1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng và tái sinh loài dẻ xanh (lithocarpus pseudosundaicus (hickel et a camus) camus) tại một số tỉnh miền núi phía bắc

61 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Camus Camus tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” nhằm góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm lâm học của loài, phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về nhân giống và gây trồng Dẻ xanh phục

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

_

LÊ VĂN QUANG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG VÀ TÁI SINH

LOÀI DẺ XANH (Lithocarpus pseudosundaicus (Hickel et A

Camus) Camus) TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS VÕ ĐẠI HẢI

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, theo chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp giai đoạn 2006 -

2020, thì đến năm 2020 ngành lâm nghiệp phấn đấu đạt mục tiêu sản lượng gỗ trong nước đạt 20 - 24 triệu m3/năm, trong đó có 10 triệu m3/năm là gỗ lớn Đây là một mục tiêu rất khó đạt được nếu xét theo khả năng cung cấp gỗ hiện tại, bởi một số lý

do sau:

- Thứ nhất, phần lớn diện tích rừng trồng của nước ta hiện nay là rừng trồng

gỗ nguyên liệu bằng các loài cây Keo, Bạch đàn phục vụ cho nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy, ván ép, ván dăm Việc thực hiện chuyển hoá các diện tích rừng này sang mục tiêu cung cấp gỗ lớn trong giai đoạn trước mắt cũng chỉ là những giải pháp mang tính tình thế Mặt khác, tính chất cơ lý gỗ của các loài cây này cũng khó thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng khó tính

- Thứ hai, mặc dù thông qua các chương trình, dự án (Chương trình 327, Dự

án 661) chúng ta đã xây dựng rất nhiều các mô hình trồng rừng bằng cây bản địa trên phạm vi cả nước bằng các loài Lim xanh, Lim xẹt, Lát hoa,… Tuy nhiên, phần lớn diện tích các mô hình này đều được đánh giá là không thành công Nguyên nhân

là do suất đầu tư cho trồng rừng cây bản địa còn thấp, sự hiểu biết về đặc điểm lâm học của các loài cây này còn thiếu, các loài này đều sinh trưởng chậm lâu cho thu hoạch nên không thu hút được người dân,… Do đó, khả năng cung cấp gỗ lớn từ các mô hình này là rất khó khăn

- Thứ ba, khả năng cung cấp gỗ lớn từ rừng tự nhiên của nước ta hiện nay là rất hạn chế khi mà phần lớn diện tích rừng tự nhiên nước ta hiện có là rừng nghèo, nghèo kiệt Bên cạnh đó, chính phủ đã có quyết định không cho phép khai thác rừng

tự nhiên cho mục tiêu thương mại, ngoại trừ những chủ rừng đã xây dựng được phương án quản lý rừng bền vững và được cấp chứng chỉ rừng

- Thứ tư, nguồn gỗ cung cấp nhập khẩu bằng nhiều con đường khác nhau từ các nước như Lào, Nam Phi cũng ngày càng cạn kiệt Bên cạnh đó, việc tham gia thực hiện hiệp định VPA/FLEGT (hiệp định tăng cường thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản) khiến các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam

Trang 3

phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về nguồn gốc gỗ hợp pháp nếu muốn xâm nhập vào các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và các nước EU

Như vậy, không còn con đường nào khác là chúng ta cần phải đẩy mạnh việc nghiên cứu, lựa chọn ra những loài cây trồng vừa có đặc tính sinh trưởng nhanh, gỗ lớn có chất lượng đủ tốt để đáp ứng thị hiếu của thị trường Đây là một thách thức rất lớn đối với ngành lâm nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay

Dẻ xanh hay còn được gọi là Sồi xanh, Sồi lông là cây gỗ thường xanh, thuộc

họ Dẻ (Fagaceae) có tên khoa học là Lithocarpus pseudosundaicus(Hickel et A

Camus) Camus Chiều cao của Dẻ xanh có thể đạt từ 10 - 20m, đường kính thân có thể đạt tới 30 cm Cây sinh trưởng nhanh, ưa sáng, tái sinh tốt dưới độ tàn che thấp

Gỗ cứng có mùi thơm, lõi to màu nâu đỏ, giác màu nâu nhạt, vòng năm không rõ,

gỗ trung bình, tỷ trọng 0,52 - 0,75; sau khi khô ít nứt nẻ, không biến dạng, sức co giãn lớn, ít mục, Với đặc điểm về sinh trưởng và tính chất gỗ như vậy, Dẻ xanh được xem là có triển vọng trong trồng rừng gỗ lớn hiện nay

