1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm 2030 huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

104 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, sử dụng tài nguyên rừng nói riêng, phát triển lâm nghiệp nói chung theo hướng bền vững đang là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo, đặt ra cho các nhà quản lý cần phải xây dựng đượ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp “Nghiên cứu đề xuất quy

hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm 2030 huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên” được hoàn thành tại Trường

Đại học Lâm nghiệp Việt Nam theo chương trình đào tạo cao học lâm nghiệp

hệ chính quy niên khoá 2014 - 2016

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp Với tấm lòng biết ơn sâu sắc của bản thân, tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó Đặc biệt, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn tới sự hướng dẫn quý báu, tận tình, đầy trách nhiệm của Thầy giáo - Người hướng dẫn khoa học GS.TS Trần Hữu Viên trong suốt thời gian tác giả thực hiện và hoàn thành bản luận văn này

Nhân dịp này tác giả xin cảm ơn tới Lãnh đạo UBND huyện Nậm Pồ, lãnh đạo Trung tâm quy hoạch và thiết kế Nông, Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên các phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên Môi trường, UBND các xã trong huyện,… đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù bản thân đã hết sức nỗ lực, cố gắng nhưng do còn hạn chế về kiến thức nên chắc chắc bản luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các Nhà khoa học, Thầy cô, bạn đọc và các đồng nghiệp

Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn!Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Trang 2

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nhận thức chung 3

1.1.1 Nhận thức về quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng 3

1.1.2 Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quy hoạch cảnh quan, quy hoạch sử dụng đất và quản lý rừng bền vững 3

1.2 Trên thế giới 4

1.2.1 Quy hoạch cảnh quan sinh thái 4

1.2.2 Quy hoạch sử dụng đất 5

1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp 7

1.2.4 Quản lý rừng bền vững 8

1.3 Ở Việt Nam 11

1.3.1 Quy hoạch cảnh quan 11

1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất 12

1.3.3 Quy hoạch lâm nghiệp 14

1.3.4 Quản lý rừng bền vững (QLRBV) 20

1.4 Thảo luận 23

Chương 2PHẠM VI, MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG 24

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 24

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 24

Trang 3

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 24

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Phương pháp chủ đạo 25

2.4.2 Các phướng pháp cụ thể thực hiện các nội dung nghiên cứu 25

Chương 3ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HUYỆN NẬM PỒ 30

3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 30

3.1.1 Vị trí địa lý 30

3.1.2 Địa hình, địa thế 31

3.1.3 Khí hậu, thời tiết 32

3.1.4 Thủy văn 34

3.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng 35

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42

3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 42

3.2.2 Dân cư và phân bố dân cư 44

3.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 44

3.2.4 Hiện trạng về cơ sở hạ tầng 52

Chương 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57

4.1 Cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ 57

4.1.1 Cơ sở và căn cứ pháp lý 57

4.1.2 Thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên 61

4.1.3 Thuận lợi, khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội 61

4.1.4 Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển sản xuất lâm nghiệp 63

Trang 4

4.1.5 Dự báo nhu cầu lâm sản và định hướng phát triển kinh tế xã hội của khu vực có liên quan tới phát triển lâm nghiệp 68 4.2 Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 69 4.2.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển lâm nghiệp huyện Nậm Pồ giai đoạn 2016 - 2020; định hướng đến năm 2030 69 4.2.2 Rà soát quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch 3 loại rừng huyện Nậm Pồ 71 4.2.3 Nội dung quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ giai đoạn 2016-2020 74 4.2.4 Định hướng những nhiệm vụ cơ bản phát triển lâm nghiệp huyện Nậm

Pồ tới năm 2030 89 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN (Association of Southeast Asia Nations): Hiệp hội các quốc

gia Đông Nam Á AFTA (ASEAN Free Trade Area): Khu mậu dịch tự do ASEAN APEC (Asia-Pacific Economic Cooperation): Hợp tác kinh tế Châu

Á - Thái Bình Dương ATFS Hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

CT Chương trình, công trình

FAO (Food Agriculture Oganization): Tổ chức nông nghiệp và

lương thực thế giới

FSC Các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân

bản, các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ ITTO Tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới

NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng

QHSDĐĐ Quy hoạch sử dụng đất đai

QHLN Quy hoạch lâm nghiệp

QHSDĐLN Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp

VACR Vườn, ao, chuồng, rừng

WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Bản đồ hành chính huyện Nậm Pồ năm 2015 31 3.2 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Nậm Pồ năm 2015 36 4.1 Biểu đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

