6 Khả năng sinh trưởng của Bương mốc ở các vị trí khác nhau 49 4.7 Giá bán măng trong 3 năm (2009 -2011) ở thôn Yên Sơn 53 4.8 Ảnh hưởng của tuổi cành và nồng độ thuốc đến tỉ lệ ra rễ 55 4.9 Chất lượng rễ của cành chiết ở các tuổi và nồng độ IBA khác nhau 57

4.10 Ảnh hưởng của loại thuốc kích thích ra rễ đến tỷ lệ ra rễ của cành

4.12 Kết quả sau 50 ngày giâm hom với 2 loại hom khác nhau 64 4.13 Bảng kết quả sau 50 ngày với các loại thuốc và nồng độ khác nhau 65 4.14 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng giống gốc 67

4.15 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng bằng

4.16 Ảnh hưởng của giống và phân bón đến sinh trưởng của Bương mốc 71 4.17 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất măng 73 4.18 Ảnh hưởng của chặt bỏ cây già đến năng suất măng 76 4.19 Ảnh hưởng của thời gian để cây mẹ đến năng suất măng 77

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

4.6 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với IBA (500ppm) 56

4.8 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với IBA (500ppm) 60 4.9 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với IBA (1000ppm) 60 4.10 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với IBA (2000ppm) 60 4.11 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với IBA (1500ppm) 61 4.12 Cành 1 năm tuổi sau 2 tuần chiết với NAA (2000ppm) 61 4.13 Bương mốc trồng bằng giống gốc sau 1 tháng 72 4.14 Bương mốc trồng bằng giống cành sau 1 tháng 72 4.15 Giống gốc và giống cành sau khi trồng 3 tháng 72

4.1 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của tuổi cành và nồng độ thuốc đến

4.2 So sánh tỷ lệ ra rễ giữa cành 1 năm tuổi và cành 2 năm tuổi khi

Trang 10

4.3 Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của loại thuốc kích thích ra rễ đến

4.4 So sánh tỷ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm theo các

4.6 Tỷ lệ ra rễ của các loại thuốc với các nồng độ khác nhau 66

Trang 11

và tre trúc đã trở thành loài cây quan trọng đối với người dân nghèo nông thôn (Rao and Rao,1999) [19]

Việt Nam có thành phần loài tre khá phong phú, nhưng hiện nay chỉ mới có một số ít loài được nghiên cứu gây trồng như Luồng, Diễn trứng, Vầu

đá, Tre gai…Bương mốc là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao từ 13-15m, đường kính từ 20-25cm Loài tre này được người Dao mang đến vùng Ba Vì trồng trên sườn và chân núi Ba Vì khoảng

100 năm trước đây khi họ di cư đến vùng này Diện tích trồng tập trung chủ yếu ở một số xã vùng đệm của vườn Quốc gia Ba Vì Bương mốc cho măng

ăn ngon, năng suất cao, nên giá trị cao hơn so với các loài tre cho măng khác trong vùng, kể cả tre Bát độ nhập từ Trung Quốc, kỹ thuật chăm sóc Bương mốc lại đơn giản, không cần phải thâm canh với cường độ cao như tre Bát độ Nhưng hiện nay việc gây trồng loài cây này còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc mở rộng diện tích gây trồng do hệ số nhân giống thấp, chủ yếu nhân giống bằng gốc, mỗi cây chỉ cho 1 hom gốc, nên số lượng giống cung cấp cho sản xuất còn rất hạn chế Bên cạnh đó những hiểu biết về đặc điểm sinh thái cũng như kỹ thuật trồng thâm canh của loài cây này còn chưa đầy đủ Chính

Trang 12

vì vậy, để góp phần làm cơ sở khoa học phát triển cây Bương mốc tại Ba Vì nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân địa phương, đồng thời góp phần vào việc phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái cho khu vực vùng ven thủ đô Hà Nội thì việc nghiên cứu đặc điểm sinh thái, phương pháp nhân giống và kỹ thuật trồng thâm canh loài cây này là rất cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tế sản xuất

Đề tài luận văn này là một trong những nội dung quan trọng của đề tài cấp thành phố (Hà Nội) do Thạc sỹ Lê Văn Thành là chủ nhiệm, thực hiện tại Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2010 đến nay, tác giả là cộng tác viên của đề tài Tuy đề tài chưa tổng kết nhưng được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, tác giả luận văn kế thừa số liệu và mô hình, đồng thời bổ sung thêm một số thông tin khác để hoàn thành luận văn thạc sỹ theo chương trình đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam khóa 2010 –

2012

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Phân loại và phân bố các loài tre trúc trên thế giới

Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hòa thảo (Poaceca hoặc

có khi còn gọi là Gramineae) Chúng được tìm thấy phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000m so với mặt nước biển, song tập trung ở vùng thấp và đai cao trung bình, mọc hoang dại hoặc được gây trồng, đặc điểm nổi bật của chúng có mặt trong nhiều hoàn cảnh sinh thái khác nhau (Dransfield and widjaja, 1995) [32] Trên thế giới tre trúc có khoảng 1250 loài thuộc 75 chi và có mặt ở mọi châu lục, trừ châu Âu Trong đó, châu Á có số lượng loài phong phú nhất với khoảng 900 loài thuộc

65 chi (Rao and Rao, 1999) [19] Ở châu Á thì Trung Quốc là nước có nhiều loài tre trúc nhất với 500 loài thuộc 39 chi Sau Trung Quốc là Indônexia với

135 loài thuộc 21 chi và xếp thứ 3 là Ấn Độ có 130 loài, thuộc 18 chi Theo Dransfield and widjaja (1995) [32] thì ở Đông Nam Á có khoảng 200 loài tre, thuộc 20 chi Trong đó chi Bambusa có nhiều loài nhất, khoảng 37 loài, sau

đó đến chi Schizostachyum khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus có khoảng

29 loài Bên cạnh đó có tới 8 chi tre trúc ở Đông Nam Á chỉ có từ 1 đến 2 loài

Theo nghiên cứu của A.N Rao và V Ramanatha (2000) [20] cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có thể áp dụng với hầu hết các loài

Trang 14

tre Nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành là một phương pháp có thể

sử dụng với tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp phổ biến cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn Phương pháp này thường được sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn cành nhỏ Các rễ khí sinh thường ít, nhỏ, nhưng trái lại ở trong đất chúng lớn hơn và mọc thành cụm Khả năng ra rễ của mỗi loài là khác nhau và phụ thuộc vào kích thước của đoạn hom và độ dày vách của lóng Tre vách dày có khả năng ra rễ cao hơn vì có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho hom nhiều hơn Khi nghiên cứu

nhân giống cho loài Bambusa vulgaris, tác giả đã chỉ ra rằng hom cành 2-3

năm tuổi là vật liệu tốt nhất để nhân giống, mỗi hom phải có ít nhất một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt sát ở cổ, cho vào túi bầu Polyetylen có kích thước thích hợp bao gồm hỗn hợp đất trộn lẫn xơ dừa vụn với tỷ lệ 1:5, tưới nước thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cho vào túi, sau 3-4 tuần thì bắt đầu ra chồi và ra rễ

Nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc năm 2001 [21]