Tuy nhiên, các thông tin cũng như công trình nghiên cứu về loài cây này còn rất ít ở cả trong và ngoài nước gây khó khăn cho việc gây trồng, phát triển Xuất

phát từ nhu cầu đó, đề tài thực hiện chuyên đề “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng

và tái sinh loài Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus(Hickel et A Camus) Camus) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc” nhằm góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm lâm

học của loài, phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu về nhân giống và gây trồng

Dẻ xanh phục vụ nhu cầu trồng rừng cung cấp gỗ lớn ở nước ta trong giai đoạn sắp tới

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

a Cấu trúc mật độ

Cũng theo tác giả Richards P.W (1952), trong rừng mưa nhiệt đới ở Nam Mỹ

và châu Phi, mật độ lâm phần (cây có đường kính ngang ngực từ 10 cm trở lên) biến động từ 390 - 1.710 cây/ha, trong đó mật độ của những cây có đường kính từ 41cm trở lên khoảng 39 - 60 cây/ha Baur G.N (1962), cũng cho biết: trong rừng mưa nguyên sinh ở Mã Lai trên diện tích một hecta có khoảng 550 cây có đường kính từ 10cm trở lên, trong đó những cây có đường kính trên 48cm từ 42 - 65 cây/ha [29]

Về mật độ tối ưu lâm phần, tác giả H Thomasius (1972) đã xây dựng lý thuyết khoảng sống và hằng số không gian sinh trưởng liên quan tới chiều cao, mật

độ và tuổi Kairukstis (1980) xác định mật độ tối ưu lâm phần theo diện tích tán lá

và mức độ che phủ Chiabera (1982) mô hình hóa mật độ tối ưu theo tuổi và lấy mật

độ tại tuổi 100 làm gốc (dẫn theo Nguyễn Ngọc Lung, 1987) [20] Nhưng các phương pháp này chỉ thích hợp cho nghiên cứu rừng thuần loài đều tuổi Đối với rừng hỗn loài khác tuổi, việc xác định tuổi lâm phần rất khó khăn, cho nên khó áp dụng đối với rừng nhiệt đới hỗn loài khác tuổi

Nghiên cứu của Joost E Duivenvoorden (1995) tại vùng Amazon thuộc Comlombia cho thấy, trong 95 ô tiêu chuẩn, với diện tích 0,1 ha, phân bố ở các vị trí địa hình khác nhau có 1077 loài với đường kính ngang ngực (DBH) ≥ 10cm Các loài này thuộc 271 giống của 60 họ, trong đó các họ Leguminosae và họ Sapotaceaecó nhiều loài có giá trị nhất [52]

b Cấu trúc tổ thành

Cấu trúc tổ thành là sự tham gia của những loài cây trong lâm phần, hay nói cách khác là sự phong phú của các loài cây trong quần thụ thực vật Theo tác giả Richards P.W (1952), trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi ha thường có ít nhất 40 loài cây gỗ, mà có trường hợp còn đến trên 100 loài [29]

Trang 5

Khi nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục (về sinh thái), Evans, J (1984) xác định, có tới 70 - 100 loài cây gỗ trên 1 ha, nhưng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài (dẫn theo Ngô Út, 2010) [46]

Theo Tolmachop A.L (1974) ở vùng nhiệt đới thành phần thực vật rất đa dạng thể hiện ở chỗ rất ít họ chiếm tỷ lệ 10% tổng số loài của hệ thực vật đó và tổng

tỷ lệ phần trăm của 10 họ có số loài lớn nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài (dẫn theo Viện Điều tra quy hoạch rừng, 2006) Trong rừng hỗn giao, nhiều loài cây gỗ lớn phân bố theo tỷ lệ khá cân bằng, tuy nhiên phần lớn trong một quần thụ thường có 1-2 loài chiếm ưu thế [47]

Schimper (1935) khi nghiên cứu rừng vùng Bắc Mỹ cho thấy có 25-30 loài thực vật thuộc nhóm cây cho gỗ lớn (dẫn theo Ngô Út, 2010) [46]

Laura Klappenbach cho rằng thành phân loài cây liên quan đến các loại rừng, một số khu rừng chứa đựng hàng trăm loài cây, trong khi đó một số khu rừng chỉ có một ít loài Rừng luôn luôn biến đổi và phát triển thông qua một chuỗi diễn thế, trong thời gian đó thành phần loài cây trong các khu rừng có sự thay đổi [53]