4.2 Biểu đồ quy hoạch 3 loại rừng huyện Nậm Pồ 74

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Ý nghĩa của đề tài

Hiện nay, vai trò của rừng không chỉ được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm thu được trực tiếp từ rừng mà phải nhìn nhận ở lợi ích to lớn về môi trường, về xã hội mà rừng mang lại Do vậy, sử dụng tài nguyên rừng nói riêng, phát triển lâm nghiệp nói chung theo hướng bền vững đang là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo, đặt ra cho các nhà quản lý cần phải xây dựng được phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp phù hợp Trong thời gian qua chúng ta đã triển khai Quy hoạch lâm nghiệp trên toàn quốc; trong đó Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện có ý nghĩa quan trọng, nó được tiến hành theo từng giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, định hướng đối với sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Hầu hết các địa phương trong

cả nước đã thực hiện công tác quy hoạch lâm nghiệp và bước đầu cũng đã mang lại hiệu quả nhất định song vẫn còn những tồn tại, bất cập như: Công tác dự báo chưa đáp ứng được với yêu cầu, việc đánh giá hiện trạng, bố trí sử dụng đất đai, tài nguyên rừng chưa nhìn nhận trên cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội

và môi trường, xây dựng phương án quy hoạch không có sự tham gia của người dân, các chủ rừng Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới phát triển kinh

tế xã hội, phương thức quản lý sử dụng rừng cũng cần có những thay đổi điều chỉnh cho hợp lý, mang lại hiệu quả cao nhất

2 Tính cấp thiết của đề tài

Huyện Nậm Pồ được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP, ngày 25/8/2012 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách địa giới hành chính của huyện Mường Nhé và huyện Mường Chà Huyện có 15 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 10 xã tách từ huyện Mường Nhé và 05 xã tách từ huyện Mường Chà), với tổng diện tích tự nhiên 149.812,96 ha Huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Điện Biên, có đường biên giới chung với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, huyện có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng của đất nước

Trang 8

Là một huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn thứ hai của tỉnh Điện Biên với 127.248,08ha; chiếm tới 85,08% diện tích đất tự nhiên của huyện

Do vậy, phát triển lâm nghiệp trên địa bàn nói chung, bảo vệ rừng nói riêng luôn là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của huyện cần phải được quan tâm, song song với phát triển kinh tế Tuy nhiên quy hoạch lâm nghiệp của huyện đến nay vẫn chưa được xây dựng Do đó vai trò của rừng trên địa bàn chủ yếu là phòng hộ, về mặt kinh tế rừng vẫn chưa có đóng góp nhiều cho kinh tế của huyện cũng như thu nhập của người dân nông thôn Bên cạnh đó, việc bảo vệ phát triển rừng hiện nay của huyện cũng bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, công tác phát triển rừng đạt hiệu quả rất thấp

Vì vậy, cần phải xây dựng một phương án quy hoạch lâm nghiệp phù hợp cho huyện dựa trên cơ sở khoa học, nhằm khai thác tiềm năng về đất đai, nguồn lao động và điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý để phát triển kinh tế thông qua phát triển rừng, đồng thời phù hợp với quy hoạch 3 loại rừng, đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu về kinh tế, môi trường và xã hội Phương án quy hoạch sẽ tiếp cận với các quan điểm mới, áp dụng những chính sách hiện hành của Nhà nước để mang lại hiệu quả cao nhất đối với môi trường, kinh tế góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân trong vùng, thực hiện xoá đói giảm nghèo là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những yêu cầu trên, để xây dựng quy hoạch lâm nghiệp

theo hướng bền vững cho huyện tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất

quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm 2030 huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên”

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức chung

1.1.1 Nhận thức về quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng

Khái niệm về quy hoạch:

- Quy hoạch là một tiến trình để đạt tới mục đích, nhiệm vụ thực hiện với các giải pháp rõ ràng theo thời gian và không gian nhất định; thể hiện một

lộ trình tăng trưởng và phát triển trong một không gian cụ thể, thời gian xác định của một loại hình quy hoạch nhất định

- Quy hoạch đưa ra một mục đích tổng thể, mục tiêu cụ thể, kịch bản phát triển và các giải pháp về cả số lượng và chất lượng trong việc phát huy tiềm năng, lợi thế trong một phạm vi nhất định và theo thời gian xác định dựa trên sự phân tích các nguồn lực và điều kiện đặt trong xu thế phát triển chung

Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng đều là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí tổ chức các hoạt động không gian

và thời gian một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai

1.1.2 Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quy hoạch cảnh quan, quy hoạch sử dụng đất và quản lý rừng bền vững

- Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quy hoạch sử dụng đất là: Quan hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quy hoạch lâm nghiệp

là cơ sở và là bộ phận hợp thành của quy hoạch sử dụng đất nhưng lại chịu sự khống chế quy hoạch của quy hoạch sử dụng đất Đây là mối quan hệ giữa cá thể với tổng thể của cục bộ và toàn bộ, về quy hoạch không có sự sai khác theo không gian ở cùng một khu vực cụ thể Tuy nhiên chúng có sự khác nhau rất rõ về chủ trương chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự bố trí, sắp xếp cụ thể, cục bộ; một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục

- Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quy hoạch cảnh quan: Là mối

Trang 10

hoạch cảnh quan thông qua cách bố trí, sử dụng rừng và nó có thể làm tăng hoặc giảm tính đa dạng loài, đa dạng di truyền mà đối với quy hoạch cảnh quan thì đây lại là một trong những cơ sở khoa học;

- Quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quản lý rừng bền vững (QLRBV): Đây cũng là mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, quản lý rừng bền vững là cái đích mà quy hoạch lâm nghiệp cần phải vươn tới, trong khi quy hoạch lâm nghiệp lại là một yếu tố quan trọng để giúp QLRBV, hai mối quan

hệ phụ thuộc vào nhau

1.2 Trên thế giới

1.2.1 Quy hoạch cảnh quan sinh thái

Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất đó Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải theo 3 cách:

- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh” Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh);

- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu Khái niệm cảnh quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa

- Cảnh quan sinh thái học Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh đặc điểm nhất định trong một không gian

Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh núi, hồ, biển hay đất liền Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó

Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái

- Nghiên cứu tính đa dạng sinh học: Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quan trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có

Trang 11

quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan Vì vậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo, Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng loài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung, quản lý rừng nói riêng

- Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn: Các nhà khoa học gồm Simpson, Shannnon - Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ số đa dạng sinh học Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan

1.2.2 Quy hoạch sử dụng đất

Hiện nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) khác nhau, từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm

và phương pháp được sử dụng trong QHSDĐ cũng khác nhau

Theo Dent (1988; 1993) QHSDĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai

Một định nghĩa khác của Fresco và ctv., (1992), QHSDĐ như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác

Theo Mohammed (1999), những từ vựng kết hợp với những định nghĩa

về QHSDĐ là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao Do đó QHSDĐ, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993) đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐ như sau QHSDĐ là một tiến trình xây dựng những quyết

Trang 12

cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995) Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai.Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường có thể có của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai thành công Ở đây đánh giá đất đai giữ vai trò quan trọng như là công cụ để đánh giá thực trạng của đất đai khi được sử dụng cho mục đích riêng biệt (FAO, 1976), hay như là một phương pháp để giải nghĩa hay dự đoán tiềm năng sử dụng của đất đai (Van Diepen và ctv., 1988) Do đó có thể định nghĩa:

Thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai”

Do đó, trong quy hoạch cho thấy:

- Những sự cần thiết phải thay đổi

- Những cần thiết cho việc cải thiện quản lý

- Những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đai hoàn toàn khác nhau trong các trường hợp cụ thể khác nhau

Các loại sử dụng đất đai bao gồm: đất ở, nông nghiệp (thủy sản, chăn nuôi,…) đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải được phân chia một cách cụ thể theo thời gian được quy định Do đó trong quy hoạch sử dụng đất đai phải cung cấp những hướng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong các trường hợp có sự mâu thuẩn giữa đất nông nghiệp và phát triển đô thị hay công nghiệp hóa bằng cách là chỉ ra các

Trang 13

vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nông nghiệp và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác

1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp

Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế

Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗđã tách khỏi nền kinh tếđịa phương của chếđộ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗđơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy

Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc

“Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài

nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn

Vào thế kỷ 19, sau cách mạng công nghiệp, phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai

thác dài Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “Chia đều” của Hartig Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác

thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sởđó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm

Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương

pháp này là giữđều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, xuất

Trang 14

phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm

phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽđược đưa vào diện khai

thác Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là

tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau

Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp

tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có

kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn

phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần”

không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từ

phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và

“Phương pháp kiểm tra”

1.2.4 Quản lý rừng bền vững

Nỗ lực đầu tiên trong QLRBV được thực hiện là thành lập hệ thống

rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941, là một chương trình của Trung

tâm rừng hộ gia đình của Tổ chức Lâm nghiệp Hoa Kỳ, được cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi cư trú phù hợp thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và các tiêu chuẩn cho các chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu trở thành trang trại có rừng được chứng nhận Theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn này, các chủ sở hữu tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt của cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS

5 năm một lần ATFS đã công nhận 24 triệu mẫu đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90.473 chủ sở hữu rừng tư nhân, những người cam kết quản lý tốt rừng của mình, tại 46 bang

Trang 15

Tiếp theo đó là FSC được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia trên thế giới, bao gồm đại diện của các

cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản, các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc QLR trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích về mặt xã hội và

có thể thực hiện được về mặt kinh tế FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những

Nguyên tắc (Tiêu chuẩn) và Tiêu chí về QLR đối với tất cả các loại rừng trên

Thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu

(Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên

nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết

nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED,

Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES);

Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra,

tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất đó là của ITTO và trong tiến trình Hensinki

Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm

phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách

rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”

Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất

rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai,

Trang 16

các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia

và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”

Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: QLR ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững

về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là:

+ Có khuôn khổ chính sách và pháp lý;

+ Sản xuất lâm sản bền vững;

+ Bảo vệ được môi trường;

+ Đảm bảo lợi ích con người;

+ Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp;

Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn QLRBV cấp quốc gia và cấp quốc

tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu chuẩn của QLR được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá QLR ở nhiều nước;

1 Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới” Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp CCR do FSC ủy quyền trước đây

đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ, và ngày nay đã được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp CCR Hiện nay có 24 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và kiểm tra chất lượng hàng năm Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội;