đã cho thấy sử dụng các hom cành to cho tỷ lệ sống cao và đạt tới 83,75%, nếu sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống rất thấp, chỉ khoảng 10% Hom cành có thể lấy ở cây 1 năm tuổi, có trên 2 mắt, đường kính cành khoảng 1cm, chiều dài hom khoảng 30cm và cắt vát ở phần trên với góc 45 độ, để lại 3-5 lá trên cành

lá hoặc rơm rạ và tưới nước đủ ẩm hàng ngày Tác giả cho rằng nhân giống

Trang 15

bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không hoặc có rất ít tổn thương và khả năng ra măng ở gốc cây mẹ Thời vụ giâm hom có thế tiến hành vào tháng 2 đến tháng 9 hàng năm, tốt nhất từ tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành lấy hom có kích cỡ nhỏ thường dễ dàng xử lý, vận chuyển và có chi phí thấp hơn cành lớn Trồng cây hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao

Một nghiên cứu khác của trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [23] cho thấy nhân giống hom vào mùa xuân từ tháng 3-4 thì tốt hơn

vì nhiệt độ và độ ẩm thời gian này thường cao, thuận lợi cho hom nảy chồi và cây mẹ không sinh măng trong thời gian này, do đó giàu dinh dưỡng để cung cấp cho hom cành, vì vậy cho tỷ lệ hom sống cao Vào mùa thu khi măng đã lên cao, chất dinh dưỡng giảm Nếu sử dụng cành trong thời gian này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ Vì vậy, tỷ lệ sống rất thấp Giâm hom bằng cành chỉ chọn những cành chính tròn mập, mắt khoẻ từ 3 năm tuổi, đường kính lóng cành lớn hơn 1cm Sau khi cắt hom cành được ngâm trong nước để ở nơi râm mát, sau khi ngâm vào thuốc kích thích ra rễ NAA (20-100ppm) trong 12 giờ Tạo rãnh sâu 30cm và rộng 30cm để giâm cành với khoảng cách từ 15-18cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có lá thò lên trên mặt đất Giẫm đất chặt xung quanh và phủ rơm rạ, tưới nước đủ ẩm

* Giâm hom thân khí sinh:

Victor Cusack (1997) [31] nghiên cứu sử dụng hom thân cho thấy tỷ lệ thành công của nhân giống bằng hom thân có sự khác nhau giữa các loài tre

và phụ thuộc vào các biện pháp kỹ thuật áp dụng, thời gian nhân giống tốt nhất thường vào mùa xuân Chọn những cây mẹ trưởng thành khoảng 2-3 năm tuổi, cắt thành các đoạn với chiều dài từ 1,5-2m, cắt bỏ tất cả các cành và

lá, có thể để lại các cành chính ở một số đốt Đoạn hom thân được giâm trong rãnh đất ở độ sâu 15cm, các cành dài để nhô lên khỏi mặt đất, tưới nước hàng ngày trong tuần đầu, sau đó trong khoảng 3 tuần tiếp theo mỗi tuần tưới 2 lần,

Trang 16

thường xuyên giữ đất đủ ẩm ở những tuần kế tiếp Sau 4 tuần thì bắt đầu xuất hiện cành và lá mới phát triển từ các mắt, nếu gặp điều kiện thuận lợi rễ sẽ phát triển và tạo thân ngầm và măng mới Tác giả đã đề xuất sử dụng 2 loại hom là hom thân 1 đốt và hom thân 2 đốt

A.N Rao và V Ramanatha Rao (2000) [20] nghiên cứu về giâm hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các

loài tre có vách dày và kích thước lớn (đường kính từ 8-12cm) như Bambusa

blumeata… Chọn những cây 1 năm tuổi để nhân giống bằng hom thân, có thể

cắt đoạn hom có từ 1 đến 2 đốt Hom được cắm xuống đất với một góc 450 và

độ sâu 20cm Phần đốt được đặt trong các môi trường ra rễ với một mắt hở ở bên trên, tưới nước đủ ẩm 2 lần/ngày, sau 2 - 4 tuần chồi mới có thể xuất hiện

Khi nghiên cứu nhân giống hom thân 1 đốt, Fu Maoyi và cộng sự (2000) [26] cũng cho thấy nên chọn cây mẹ từ 1 - 2 năm tuổi, hạ cây và cắt thành từng khúc, mỗi khúc có từ 1 - 2 lóng Nếu cây mẹ có đường kính khoảng 4cm thì có thể chọn được ra 10 đốt để làm hom Nếu cây mẹ có đường kính ≥ 6cm có thể chọn từ 15 – 20 đốt để làm hom Sau khi chọn được đoạn hom làm giống, vận chuyển đến vườn ươm phải cẩn thận, tránh làm tổn thương các hom, nhất là tổn thương các mắt ngủ Hom được cắt ở phần lóng, cách đốt có mắt về 2 phía từ 6 – 9cm Khi giâm hom cần phải tủ lên trên luống bằng rơm rạ để giữ ẩm Tưới nước đủ ẩm hàng ngày Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra rằng các loài tre có vách mỏng thường nhân giống bằng phương pháp này cho tỷ lệ thành công thấp, chỉ đạt khoảng 30% Vì vậy phương pháp này áp dụng cho các loài tre vách dày thích hợp hơn

Fu Maoyi và cộng sự (2000) [26] đã đưa ra một phương pháp nhân giống bằng cách chặt ngọn của những cây tre non đã đạt chiều cao tối đa để kích thích sự phát triển của mắt Khi mắt đủ lớn, ngả cây xuống luống có độ rộng và độ sâu từ 10-15cm, phủ cây bằng hỗn hợp phân bón và đất dày từ 2-3

Trang 17

cm sau đó phủ tiếp một lớp cỏ khô Tưới nước thường xuyên để giữ ẩm Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cây được ngả từ tháng 2 -3 măng sẽ mọc từ tháng 4 -5 và rễ sẽ phát triển vào tháng 7 – 8 Sau 1 năm cây đạt chiều cao khoảng 120cm và có thể đem trồng Phương pháp này được khuyến cáo áp dụng cho các loài tre có vách dày trung bình Ngoài ra, ông cũng đưa thêm phương pháp nhân giống hom thân 2 đốt Trong phương pháp này việc lựa chọn cây mẹ, lựa chọn số đốt để làm hom, cách cắt hom cũng tương tự như phương pháp nhân giống hom thân1 đốt, chỉ khác ở chỗ mỗi khúc sẽ bao gồm

2 đốt Nhân giống với 2 đốt có thể cho tỷ lệ sống của cây cao hơn so với loại

1 đốt nhưng thấp hơn so với toàn bộ cây

* Nhân giống gốc:

Nhân giống gốc được một số tác giả đánh giá là có tỷ lệ thành công cao Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu của Zhou Fangchun (2000) [30] chỉ ra rằng sử dụng giống

gốc thích hợp cho các loài thuộc các chi Bambusa, dendrocalamus,

sinocalamus… Gốc được lựa chọn từ những cây khoẻ mạnh, từ 2-3 năm tuổi,

không sâu bệnh Chọn gốc có một ít rễ, cắt phần thân khí sinh chỉ để lại chiều dài khoảng 1m, giữ lại rễ, thân ngầm và 5-6 cành lá ở các đốt gần gốc

Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [31] cho thấy nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ sống 100% Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ Trong phương pháp này, gốc được đào bao gồm rễ

và phần đất xung quanh, mỗi gốc có từ 3-4 mắt, phần trên của thân khí sinh

để lại từ 3-4 đốt

Nghiên cứu của A.N Rao và V Ramanatha Rao (2000) [20] cũng cho thấy nhân giống tre sử dụng giống gốc 1 năm tuổi là tốt nhất, vì gốc có khả năng ra rễ mạnh nhất Phương pháp này thành công ở các loài tre vách dày, trồng tốt nhất vào mùa mưa Tác giả cũng cho thấy có khoảng 3-7 mắt to của

Trang 18

gốc cây mẹ 1 năm tuổi có xu hướng sinh măng đồng thời, nhưng chỉ 1 hoặc 2 mắt mọc hoàn chỉnh Đây là một hạn chế của phương pháp trồng thân củ, ngoài ra phương pháp này có chi phí cao và hệ số nhân giống thấp

* Nuôi cấy mô:

Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho các loài tre cũng đã được một số nước trên thế giới thử nghiệm và đã đạt được những thành công nhất định Có thể kể đến một công trình như sau:

Trung tâm nghiên cứu tre Trung quốc (2008) [23] đã đưa ra một số loại môi trường và mô cấy thường được sử dụng là: Phần mô cắt ở mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ xung với đường mía saccarozơ 88 µm, 6g thạch trắng/lít, NAA (2,7; 5,4 hoặc 10,8 µm), và BA (2,2; 4,4; 8,8; 22,0 hoặc 44,0µm) Phần mô lá (1cm2) từ măng non dưới đất được đặt trong môi trường MS bổ xung 2,4 – dichlorophenoxyacetic acid (2,4D) (4,5; 13,5; 27,0; 40,5; hoặc 81,1 µm) và NAA (2,7 hoặc 5,r4µm) Phần mô phân sinh đỉnh cắt từ măng (0,1cm) sử dụng môi trường MS + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5 hoặc 9,0) + NAA (0,54; 2,7 hoặc 5,4) hoặc thay NAA bằng BA (2,2 hoặc 4,4mm) với nước dừa (10%, 20%) Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1cm được nuôi trong tối và sáng trên môi trường MS+ 2,4D (11,3; 22,5; hoặc 45,0 µm) + NAA (5,4µm) Phần hạt non với môi trường MS + BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4; hoặc 8,8) + NAA (2,7 hoặc 5,4) + 2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27)

Kết quả nghiên cứu của Rungnapar Pattanavibool (1998) [29] cho 2

loài tre gồm Dendrocalamus membranaceus và D brandisii tại Thái Lan cho

thấy cây con sau 4 tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu chuẩn cấy ra môi trường ngoài và sinh trưởng tốt trong vườn ươm Nghiên cứu cũng cho thấy nhiều loài tre được phát triển bằng phương pháp nuôi cấy mô đã không có sự bất thường sau khi trồng sau từ 4-6 năm

Trang 19

để ở trạng thái khô nhất định, nhưng mức độ khô phụ thuộc vào từng loài, độ

ẩm phần lớn được giữ ở giới hạn từ 5-12%, hạt được đóng trong túi vải hoặc túi đay và bảo quản lạnh, khô và ở nơi thoáng gió Lưu trữ hạt không quá nửa năm, trong trường hợp cần lưu trữ lâu hơn, có thể bảo quản ở điều kiện lạnh với nhiệt độ từ 0-50C, ở điều kiện này khả năng nảy mầm của hạt giống có thể duy trì được trên 1 năm Xử lý hạt bằng cách rửa bằng nước sạch sau đó tuyệt trùng bằng thuốc tím 0,3% trong 2-3 giờ sau đó rửa lại lần nữa, hạt sau khi xử

lý có thể đem gieo ngay Sau khi hạt nảy mầm 10-15 ngày, tưới phân đạm với nồng độ từ 0,2-0,3%

Nghiên cứu tại Thái Lan (1997) cũng cho thấy hạt tre được bảo quản ở

độ ẩm 5-8%, nhưng nhiệt độ dưới 50C là tốt nhất Tuy nhiên thời gian bảo quản tuỳ thuộc vào từng loài khác nhau

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc

Năm 1998 trong công trình “Bamboo Research and Deverlopment in Thailand” [29] Rungnapar Pattanavibool đã đề cập đến kỹ thuật trồng một số

loài tre trúc lấy măng ở Thái Lan như: Dendrocalamus asper (Pai Tong),

Dendrocalamus brandissi (Pai Bongyai), Dendrocalamus strictus (Pai

Sangdoi), Trong đó, Dendrocalamus asper là loài đã được nhập vào trồng ở

Việt Nam từ thời kỳ chế độ cũ Khi lựa chọn các loài tre trồng rừng công nghiệp, Yang Yuming và các cộng sự (2000) đã sử dụng những tiêu chí về sinh thái và năng xuất để lựa chọn như: đất tốt sẽ cho sản lượng cao, cây to,

Trang 20

đẻ nhiều măng, giá trị sử dụng lớn Đất nghèo, xấu, đồi trọc bạc màu tre vẫn sống được, nhưng sản lượng thấp Tre mọc tản thường ở nơi nhiệt độ bình quân năm trên 14oC, mùa đông trên 4oC, lượng mưa từ 1000mm trở lên

* Về điều kiện đất đai

Theo nghiên cứu của A.N Rao và V Ramanatha Rao (2000) [20] thì đất thích hợp cho gây trồng tre thường là đất thoát nước tốt, đất cát mùn, đất sét pha cát và có nhiều dinh dưỡng, đất bằng phẳng hoặc đất đồi có độ dốc thấp Đất thường có màu vàng, nâu vàng hoặc màu đỏ vàng, tầng đất sâu Tại Bangladesh, một số loài tre được trồng trên đất có độ pH từ 6-8, hoặc đất đồi

có độ pH 4,5-5,5

* Nghiên cứu về phân bón cho tre trúc:

Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2008) [22] cho thấy hàng năm bón phân từ 1 - 3 lần đã làm tăng sản lượng của măng Bón phân lần đầu vào tháng 3, lần 2 vào tháng 8 và lần 3 vào tháng 12

Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [31] về thâm canh một số loài tre

cho thấy đối với loài D asper hàng năm bón 300kg phân NPK (15:15:15) /ha

kết hợp với khoảng 40-60kg rơm rạ hoặc cỏ khô/bụi và 0,65kg silic dioxyt

/ha Đối với loài D latiflorus bón 40kg NPK (40:10:30)/ha và bón 4 lần trong

năm kết hợp 0,65kg silic dioxyt/ha/năm và 20-25kg phân compost trước mùa sinh trưởng Tác giả cho rằng do tre là một loài rễ nông nên bón phân một lượng nhỏ hơn nhưng bón nhiều lần trong năm sẽ tốt hơn Ở Indonesia sau khai thác măng, nông dân thường pha trộn một lượng lớn phân bón cùng với một lớp hữu cơ phủ gốc, bón theo rãnh đào xung quanh bụi khoảng 2m Cách bón này cắt đứt một phần rễ và rễ sẽ phát triển trực tiếp vào rãnh có phân bón

Nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung quốc (2001) [21]

về loài D oldhami cho thấy mật độ trồng tốt nhất là khoảng 600-750 bụi/ha

Trang 21

với kích thước hố cho trồng bằng giống hom cành là 60x50x40cm Trong năm đầu chăm sóc bón phân hỗn hợp hoặc phân Urê mức 0,1-0,2kg cho mỗi bụi vào tháng 9, năm thứ 2 bón 230kg Urê kết hợp với 800kg các nguyên tố Ca,

Mg, P trên 1 ha vào tháng 4 và tháng 9, hàng năm nên bón từ 1-3 lần phân Urê hoặc phân hỗn hợp với liều lượng từ 750-900kg/ha

Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc đã đề xuất mật độ cho loài

Phyllostachys heterocycla là khoảng từ 3000-3750 cây trên ha, trong đó trên

mỗi bụi có 10 cây với tỷ lệ số lượng theo tuổi là 3 cây 1 năm tuổi, 3 cây 2 năm tuổi, 3 cây 3 năm tuổi và 1 cây 4 năm tuổi Cũng theo nghiên cứu này thì hàng năm vào mùa Xuân và mùa Thu bón 375kg/ha phân vô cơ và bón 5000kg phân hữu cơ vào mùa Đông

1.1.4 Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng măng và thân khí sinh

Công trình nghiên cứu “Cultivation of Bamboo”(2008) [23] của Trung

tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc cho thấy sinh trưởng của măng loài D

latiflorus được chia làm 4 thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất kéo dài khoảng 20 ngày,

măng non sinh trưởng chậm và rễ bắt đầu phát triển; Thời kỳ 2 sinh trưởng nhanh hơn; Thời kỳ 3 tỷ lệ tăng trưởng của măng là cao nhất và đạt khoảng hơn 10cm một ngày, có khi đạt tới 30-40cm một ngày Thời kỳ sau cùng, tỷ lệ tăng trưởng của măng chậm dần cho tới khi dừng hẳn Toàn bộ thời kỳ sinh

trưởng của măng D latiflorus dài khoảng 3 tháng và phải mất 10 tháng để

phát triển từ măng đến cây hoàn chỉnh

Công trình nghiên cứu trồng và sử dụng tre ở Trung Quốc (2001) [21] cho thấy sau khi trồng tre, măng sẽ mọc vào tháng 6-7 hàng năm Trong 3 năm đầu nếu được chăm sóc cẩn thận và giữ cấu trúc rừng tre tốt, lượng măng

sẽ ngày càng tăng Không nên chọn lứa măng đầu tiên của năm đầu để lại làm cây mẹ Mặt khác, măng sớm thường nhỏ và khả năng sinh trưởng chậm

Trang 22

Theo kinh nghiệm, măng ra sớm khi đạt độ cao từ 1 – 1,5m cần cắt cách mặt đất 3-6cm Có thể để lại 2 măng khoẻ mạnh vào tháng 8-9 làm cây mẹ Trong năm tiếp theo, trên mỗi cây mẹ 1 năm tuổi giữ lại 2 măng, trong năm thứ 3 để lại 1-2 cây mới trên cây mẹ 2 tuổi và tổng số không nên vượt quá 10 cây/bụi

Về khai thác, măng tươi nên cắt khi đạt chiều cao từ 20-50cm, nếu làm măng khô thì chiều cao có thể đạt từ 1-1,5m Ở giai đoạn đầu và giai đoạn sau của

vụ măng, măng sinh trưởng chậm, định kỳ thu hoạch măng thường từ 5-7 ngày một lần Ở giai đoạn giữa, măng sinh trưởng nhanh nên từ 3-5 ngày thu hoạch một lần Thời gian cắt măng trong ngày tốt nhất là trước lúc mặt trời mọc, vì khi đó nhiệt độ thấp, độ ẩm cao có lợi cho cây mẹ Khi cắt măng cố gắng tránh làm ảnh hưởng đến cây mẹ Sau khi cắt, do gốc còn lại dễ bị nhiễm khuẩn nên không phủ đất ngay mà phải chờ cho đến khi vết cắt khô mới lấp đất

Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2001) [21] đã đưa ra biện pháp tăng sản lượng măng là: Phát quang sao cho các mắt tre phơi

ra sáng vào tháng 2-3 hàng năm để kích thích các mắt mọc chồi sớm và nuôi các chồi khoẻ mạnh, chú ý bảo vệ mắt và rễ tránh các tác nhân gây hại Sau 6-

10 ngày phơi dưới ánh sáng mặt trời, thì tiến hành bón phân phân hữu cơ (hay phân xanh) cho các bụi tre Sự lên men của phân trong đất làm cho nhiệt độ đất tăng, không khí lưu thông, nước được đi qua đất tác động và kích thích măng mọc sớm làm tăng sản lượng măng Nếu bón phân nhiều hơn thì sản lượng của măng sẽ tăng tương ứng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ở giai đoạn sớm và giai đoạn giữa nên sử dụng phân bón tác dụng nhanh nhưng không nên để phân tiếp xúc tới chồi mới để tránh làm tổn thương

Theo nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre Trung Quốc (2008) [22] khai thác măng trong giai đoạn đầu, định kỳ từ 3-5 ngày, ở giai đoạn giữa mùa (giai đoạn tăng nhanh) có thể khai thác hàng ngày và ở giai đoạn cuối

Trang 23

mùa (giai đoạn ngưng) là từ 3-5 ngày Khai thác tất cả măng ở giai đoạn đầu

và cuối, giữ lại một số măng ở giai đoạn giữa mùa làm cây mẹ Khai thác khi đỉnh măng (đầu chót măng) nhô ra khỏi mặt đất từ 3-5cm Trong năm đầu, mỗi bụi chỉ có 2-4 cây mới mọc lên, năm tiếp theo mỗi bụi để lại từ 4-6 măng Vào năm thứ 3, mỗi cây mẹ để lại 2 măng, chặt bỏ tất cả những cây mẹ gốc ban đầu Vào năm thứ 4 khi đã bước vào giai đoạn ổn định thì tốt nhất để lại 5 cây mẹ trên bụi

Nghiên cứu loài D oldhami của trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung

Quốc (2001) [21] cho thấy cây 3 năm tuổi là bước vào giai đoạn ổn đinh, các cây mẹ lớn hơn 3 tuổi cần phải chặt bỏ Chặt những cây ở nơi có mật độ cao

và để lại những cây ở nơi có mật độ thấp Để lại các cây mẹ 1 năm tuổi với cấu trúc hợp lý, những cây 2 tuổi yếu kém cũng cần chặt bỏ, sau đó chặt toàn

bộ cây 3 năm tuổi vào mùa đông Vào tháng 11 khi D oldhami đã ngừng sinh

trưởng và ở vào giai đoạn ngủ là thời gian khai thác thích hợp nhất Nhưng để tích luỹ đủ dinh dưỡng và cây có chất lượng tốt, thời gian khai thác tốt hơn là

từ giữa tháng 12 năm trước tới tháng 2 năm sau Cấu trúc mật độ của

D.oldhami thích hợp trong khoảng từ 600-750 bụi/ha, mỗi bụi giữ lại 7-8 cây

mẹ Mật độ cây đứng khoảng 4000-6000 cây/ha, chủ yếu những cây có đường kính khoảng 5-6cm Cấu trúc tuổi: cây 1 - 2 năm tuổi chiếm 80-90% và 3 năm tuổi là 10-20% Sản lượng măng đạt khoảng từ 7,5-10 tấn/ha, với cấu trúc này sản lượng của thân khí sinh đạt khoảng từ 8-10 tấn/ha