Tác giả Baur G.N (1962), khi nghiên cứu rừng mưa ở khu vực gần Belem trên sông Amazôn, trên một ô tiêu chuẩn diện tích khoảng 2 ha đã thống kê được 36

họ thực vật và trên ô tiêu chuẩn diện tích hơn 4 ha ở phía bắc New South Wales cũng đã ghi nhận được sự hiện diện của 31 họ chưa kể cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh (dẫn theo Ngô Út, 2010) [46]

Theo tác giả Catinot R (1974) trong rừng ẩm nhiệt đới Châu Phi có đến vài trăm loài thực vật; và trong tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á thường có một nhóm loài ưu thế là nhóm họ Dầu, chiếm đến 50% quần thụ [2]

c Cấu trúc tầng thứ

Rừng nhiệt đới hiện tượng phân tầng là một đặc trưng quan trọng dễ nhận biết Một trong những cơ sở định lượng để phân chia tầng thứlà quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao Đã có một số tác giả đề xuất các phương pháp nghiên cứu tầng thứ của rừng nhiệt đới, điển hình như phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng Davit và P.W Risa (1933 - 1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở

Trang 6

Guyan vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của nó nên nhiều tác giả có ý kiến không thống nhất nhau trong cách phân chia tầng thứ Chevalier (1917), Mildbraed ( 1922) đã ngụ ý rằng mọi phương pháp dựa vào chiều cao của cây để phân cây cối thành tầng đều có tính chất tùy tiện và các tầng đó không có một thực

tế khách quan Booberg (1932) đã lập đồ thị chiều cao của tất cả các cây gỗ đo được

trong các “khu rừng bảo vệ” ở Java và đi đến kết luận là không thể nhận ra có mấy

tầng cây như các tác giả khác đã mô tả Ngược lại, nhiều tác giả khác cho rằng rừng mưa thường có từ ba đến năm tầng: Brown (1919) khi nghiên cứu rừng cây họ Dầu tại Phillippines, đã cho biết là các cây gỗ lớn sắp xếp thành ba tầng khá rõ rệt Để nghiên cứu sự phân tầng trong rừng mưa ở Guana, Davis và Richards P.W ( 1933-1934) dùng phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng, phương pháp này được đánh giá có giá trị nhất về mặt nghiên cứu lí luận cũng như về thực tiễn sản xuất, kết quả đã phân rừng hỗn giao nguyên sinh ở sông Moraballi tại Guana thành năm tầng với ba tầng cây gỗ (A, B, C) tầng cây bụi (D) và tầng mặt đất (E) Richards P.W (1936) cho biết trong rừng cây họ Dầu hỗn hợp nguyên sinh ở núi Dulit tại Borneo có 3 tầng cây gỗ nhưng tầng A phân biệt rõ ràng còn tầng B và C khó xác định rõ ranh giới, ngoài ra còn có một tầng cây bụi và tầng thực vật mặt đất; năm

1939 ông cũng phân rừng hỗn hợp nguyên sinh ở Nigeria thành năm tầng với ba tầng cây gỗ Vaughan và Weihe (1941) nhận thấy rằng trong rừng cao đỉnh tại Moritiut sự phân tầng là có thực và Bear (1946) cũng mô tả sự phân tầng rõ rệt trong rừng Trinidad, với ba tầng cây gỗ và tầng cây bụi, tầng mặt đất (theo Richards P.W (1952)) Catinot (1974) cho rằng: rừng ẩm nhiệt đới có sự phân hoá mạnh, những tầng trong quần thụ rõ nét, cụ thể là có một tầng vượt tán với những cây có chiều cao trên 40m và những tầng bên dưới Ngoài ra, khi liệt kê các nghiên cứu về cấu trúc hình thái rừng nhiệt đới còn phải kể đến các tác giả như Catinot.R (1965),

Trang 7

Plandy.J (1978), đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ ngang và đứng (dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [35]

Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao

là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24 m, 24 - 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m Thực chất việc phân tầng này chỉ là phân chia rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi tầng cách nhau 6 m) [29] Odum E P (1971) chưa thống nhất với ý kiến cho rằng có sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả [8]

Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp của Kraft là: khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng trồng Theo phân cấp Kraft, cây rừng được chia làm hai nhóm: nhóm cây thống trị và nhóm cây bị chèn ép, tiếp đó ông phân chia cây rừng thành năm cấp dựa vào tình hình sinh trưởng của chúng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi Cho đến nay phân cấp này vẫn được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh rừng trồng (dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [35]

Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà được chấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thước và chất lượng cây rừng (dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [35]

Như vậy, nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của các tác giả trên mới chỉ đưa ra nhận xét mang tính định tính, phân chia tầng thứ dựa vào cấp chiều cao mang tính

cơ giới nên phần nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu trúc rừng nhiệt đới

Tóm lại, sự phân tầng trong rừng mưa nhiệt đới mặc dù có các ý kiến trái ngược, nhưng quan điểm có sự phân tầng rõ rệt trong rừng mưa nhiệt đới được nhiều nhà khoa học xác nhận

Trang 8

1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Tái sinh rừng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, duy trì và phát triển của thảm thực vật rừng Do vậy, nghiên cứu về tái sinh rừng đã được nhiều tác giả trên thế giới thực hiện Davis và Richards (1933-1934) nghiên cứu rừng mưa ở khu vực sông Moraballi, Guana, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến cao, trước hết là số mầm non dưới 2 m, tiếp đến là số cây non có đường kính dưới

10 cm và chiều cao trên 4,6 m, sau đó mới đến số cây gỗ có đường kính trên 10 cm với cỡ đường kính 10 cm Cây tái sinh được thống kê từ dưới 2 m đến chiều cao 4,6

m, với đường kính dưới 10 cm Tác giả Aubre’ville (1993) đã thống kê lớp cây non gồm những cây thuộc cấp đường kính nhỏ hơn 10 cm (Theo Richards P.W,1970) [29]

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng và sinh trưởng của tái sinh thì ánh sáng được xác nhận là quan trọng Balanford (1929) khi nghiên cứu tại vùng rừng thường xanh ở Malaixia nhận thấy tái sinh tốt nhất là tại những nơi có lỗ trống, ở đấy bề ngang không rộng quá 6 m; ở nơi có lỗ trống lớn hơn không thấy xuất hiện cây tái sinh ở giữa lỗ trống (dẫn theo Ngô Út, 2010) [46]

Theo Catinot R (1978) [3] khi nghiên cứu về tái sinh cây họ Dầu (Dipterocarpaceae), trong các khu rừng ở vùng Đông Nam châu Á, thấy rằng tái sinh cây họ Dầu hình thành từng vệt sau khai thác

Tuomela K và các cộng sự (1995) [40] nghiên cứu tái sinh ở các ô trống có diện tích từ 406 đến 1.242 m2 trong các khu rừng đã qua khai thác ở Kalimantan - Indonesia nhận thấy phân bố tần suất đường kính cây con ở các ô trống khác hẳn so với cây con ở vùng rừng xung quanh Điều đó cho thấy cây con họ Dầu bắt đầu phát triển mạnh sau khi mở tán, tốc độ sinh trưởng tỷ lệ nghịch với diện tích ô trống và

đã xác định diện tích ô trống thích hợp là khoảng 500 m2, như vậy cây họ Dầu chịu ảnh hưởng hưởng lớn của nhân tố ánh sáng

Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh

Trang 9

dưỡng khoáng của đất, ánh sáng, ẩm độ và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các cá thể tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật I.N.Nakhtenko (1973) cho rằng: sự trùng hợp cao của sự hấp thụ dinh dưỡng giữa hai loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trưởng và làm tăng áp lực cạnh tranh giữa hai loài (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [32]

Đối với rừng thuần loài cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng tái sinh tự nhiên của loại rừng này Mary L Duryea (1981) [54] nghiên cứu về tái sinh của rừng thông thuần loài đã đề xuất 6 bước để thực hiện tái sinh tự nhiên, bao gồm: Lựa chọn cây làm giống; xây dựng kế hoạch để xác định mùa giống tốt; khai thác rừng thông; chuẩn bị hiện trường (có thể đốt hoặc cày xới đất, để hạt dễ tiếp xúc, nẩy mầm); khai thác những cây còn chừa lại; kiểm soát các loài thực bì để cây thông con phát triển

Khi nghiên cứu về tái sinh và quản lý rừng mưa các tác giả Arturo Pompa, Timothy Charles Whitmore and Malcolm Hedley (1991) [50] đã đề cập đến khả năng tái sinh cũng như những yếu cầu về quản lý đối với tái sinh rừng, những vấn đề liên quan chủ yếu là thành phần đa dạng sinh học, các động lực tái sinh ở các

Gomez-tỷ lệ không gian khác nhau, sinh lý thực vật của các loài mọc nhanh, khả năng tái sản xuất và di truyền, quả và quan hệ sinh thái chất nuôi dưỡng với cây con và cuối cùng là những vấn đề liên quan đến quản lý rừng