2 Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận các tổ chức CCR) là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ, được thành lập năm 1999, hoạt động thúc đẩy QLRBV thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên thứ ba PEFC đưa

ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV PEFC là chương trình quy mô toàn cầu về đánh giá

Trang 17

và công nhận lẫn nhau của các tổ chức CCR quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên tham gia

1.3 Ở Việt Nam

1.3.1 Quy hoạch cảnh quan

Một quá trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai cho một vùng đất trên

cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan được coi như là quy hoạch cảnh quan, nghiên cứu đến thế giới sinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong cảnh quan đó;

Tác động của con người tới thiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của cảnh quan Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta trong quá khứ và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầu của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tự nhiên Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống Một mục tiêu khác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái;

Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnh quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau;

Nguyễn Thế Thôn cho rằng: “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại và phát triển trên đó Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với nhau theo cấu trúc cảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau”

- Quá trình nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn Khánh vận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Việt Nam” Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - á miền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa;

- Hai tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình chủ biên công trình

Trang 18

công trình các tác giả đã tiến hành đánh giá đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc trên 8 vùng kinh tế sinh thái lâm nghiệp, ở trên 4 đối tượng chính: đất vùng đồi núi, đất cát biển, đất ngập mặn sú vẹt, đất chua phèn Qua nghiên cứu các tác giả đã đề xuất được các vùng thích hợp đối với một

số loài cây trồng;

- Các mô hình quy hoạch cảnh quan trong lâm nghiệp có: Quy hoạch không gian Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang - Hà Tĩnh Quy hoạch không gian Vườn quốc gia Bến En - Thanh Hóa Trong các phương án quy hoạch cho các khu rừng đặc dụng này đã đề xuất và chấp nhận sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ , vì vậy đã nâng cao được nhận thức, hạn chế xung đột giữa hoạt động của con người với nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học

- Vào tháng 10/2009, với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), tại Thừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc 3 huyện Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận một cách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp (QHSDĐLN), thậm chí mới dừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham gia của cộng đồng dân cư và cấp chính quyền sở tại

Do vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan vào trong QHLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác quy hoạch

LN đã và đang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các yếu tố

tự nhiên, kinh tế- xã hội

1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chỉ đạo một cách sát sao bằng các văn bản pháp luật và được xem như là một luận chứng cho việc phát triển nền kinh tế đất nước Điều ngày được thể hiện qua các giai đoạn sau:

Trang 19

1.3.2.1 Thời kỳ trước những năm 1980

Thời kỳ này, nước ta mới thống nhất, đang chú trọng khắc phục hậu quả chiến tranh, quy hoạch sử dụng đất chưa được coi trọng Tuy nhiên đến cuối năm 1978 các phương án phân vùng nông - lâm nghiệp và chế biến nông

- lâm sản của 7 vùng kinh tế ở tất cả các tỉnh đã được lập kế hoạch và được Chính Phủ phê duyệt Thời kỳ này, Chính Phủ chỉ đạo phân vùng quy hoạch nông - lâm nghiệp phục vụ cho phát triển nông - lâm nghiệp, còn các loại đất khác chưa được đề cập tới Hạn chế của thời kỳ này là thiếu số liệu điều tra cơ bản về đất đai, tính khả thi của các phương án còn thấp vì chưa tính được khả năng đầu tư

1.3.2.2 Thời kỳ 1981 - 1986

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ ra: “Xúc tiến công tác điều tra

cơ bản, dự báo, lập tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)

Kết quả trong tài liệu quy hoạch sử dụng đất chỉ đề cập từ cấp tỉnh trở lên và chưa đề cập đến cấp xã

1.3.2.4 Thời kỳ từ năm 1993 đến nay

Trang 20

Từ năm 1993 đến nay, Tổng cục địa Chính đã triển khai quy hoạch đất đai toàn quốc giai đoạn 2006 - 2020 Dự án quy hoạch được Chính Phủ thông qua và Quốc hội phê chuẩn Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng quy hoạch đất đai của bộ, ngành, tỉnh

Luật đất đai năm 2003 quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất Điều 21 quy định nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 23 quy định về nội dung chủ yếu của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 25 quy định rõ cả 4 cấp hành chính trong cả nước phải lập quy hoạch sử dụng đất Điều 26 quy định về thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 29 thực hiện quy hoạch sử dụng đất

Ngày 01/7/2004 Luật đất đai mới chính thức có hiệu lực Luật quy định

rõ về công tác quản lý đất đai, trong đó nêu rõ nội dung, công tác quản lý quy hoạch sử dụng đất

Ngày 01/11/2004 Chính Phủ ban hành nghị định số 181/2004/NĐ-CP

về việc thi hành luật đất đai

Ngày 01/11/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư số 30/2004/TT-BTNMT về việc hướng dẫn, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất

1.3.3 Quy hoạch lâm nghiệp

Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng;

Trang 21

Ở nước ta quy hoạch lâm nghiệp được áp dụng ngay từ thời kì Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều ;

