1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và khả năng gây trồng cây kim giao (podocarpus fleuryi hickel) tại rừng quốc gia đền hùng

108 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mà hầu hết chưa được nghiên cứu về khả năng nhân giống, vì thế việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các cây đặc hữu, quý hiếm và sự phong phú về đa dạng sinh học trong khu hệ thực

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn được thu thập công khai chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu này chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu khoa học hoặc bảo vệ cho học vị nào

Hà Nội, Ngày 10 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Hà Thị Thúy Hằng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và khả năng

gây trồng cây Kim giao (Podocarpus fleuryi Hickel) tại RQG Đền Hùng,

tỉnh Phú Thọ được hoàn thành theo chương trình đào tạo thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp khoá học 2012 – 2014 tại trường Đại học Lâm nghiệp

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tôi xin trân trọng cảm

ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa Đào tạo sau Đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy PGS.TS Bùi Thế Đồi, người trực tiếp hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám đốc Khu di tích lịch sử Đền Hùng, người thân, các bạn đồng nghiệp và bạn bè xa, gần đã giúp

đỡ tôi về thời gian, vật chất, tinh thần để tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù đã làm việc với tất cả những nỗ lực, nhưng vì trình độ và thời gian còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp

Xin trân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 10 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Hà Thị Thúy Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây 3

1.1.2 Nghiên cứu về nhân giống 5

1.2 Ở Việt Nam 6

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây 6

1.2.2 Nghiên cứu về nhân giống và gây trồng một số loài cây lâm nghiệp 9

1.3 Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Kim giao 12

1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học cây Kim giao 12

1.3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 13

1.4 Cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng hom 17

1.4.1 Khái niêm và cơ sở di truyền học của nhân giống bằng hom 17

1.4.2 Các nhân tố bên trong 18

1.4.3 Các nhân tố bên ngoài 21

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 26

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

Trang 4

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng của cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng 26

2.3.2 Nghiên cứu các biện pháp nhân giống và gây trồng cây Kim giao 27 2.3.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 27

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 27

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 38

3.1 Điều kiện tự nhiên 38

3.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 38

3.1.2 Địa hình, địa mạo 38

3.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng 39

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 41

3.1.5 Đặc điểm kinh tế xã hội 44

3.1.6 Cơ sở hạ tầng 45

3.2 Nhận xét và đánh giá chung 45

3.2.1 Thuận lợi 45

3.2.1 Khó khăn 45

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Đặc điểm sinh học và sinh trưởng của loài cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng 48

4.1.1 Đặc điểm hình thái cây Kim giao 48

Trang 5

4.1.2 Đặc điểm vật hậu loài Kim giao tại RQG Đền Hùng 50 4.1.3 Đặc điểm sinh thái và phân bố loài Kim giao tại RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 51 4.1.4 Đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có loài Kim giao phân

bố tại RQG Đền Hùng 56 4.2 Nghiên cứu các biện pháp nhân giống cây Kim giao 60 4.2.1 Nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng để giâm hom Kim giao 60 4.2.2 Nghiên cứu tạo cây con Kim giao bằng phương pháp gieo hạt 71 4.2.3 Đề xuất kỹ thuật nhân giống và điều kiện gây trồng cây Kim giao tại rừng Quốc gia Đền Hùng 74 4.3 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Kim giao tại RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 76 4.3.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong công tác bảo tồn loài Kim giao tại RQG Đền Hùng 76 4.3.2 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Kim giao tại RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 78 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Hdc Chiều cao dưới cành

HTB Chiều cao trung bình

HvN Chiều cao vút ngọn IAA Axít Indolin axectic IBA Axit Indolin butic axit NAA Axít Napthalen axetic

NB Hướng nam bắc ODB Ô dạng bảng OTC Ô tiêu chuẩn RQG Rừng quôc gia STT Số thứ tự

TB Hướng tây bắc

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2 Biểu theo dõi về số rễ/ hom và chiều dài rễ 35 4.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố khí tượng tại RQG Đền Hùng 51 4.2 Các loại đất trong khu vực RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 52 4.3 Một số chỉ tiêu lý tính của đất thuộc RQG Đền Hùng 54 4.4 Đặc điểm phân bố của loài Kim giao phân theo đai cao, trạng

thái rừng tại RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ 55 4.5 Sinh trưởng D1.3 và HVN của lâm phần nơi có Kim giao phân bố 57 4.6 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc đến tỉ lệ hom ra rễ 62 4.7 Ảnh hưởng của nồng độ thuốc đến số rễ trên hom 63

4.9 Ảnh hưởng của loại hom đến khả năng ra rễ của hom Kim giao 68 4.10 Chất lượng cây con Kim giao 8 tuần tuổi 73 4.11 Sinh trưởng đường kính gốc và chiều cao cây con Kim giao 73

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Cây Kim giao (Podocarpus flueryi Hickel) 12 tuổi 16

1.2 Hoa của cây Kim giao (Podocarpus flueryi Hickel) 12 tuổi 17

4.1 Thân cây Kim giao (Podocapus flueryi Hickel) 14 tuổi 49

4.5 Bố trí thí nghiệm giâm hom cây Kim giao 61

4.7 Biểu đồ số rễ/hom ở các nồng độ và đối chứng 65

4.8 Biểu đồ chiều dài rễ ở các nồng độ và đối chứng 66

4.9 Hom Kim giao giâm ở nồng độ IBA khác nhau 67

4.10 Biểu đồ ảnh hưởng của loại hom đến số hom ra rễ 69

4.11 Biểu ảnh hưởng của loại hom đến chiều dài rễ/hom 70

4.12 Biểu đồ ảnh hưởng của loại hom đến số rễ/hom 71

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua do nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích rừng

tự nhiên của nước ta ngày càng bị thu hẹp về diện tích và giảm sút về chất lượng Nhận thức rõ những giá trị, tầm quan trọng cũng như nguy cơ suy thoái của tài nguyên rừng, sự suy giảm đa dạng sinh học nên Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã sớm có những chính sách cũng như chiến lược nhằm bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng một cách ổn định và bền vững

Đền Hùng là di tích nổi tiếng trong lịch sử dựng nước của Việt Nam, là nơi thờ tự các vua Hùng Người dân Việt Nam luôn hướng về Đền Hùng – nơi cội nguồn của dân tộc Các khu rừng tự nhiên được bảo vệ, tôn tạo cùng với các loài cây cổ thụ cao lớn hoà hợp với những di tích lịch sử, văn hoá tín ngưỡng và kiến trúc được giữ gìn đã tạo cho cảnh quan Khu di tích Đền Hùng càng thêm hùng vĩ, linh thiêng và huyền bí, là niềm tự hào của toàn dân tộc Việt Nam

Rừng quốc gia Đền Hùng được bảo tồn, tôn tạo, làm giàu hệ sinh thái thông qua dự án “hỗ trợ khôi phục hệ sinh thái rừng nhiệt đới Khu di tích lịch

sử Đền Hùng” việc khôi phục và phát triển tài nguyên rừng đã xác định chủng loại và cơ cấu cây trồng rừng, đặc biệt là các loài cây có giá trị về nhiều mặt, phù hợp với điều kiện lập địa của địa phương Đặc biệt là những thông tin đầy

đủ về bản chất các quy luật sống của rừng như: Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài; quá trình tái sinh, sự hình thành và phát triển của quần

xã để từ đó đề ra các giải pháp kỹ thuật Lâm sinh hợp lý, hiệu quả nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cây rừng