Tổ chức FAO tại Bangkok - Thái Lan đã tổng kết những tiến bộ trong việc

hỗ trợ phục hồi tái sinh rừng tự nhiên vùng Châu Á - Thái Bình Dương, các tác giả Patrick C Dugan, Patrick B Durst, David J Ganz và Philip J.McKenzie (2003) [55]

đã tập hợp các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tái sinh rừng tự nhiên tại các nước, gồm: kiểm soát lửa rừng, hạn chế chăn thả, ngăn chặn sự phát triển của các loài cỏ tranh và một vấn đề quan trọng là thu hút cộng đồng địa phương cũng như chính sách của Chính phủ đối với phục hồi tái sinh rừng tự nhiên

Các nghiên cứu tại vùng Conecticut - Mỹ, các tác giả Jeffrey S Ward, Thomas E Worthley (2008) [51] đã đưa ra các nhân tố giới hạn ảnh hưởng tới sự phát triển của các loài cây tái sinh, bao gồm: ánh sáng và không gian dinh dưỡng;

Trang 10

đất; độ ẩm đất; chất đất; sự cạnh tranh; sự phát triển của quần thụ, trong đó ánh sáng được xác định là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự hình thành phát triển của cây tái sinh,

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới đã cung cấp các thông tin về phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số vùng và ở một số kiểu rừng khác nhau Tuy vậy, thảm thực vật rừng nhiệt đới đa dạng và rất phức tạp, sự phát sinh và phát triển của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa lý Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất

1.1.3 Nghiên cứu về cây Dẻ xanh

* Tên gọi, phân loại:

Dẻ xanh có tên khoa học là Lithocarpus pseudosundaicus (Hickel et A Camus) Camus, thuộc chi Lithrocarpus họ Fagaceae Trên thế giới chi này có

khoảng 300 loài, trong đó chủ yếu tập trung ở Châu Á, 1 loài ở Bắc Mỹ và với khoảng 123 loài có phân bố ở Trung Quốc [49]

Đặc điểm chung của chi Lithrocarpus là những cây gỗ trung bình đến gỗ lớn,

vỏ nhẵn và nứt dọc Lá đơn, mép lá nguyên, phiến dày Cụm hoa dạng đuôi sóc, đơn tính, lưỡng tính hoặc hỗn hợp, thường mọc thẳng đứng, cụm hoa đực đơn độc ở nách các lá hoa đực có (8)12 nhị, bao phấn đính lưng Mầm đấu chỉ phát triển rõ sau khi hoa nở, đơn độc hoặc lưỡng phân, hình vòng, bầu có 3(6) ô, vòi nhuỵ 3-6, hình nón hoặc hình trụ ; núm nhuỵ ở đỉnh, hình chấm nhỏ Đấu hình chén hoặc hình cầu, có vảy vòng đồng tâm với răng nhọn, phần lớn một đấu bao một hạch Ngoài ra, Dẻ

xanh còn được gọi với tên đồng nghĩa là Pasania pseudodundaica (Hickel et A Camus) Tuy nhiên, tên gọi Lithocarpus pseudosundaicus (Hickel et A Camus)

Camus được hầu hết các nhà thực vật trên thế giới sử dụng (Khamleck Xaydala, 2004) [15]

* Đặc điểm hình thái :

Hiện có rất ít công trình nghiên cứu trên thế giới mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái của loài cây này Theo các tài liệu thu thập được thì Dẻ xanh là loài cây gỗ

Trang 11

lớn, thường xanh, thân thẳng, vỏ nứt dọc Lá đơn mọc cách, mặt trên xanh bóng, mặt dưới màu trắng bạc, phủ lông ngắn Hoa đơn tính cùng gốc Quả hình nón cong, khi chín màu nâu, nhẵn bóng (sv.wikipedia.org) [57]

* Đặc điểm sinh thái, phân bố :

Khamleck Xaydala (2004) [15] khi nghiên cứu về đặc điểm phân bố của nhóm các loài cây họ Dẻ trên các kiểu rừng khác nhau tại Lào, bao gồm: Rừng thường xanh vùng cao, rừng thường xanh khô vùng cao, rừng cây lá kim, rừng cây nửa rụng lá (vùng thấp và vùng cao) Tác giả nghiên cứu ở cả 3 vùng Bắc, Trung và Nam Lào, ở độ cao từ 160 - 2000m Kết quả nghiên cứu cho thấy, Dẻ xanh có phân

bố tập trung chủ yếu ở độ cao 600 - 800m so với mực nước biển, thuộc loại rừng nửa rụng lá thuộc vĩ độ từ 14005‘ đến 160 Nam của nước Lào Cây phân bố ở những khu vực có tầng đất dày, độ pH từ 5 - 7, lượng mưa bình quân năm khoảng 2.000

mm, nhiệt độ bình quân năm 240C Cây có khả năng tái sinh hạt tốt

* Giá trị sử dụng:

Dẻ xanh có gỗ cứng có mùi thơm, lõi to màu nâu đỏ, giác màu nâu nhạt, vòng năm không rõ, gỗ trung bình, tỷ trọng 0,52-0,75, sau khi khô ít nứt nẻ, không biến dạng, sức co giãn lớn, ít mục, Gỗ thường được sử dụng để làm nhà, đóng đồ mộc và các đồ gia dụng Vỏ Dẻ xanh có chứa tanin có thể sử dụng để nhuộm vải hoặc chữa bệnh cho gia súc Cây thường xanh, sinh trưởng nhanh nên có thể sử dụng để trồng rừng với mục tiêu cung cấp gỗ lớn, trồng rừng phòng hộ hoặc cảnh quan môi trường (Khamleck Xaydala, 2004) [15]

* Tình hình nhân giống và kỹ thuật gây trồng :

Phần lớn các nghiên cứu thử nghiệm về kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khai thác, sử dụng mới chỉ ở phạm vi quy mô nhỏ và có rất ít tài liệu mô tả về điều này Tuy nhiên, lợi ích từ gỗ của Dẻ xanh tiềm năng mang lại là rất lớn, chưa kể tới khả năng thích ứng và chống chịu tốt của loài có thể đáp ứng được các mục tiêu về phòng

hộ, cảnh quan Do vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu gây trồng loài cây bản địa này

Trang 12

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

a Cấu trúc mật độ

Cấu trúc mật độ là số lượng cây trên một đơn vị diện tích, cấu trúc này

có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng phát triển của lâm phần Trong kinh doanh rừng, việc xác định mật độ thích hợp trong trồng rừng có ý nghĩa quan trọng Nhằm mục đích xác định mật độ tối ưu cho lâm phần, Nguyễn Ngọc Lung (1987) trong khi nghiên cứu trên đối tượng rừng thông ba lá Tây Nguyên, đã sử dụng 3 phương trình kinh nghiệm biểu thị nhu cầu không gian dinh dưỡng, trong đó dạng phương trình GT = a +p.A ( GT là diện tích hình chiếu thẳng đứng tán lá, A là tuổi của lâm phần, a và p là các tham số) được chọn làm cơ sở để xây dựng mô hình mật độ hợp lí Phương pháp này chỉ phù hợp cho đối tượng rừng thuần loài [21]

Tác giả Trần Văn Con (1992) đề nghị ứng dụng mô phỏng toán trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên dựa trên tương quan giữa tổng số cây và tiết diện ngang của lâm phần rừng khộp, tính toán các tham số phù hợp cho mỗi dạng cấu trúc để xác định mật độ tối ưu của lâm phần; qua đó cũng cho biết rằng rừng Khộp Tây Nguyên rất thưa, độ đầy chỉ đạt từ 0,4- 0,7 [6]

Về nghiên cứu hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất, Nguyễn Hải Tuất (1990) [42], Nguyễn Hải Tuất và Ngô Kim Khôi (1994) [43] bằng phương pháp kiểm tra mức độ sai khác giữa số trung bình khoảng cách từ một cây được chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất với trị số bình quân lí thuyết, kết hợp với sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn tiêu chuẩn đánh giá khi dung lượng mẫu đủ lớn, xác định hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất cho các trạng thái rừng

từ IIA đến IV

Vận dụng phương pháp trên, Bảo Huy (1990, 1993) dùng phân bố khoảng cách và kiểm tra bằng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn để xác định các kiểu phân bố cây rừng trên bề mặt cho các đơn vị phân loại của lâm phần Bằng lăng ở Đắk Lắk [11] Lê Sáu (1996), áp dụng khi nghiên cứu phân bố cây ở các lâm phần rừng tự

Trang 13

nhiên Kon Hà Nừng[30] Trần Cẩm Tú (1999) áp dụng cho đối tượng rừng tự nhiên

ở Hương Sơn - Hà Tĩnh [44]