Trong những năm 1955 - 1957 chúng ta tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Đến năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Và mãi đến năm 1960 - 1964 chúng ta mới áp dụng công tác quy hoạch lâm nghiệp ở miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường, mở rộng và phát triển Công tác quy hoạch được Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở Lâm nghiệp (nay là sở Nông Nghiệp và PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa nghiên cứu và áp dụng

1.3.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp

- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh

tế hoạt động;

- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng của công tác quy hoạch lâm nghiệp là rừng và đất

lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng

thực chất là vô chủ;

Trang 22

- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài

40-100 năm) Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi;

- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hoá - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất;

- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và

vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp;

- Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội ); Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp

1.3.3.2 Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn

Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên và bố trí các hạng mục sản xuất kinh doanh các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm cơ sở cho việc lập

kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho nền kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi từ rừng

Trang 23

Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:

- Hoạch định rõ ràng ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất

do các ngành khác sử dụng Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì hai ngành chính sử dụng đất đai;

- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu, khoanh nuôi phục hồi, trồng mới, nuôi dưỡng, nông lâm kết hợp, khai thác lợi dụng rừng…);

- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và nhu cầu vốn) Vì phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo;

- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp

về vốn, lao động …);

- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp vùng, tỉnh)

và đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập dự án đầu tư quy hoạch báo cáo nghiên cứu khả thi

1.3.3.3 Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ

Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vịđều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy

Trang 24

Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn

a) Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc

Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện;

Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp

b) Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh

Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác.Quy hoạch bảo vệ,

Trang 25

nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ

sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện

c) Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện

Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực hiện cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:

- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện

để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện;

- Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng;

- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có;

- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp;

- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ;

- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội;

- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải;

- Xác định tiến độ thực hiện;

Trang 26

Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện;

Ngoài ra hiện một số địa phương đã thực hiện việc xây dựng quy hoạch lâm nghiệp cấp xã và quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh

1.3.4 Quản lý rừng bền vững (QLRBV)

Việt Nam tham gia Chương trình QLRBV từ năm 1998 tới nay, tuy mới hình thành nhưng được sự hưởng ứng của các cấp chính quyền, sự hăng hái tự nguyện của các chủ rừng, các doanh nghiệp kinh doanh gỗ, tiến trình quản lý rừng bền vững đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là tại các vùng khai thác gỗ, chế biến gỗ xuất khẩu Ngày nay, biến đổi khí hậu đang đe doạ sự tồn vong của loài người thì QLRBV là biện pháp chủ động của con người để ngăn chặn giảm thiểu nguyên nhân thay đổi khí hậu;

Tháng 2/1998, Bộ NN&PTNTcùng 3 tổ chức quốc tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua Hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác Quốc gia

về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên

thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV

và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt

Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng-Viện

QLRBV&CCR)

Các hoạt động chủ yếu của NWG là:

- Dựa trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9c

Trang 27

đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định

- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cư sống trong rừng, gần rừng;

- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp;

- Đánh giá chất lượng QLR;

- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện;

Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010

đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-

2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương

trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng

trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ;

Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam

1.3.4.1 Một số công trình nghiên cứu về QLRBV

Các công trình nghiên cứu về QLRBV ở Việt nam chưa nhiều nhưng một số công trình nghiên cứu về QLRBV có thể kể đến là:

- Công trình nghiên cứu về Xây dựng các bước đánh giá QLRBV để cấp CCR theo tiêu chuẩn của FSC Công trình nghiên cứu thuộc cấp Bộ NN&PTNT quản lý, Trường Đại học Lâm nghiệp là cơ quan chủ trì và do PGS.TS Vũ Nhâm làm chủ nhiệm Đề tài tiến hành từ năm 2001 đến 2002 kết thúc Sản phẩm chính của đề tài là Thiết lập được tiến trình đánh giá QLRBV cho một chủ rừng ở Việt nam;

Trang 28

- Một số đề tài nghiên cứu Đánh giá QLRBV cho một số Công ty lâm nghiệp do các nghiên cứu viên tiến hành để xây dựng luận văn Thạc sĩ

1.3.4.2 Các hoạt động về QLRBV

- Hoạt động của NWG về QLRBV

+ Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự

hỗ trợ Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG

Đông Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh;

+ Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010;

+ Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010;

Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản

lý của các đơn vị

- Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện: + Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện KonPlong

(KonTum) 2000- 2002 do JICA tài trợ;

+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5

lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là MaDrak và Nam Nung (Đắc

Lắk) đã mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái

Trang 29

1.4 Thảo luận

- Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng dù ở thế giới hay ở Việt Nam cũng đều hình thành từ rất sớm và đều có những quan điểm chung; đều hướng tới hiệu quả trong hoạt động kinh doanh rừng;

- Phương án quy hoạch lâm nghiệp có được đánh giá là bền vững hay không phải được nhìn nhận, đánh giá trên cả ba lĩnh vực: Môi trường, kinh tế

và xã hội Đối với các nước phát triển thì tiêu chuẩn bền vững được dựa trên 3 yếu tố trên được áp dụng từ rất sớm nhưng đối với các nước chậm phát triển

và các nước đang phát triển như Việt Nam quan điểm bền vững dựa trên 3 yếu tố mới được nhìn nhận gần đây;

- Xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp đảm bảo tính khả thi và đạt kết quả thì việc sử dụng phương pháp phân tích quy hoạch có sự tham gia thay thế cho các phương pháp truyền thống (chủ yếu do các chuyên gia lập).Để nhấn mạnh vai trò tham gia của người dân, tổ chức và chủ rừng trong xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp;

- Áp dụng và bổ sung vào xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2016 - 2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm 2030 huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên

Trang 30

Chương 2 PHẠM VI, MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Quy hoạch phát triển lâm nghiệp ổn định, bền vững cho huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2016 - 2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm 2030

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các văn bản và tài liệu có liên quan đến hoạt động phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện Nậm Pồ;

- Điều kiện cơ bản của huyện Nậm Pồ tác động đến phát triển lâm nghiệp;

- Trọng tâm nghiên cứu hoạt động phát triển lâm nghiệp trên địa bàn huyện Nậm Pồ;

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên;

2.3 Nội dung nghiên cứu

1) Cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

Trang 31

2) Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ giai đoạn 2016-2020; định hướng phát triển lâm nghiệp huyện Nậm Pồ tới năm 2030

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp chủ đạo

- Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ tuân thủ theo các chính sách hiện hành và phù hợp với các phương án quy hoạch cấp tỉnh và cấp huyện có liên quan

- Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ theo nguyên tắc bền vững trên phương diện 3 yếu tố: Kinh tế, xã hội và môi trường và hướng theo các tiêu

chuẩn quản lý rừng bền vững của Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forestry

Sterward Council-FSC)

- Quy hoạch áp dụng triệt để phương pháp đánh giá có tham gia, học hỏi, hoạt động có tham gia và luận chứng quy hoạch có tham gia

2.4.2 Các phướng pháp cụ thể thực hiện các nội dung nghiên cứu

Thực hiện nội dung 1

Xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

và là cơ sở định hướng cho quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

+ Đối chiếu, so sánh với quan điểm quản lý rừng bền vững để phân tích những điểm đạt được để phát huy và những hạn chế cần được bổ sung khi tiến hành quy hoạch lâm nghiệp mới

+ Dự báo trên cơ sở căn cứ vào chỉ tiêu nhu cầu lâm sản/người (khi dân

số tăng trong giai đoạn 2016 -2020); căn cứ vào diện tích rừng cần có/người

Trang 32

trong huyện (khi dân số tăng trong giai đoạn 2016 -2020) và căn cứ vào nhu cầu việc làm của người dân trong huyện

+ Hệ thống và phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến xây dựng và thực hiện phương án quy hoạch huyện Nậm Pồ: Sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT)

Thực hiện nội dung 2

Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển lâm nghiệp huyện Nậm Pồgiai đoạn 2016 - 2020, định hướng phát triển lâm nghiệp tới năm

2030

Áp dụng phương pháp luận chứng quy hoạch có tham gia (tham gia luận chứng: Đại diện các phòng ban trong huyện, UBND các xã, đoàn thể, chủ rừng ) Luận chứng xác định phương hướng và mục tiêu trên cơ sở các

cơ sở khoa học đã xác định được từ nghiên cứu nội dung 1

Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ: Sử dụng phương pháp phân tích quy hoạch có tham gia (tham gia phân tích quy hoạch, gồm: Đại diện các phòng ban trong huyện, UBND các xã, đoàn thể và các chủ rừng) thông qua các cơ sở khoa học (nội dung 1) và phương hướng, mục tiêu quy hoạch để xác định phương án quy hoạch Cụ thể:

1) Quy hoạch bảo vệ rừng:Chủ yếu áp dụng phương pháp bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng cho cả rừng phòng hộ và sản xuất Đối với rừng đặc dụng có sự tham gia bảo vệ và quản lý của Ban quản lý rừng đặc dụng

2) Quy hoạch phát triển rừng

- Trồng rừng, chăm sóc rừng trồng: Chủ yếu là trồng rừng thâm canh, canh tác trên đất dốc và một phần trồng rừng phòng hộ, đặc dụng và cây phân tán

Trang 33

- Khoanh nuôi rừng tự nhiên có trồng bổ sung: Chủ yếu là làm giàu rừng (tăng và điều chỉnh mật độ, tăng tổ thành cây chủ yếu)

3) Quy hoạch sử dụng rừng

Áp dụng phương pháp khai thác tác động thấp

- Khai thác rừng trồng: Chủ yếu là áp dụng phương thức khai thác dần

- Khai thác rừng tự nhiên: Phương pháp chủ yếu là khai thác chọn theo cấp kính

- Quy hoạch vận chuyển lâm sản: Phương pháp chủ yếu là vận chuyển

bộ và kết hợp vận chuyển lâm sản với đường dân sinh

- Khai thác lâm sản ngoài gỗ: Phương pháp chủ yếu là khai thác chọn 4) Quy hoạch giảm thiểu tác động môi trường, tác động xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học