Kim giao là cây gỗ quý có phân bố tự nhiên ở nước ta Cây có lá xanh quanh năm, tán lá hình tháp đều rất đẹp, thân hình trụ tròn và thẳng Với những đặc điểm này Kim giao có thể trồng làm phong cảnh rất đẹp, với tán lá

Trang 10

khá rộng Kim giao cũng có thể trồng cây đường phố và trồng để tôn tạo nên

vẻ đẹp các công trình kiến trúc Hơn thế nữa nhờ vào vẻ đẹp của tán lá xanh quanh năm Kim giao được trồng để tạo phông màu rất đẹp, tạo sự hài hòa giữa các màu sắc, tôn tạo nên các vẻ đẹp của các công trình nghệ thuật trong các công viên, khu du lịch hay trong các công sở, các công trình tôn giáo như đình chùa, nhà thờ, các công trình mang lối kiến trúc cổ Đông Á

Ở Rừng quốc gia Đền Hùng, Kim giao được trồng hỗn giao trong rừng

và được trồng làm cây lưu niệm rất đẹp Đến nay theo ý kiến của nhiều nhà khoa học RQG Đền Hùng có rất nhiều loài cây cho gỗ, cây thuốc, cây làm cảnh mà hầu hết chưa được nghiên cứu về khả năng nhân giống, vì thế việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các cây đặc hữu, quý hiếm và sự phong phú về đa dạng sinh học trong khu hệ thực vật rừng Đền Hùng, còn gặp nhiều khó khăn, điển hình trong số đó là loài Kim giao

Vì vậy, để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển rộng rãi loài cây quý này, thì cần phải có phương pháp nhân giống và gây trồng phù hợp để làm tăng số lượng cây giống trồng rừng

Do đó, đề tài: "Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và khả năng gây

trồng cây Kim Giao (Podocarpus fleuryi Hickel) tại Rừng quốc gia Đền

Hùng", tỉnh Phú Thọ là rất cần thiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học loài cây

Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó

Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng,

đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố

Odum E.P (1971) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý

W Lacher (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu Lowdermilk (1927) đã đề ghị sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống để điều tra tái sinh, với diện tích ô

đo đếm từ 1 đến 4 m2 Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để

giảm sai số, Barnard (1955) đã đề nghị phương pháp "Điều tra chẩn đoán"

theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang, 2009)

Trang 12

Baur G.N (1962) cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng

đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp

Baur G.N (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh

áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Catinot (1965), Plaudy J đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến,

Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P.W Risa (1933- 1934) đề sướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan, đến nay phương pháp đó vẫn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian 3 chiều

Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:

Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc

(Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân,

lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng

Trang 13

và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)

Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (dẫn theo Trần Hợp, 2002)

1.1.2 Nghiên cứu về nhân giống

Nhân giống bằng hom đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất từ lâu Trải qua nhiều thế kỷ, những thành tựu về nhân giống vô tính nói chung và nhân giống bằng hom nói riêng đã được khẳng định Từ những năm 1900 đến nay nhân giống bằng hom cây rừng đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như Brazil, Úc, Côngô, Nam Phi, Ấn Độ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Các loài cây rừng được tập trung nghiên cứu nhân giống như: Bạch đàn, Keo, các loài cây lá kim, các loài cây lá rộng ở Châu Âu, các loài cây đặc hữu, các loài cây quý hiếm Giống Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformit) được phát hiện lần đầu tiên ở Astralia vào cuối năm 1970 Năm 1972, Hepburn và Shim phát hiện ra Keo lai tại Sook, sabal (Malaysia) Năm 1976, đã chứng minh được

Trang 14

rằng Keo tai tượng và Keo lá tràm có thể thụ phấn chéo cho nhau, kết quả tạo

ra con lai có đặc điểm sinh trưởng hơn hẳn bố mẹ chúng Tại hội nghị Lâm Nghiệp ở Malaysia năm 1986, Rufeld và Lapongan đã trình bầy những phát hiện của họ về cây Keo lai và năm sau Rufeld đã những kết quả nghiên cứu so sánh cây Keo lai với bố mẹ chúng

Những thành tựu đạt được trong nhân giống bằng hom và trồng rừng bằng cây hom là kết quả nghiên cứu nhiều năm của nhiều thế hệ các nhà khoa học lâm nghiệp trên thế giới Đây là một tiến bộ trong công tác nhân nhanh giống cây rừng được cải thiện, tạo tiền đề cho việc tăng sản lượng và chất lượng rừng trồng, đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của xã hội

Trên thế giới việc tạo giống cây trồng lâm nghiệp bằng phương pháp giâm hom đã được nghiên cứu và ứng dụng từ lâu Việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp nhân giống sinh dưỡng đã đạt được những thành tựu: sản xuất cây con bằng hom đã được sử dụng trong sản xuất lâm nghiệp với nhiều loài cây

Tuy nhiên số tác giả nghiên cứu về loài cây Kim giao không nhiều, phần lớn các tác giả nghiên cứu về lĩnh vực phân loại, giám định để giới thiệu loài trong phân loại thực vật Trong “ Hình vẽ cây gỗ Vân Nam” của Lâm học Viện Tây Nam và Sở Lâm nghiệp Vân Nam Trung Quốc các tác giả đã khẳng

định: Cây Kim giao phân bố ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây

Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây bản địa đã có khá nhiều nhưng còn tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:

Nguyễn Bá Chất (2001) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc

Trang 15

điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa [9]

Lê Văn Long (2011) "Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và nhân giống làm cơ sở bảo tồn loài Cẩm lai Bà rịa (Dalbergia bariaensis Pierre) tại Vườn Quốc gia Cát Tiên" [27] ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này

Vũ Văn Cần (1997) [8] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi

Nguyễn Thanh Bình (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang [5] Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm

về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và

D1,3 có dạng phương trình Logarit

Rừng lịch sử, văn hóa Đền Hùng được thành lập năm 2002 và nằm trong

hệ thống khu rừng đặc dụng Việt Nam Để xây dựng khu di tích Đền Hùng với quy mô xứng tầm với vị trí vốn có, dự án quy hoạch tổng thể khu di tích lịch sử Đền Hùng đã được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích

là 1.030 ha (UBND tỉnh Phú Thọ 2002) Trong đó có nhiều nhóm dự án nhỏ với mục tiêu là tôn tạo khu di tích và khôi phục hệ sinh thái rừng tự nhiên, xây dựng vườn cây lưu niệm và cải tạo môi trường Trong dự án này Trường Đại học Lâm nghiệp đã tham gia, phối hợp thực hiện một số hạng mục như:

Trang 16

Thiết kế thi công hệ thống cây xanh (Đặng Văn Hà 2008; 2009); Viện điều tra quy hoạch rừng được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giao chủ trì thực hiện việc quy hoạch và xây dựng vườn thực vật (Thông báo số 3167 TB/VP, ngày 28/8/2000, của Bộ NN và PTNT) Đến nay một số hạng mục trong dự án tổng thể đã được hoàn thành góp phần tôn tạo khu di tích và mang lại sự ấm cúng trong mỗi du khách khi về với Đền Hùng

Năm 2000, vườn cây lưu niệm Rừng quốc gia Đền Hùng đã được xây dựng với 61 tỉnh thành đã lựa chọn một số cây đặc trưng cho tỉnh mình để trồng Các loài cây trong vườn mang đậm nét văn hoá vùng miền của 61 tỉnh thành ở Việt Nam đã mang lại ý nghĩa văn hoá to lớn cũng như cảm xúc cho người dân và du khách khi đến tham quan khu vườn Tại vườn cây lưu niệm

đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Bộ, Ban Ngành trồng

178 cây thuộc 39 loài thực vật Nhìn chung, các loài cây này bước đầu đã thích nghi và phát triển khá tốt, trong đó có cây Kim giao tại khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng Ngoài ra, vườn số 1 tại khu Rừng quốc gia Đền Hùng bao gồm các loài cây được trồng bởi các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước qua nhiều thời kỳ đã làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm của khu rừng Năm

2005, Vườn lưu niệm số 2 cũng đã được mở rộng tại đồi Hóc Cọc, đã được trồng với gần 20 loài thực vật

Trong giai đoạn từ 2004 đến 2008, Chi cục Lâm nghiệp Phú Thọ đã

thực hiện đề tài nghiên cứu “Xây dựng vườn thực vật các loài cây rừng tỉnh

Phú Thọ có trong sách đỏ Việt Nam” Đề tài đã gây trồng được 65 loài cây

rừng có tại Phú Thọ, trong đó có 17 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam [7] Trung tâm thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai, Phú Thọ (Viện Khoa học

Lâm nghiệp) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu gây trồng 09 loài cây bản địa

miền Bắc tại Rừng quốc gia Đền Hùng” (chủ yếu là tại Phú Thọ) [31] Đặc

biệt là đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của TS Hoàng Văn Sâm (Trường Đại

Trang 17

học Lâm Nghiệp Việt Nam, 2010) “Nghiên cứu trồng thử nghiệm tập đoàn

cây bản địa đặc trưng của các vùng miền trong cả nước tại Rừng quốc gia Đền Hùng”[29] Đề tài này đã tiến hành nghiên cứu tính đa dạng cây bản địa

cũng như điều kiện lập địa khu vực này nhằm chuẩn bị cho việc di thực các cây bản địa đặc trưng trong cả nước về trồng tại Rừng quốc gia Đền Hùng Tóm lại, các công trình nghiên cứu ở Rừng quốc gia Đền Hùng cũng tiến hành trong nhiều lĩnh vực, như nghiên cứu về điều kiện lập địa, về kỹ thuật trồng cây xanh, về chăn nuôi động vật, về chọn loại cây trồng, sưu tập thực vật v.v Nghiên cứu riêng về cây Kim giao chưa có, đặc biệt là Khả năng nhân giống và gây trồng Vì vậy, đề tài này nhằm tạo cơ sở đề xuất các biện pháp nhân giống và gây trồng đồng thời bảo tồn và phát triển bền vững hệ thống cây xanh khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng

1.2.2 Nghiên cứu về nhân giống và gây trồng một số loài cây lâm nghiệp

Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu và sản xuất giống cây rừng bắt đầu

từ những năm 1960 Song trong một thời gian dài chỉ mới tập trung vào nghiên cứu bảo quản hạt giống và trong một chừng mực nhất định là các biện pháp để sản xuất được nhiều hạt giống mà chưa chú ý đến chất lượng di truyền của hạt, mặt khác lại không chú ý đến đầy đủ các biện pháp thâm canh khác, nên năng suất trồng rừng thấp, chất lượng cây trồng không tốt Nếu nhiệm vụ trồng rừng trước đây là phủ xanh thì ngày nay là trồng rừng theo các mục tiêu kinh tế xã hội, chính vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tạo và chọn giống đáp ứng được mục đích

Đến nay, kỹ thuật nhân giống bằng hom được đưa vào ứng dụng rất phổ biến trong các đơn vị nghiên cứu cũng như các đơn vị sản xuất cây con trồng rừng Nhân giống bằng hom là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho các chương trình khảo nghiệm giống cho năng suất cao các loài cây bản

Trang 18

địa, và ứng dụng rộng rãi để nhân nhanh một số loài cây quý hiếm nhằm mục đích bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng

Từ lâu việc sử dụng các phương pháp nhân giống sinh dưỡng như: chiết, ghép các loài cây ăn quả, loài tre trúc, mía, sắn được người dân biết đến Tuy nhiên, với các loài cây rừng thì phải đến năm 1976 những thực nghiệm

về nhân giống bằng hom với một số loài Thông và Bạch đàn mới được tiến hành tại trung tâm nghiên cứu cây có sợi Phù Ninh – Phú Thọ Đây là nghiên cứu rất sơ khai song đã mở đầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo ở Việt Nam với nhiều loài cây rừng khác

Các thực nghiệm về nhân giống bằng hom được tiến hành ở Viện khoa học Lâm nghiệp từ năm 1983 – 1984 với một số loài như: Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn, nội dung tập trung nghiên cứu vào đặc điểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm môi trường và việc xử lý các chất kích thích ra

rễ đến tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ của hom giâm

Ở nước ta, các nghiên cứu về cây Kim giao còn hạn chế, chủ yếu tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực dược liệu và thực phẩm

Nhân giống bằng hom đã được nghiên cứu và sử dụng ở nhiều trong nông nghiệp Nhưng trong lâm nghiệp, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế, mới chỉ tiến hành ở một số nơi như: Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp và một số các trung tâm nghiên cứu khác Các kết quả ban đầu đã đạt được với Bạch đàn, Keo, Song mật ở quy mô phòng thí nghiệm và đã đưa các kết quả vào sản xuất

Nguyễn Việt Cường (2002) đã nghiên cứu khá toàn diện về lai giống Bạch đàn Urophyla, Camaldulensis và Exserta từ việc nghiên cứu cơ sở khoa học của lai giống thời kỳ nở hoa, cất trũ hạt phấn, cho đến đánh giá khảo nghiệm các tổ hợp lai Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu

Trang 19

cũng đã tập trung vào một số loài cây trồng rừng chủ lực khác như Thông Caribê, Thông nhựa, Tràm có năng suất cao

Từ những năm 1990, Lê Đình Khả và các cộng sự đã nghiên cứu giâm hom cho Keo tai tượng, Keo lá tràm và Keo lai, các thí nghiệm tập trung nghiên cứu về thời vụ giâm, loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom và phương pháp xử lý chồi, kết quả cho thấy việc sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng có ảnh hưởng đến hom giâm [25]

Lê Đình Khả và các tác giả đã thành công trong việc nghiên cứu nhân

giống các loài như Bạch đàn trắng (E camandulensis) cho tỷ lệ ra rễ 95%, Bạch đàn grandis (E grandis) cho tỷ lệ ra rễ 95%, [22]

Năm 1994, trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã tiến hành giâm hom cành cây non Keo lá tràm và Keo tai tượng cho tỷ lệ ra rễ cao nhất, đạt 80-90 % khi được xử lý với thuốc kích thích ra rễ IBA

Vũ Thị Hiệp (2006), “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng ra rễ trong giâm hom một số loài cây cảnh leo giàn”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp [16]

Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải (1996) đã thử nghiệm nghiên cứu nhân giống Pơ mu, kết quả cho thấy sử dụng IBA dạng bột nồng độ 1.0%-1.5% cho tỷ lệ ra rễ rất cao từ 90-100%, Phạm Văn Tuấn (1997):

“Nhân giống cây rừng bằng hom” Tổng luận chuyên khảo khoa học- kỹ thuật lâm nghiệp”, Bộ NNvà PTNT, Hà Nội [29]

Các tác giả nghiên cứu giới thiệu cây Kim giao Việt Nam trong các sách thực vật, hay phân loại thực vật có: Lê Nguyên, Lê Mộng Chân và Đồng

Sỹ Hiền (1976), Thái Văn Trừng (1978), Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1987) [9], [10], [11], [12]