Một nghiên cứu khác về cấu trúc tuổi để tăng sản lượng măng cho loài

D latiflorus tại Trung Quốc [23] cho thấy trong bụi tre cần có các cây từ 1-4

năm tuổi, các cây 1-2 năm tuổi chiếm 80%, cây 3-4 năm tuổi chiếm 20% Nếu

sử dụng thân, các cây mẹ để lại phải có đường kính ≥ 8cm Nếu sử dụng măng, đường kính trung bình của cây mẹ để lại là lớn hơn 6cm Nếu sử dụng

cả măng và thân, đường kính trung bình của cây mẹ để lại phải ≥ 7cm

Trang 24

Sau 10 năm nghiên cứu về sinh lý tre trúc, Koichiro Ueda (1976) [33]

đã cho thấy số măng bị thui hàng năm của loài Phyllostachys edulis chiếm từ 60-80%, loài Phyllostachys reticulata từ 30-50% Vì thế, cần khai thác tận

dụng lấy măng Ngoài ra, cần bón phân hàng năm để nâng cao năng suất măng và thân khí sinh Với công trình “Cultivation & Utilization on Bamboos” Xiao Jianghua (1996) [25] đã xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là:

độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh

Nhìn chung, ở nước ngoài tre trúc được gây trồng với 3 mục đích kinh doanh: chuyên măng, chuyên thân khí sinh hoặc kết hợp kinh doanh cả măng

và thân khí sinh Nhân giống chủ yếu sử dụng cành, thân khí sinh và gốc Các loài tre trúc được kinh doanh chỉ cho năng suất, chất lượng cao khi có tác động bởi một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp Các biện pháp thâm canh tăng năng suất chất lượng được nghiên cứu và thực hiện chủ yếu là: Bón phân, điều chỉnh mật độ khóm/hecta, điều chỉnh số lượng thân khí sinh để lại cho mỗi khóm, mỗi thế hệ, khai thác măng, khai thác thân khí sinh, phòng trừ sâu bệnh cho từng loài cụ thể Ngoài ra, điều kiện khí hậu như lượng mưa, nhiệt độ, điều kiện thổ nhưỡng cũng là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của rừng tre trúc và được chọn làm những tiêu chí khi lựa chọn biện pháp thâm canh Kết quả nghiên cứu của nước ngoài là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt đối với những loài có quan hệ thân thuộc với những loài Việt Nam

1.1.5 Nghiên cứu về cây Bương mốc

Hiện nay trên thế giới chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào nói về cây Bương mốc Vì vậy, đây có thể là một mảng trống, cần phải nghiên cứu

bổ sung

Trang 25

1.2 Trong nước

1.2.1 Phân loại và phân bố các loài tre trúc ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những trung tâm phân bố tự nhiên của các loài tre trúc trên thế giới Hầu hết các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở vùng đồi núi, trong các khu rừng tự nhiên và thường nằm ở tầng thứ 2 trong cấu trúc rừng Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [12] thì Việt Nam có 216 loài tre trúc thuộc 25 chi Theo QĐ 1116/QĐ/BNN – KL đến hết ngày 31/12/2004 tổng diện tích rừng tre trúc ở Việt Nam hiện có là 1.563.256 ha Trong đó, diện tích rừng tre trúc tự nhiên thuần loài là 799.130 ha, diện tích rừng tre trúc tự nhiên pha gỗ là 682.642 ha và diện tích tre trúc trồng 81.484 ha (chủ yếu là rừng Luồng)

1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật chọn và nhân giống tre trúc

Ở Việt Nam, nghiên cứu kỹ thuật chọn giống và nhân giống tre trúc còn rất hạn chế, kỹ thuật nhân giống chủ yếu là nhân giống gốc, mỗi cây chỉ lấy được 1 hom gốc, nên rất lãng phí và hạn chế giống để gây trồng mở rộng Tuy nhiên, cũng đã có một số công trình nghiên cứu nhân giống cho một số loài tre trúc, điển hình là công trình nghiên cứu nhân giống luồng bằng phương pháp chiết cành của Lê Quang Liên (2001) [11], kết quả cho thấy hỗn hợp bó bầu chủ yếu là đất bùn và rơm rạ, ngoài được bọc bằng bao nilon, sau 25 ngày kiểm tra thì ra rễ Tỷ lệ ra rễ ở công thức tốt nhất đạt 97,5%

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng tre trúc

Khi nghiên cứu gây trồng tre trúc Ngô Quang Đê (1994) [6] đã đề xuất

kỹ thuật gây trồng cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng

Lê Quang Liên và cộng sự (2000) [10] đã nghiên cứu kỹ thuật trồng tre

trúc lấy măng cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus membranaceus) và tre Gầy (Dendrocalamus sp.), trong đó có khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK và

Trang 26

khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy thân khí sinh hay lấy măng có năng suất cao thì cần phải trồng thâm canh Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [8] cũng đã nghiên cứu kỹ thuật trồng 2 loài là Trúc sào và Vầu đắng gồm: điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến Khi đánh giá tình hình gây trồng các loài tre nhập nội lấy măng ở Việt Nam Đỗ Văn Bản (2005) [3] đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng là: Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông, trong đó phát triển mạnh nhất là Điềm trúc và Lục trúc Ngoài ra, tác giả còn cung cấp những thông tin quan trọng về: đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng tre trúc của nhân dân trên cả nước Khi nghiên cứu đặc điểm đất trồng rừng Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng Luồng đến đất, Nguyễn Ngọc Bình (2001) [4] đã chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua với độ pHH2O: 4,8-5,9; pHKCl:4,2-5,0 Ở tầng đất mặt hàm lượng mùn

và N có tổng số tương quan rất chặt, hàm lượng K2O dễ tiêu trong đất tương quan tương đối chặt, còn hàm lượng P2O dễ tiêu lại tương quan không chặt với sinh trưởng về đường kính của cây luồng Tác giả cho rằng nên trồng Luồng theo phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là hỗn giao với cây họ đậu như Keo để hạn chế suy thoái của đất

1.2.4 Nghiên cứu kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng măng và thân khí sinh

Nghiên cưu các biện pháp kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng măng và thân khí sinh đã có 1 số công trình, điển hình là các công trình sau:

Trịnh Đức Trình (1990) [15] khi nghiên cứu thâm canh rừng Luồng lấy măng xuất khẩu đã cho thấy nếu quản lý khai thác măng hợp lý có thể nâng hệ

số đẻ măng lên 2 măng/cây mẹ Hiện nay kỹ thuật gây trồng tre măng đã có

Trang 27

Quy phạm kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác măng tre Điềm trúc (Tiêu chuẩn ngành 04TCN 69-2004) [18] ngoài qui phạm trồng cho tre Điềm trúc còn có Hướng dẫn kỹ thuật trồng, khai thác, sơ chế và bảo quản măng tre Điềm trúc, Tạp giao và Lục trúc của Đỗ Văn Bản và cộng sự (2005) [3], Kỹ thuật trồng tre Đài Loan [16] của Công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm (1997), Trồng tre Tạp giao lấy măng và Trồng tre Bát Độ lấy măng của Nguyễn Đức Thanh (1999) [13], Trồng tre trúc lấy măng của Anh Tùng (1999), Hướng dẫn kỹ thuật trồng Lục trúc lấy măng của Ngô Quang Đê (2000) [7], Một số vấn đề trong kỹ thuật trồng tre kinh doanh măng – Nghề mới chớm nở trên đất Quảng Ninh của Đan Truyền Thế (2001) [14] Nhìn chung, hầu hết các tài liệu đều đã nêu được các nội dung về kỹ thuật gây trồng như: Điều kiện gây trồng, kỹ thuật trồng, kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ nhưng lại chưa có sự thống nhất ở một số nội dung cơ bản

Nhìn chung, cho đến nay các công trình nghiên cứu ở trong nước về tre lấy măng nhập nội tương đối phong phú, các nghiên cứu về tre bản địa lấy măng lại rất ít Mặt khác, nước ta là nước có thành phần loài tre khá phong phú, nhưng chỉ rất ít loài tre trúc được nghiên cứu gây trồng để làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chủ yếu là Trúc sào

(Phyllostachys edulis), Luồng (Dendrocalamus barbatus), Giang

(Ampelocalamus patellaris), Diễn trứng (Dendrocalamus sp.), Vầu đắng

(Indosasa angustata), Nứa lá nhỏ (Neohouzeana sp.), Tre gai (Bambusa

blumeana) Trong khi đó một số loài tre bản địa cho măng ăn rất ngon, năng

suất cao, thân khí sinh to, vách dầy có thể sử dụng trong xây dựng, ván nhân tạo,… hiện chưa được đầu tư nghiên cứu trong đó có cây Bương mốc ở Ba Vì

1.3 Nghiên cứu về cây Bương mốc

Bương mốc Ba Vì có tên khoa học là Dendrocalamus sp1 thuộc chi Luồng (Dendrocalamus) Cho đến nay nghiên cứu về cây Bương mốc ở trong

Trang 28

nước rất ít, đặc biệt là nghiên cứu biện pháp kỹ thuật lâm sinh Một vài công trình gần đây đã đề cập tóm tắt và sơ lược thông qua kết quả điều tra cho nhiều loài cây Lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây Bương mốc, điển hình như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [12] khi nghiên cứu “Tre trúc Việt Nam”

đã mô tả một số đặc điểm hình thái, sinh thái cây Bương mốc như sau: Bương mốc là loài tre mọc cụm thưa cây, thân cây lớn, không gai, thân thẳng tròn đều Măng ra vào tháng 5 đến tháng 9 Tác giả đã khẳng định măng Bương mốc ăn rất ngon, cho năng suất cao Công trình "Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam" (2007) [17] do tập thể nhóm tác giả biên soạn đã đề cập rất sơ lược về đặc điểm sinh học, công dụng, kỹ thuật nhân giống gây trồng, khai thác, chế biến

và bảo quản các sản phẩm của cây Bương mốc Các tác giả đã cho rằng thân khí sinh cây Bương mốc ngoài việc làm nguyên liệu xây dựng, đồ dùng gia đình thì ý nghĩa lớn hơn là lấy măng làm thực phẩm Măng Bương mốc to, ăn ngon, có thể dùng ăn tươi, phơi khô hoặc đóng hộp, khả năng sinh măng của loài tre này khá cao

1.4 Thảo luận

Qua các tài liệu tham khảo cho thấy nghiên cứu về phân bố, phân loại

và hình thái các loài tre trúc trên thế giới cũng như trong nước khá phong phú Bên cạnh đó kỹ thuật trồng thâm canh tre trúc lấy măng cũng đã có 1 số công trình nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước Tuy nhiên, nghiên cứu về cây Bương mốc không nhiều và đây cũng chính là vấn đề còn tồn tại cần phải được nghiên cứu để phát triển trong thời gian tới, nhất là ở vùng núi Ba Vì, ngoại thành thủ đô Hà Nội, là nơi đã trồng Bương mốc và được cho là có triển vọng để phát triển

Trang 29

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học góp phần phát triển cây Bương mốc cung cấp măng làm thực phẩm tại Ba Vì nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân địa phương, đồng thời góp phần phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái cho khu vực vùng ven thủ đô Hà Nội

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Tìm hiểu được một số đặc điểm sinh thái của loài cây Bương mốc;

- Đánh giá được thực trạng gây trồng cây Bương mốc tại khu vực nghiên cứu;

- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây Bương mốc tại Ba Vì

- Bước đầu nghiên cứu một số kỹ thuật phục tráng và trồng thâm canh cây Bương mốc tại Ba Vì

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Loài cây Bương mốc (Dendrocalamus sp1) ở huyện Ba Vì – Hà Nội

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống, một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh và phục tráng rừng trồng cây Bương mốc tại khu vực Ba Vì – Hà Nội

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái cây Bương mốc tại Ba Vì

- Đặc điểm khí hậu;

- Đặc điểm đất đai;

- Đặc điểm địa hình (độ cao, độ dốc, hướng phơi…)

Trang 30

2.3.2 Đánh giá thực trạng gây trồng, khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng Bương mốc tại Ba Vì

- Về diện tích;

- Về kỹ thuật trồng;

- Về khả năng sinh trưởng (măng, thân khí sinh);

- Về khai thác và chế biến măng Bương mốc;

- Về thị trường tiêu thụ măng Bương mốc

2.3.3 Nghiên cứu kỹ thuật chiết cành và giâm hom cây Bương mốc

- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp chiết cành;

- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp giâm hom

2.3.4 Bước đầu nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng thâm canh cây Bương mốc

- Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây Bương mốc;

- Ảnh hưởng của loại cây giống vô tính đến sinh trưởng của cây Bương mốc

2.3.5 Nghiên cứu kỹ thuật phục tráng rừng Bương mốc đã già cỗi

- Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất măng của mô hình cải tạo;

- Ảnh hưởng của tỉa thưa và thời gian duy trì cây mẹ đến năng suất măng của

mô hình cải tạo

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tổng quát

Sử dụng phương pháp sinh thái thực nghiệm kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm ngoài hiện trường và phương pháp phân tích trong phòng để định lượng các chỉ tiêu cần thiết Thu thập số liệu theo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn tạm thời và ô tiêu chuẩn định vị điển hình Xử lý, phân tích số liệu theo phương pháp thống kê sinh học đã lập trình trên máy tính bằng các phần mềm chuyên dụng như EXCELL, SPSS++,

Trang 31

Sơ đồ 1.1: Các bước nghiên cứu 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái cây Bương mốc