- Giảm thiểu tác động xấu đến môi trường: Phương pháp chủ yếu là tự giám sát các hoạt động trong quản lý rừng

- Giảm thiểu tác động xấu xã hội: Phương pháp chủ yếu là tự giám sát các hoạt động trong quản lý rừng

- Giảm thiểu tác động xấu đến bảo tồn đa dạng sinh học: Phương pháp chủ yếu là tự giám sát các hoạt động trong quản lý rừng

5) Giám sát và đánh giá thực hiện phương án quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

Sử dụng phương pháp giám sát, đánh giá có tham gia Thành phần tham gia: Đại diện các phòng ban trong huyện, UBND các xã, đoàn thể và các chủ rừng

- Giám sát thực hiện Phương án quy hoạch lâm nghiệp: Phương pháp chủ yếu là tự giám sát các hoạt động quản lý rừng

- Đánh giá thực hiện Phương án quy hoạch: Phương pháp chủ yếu là

Trang 34

6) Xây dựng bản đồ Quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ

Áp dụng kỹ thuật số hóa bản đồ thể hiện theo các lớp hoạt động lâm nghiệp (trồng rừng, chăm sóc, khai thác theo thời gian và không gian) bằng việc sử dụng phần mềm Mapinfor 11.0 và phần mềm Arcview

7) Hiệu quả thực hiện phương án quy hoạch lâm nghiệp huyện Nậm Pồ; a) Hiệu quả kinh tế

Sử dụng phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế một số hình thức kinh doanh rừng sử dụng phương pháp động Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, IRR, trong chương trình Excel

- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: Được xác định là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại

i

C B

0 ( 1 )Trong đó:

NPV: là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)

Bt: là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)

Ct : là giá trị chi phí ở năm t (đồng)

i : là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)

t : là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao

- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu

IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi

i

C B

0 ( 1 ) = 0 thì i = IRR

Trang 35

- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR: Đây là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

BCR =

CPVBPV

)i1(C

)i1(B

BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)

BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

n là số đại lượng tham gia vào tính toán

Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR

< 1 thì kinh doanh không có hiệu quả

b) Hiệu quả xã hội: Áp dụng theo phương pháp đánh giá có tham gia c) Hiệu quả môi trường: Áp dụng theo phương pháp đánh giá có tham gia

Trang 36

Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN HUYỆN NẬM PỒ

3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Nậm Pồ tỉnh Điện Biên được thành lập theo Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 25/8/2012 của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh toàn bộ 92.577,49 ha diện tích tự nhiên, 28.833 nhân khẩu của 10 xã: Pa Tần, Chà Cang, Nà Khoa, Nà Bủng, Nà Hỳ, Na Cô Sa, Nậm Tin, Nậm Nhừ, Nậm Chua, Vàng Đán thuộc huyện Mường Nhé và toàn bộ 57.235,47 ha diện tích tự nhiên, 14.709 nhân khẩu của 05 xã: Chà Tở, Nậm Khăn, Chà Nưa, Si Pa Phìn, Phìn Hồ thuộc huyện Mường Chà Huyện có 8/15 xã biên giới giáp Lào (Nậm Nhừ, Na Cô Sa, Nà Bủng, Vàng Đán, Nà Hỳ, Chà Nưa, Phìn Hồ, Si Pa Phìn),

có đường biên giới Quốc gia dài 119,7 km

Huyện Nậm Pồ cách thành phố Điện Biên Phủ khoảng 158 km về phía Tây - Bắc, có địa giới hành chính:

Phía Đông giáp huyện Mường Chà;

Phía Tây giáp huyện Mường Nhé và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào;

Phía Nam giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào;

Phía Bắc giáp huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu

Trang 38

- Địa hình đồi núi cao và núi trung bình: Đây là kiểu địa hình đặc trưng của Nậm Pồ, chiếm khoảng 90% diện tích tự nhiên Địa hình đồi núi cao phân

bố chủ yếu trên địa bàn các xã Si Pa Phìn, Phìn Hồ, Chà Tở, Nậm Khăn, Nậm Chua, Nà Bủng Địa hình đồi núi trung bình phân bố ở hầu hết các xã Nhìn chung dạng địa hình này phức tạp, hiểm trở, gây khó khăn trong việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển sản xuất nông nghiệp

- Địa hình thung lũng và các bãi bồi ven sông suối: Đây là loại địa hình nằm xen kẽ giữa các núi trung bình, và hệ thống sông suối, có độ dốc dưới

250 Loại địa hình này phân bố chủ yếu dọc suối Nậm Pồ và một số suối nhỏ khác có tiềm năng về sản xuất nông nghiệp Đặc biệt có các bãi bằng tương đối lớn, quy mô từ 20 - 30 ha thuộc địa bàn các xã Nà Hỳ, Nậm Chua, Na Cô

Sa, Nậm Khăn, Chà Nưa Đây là nơi tập trung dân cư và sản xuất lương thực (lúa nước) của toàn huyện