Nhóm tác giả đã trình bày rõ nguyên lý kỹ thuật chung về sản xuất hạt giống cây rừng, kỹ thuật gieo ươm, trồng và chăm sóc rừng trồng

Trang 20

Lương Thị Anh, Mai Quang Trường, 2007 [1] Giáo trình trồng rừng, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội

Đáng chú ý có công trình “ Thảm thực vật rừng ở Việt Nam” của tiến

sỹ Thái Văn Trừng khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam Ông

có nghiên cứu và xếp Kim giao trong ưu hợp: Nghiến + Kim giao trên đất xương xẩu đá vôi [32]

Đặc biệt gần đây nhất (1995) có công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Huy nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học loài Kim giao làm cơ sở cho công tác trồng, nuôi dưỡng và làm giàu rừng trên núi đá vôi bằng loài cây Kim giao tại Vườn Quốc gia Cát Bà-Hải Phòng [19]

Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống cây Kim giao ở Rừng quốc gia Đền Hùng là đề tài đầu tiên, do thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp, nên kết quả đạt được chỉ là bước đầu, cần bổ sung hoàn thiện thêm

1.3 Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Kim giao

1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học cây Kim giao

Trong sách đỏ Việt Nam, Kim giao có tên khoa học là Podocarpus flueryi Hickel Thuộc họ Kim giao (Podocarpaceae), bộ Thông (Pinales) [2]

Là cây gỗ nhỡ, thân thẳng, vỏ bong mảng, tán hình trụ Cấu trúc thân đơn trục, tròn, thẳng Cành non màu xanh, đầu cành rủ Phân cành hơi ngang (góc phân từ 60 – 900) Lá Kim giao hình trái xoan ngon giáo, có cuống lá dài 0,5 cm Lá rộng 3,5 – 4 cm, dài 13- 14 cm và thường xanh quanh năm Lá mọc gần đối, hơi vặn cuống cùng với cành tạo thành mặt phẳng Gân lá nhiều, hình cung Kim giao có hoa đơn tính khác gốc: Nón đực hình trụ dài 2cm, thường 3 – 4 chiếc mọc ở nách lá Nón cái mọc cụm hay mọc lẻ ở kẽ lá Cây Kim giao sinh trưởng và phát triển tốt ở độ cao trên 500m so với mực nước biển trở nên Là loại cây ưa sáng, có chiều cao từ 20-25m, có khả năng tái sinh chồi và tái sinh hạt tốt

Trang 21

Mùa ra hoa rộ vào độ tháng 4, quả chín vào tháng 10-11 hàng năm Kim giao là cây hạt trần, hạt có vỏ bọc ngoài mang nước bọc kín tạo thành dạng quả “ hạch giả” “Quả hạch giả” đính trên một đế mập do những tâm bì không phát dục dính liền nhau tạo thành

Quả hình cầu, đường kính từ 1,5 -2 cm, vỏ giả màu xanh vàng và có lớp phấn trắng phủ ngoài Sau khi quả chín vỏ quả chuyển sang màu xám – xám đen Cuống quả dài khoảng 2 cm

Kim giao là loài ưa phát triển trên đất đá vôi có độ dày tầng đất lớn, thoát nước tốt Ngoại trừ trường hợp đặc biệt về quần hợp đơn loài ở Vườn quốc gia Cát Bà của Việt Nam thì Kim giao là loài thường phân bố hỗn giao với các loài Sến, Táu và Dẻ ở các khu rừng mưa nhiệt đới và á nhiệt đới thường xanh, có độ cao từ 200-1000m

Ở Việt Nam thường gặp ở Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An…Ở những nơi có độ cao trên 500m

Gỗ của Kim giao có màu trắng sáng rất đẹp và bền (khác xa với gỗ của các loài thuộc chi Podocarpus hiện nay có màu vàng hơn) thường được dùng đóng đồ nội thất Người Á Đông có cả những kinh nghiệm truyền thống về việc dùng gỗ Kim giao để thử độc thực phẩm Lá Kim giao cũng được Đông y

sử dụng như là một phương thuốc chữa ho, chữa cảm Tán và lá cây đẹp nên cây cũng được dùng nhiều cho kiến trúc cảnh quan, trồng ven đường, các công trình tôn giáo như đình chùa, nhà thờ, các công trình mang lối kiến trúc

Trang 22

- Cự ly cây 3x3m Cự ly hàng 5- 6m

+ Trồng theo cụm: Mỗi cụm 3 cây, cụm cách nhau 5m

+ Trồng theo hàng: Trồng theo kiểu nanh sấu để tiện theo dõi và chăm sóc

* Tiêu chuẩn cây con: Tuổi cây từ 16-18 tháng tuổi, có chiều cao 30-40

- Trồng cây: Dùng cuốc bới bổ giữa hố sâu bằng chiều cao của bầu Bóc bầu, đặt cây sao cho cổ rễ ngang mặt hố, rồi vun đất xung quanh cho kín, ấn chặt

* Kỹ thuật chăm sóc:

- Chăm sóc 3-4 năm đầu, mỗi năm 2 lần vào tháng 4-5 và tháng 9-10 + Hai năm đầu cây sinh trưởng chậm, mỗi năm chỉ cao được 40- 50 cm, hoặc hơn, tùy thuộc vào điều kiện môi trường Do đó phải tiến hành phát dọn những cây xâm chiếm và chèn ép, cây bụi che bóng và cỏ dại Kim giao

ưa sáng, vì vậy phải bảo đảm cho cây đủ ánh sáng trong quá trình sinh trưởng Tuy nhiên, khi mới trồng phải có che nhẹ, không được trồng ra ánh sáng hoàn toàn

+ Từ năm thứ 3- 4 trở đi cây sinh trưởng nhanh hơn, chiều cao trung bình có thể đạt hơn 1m- 1,5m

- Biện pháp chăm sóc: Phát dọn dây leo, cỏ dại, cây bụi Xới đất xung quanh gốc, đường kính rộng 60-80 cm, sâu 3- 4 cm, vun gốc kết hợp bón thúc

từ 0,1-0,3 kg phân NPK/cây vào lần chăm sóc đầu Khi chăm sóc cần kết hợp với trồng dặm để đảm bảo tỷ lệ thành rừng Kết hợp công tác phòng chống

Trang 23

cháy rừng, bảo vệ rừng không để người và gia súc phá hại Nếu trồng làm cảnh thì cần chú ý tỉa cành, chăm sóc tán để tạo dáng đẹp

* Phòng trừ sâu, bệnh hại

-Bệnh đốm than: Bệnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây và mỹ quan Để phòng trừ bệnh, phải cắt bỏ lá bệnh và đem đốt Trước khi bị bệnh phun Boocđô 1%, sau khi phát bệnh phun Daconil liên tục 2-3 lần trong 10 ngày

- Bệnh đốm xám: Thường gây ra ở mép lá và ngọn lá, lá khô nứt ra và rụng dần

Ban đêm, trên lá có các chấm nhỏ màu vàng, rồi lan rộng thành đóm màu nâu sẫm hoặc nâu, về sau thành màu trắng xám Để phòng trừ, cần tăng cường quản lý, bón phân P, K, kịp thời cắt bỏ lá bệnh và đốt đi; phun thuốc phòng bệnh đốm xám bằng Topsin 0,1%

- Bệnh khô cành: Trên cành non có các đốm màu hạt dẻ, hình bầu dục Đốm bệnh phát triển mạnh làm cho cành bị khô, lá rụng Bệnh nặng có thể làm cho cây bị trụi lá, dễ gãy, gặp mưa bão cành gẫy hàng loạt Cần tỉa thưa, bón phan hợp lý, phun Boocđô 1% đề phòng xâm nhiễm, phun hợp chất lưu huỳnh vôi 0,3-0,50 Be, hoặc Zineb 0,2%