Từ cự ly bình quân cây rừng tính toán theo phương pháp trên, kết hợp với việc xác định mô hình cấu trúc N/D định hướng, tính toán được mô hình cự ly bình quân tối ưu giữa các cây rừng theo cỡ kính phục vụ cho công tác bài cây khai thác, tỉa thưa nuôi dưỡng rừng, (Bảo Huy, 1993) [11]

b Cấu trúc tổ thành

Cấu trúc tổ thành thực chất là sự tham gia của các thành phần loài cây trong quần thể cây rừng Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam, trên quan điểm

hệ sinh thái, Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999) đã dựa trên số lượng và sinh khối

nhóm loài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để phân định các ưu hợp và phức hợp Nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp không quá 10 loài, tỉ lệ cá thể của

mỗi loài ưu thế chiếm khoảng 5% và tổng số cá thể của 10 loài ưu thế đó phải chiếm 40-50% tổng số cá thể cây của các tầng lập quần trong quần thể trên đơn vị diện tích điều tra Trường hợp độ ưu thế các loài cây không rõ ràng gọi là các phức hợp [37]

Do đặc trưng khí hậu và đất thuận lợi cho nhiều loài cây cùng phát triển, cho nên trong rừng tự nhiên hỗn loài nhiệt đới hiếm khi chỉ có một loài ưu thế duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới Theo Nguyễn Hồng Quân (1982), trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng 60 loài, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Trương (1983), cho rằng: trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ từ trạng thái rừng sào trở lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhưng trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươn đến lớp không gian cao 30m chỉ từ 10 - 20% Nguyễn Ngọc Lung (1991) qua điều tra các dạng rừng khí hậu ở Hương Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phương khác, cũng cho biết: trên ô tiêu chuẩn diện tích một ha thường có từ 23 - 25 loài, với

số cây thấp nhất 317 cây và cao nhất đến 859 cây trên một ha [22], [28], [38]

So sánh với khu vực khác trên thế giới, Phạm Hoàng Hộ (1999) cho biết: nếu

ở rừng Amazon, trung bình có khoảng 90 loài trên ha, thì ở Đông Nam Á đến 160

Trang 14

loài [9].

Để đánh giá tổ thành rừng, nhiều tác giả đã sử dụng công thức tổ thành trên tỉ

lệ phần mười theo số cây, tiết diện ngang, hoặc chỉ số IV%, trong đó phương pháp tính tỉ lệ tổ thành (IV%) theo phương pháp của Daniel Marmillod, Vũ Đình Huề (1984) thường được các nhà khoa học vận dụng trong những công trình nghiên cứu cấu trúc rừng [12]

Về nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa các loài cây trong rừng tự nhiên, Nguyễn Hải Tuất (1991), đã sử dụng phương pháp tương quan giữa hai sự kiện và phương pháp kiểm tra tính độc lập bằng mẫu biểu 2 x 2 Hạn chế của phương pháp trên là kết quả đánh giá phụ thuộc vào độ lớn của ô thu thập số liệu, và tác giả đã đề xuất có thể dùng phương pháp 6 cây để đánh giá sẽ khách quan hơn [41]

Bùi Đoàn (2001) đã áp dụng phương pháp phân tích định tính (dựa vào tổ thành ưu thế các loài tham gia lập quần và tầng ưu thế sinh thái) và phương pháp

sinh thái định lượng của M Gounot (1965), để phân các "nhóm sinh thái" phục vụ

công tác điều chế rừng lá rộng thường xanh ở Kon Hà Nừng [7] Nguyễn Văn Thêm (2004), nghiên cứu sự kết nhóm giữa các loài trong rừng thường xanh ở Đồng Nai,

đã sử dụng bảng chéo 2x2, kiểm định tính độc lập giữa các loài cây dùng tiêu chuẩn

2; nếu hai loài có quan hệ với nhau sẽ tính cường độ liên hệ theo thống kê Lambda, Phi và Cramer’s.V; và khi có mặt nhiều loài cây trên ô, thì mối liên hệ giữa hai loài được xác định thông qua hệ số kết nhóm riêng phần Thật ra phương pháp tính toán của hai tác giả này phức tạp, khó áp dụng hơn phương pháp mà các tác giả nêu trên

đã sử dụng

Như vậy, có thể thấy rằng rừng tự nhiên nhiệt đới là các kiểu rừng có cấu trúc sinh thái phức tạp nhất về thành phần loài, tầng phiến và dạng sống thể hiện sự phong phú về đa dạng sinh học Các chỉ tiêu để chỉ sự đa dạng về loài của rừng tự nhiên là hệ số hỗn loài (số loài/số cây) Trong rừng tự nhiên ở Việt Nam hệ số này biến động từ 1/5 đến 1/13 (nếu số cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 10 cm trở lên trong 1 ha bình quân là 500 cây thì số loài biến động từ 38 - 100 loài/ha) Cấu trúc tổ thành loài nghiên cứu về tầm quan trọng sinh thái của mỗi loài trong quần