3.1.2.2 Địa thế

Huyện Nậm Pồ có địa thế cao dần về phía Tây và Tây Bắc với những dãy núi cao tiếp giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, có độ dốc trung bình từ 25 - 300, thấp dần về phía Đông và Đông Nam với những dãy núi thấp có độ dốc nhỏ, xen lẫn có các thung lũng bằng, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp

3.1.3 Khí hậu, thời tiết

Khí hậu huyện Nậm Pồ là khí hậu nhiệt đới, gió mùa vùng cao, mùa Đông lạnh, mưa ít; mùa Hè nóng, mưa nhiều

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23oC, nhiệt độ không khí bình quân cao nhất vào tháng 6 là 26,3oC và thấp nhất vào tháng 1

là 16,6oC Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối là 40,9oC (Tháng 5) Nhiệt

độ không khí thấp nhất tuyệt đối là 3,9oC (Tháng 1) Trong năm có khoảng

180 ngày nóng và 100 ngày lạnh Tổng tích ôn cả năm là 8.121oC

Trang 39

- Lượng mưa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Lượng mưa bình quân năm 2.439 mm, phân bố không đều, vùng núi cao lượng mưa có thể lên đến 3.000 mm/năm Mưa lớn tập trung vào tháng 5 đến tháng 8 Các tháng khô hạn bắt đầu từ tháng 11 năm trước tới tháng 3 năm sau

- Chế độ gió: Trên địa bàn huyện xuất hiện nhiều hướng gió trong năm Trong đó thịnh hành là hướng gió Tây và Tây - Bắc, thường xuất hiện trong các tháng: 10, 11, 12, 1, 2, 4, 5, 7 Tốc độ gió trung bình từ 0,4 đến 0,7 m/s Gió tây thường gây ra khô nóng, ảnh hưởng lớn đến đời sống của con người, cây trồng, gia súc

- Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp: Theo đánh giá của Viện Khí hậu thủy văn và Môi trường, biến đổi khí hậu sẽ tác động đến khu vực Tây Bắc: làm tăng nhiệt độ, kéo dài mùa nóng; tăng lượng mưa mùa hè lên 2,4% vào năm 2020, giảm lượng mưa mùa xuân 1,1% vào năm 2020; mưa lớn trên diện rộng và các đợt hạn hán khốc liệt cũng gia tăng tần suất; lũ lụt đe dọa thường xuyên hơn trong mùa mưa, tăng mạnh mẽ nguy cơ cháy rừng và tăng nguy cơ phát triển sâu bệnh Đối với sản xuất nông nghiệp,

sẽ bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ lụt, sạt lở vv Biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi tính thích hợp của các tập đoàn cây con trên các vùng sinh thái, làm chậm đi quá trình sản xuất đa dạng nông nghiệp hàng hóa, làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi

- Thiên tai: Với đặc thù khí hậu, thời tiết của vùng núi nên xảy ra các thiên tai sau:

+ Lũ lụt: Lượng mưa lớn tập trung vào các tháng 6, 7, 8 cộng với địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, thường gây lũ quét, lũ ống, trượt lở đất, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

+ Hạn hán: xuất hiện trùng với thời kỳ có độ ẩm thấp và gió Lào (từ tháng 2 đến tháng 5)

+ Mưa đá: thường xuất hiện trong thời gian 1 đến 2 ngày/năm

Trang 40

- Hệ thống suối Nậm Chà: Bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào ở độ cao 1.562m so với mặt nước biển, thuộc địa bàn xã Na Cô Sa Suối chính là hợp lưu của nhiều suối nhỏ đổ vào, chảy theo hướng Tây sang Đông và đổ vào suối Nậm Nhé tại khu vực xã Quảng Lâm huyện Mường Nhé

- Hệ thống suối Nậm Nhừ: Cũng bắt nguồn từ những dãy núi cao nằm trên đường biên giới Việt - Lào, thuộc địa bàn xã Nậm Nhừ; chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hợp với suối Nậm Chẩn tại địa bàn các xã Nà Khoa và

đổ vào suối Nậm Pồ

- Hệ thống suối Nậm Hằng: Bắt nguồn từ những dãy núi có độ cao 1.222m so với mặt nước biển thuộc địa bàn xã Phìn Hồ; suối chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, suối được hợp bởi nhiều khe nhỏ trên địa bàn các xã Phìn Hồ, Chà Tở, Chà Nưa lên có nước chảy quanh năm Suối chảy qua địa bàn các xã Chà Tở, Chà Nưa, Phìn Hồ sau đó hợp lưu với suối Nậm Pồ tại khu vực xã Chà Cang

- Hệ thống suối Nậm Pồ: Đây là suối lớn nhất của huyện, chảy qua địa bàn nhiều xã và được hợp lưu bởi rất nhiều suối khác lên nước chảy quanh năm

và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt của nhân dân trong huyện Bắt nguồn từ các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy qua địa bàn huyện với chiều dài khoảng 120km sau đó chảy sang tỉnh Lai Châu rồi đổ vào sông Đà

Tóm lại: Hệ thống sông suối trên địa bàn huyện khá dày với nhiều khe suối nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình cao dốc và chế độ mưa theo mùa vì vậy nguồn nước mặt ở đây

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w