- Sử dụng phương pháp kế thừa tài liệu: Các số liệu về khí tượng thủy văn khu vực nghiên cứu được kế thừa của các trạm khí tượng thủy văn trung ương gần nhất

- Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến điển hình, trên các tuyến điển hình lập các ô tiêu chuẩn điển hình ở các mô hình trồng cây Bương mốc điển hình Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000 m2

Thu thập thông tin, kế

thừa các tài liệu,

số liệu đã có

Điều tra thực địa, bố trí thí nghiệm và thu thập số liệu

Kỹ thuật nhân giống

Đặc điểm sinh thái cây Bương mốc

Thực trạng gây trồng

Kỹ thuật trồng thâm canh

Kỹ thuật phục tráng rừng Bương mốc già cỗi

Tổng hợp và xử lý số liệu

Phân tích đánh giá

Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật

Trang 32

- Điều tra đất trong các mô hình trồng Bương mốc theo phương pháp điều tra phẫu diện đất kết hợp với phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm Trong mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành đào một phẫu diện chính và 2 phẫu diện phụ lấy mẫu trộn để phân tích, mẫu đất phân tích được lấy theo 2 tầng độ sâu:

0 - 30cm và 30- 60cm

- Phân tích một số chỉ tiêu lý - hóa tính của đất theo các phương pháp hiện đại đang sử dụng trong các phòng thí nghiệm hiện nay Các chỉ tiêu được phân tích theo các phương pháp sau:

+ pH KCl phân tích theo phương pháp pH Metter;

+ Mùn tổng số phân tích theo phương pháp Tiurin;

+ Đạm tổng số phân tích theo phương pháp Kjeldahl;

+ P2O5 dễ tiêu phân tích theo phương pháp Oniani;

+ K2O dễ tiêu phân tích theo phương pháp Matlova;

+ Độ chua thủy phân phân tích theo phương pháp Kappen;

+ Độ chua trao đổi phân tích theo phương pháp Xôcôlốp;

+ Xác định độ ẩm đất bằng phương pháp cân trước và sau khi sấy mẫu đất ở 105oC đến khi trọng lượng không đổi;

+ Thành phần cơ giới phân tích theo phương pháp Robinson (Mỹ); + Xác định dung trọng đất theo phương pháp ống dung trọng

2.4.2.2 Phương pháp điều tra đánh giá thực trạng gây trồng cây Bương mốc tại Ba Vì

- Về kỹ thuật nhân giống và trồng điều tra theo phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là những người trong gia đình có trồng Bương mốc, số lượng người phỏng vấn là 50 người

- Điều tra đánh giá thực trạng về diện tích, năng suất, khả năng sinh trưởng,

kỹ thuật khai thác, phương thức sơ chế, bảo quản, tình hình tiêu thụ măng (giá

Trang 33

măng cây Bương mốc) của người dân địa phương tại khu vực nghiên cứu bằng phương pháp phỏng vấn Đối tượng phỏng vấn là người dân trong khu vực nghiên cứu mà gia đình có trồng Bương mốc, số lượng người phỏng vấn

là 50 người

- Đánh giá khả năng sinh trưởng của rừng trồng:

+ Sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến điển hình, trên các tuyến điển hình lập các ô tiêu chuẩn điển hình trong các mô hình trồng cây Bương mốc điển hình Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000 m2

+ Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn: Đo toàn bộ số khóm trong ô tiêu chuẩn, các chỉ tiêu đo đếm gồm có: D05 (đường kính lóng thứ 5 của cây), Hvn, khả năng sinh măng, số thân/khóm… trong đó D05 được đo bằng thước kẹp kính, Hvn được đo bằng thước đo cao Mỗi khóm đo ngẫu nhiên 2/3 số cây trong khóm theo phương pháp đo 2 bỏ 1

2.4.2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm nhân giống bằng phương pháp chiết cành và giâm hom Bương mốc

+ Thí nghiệm 1: Xác định loại thuốc và nồng độ thuốc kích thích ra rễ để chiết cành Sử dụng 3 loại thuốc kích thích ra rễ (IBA, NAA, IAA) với 6 loại nồng độ khác nhau, gồm các công thức thí nghiệm sau:

Trang 34

Các công thức thí nghiệm được bố trí theo phương pháp sinh thái thực nghiệm 3 lần lặp, mỗi lần lặp lại 30 hom

Cành chiết là cành chét ở đốt thứ 4 trên thân khí sinh kể từ gốc lên Cành lấy ở cây tuổi 1 và cây tuổi 2 Chất lượng ra rễ của các cành chiết được chia ra làm 4 mức độ là:

 Loại I: Lượng rễ phủ kín > 80% bề mặt bầu chiết;

 Loại II: Lượng rễ phủ kín từ 60 - 80% bề mặt bầu chiết;

 Loại III: Lượng rễ phủ kín 40 - 60% bề mặt bầu chiết;

 Loại IV: Lượng rễ phủ kín < 40% bề mặt bầu chiết

+ Thí nghiệm 2: Xác định loại thuốc và nồng độ thuốc kích thích ra rễ để giâm hom Sử dụng 3 loại thuốc kích thích ra rễ (IBA, NAA, IAA) với 6 loại nồng độ khác nhau, gồm các công thức thí nghiệm sau:

Hom cành được lấy thống nhất từ cành mọc ra từ đốt thứ 4 trên thân khí sinh 1 tuổi và 2 tuổi tính từ dưới lên

Các công thức thí nghiệm được bố trí theo phương pháp sinh thái thực nghiệm 3 lần lặp, mỗi lần lặp lại 30 hom

Trang 35

2.4.2.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm trồng Bương mốc

Tiến hành thí nghiệm trồng mới trên diện tích 1,0ha ở Ba Vì: áp dụng đồng nhất một loại mật độ là 555 cây/ha (4m x 4,5m), gồm các thí nghiệm và các công thức sau:

+ Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của loại hom giống đến chất lượng rừng

CT1: trồng bằng giống hom chiết cành chét;

CT2: trồng bằng giống hom gốc

+ Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của phân bón lót đến chất lượng rừng

CT1: Bón 0,3kg phân vô cơ NPK (5-10-3) /khóm/năm kết hợp với 3kg phân vi sinh /khóm/năm;

CT2: Bón 0,7kg phân vô cơ NPK (5-10-3) /khóm/năm kết hợp với 3kg phân vi sinh /khóm/năm;

CT3: không bón phân (đối chứng)

Mỗi công thức 3 lần lặp, mỗi lần lặp lập 1 ô tiêu chuẩn với diện tích 600m2 để đo đếm đánh giá sinh trưởng với dung lượng mẫu ≥ 30 khóm/OTC

2.4.2.5 Phương pháp thí nghiệm phục tráng rừng Bương mốc đã già cỗi

Kế thừa các tài liệu, kiến thức bản địa, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật như: Hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác tre Điềm trúc (Bát độ), Tạp giao, Lục trúc lấy măng thuộc đề tài “Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre trúc nhập nội lấy măng” của Đỗ Văn Bản và cộng sự (2005) Quy phạm kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác măng tre trúc Điềm trúc (QP 04TCN 69-2004 của Bộ NN&PTNT), kết hợp kiến thức bản địa, sử dụng phương pháp chuyên gia và sử dụng phương pháp “Nghiên cứu có sự tham gia” của người dân trong việc cùng tham gia xây dựng thực hiện đề tài Tiến hành thí nghiệm cải tạo trên 1,5 ha sẵn có tại Ba Vì