- Bệnh thảm nhung: Phun bột lưu huỳnh pha loãng 150 lần, trộn với Ovex 0,1%, hoặc dùng TDN 0,2% để phòng trừ

- Phòng chống mối: (Dùng LORSBANE-50EC hoặc SUMICIĐINE-20EC)

4 lít thuốc pha tỷ lệ 70 lít nước-phun vào hố trước khi trồng 10 - 15 ngày

- Phòng chống dế: Dùng bả gồm 90% cám gạo rang + 10% phân ngựa,

bò khô + 11/000 BAĐAN-95 sp, vê viên băng hạt đậu tương, rắc mỗi gốc 2 viên sau khi trồng

* Khai thác, sử dụng

Trang 24

Khai thác Kim giao để làm đũa đối với cây trên 5 năm tuổi Kim giao có thể cho khai thác lấy gỗ khi tuổi trồng đạt ít nhất 15 năm

Vì những sử dụng của gỗ Kim giao mà loài này đang bị đe dọa, nhất là tại Việt Nam Theo Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam (1996) thì loài này hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt tại các khu rừng đặc dụng của Việt Nam Do đó để góp phần vào việc bảo tồn và phát triển rộng rãi loài cây quý này thì cần phải nhân giống và gây trồng làm tăng số lượng cây giống cho các khu bảo tồn, vườn quốc gia nói chung và Rừng quốc gia Đền Hùng nói riêng

Hình 1.1: Cây Kim giao (Podocarpus flueryi Hickel) 12 tuổi

Tại RQG Đền Hùng

Trang 25

Hình 1.2: Hoa của cây Kim giao (Podocarpus flueryi Hickel) 12 tuổi

1.4 Cơ sở khoa học của việc nhân giống bằng hom

1.4.1 Khái niêm và cơ sở di truyền học của nhân giống bằng hom

Nhân giống bằng hom là sử dụng một đoạn thân, cành, rễ hoặc một mẩu phiến lá để tái tạo ra một cây con hoàn chỉnh Vấn đề quyết định trong giâm hom là làm cho hom rễ, còn thân cây sẽ được hình thành từ chồi bên hoặc chồi bất định Khả năng tạo thành cây con từ hom phụ thuộc vào đặc điểm di chuyển của loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống, mùa vụ, ảnh hưởng của môi trường

Sinh sản sinh dưỡng (sinh sản vô tính) cơ thể mới được hình thành theo cách nguyên phân từ một cơ thể ban đầu Các cơ thể con sinh ra đều

có bộ nhiễm sắc thể giống hệt ban đầu Vậy điều khó khăn nhất trong nhân giống sinh dưỡng nói chung và giâm hom nói riêng là việc tạo ra bộ

rễ, trong đó sự hình thành bộ rễ của cây con phụ thuộc vào hai nhóm nhân

tố chính: Nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh

Trang 26

1.4.2 Các nhân tố bên trong

1.4.2.1 Cơ sơ tế bào của sự hình thành rễ bất định

Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của

nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên, ở một số loài như Đa, Si rễ mọc ra từ cành và đâm dài xuống đất, một số loài khác như Cau, Dừa rễ lại mọc ra từ giữa các đốt thân

Các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát ngoài lõi trung tâm của mô mạch và ăn sâu vào trong thân (cành) tới gần ống mạch sát bên ngoài tượng tầng

1.4.2.2 Đặc điểm di truyền của loài

Kết quả nghiên cứu của D.A Komixarop 1964, B Martin 1974, Nanda1970 Đều đi đến một kết luận chung nhất là: loài cây khác nhau thì đặc điểm ra rễ khác nhau Các tác giả đã dựa vào khả năng ra rễ để chia các loài cây gỗ thành 3 nhóm:

Nhóm dễ ra rễ: Gồm các loài cây không cần xử lý bằng chất kích thích

ra rễ vẫn cho tỷ lệ sống cao, nhóm này gồm 29 loài như Đa, Sung, Tre, Dương, Liễu

Nhóm ra rễ trung bình: gồm các loài ra rễ ở mức trung bình, khi xsử lý bằng thuốc kích thích thì cho tỷ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 65 loài: Keo, Bạch đàn

Nhóm loài cây khó ra rễ: gồm những loài cây khó ra rễ hoặc ra rễ rất thấp mặc dù đã dùng đến thuốc kích thích, nhóm này gồm 26 loài như: Bách tán, Bách xanh, Thông

1.4.2.3 Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể

Trong một chi, các loài khác nhau cũng có đặc điểm ra rễ khác nhau, ví dụ: Bạch đàn trắng có tỷ lệ ra rễ 50 ÷ 90% nhưng với Europhylla chỉ ra rễ 15÷35%

Trong một loài, các xuất xứ khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau, ví dụ: E Camaldulensis xuất xứ Victoria River là 60%, E Camaldulensis xuất

xứ Nghĩa Bình là 35 %

Trang 27

Qua đó cho thấy không những cây khác nhau mà ở cùng một loài có các xuất xứ dòng và các cá thể khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau

1.4.2.4 Tuổi cây mẹ và cành lấy hom

Khả năng ra rễ không do đặc tính di truyền quyết định mà còn phụ thuộc rất lớn vào tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom Nó có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối với các loài cây khó ra rễ Nhìn chung cây

mẹ càng già thì tỷ lệ ra rễ của hom càng giảm, cây chưa sinh sản thì dễ nhân giống bằng hom hơn cây đã sinh sản bằng hạt Ví dụ như hom cây Mỡ 1 tuổi

tỷ lệ ra rễ là 98%, 3 tuổi 47%, 5 tuổi 14% và 20 tuổi thì thấy không ra rễ [13]

Sự thành thục của cây mẹ là trở ngại cho giâm hom, song ngày nay con người

đã biết khắc phục bằng các biện pháp như: Chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy

mô phân sinh cùng với các biện pháp cơ giới như chặt, khoanh vỏ và biện pháp lâm sinh như: tưới nước, bón phân

Tuổi của cành lấy hom cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Hom ở giai đoạn nửa hoá gỗ thích hợp cho hom ra rễ nhất, hom quá non khi đặt vào môi trường giâm hom sẽ bị thối rữa, ngược lại hom quá già cũng khó

ra rễ Các hom đã hoá gỗ không ra rễ và các hom cành chưa hoá gỗ chỉ thành công nếu lấy ở các cành còn non, các cành lấy ở gốc cũng phải còn tương đối non Từ đó có khái niệm hom hoá gỗ và trẻ hoá các cây trội bằng phương pháp khác nhau

1.4.2.5 Vị trí lấy hom

Hom lấy từ các vị trí khác nhau trên tán cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau Trên một cành hom ở các vị trí khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau Với mỗi loài cây và vị trí lấy hom khác nhau cho tỷ lệ hom ra rễ khác nhau do đó vấn đề quan trọng là cần xác định vị trí lấy hom tốt nhất cho loài

Kết quả nghiên cứu của tác giả: Lê Đình Khả đã chỉ ra rằng với Keo lá tràm và Keo tai tượng thì hom ngọn và hom sát ngọn có tỷ lệ ra rễ cao hơn (93,3÷100%) so với hom giữa và hom sát gốc (66,7÷97,6%) [5]

Trang 28

Theo Hartney (1980), cho rằng thường hom ở gốc của một cây dễ ra rễ hơn ở phần ngọn có thể có 2 lý do:

- Gốc của cây con là nơi tích tụ các chất cần thiết cho sự ra rễ

- Tồn tại một sự chênh lệch về các chất kích thích và ức chế sự ra rễ ở các phần khác nhau của cây

Theo cơ sở phát sinh và phát triển của cơ thể, cơ thể thực vật trong quá trình lớn lên ở các tuổi, giai đoạn của các bộ phận là không giống nhau, phần gốc là phần trẻ nhất của một cây, vì vậy hom lấy ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao Điều đó giải thích tại sao khi cần trẻ hoá một cây thành thục người ta thường chặt cây sát mặt đất để tạo ra những chồi bất định mới

1.4.2.6 Sự tồn tại của lá trên hom

Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của hom, lá là cơ quan hấp thu ánh sáng trong quang hợp để tạo ra các chất hữu

cơ cần thiết cho cây, đồng thời lá giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng các mô phân sinh của rễ ở các hom cành chưa hoá gỗ, lá là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán tác dụng của các chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom, lá là cơ quan điều tiết các chất điều hoà sinh trưởng ở hom giâm Vấn đề cần chú ý là diện tích lá để lại trên hom, nếu diện tích lá để lại quá lớn

sẽ làm hạn chế số lượng hom trên một đơn vị diện tích, tuy nhiên không có lá hoặc diện tích lá quá nhỏ thì hom không ra rễ Thí nghiệm với các loài Bạch đàn và Keo ở trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã đi đến kết luận: Nếu để lại 1/2 ÷ 1/3 diện tích phiến lá thì sẽ cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất

1.4.2.7 Ảnh hưởng của kích thước hom

Đường kính và chiều dài của hom cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Từ các kết quả nghiên cứu của D A Komixarop (1964) với nhiều loài cây thấy rằng hom có kích thước lớn tốt hơn hom có kích thước nhỏ Tuy nhiên hom cắt từ cây có đường kính nhỏ khả năng phát sinh rễ thấp, cắt hom

từ cây lớn ra rễ cũng không tốt Hom quá lớn là đối với hom ngọn thường làm

Trang 29

cho hom dễ mất nước rồi bị thối, hom quá nhỏ thì quá trình tích lũy chất dinh dưỡng không đảm bảo khiến cho hom yếu, thiếu sức sống

Chiều dài của hom có ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom, nếu hom quá ngắn lượng dinh dưỡng không đảm bảo làm cho hom có chất lượng kém, hom quá dài làm tăng khả năng thoát nước, hom dễ bị héo

Nhìn chung mỗi hom nên đảm bảo từ 2 ÷ 3 mắt, chiều dài thích hợp với hầu hết các loại hom là khoảng từ 10 ÷ 15 cm

1.4.2.8 Ảnh hưởng của tuổi chồi gốc và tuổi gốc

Tuổi chồi gốc và tuổi gốc cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm Các thực nghiệm của hom Bạch đàn và các loài Keo ở trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cho thấy: sau khi chặt gốc 2 tháng lấy hom thì tỷ lệ ra rễ cao Ví dụ cây Mỡ hom chồi gốc ở các cây từ 17 ÷ 23 tuổi cho tỷ lệ ra rễ từ 75

÷ 85% Như vậy, tuổi chồi gốc có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, điều này cho phép việc sử dụng chồi ở các cây trội để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng

1.4.3 Các nhân tố bên ngoài

Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình ra rễ của hom giâm bao gồm các nhân tố hoàn cảnh như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và một số nhân tố khác như: Thời vụ giâm hom, chất điều hòa sinh trưởng

1.4.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom

Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến sự ra rễ của hom Một số loài có thể giâm hom quanh năm nhưng cũng có nhiều loài thì có tính thời vụ rõ rệt Nhìn chung, mùa mưa là mùa giâm hom cho tỷ lệ ra rễ cao nhất đối với nhiều loài cây, một số lại ra rễ vào mùa xuân Hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh thường cho tỷ lệ cao hơn so với các thời kỳ khác

Trang 30

Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu tố

cơ bản là diễn biến khí hậu, thời tiết trong năm, mùa sinh trưởng của cây, trạng thái sinh lý của cành Hầu hết các loại cây đều sinh trưởng mạnh vào mùa mưa (mùa hè) và sinh trưởng chậm vào mùa khô (cuối thu và đông) Vì vậy thời kỳ giâm hom tốt nhất cho nhiều loài cây là các tháng xuân-hè và đầu thu

1.4.3.2 Ảnh hưởng của nhân tố nhiệt độ

Nhiệt độ là nhân tố quyết định đến sự hình thành và sinh trưởng của rễ hom Trong quá trình giâm hom nếu gặp nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình ra rễ của hom Trên thực tế loại hom của mỗi loài cây khác nhau đều có ngưỡng nhiệt độ thích hợp nhất khác nhau, ở nhiệt độ đó số hom ra rễ nhiều nhất và có chất lượng cao nhất Nếu nhiệt độ quá cao sẽ làm quá trình hô hấp tăng, hom thoát hơi nước mạnh và thường gây

ra hiện tượng hom chết vì thối héo Nếu nhiệt độ quá thấp lại làm cho hom ở trạng thái tiềm ẩn không ra rễ Các loài cây nhiệt đới cần có nhiệt độ không khí trong nhà giâm thích hợp để ra rễ là khoảng 28 ÷ 33oC và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25 ÷ 30oC (Longman 1983), còn đối với những cây ở vùng lạnh cần nhiệt độ không khí thích hợp là 23 ÷ 27oC và nhiệt độ giá thể thích hợp là 22 ÷

24oC (Dansin, 19983) Ngoài ra nhiệt độ cũng phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ của vật liệu, nếu hom hóa gỗ yếu thì sẽ ra rễ tốt hơn ở nhiệt độ thấp, ngược lại hom đã hóa gỗ và những loài khó ra rễ cần có nhiệt độ cao hơn

1.4.3.3 Ảnh hưởng của nhân tố độ ẩm

Độ ẩm không khí là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giâm hom không bị khô héo đồng thời dùy trì được sức sống lâu dài của hom Mỗi loài cây đòi hỏi độ ẩm khác nhau, khi độ ẩm không khi cao, cường độ ánh sáng lớn thì yêu cầu về độ ẩm cũng cao hơn Những loài cây ưa sáng thì cần

độ ẩm thấp hơn những loài cây chịu bóng Mỗi một giai đoạn của hom yêu cầu về độ ẩm cũng khác nhau, ở giai đoạn đầu yêu cầu về độ ẩm là rất quan

Trang 31

trọng và yêu cầu luôn đảm bảo trên 80%, nếu độ ẩm cao sẽ làm hạn chế quá trình bốc hơi nước của hom, giúp cho hom được ổn định, không mất nước Tuy nhiên, độ ẩm quá cao thường cũng là điều kiện thuận lợi cho nấm và vi khuẩn phát triển làm cho hom dễ bị thối Vì vậy trong quá trình giâm hom cần

có những điều chỉnh thích hợp, trong thực tế việc phun sương mù duy trì độ

ẩm cần thiết cho hom, tùy từng loại hom, từng giai đoạn và tùy điều kiện thời tiết từng ngày ta có thể điều chỉnh chế độ phun thích hợp

1.4.3.4 Ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng

Ánh sáng cùng nhiệt độ và độ ẩm là những nhân tố quan trọng, đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của hom giâm Không có ánh sáng và không

có lá thì không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đối chất khó xảy ra do

đó không có hoạt động ra rễ, chỉ có một số rất ít loài cá biệt như: Nhài nhật, có thể ra rễ khi bị che bóng 30 ngày còn hầu hết tất cả các loài kể cả loài ưa sáng hay chịu bóng đều không thể ra rễ trong điều kiện bị che tối hoàn toàn Chất lượng ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, theo Komisarov (1964) thì ánh sáng tự nhiên cần thiết cho sự ra rễ, ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài ưa sáng

Nhu cầu vê ánh sáng của một số loài hom khác nhau cũng khác nhau, những loài ưa sáng có nhu cầu về ánh sáng cao hơn, nhìn chung độ sáng thích hợp ở khoảng 4500-5500 lux/giờ ngoài ra yêu cầu về ánh sáng còn phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ và chất dự trữ trong hom, hom hóa gỗ yếu cần, chất dự trữ

ít cần ánh sáng tán xạ cao hơn so vơi hom đã hóa gỗ Ánh sáng là yếu tốt cần thiết cho hom ra rễ những loại ánh sáng mức độ chiếu sáng cũng rất quan trọng Vì vậy trong giâm hom thường sử dụng các nhà kính hoặc nhà che lợp bằng màng Polyetylen trắng trong suốt với thời gian dài mà không dùng các vật liệu khác

Trang 32

1.4.3.5 Ảnh hưởng của giá thể giâm hom

Giá thể là nơi để cắm hom sau khi đã xử lý chất điều hòa sinh trưởng

có nhiều giá thể như: Cát tinh, mùn cưa, sơ dừa băm nhỏ, đất vườn ươm Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể phải có độ thoáng khí tốt và duy trì đươc độ âm trong suốt thời gian dài mà không tưới nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển đồng thời giá thể phải đảm bảo là sạch, không bi nhiễm nấm không

có nguồn sâu bệnh Thông thường trong giâm hom cát được sử dụng làm giá thể là chủ yếu Trước khi cắm hom giá thể luôn luôn được xử lý bằng thuốc Benlat chống nấm, sau khi hom được cắm trong thời gian chăm sóc cũng phải định kỳ phun thuốc cho cả hom và giá thể để đảm bảo vệ sinh, hạn chế khả năng nhiễm nấm

1.4.3.6 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng

Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành bộ rễ của hom giâm Để hom ra rễ thì đối với mỗi loài cây khác nhau cần xử lý lọai thuốc khác nhau trong khoảng thời gian thích hợp Các loại chất kích thích ra rễ thường được sử dụng hiện nay có IAA (Axit Indol axectic), IBA (Axit Indol butiric), NAA (Axit Napthalen axetic) Tuy vậy, trong từng trường hợp cụ thể thì auxin lại có hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loại cây khác nhau và loại thuốc khác nhau Thí nghiệm giâm hom với các loài cây Bạch đàn trắng, Mỡ, Sở tại trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy rằng IBA là chất có hiệu quả rất cao nhất là đối với Bạch đàn trắng: 93,8%, IAA và 2,4D là chất cho hiệu quả cao nhất đối với cây Mỡ: 85%, NAA

là chất có hiệu quả cao đối với cây Sở: 75% [6] Vì vậy, việc xác định chất kích thích phù hợp với từng loài cây trồng là rất quan trọng

Bên cạnh đó nồng độ thuốc cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom Nồng độ thuốc xử lý quá thấp sẽ không có tác dụng phân hoá tế bào hình thành rễ, nồng độ quá cao lại dễ bị thối rữa Khi lựa chọn nồng độ chất kích

Trang 33

thích cần chú ý đến nhiệt độ không khí và mức độ hoá gỗ của hom, nếu nhiệt

độ cao thì xử lý với nồng độ thấp và ngược lại nếu nhiệt độ thấp thì xử lý ở nồng độ cao Thuốc xử lý ở dạng dung dịch cho hiệu quả cao hơn song đòi hỏi nhiều thời gian, không thuận lợi cho việc sản xuất với quy mô lớn Do đó, cần lựa chọn hình thức xử lý hom phù hợp

Trang 34

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được một số đặc điểm sinh vật học của cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng

- Xác định được các biện pháp nhân giống và gây trồng tại RQG Đền Hùng

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Loài cây Kim giao (Podocarpus fleuryi Hickel) được nhân giống và

gây trồng tại Rừng quốc gia Đền Hùng

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Cây Kim giao được trồng ở các khu vực trong Rừng quốc gia Đền Hùng

- Đề tài tiến hành nghiên cứu tại khu vực Rừng quốc gia Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ

- Về mặt nội dung, do hạn chế về thời gian đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái quan trọng và tìm ra loại thuốc điều hòa sinh trưởng, loại hom, loại giá thể thích hợp nhất đến khả năng ra rễ của cây Kim giao Từ đó

có biện pháp gây trồng, phát triển loài này

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng của cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng

2.3.1.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu

2.3.1.2 Đặc điểm cấu trúc rừng nơi có Kim giao sinh sống

- Cấu trúc rừng nơi có Kim giao

- Đặc điểm cây bụi, thảm tươi

Trang 35

2.3.1.3 Đặc điểm sinh trưởng cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng

2.3.2 Nghiên cứu các biện pháp nhân giống và gây trồng cây Kim giao

2.3.2.1 Nghiên cứu khả năng tạo cây con từ hom

2.3.2.2 Nghiên cứu khả năng tạo cây con từ hạt

2.3.2.3 Đề xuất kỹ thuật nhân giống và điều kiện gây trồng cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng

2.3.3 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Kim giao tại Rừng quốc gia Đền Hùng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài còn áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, đề tài sử dụng những kết quả các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài cây rừng trong đó có đặc điểm của Kim giao

Kế thừa có chọn lọc về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của Rừng quốc gia Đền Hùng

Nghiên cứu vị trí đã trồng Kim giao, kỹ thuật nhân giống bằng hạt, nghiên cứu khả năng ra rễ của Kim giao khi giâm hom với các chất kích thích tại các nồng độ khác nhau được tiến hành trong vườn ươm để tạo điều kiện đồng nhất về các yếu tố ngoại cảnh tác động đến khả năng ra rễ của hom giâm

và khả năng gây trồng của Kim giao tại các khu vực để từ đó đề xuất xem có nên trồng hay không nên trồng Kim giao tại đó

2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp

2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu

Định kỳ mỗi tháng 1 lần quan sát 30 cây Kim giao ở giai đoạn tuổi khác nhau, có cả cây nhỏ và cây trưởng thành (D1.3 6 cm) sau đó mô tả các chỉ tiêu như sau:

Trang 36

a) Thân/cành: Mô tả hình dạng, màu sắc, vỏ, kiểu phân cành Đo chiều cao Hvn, Hdc, đo đường kính D1,3

b) Hình thái tán lá: Đo diện tích tán theo hướng Đông-Tây, Nam-Bắc,

đo chiều dài lá, rộng, số gân, mô tả màu sắc…)

c) Hình thái hoa, quả: Kế thừa tài liệu kết hợp với phỏng vấn và quan sát mô tả hình dạng, màu sắc, đo đếm kích thước

d) Quá trình ra hoa kết quả: Kế thừa tài liệu kết hợp theo dõi thời gian ra hoa, kết trái cho đến khi trái chín Theo dõi các chỉ tiêu như: sự thay đổi màu sắc từ lúc ra quả non đến khi qủa chín, đo đếm các chỉ tiêu: Chiều dài, rộng, dầy của quả; Đo chiều dài, chiều dầy của hạt và số lượng hạt/qủa, …

e) Rễ: Chọn cây ở rừng trồng và cây con ở vườn ươm, đào, đo kích thước, chụp ảnh cả rễ cọc và rễ bàng