Trang 36

+ Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng phục tráng rừng Bương mốc

CT1: Bón 0,3kg phân NPK (5-10-3) /khóm/năm kết hợp với 3kg phân vi sinh /khóm/năm;

CT2: Bón 0,7kg phân NPK (5-10-3) /khóm/năm kết hợp với 3kg phân vi sinh /khóm/năm;

CT3: Không bón phân (đối chứng)

+ Thí nghiệm 6: Ảnh hưởng của thời gian chặt tỉa cây mẹ đến khả năng phục tráng rừng Bương mốc

CT1: Chặt tỉa cây mẹ vào tháng 5-6;

CT2: Chặt tỉa cây mẹ vào tháng 7-8;

CT3: Chặt tỉa cây mẹ vào tháng 9-10

+ Thí nghiệm 7: Kết hợp bón phân và thời gian tỉa cây mẹ tổng cộng có 9 công thức, mỗi công thức 3 lần lặp, mỗi lần lặp 1 ô tiêu chuẩn với dung lượng mẫu ≥30 khóm/OTC Các công thức thí nghiệm được bố trí theo khối đầy đủ ngẫu nhiên với 3 lần lặp

2.4.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu sau khi thu thập được, tiến hành chỉnh lý, tính toán các đặc trưng mẫu So sánh sự sai khác giữa các công thức thí nghiệm, sử dụng tiêu chuẩn U của Mann – Whitney, phân tích phương sai, tiêu chuẩn U của phân

bố chuẩn tiêu chuẩn và trắc nghiệm đa đoạn Duncan để kiểm tra sai dị giữa các trung bình mẫu và lựa chọn công thức tốt nhất Tất cả các số liệu thu thập được tính toán và xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm Excel 7.0 và SPSS++

Trang 37

- Sai tiêu chuẩn: S = ±  

n i i

*Tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn:

Giả thuyết: Ho: Pt1 = Pt2 H1: Pt 1 Pt2

2

2 2

1

1 1

2 1

1 1

.

n

Pm Pm

n

Pm Pm

pm Pm U

2 2 1 1

2 1

2 1

.

1 1

n n

Pm n Pm n P

n n pq Pm

Pm Pm

96 1

H U

H+

0: thành số tổng thể 1 bằng thành số tổng thể 2, tức là giữa 2 mẫu tương đối thuần nhất, chưa có sự sai khác

0

H : thành số tổng thể 1 khác thành số tổng thể 2, tức là giữa 2 mẫu có

sự sai khác rõ rệt

* Tiêu chuẩn U của Mann-Whitney

Được sử dụng khi so sánh 2 hay nhiều mẫu quan sát với nhau trong trường hợp các mẫu độc lập Giả thuyết đặt ra là:

Trang 38

H0: F(x) = F(y) H1: F(x) ≠ F(y)

Để so sánh được theo tiêu chuẩn U của Mann-Whitney chúng ta cần xếp hạng và tính tổng hạng riêng cho từng mẫu, sau đó tính U1, U2 theo công thức:

2

2 1 2 1

2 1 1

n n U

Nếu │U│>1,96, giả thuyết H0 bị bác bỏ, hai mẫu quan sát được rút ra

từ 2 tổng thể khác nhau Trường hợp ngược lại ta chấp nhận giả thuyết

* Phương pháp phân tích phương sai 2 nhân tố theo tiêu chuẩn F của Fisher

Việc phân tích phương sai 2 nhân tố được thực hiện bằng phần mềm thống kê SPSS 15.0 với các nhân tố cụ thể như sau:

Nhân tố A là các công thức thí nghiệm

Nhân tố B là các khối hay các lần lặp lại

Sử dụng tiêu chuẩn Levene để kiểm tra sự bằng nhau của các phương sai mẫu, tiêu chuẩn này thích hợp cả với trường hợp mẫu không có phân bố chuẩn

Sử dụng tiêu chuẩn Bonferroni hoặc tiêu chuẩn Duncan để so sánh cặp đôi các công thức trong trường hợp các phương sai là bằng nhau trong tổng thể

Sử dụng tiêu chuẩn Dunnett’ T3 để so sánh cặp đôi giữa các công thức trong trường hợp các phương sai không bằng nhau trong tổng thể

Trang 39

Nếu nhân tố A tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm thì giả thuyết

H0 đặt ra là: H0: 1=2=…a = 

Còn đối thuyết H1: Nhân tố A tác động không đồng đều đến kết quả thí nghiệm Nghĩa là có ít nhất 1 số trung bình tổng thể i khác với các số trung bình tổng thể còn lại

Người ta đã chứng minh được rằng nếu giả thuyết H0 đúng thì biến ngẫu nhiên Vn có phân bố: 2 với k= n - a bậc tự do và Va có phân bố 2 với k

= a - 1 bậc tự do vì vậy biến ngẫu nhiên:

FA=

1)Vn - (a

a)Va - (n

a i i a

i n j

Nếu FA tính theo (2.11)  F0.5 tra bảng với k1 = a - 1 và k2 = n - a bậc tự

do thì giả thuyết H0 được chấp nhận, ngược lại nếu FA tính theo (2.11)> F0.5

thì giả thuyết H0 bị bác bỏ nghĩa là nhân tố A tác động không đồng đều tới kết quả thí nghiệm, nói cách khác việc phân cấp các công thức thí nghiệm là có ý nghĩa

Trang 40

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ

XÃ HỘI - KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Bương mốc được người dân gây trồng trong các lỗ trống của Vườn Quốc gia Ba Vì, phần lớn diện tích được gây trồng thuộc vùng đệm của vườn Quốc gia ở độ cao 100 - 200m thậm trí lên tới độ cao 700m so với mực nước biển Đề tài lựa chọn nơi gây trồng thí nghiệm mở rộng ra các xã thuộc huyện

Ba Vì Vì vậy sẽ nghiên cứu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tại vườn Quốc Gia Ba Vì và điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của cả huyện Ba Vì để làm cơ

sở phát triển mở rộng mô hình là có ý nghĩa nhất định

3.1 Vườn Quốc gia Ba Vì

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực Ba Vì nằm ở phía Tây Bắc vùng đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 50 Km về phía Tây Vườn Quốc Gia Ba Vì nằm trong toạ độ địa lý từ 21°01’ đến 21°07’ vĩ độ Bắc và từ 105°18’ đến 105°25’ độ kinh Đông Tổng diện tích vườn Quốc Gia là 7.377ha

- Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh thuộc huyện Ba Vì - TP Hà Nội

- Phía Nam giáp giác xã Phúc Tiến, Dân Hòa thuộc huyện Kỳ Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

- Phía Đông giáp các xã Vân Hòa, Yên Bài thuộc huyện Ba Vì, xã Yên Quang thuộc huyện Lương Sơn, các xã Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân thuộc huyện Thạch Thất, xã Đông Xuân thuộc huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

- Phía Tây giáp các xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội, và

xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Ngày đăng: 16/05/2021, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w