2.4.2.2 Nghiên cứu sinh trưởng, tăng trưởng của Kim giao

* Điều tra OTC: Căn cứ vào điều kiện địa hình và diện tích khu vực gây trồng Kim giao, lập các OTC điển hình phân bố ở khu vực khác nhau, diện tích mỗi OTC là 500m2 hoặc 1000m2

OTC điển hình được lập bằng địa bàn cầm tay và thước dây với sai số khép kín là 1/200 và đo đếm toàn bộ những cây có đường kính (D1.3)  6cm về các chỉ tiêu: D1.3, Hvn, Hdc, Dtán theo phương pháp điều tra lâm học hiện hành

D1.3 được đo bằng thước dây đo đường kính có khắc vạch tới mm Đo Hvn và Hdc bằng thước Blumenleiss hoặc sào ở các cây làm chuẩn rồi sau đó mục trắc các cây xung quanh Đo đường kính tán bằng thước dây

Trong mỗi ô tiêu chuẩn bố trí 5 ODB, mỗi ô có diện tích 4 m2 (22 m) phân bố ở 4 góc và giữa các ô tiêu chuẩn Trên mỗi ODB tiến hành điều tra tái sinh (xác định tên cây, chiều cao, chất lượng của cây tái sinh, cây tái sinh được chia thành 4 cấp chiều cao:< 1m , 1-2m, 2-3m và những cây có H> 3m Phẩm chất cây chia theo 3 loại tốt, trung bình và xấu) và điều tra cây bụi thảm

Trang 37

tươi Sau khi lập ÔTC tiến hành điều tra: các chỉ tiêu D1.3, Hvn, Dt, Hdc và đánh giá phẩm chất từng cây Kết quả ghi vào biểu điều tra tầng cây cao:

Mẫu biểu 2.1: Biểu điều tra tầng cây cao

Điều tra cây bụi thảm tươi: Trên mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản có diện tích 25m2 (5x5m), 4 ô ở 4 góc, 1 ô ở giữa, mỗi ô dạng bản có diện tích 1m2, được bố trí theo sơ đồ sau:

Trong mỗi ô dạng bản điều tra thống kê tên loài, chiều cao bình quân,

độ che phủ của cây bụi thảm tươi Kết quả ghi vào biểu điều tra cây bụi thảm tươi sau:

Mẫu biểu 2.2: Biểu điều tra cây bụi thảm tươi

Stt ÔDB Stt Loài cây

chủ yếu

Htb (cm) Độ che

phủ (%)

Mức độ sinh trưởng

Trang 38

- Điều tra cây tái sinh của loài Kim giao dưới tán cây mẹ: Áp dụng phương pháp điều tra ô dạng bản (2x2m) theo 4 hướng, 4 ô dưới tán cây mẹ, 4

ô cách gốc cây mẹ 1 lần đường kính tán, 4 ô cách gốc cây mẹ 2 lần đường kính tán Tiến hành đo đếm toàn bộ số cây Kim giao tái sinh có trong ô

2.4.2.3 Phương pháp đánh giá điều kiện lập địa gây trồng Kim giao

* Xác định đặc điểm sinh thái loài cây Kim giao: Sử dụng các tài liệu

sẵn có, các công trình nghiên cứu về Kim giao trước đây

* Điều tra điều kiện lập địa khu vực trồng Kim giao

- Điều tra đất và xác định dạng lập địa nơi có cây Kim giao

Dựa vào các tiêu chí phân chia dạng lập địa bao gồm: Độ cao, loại đất,

độ dốc, độ dày và thành phần cơ giới

Mỗi OTC tiến hành đào 01 phẫu diện Phẫu diện được đào theo quy cánh là 1,5m x 0,8m x 1,5m (dài, rộng, sâu) Tùy vào địa hình và thời gian tiến hành đào phẫu diện để xác định hướng đào sao cho mặt tả của phẫu diện phải hướng về phía ánh sáng mặt trời, đối với các địa hình dốc hơn 8% mặt tả phải được đào vuông góc với tiếp tuyến của mặt dốc Tại các phẫu diện phải

có bản mô tả các tầng phẫu diện và được ghi chép thực bì, địa hình, lịch sử cảnh tác Trên các phẫu diện, lấy đất ở tầng A (gồm tầng A0: thảm mục ,A1: hữu cơ, A2: rửa trôi, A3: tầng chuyển tiếp) để phân tích mùn, tầng B (tầng tích tụ) và tầng C (tầng mẫu chất) để phân tích thành phần cơ giới (sét, thịt, cát) Kết quả được ghi vào biểu mẫu phiếu điều tra đất

Biểu 2.3: Biểu mô tả phẫu diện đất

Độ sâu tầng đất

Màu sắc

Độ

ẩm

Kết cấu

Độ chặt

TP cơ giới

Tỉ lệ

đá lẫn

Trang 39

2.4.2.4 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp nhân giống cây Kim giao

a) Phương pháp nhân giống cây Kim giao bằng gieo hạt

Thu nhập nguồn mẫu vật và lựa chọn cây mẹ làm giống để thu hái hạt giống Kim giao:

- Tiêu chí cây mẹ làm giống thu hái hạt:

+ Cây sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh

+ Tuổi cây mẹ từ 10 – 15 tuổi tại RQG Đền Hùng, tỉnh Phú Thọ

Quả Kim giao sau khi được thu hái đem về ươm ngay vào nền cát Trước khi ươm hạt cần phải xử lý thể nền bằng cách phun đều Benlát 0,3 % trước 1-2 ngày Kiểm tra độ ẩm bằng cách tưới nước tùy theo thời tiết hàng ngày Kiểm tra khi thấy quả nhú mầm và có từ 4 – 6 lá thì đem cấy vào bầu

- Địa điểm: Tại vườn ươm Đền Hùng

- Công tác chuẩn bị: Làm giàn che nắng bằng lưới đen, ánh sáng khoảng 50-60%

- Chăm sóc cây con: Sau khi cấy cây con vào bầu đất đã được đóng sẵn, dùng ô roa tưới nước đều cho cây đảm bảo đủ ẩm tưới 2 lần/ngày trong khoảng thời gian 1 tuần Những ngày tiếp theo duy trì kiểm tra độ ẩm hàng ngày và điều chỉnh tưới nước cho phù hợp

- Bón phân: Khi cây được 30 ngày tiến hành bón phân NPK bằng cách ngâm NPK vào nước và hòa tưới cho cây với 0,3g/cây Sau 7-10 ngày lại bón

1 lần với 0,5 g/cây và tăng dần lượng phân bón từ 0,1 – 0,2 kg cho phù hợp với cây con Sau khi tưới phân xong phải tưới rửa lại bằng nước sạch

b) Phương pháp nhân giống cây Kim giao bằng hom:

* Loại thuốc sử dụng kích thích ra rễ: IBA (Indolin Butiric Axit)

Thí nghiệm giâm hom gồm 5 nghiệm thức IBA

* Vị trí lấy hom Kim giao:

- Hom 1: Được lấy từ các hom còn nguyên đỉnh sinh trưởng: 15 -20cm

Trang 40

- Hom 2: Loại hom này được cắt từ phần tiếp theo của hom có ngọn trên:

Cả hai loại hom này đều ở trạng thái bánh tẻ, không quá già hoặc quá non

Xử lý hom: Hom Kim giao sau khi cắt được ngâm vào dung dịch Benlát 0,3 % trong 10 phút vớt ra để ráo nước, sau đó nhúng hom Kim giao vào dung dịch thuốc điều hòa sinh trưởng theo các nồng độ thí nghiệm trong thời gian

15 phút

* Cắm và chăm sóc hom:

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w