Trang 15

thụ, các chỉ tiêu để định lượng về tổ thành thường được dùng là chỉ số IV (Important Value Index) tính bằng % Giá trị này được tính cho tỷ trọng số cây của một loài so với tổng quần thụ, hay tỷ trọng tiết diện ngang G, hoặc tổng của hai chỉ tiêu này Các loài có giá trị IV%> 5% được xếp vào các loài ưu thế Phục vụ mục tiêu quản lý, người ta cũng nghiên cứu các quan hệ tương hỗ giữa các loài (nhóm sinh thái); nhóm các loài mục đích, các loài phù trợ và các loài phi mục đích Sự phân chia này là tương đối vì loài phi mục đích hôm nay có thể trở thành loài kinh

tế trong tương lai và ngược lại Việc khai thác rừng sẽ làm thay đổi cấu trúc tổ thành loài Nghiên cứu ở Lâm Trường Ba Rền cho thấy, trong khi nhóm loài cây mục đích ở rừng giàu và trung bình chiếm 30-50% thì ở rừng nghèo sau khai thác nhiều lần chỉ chiếm 13 - 25% Ở Hương Sơn có những vùng Chẹo và Ngát chiếm 32%, các loài khác chiếm 41% nghĩa là 73% ưu thế là các loài kém giá trị kinh tế Tại Kon Hà Nừng cũng nhận thấy tổ thành các loài có giá trị kinh tế ở rừng giàu (Giổi, Sữa, Xoay, Re, Xoan đào, Thông nàng, ) chiếm 20% trong khi ở rừng nghèo chỉ có 13% dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [35]

c Cấu trúc tầng thứ

Trên quan điểm nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của rừng, khác với một số tác giả nước ngoài về quan điểm tầng thứ trong rừng nhiệt đới, ở Việt Nam hầu như các nhà khoa học đều thống nhất là có sự phân tầng trong rừng tự nhiên Sự phân tầng đó khá rõ rệt, có ý nghĩa quan trọng trong hệ sinh thái và đồng thời tạo ra sự đa dạng sinh học của rừng nhiệt đới

Thái Văn Trừng (1963, 1978) [37] đã phân rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Việt Nam thành năm tầng: tầng vượt tán A1, tầng ưu thế sinh thái A2, tầng dưới tán A3, tầng cây bụi thấp B và tầng cỏ quyết C

Trần Ngũ Phương (1970, 1998, 1999) cho rằng: số tầng nhiều nhất trong đai rừng nhiệt đới mưa mùa ở Việt Nam là năm, kể cả tầng cây bụi và thảm tươi Nhưng theo ông việc phân tầng theo các cấp chiều cao là không khoa học Thực tế nếu phân tầng mà không chỉ rõ giới hạn cấp chiều cao, thì việc phân tầng ấy chỉ đơn thuần mang tính chất định tính [26]

Trang 16

Theo Nguyễn Văn Trương (1973, 1983) khi nghiên cứu cấu trúc đứng của rừng tự nhiên ở các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Giang, Bắc Kạn và Tuyên Quang,

đã chia chiều cao rừng từ đỉnh cây cao nhất đến cây thấp nhất thành một số cấp chiều cao theo công thức Hoppman và gộp thành năm cấp chiều cao [39] Lê Minh Trung (1991,1992), trên cơ sở phân cấp chiều cao với cự li cấp là hai mét; đã phân các ưu hợp Giổi xanh, ưu hợp Bằng lăng thành ba tầng và ưu hợp dầu đỏ thành hai tầng với giá trị các đường giới hạn tầng khác nhau cho rừng ở vùng Gia Nghĩa - Đắc Nông [44] Đào Công Khanh (1996), cũng cho biết: trong rừng mưa nhiệt đới,

sự ứ đọng tầng tán hình thành tầng tích tụ ở một vài cấp chiều cao là tồn tại rõ rệt;

và theo Vũ Đình Phương (1998), việc xác định giới hạn của các tầng thứ chỉ có thể làm được khi có sự phân tầng rõ rệt, tức là rừng đã phát triển ổn định và rừng lá rộng thường xanh ở nước ta vào giai đoạn ổn định thường có ba tầng,… [27]

Qua đây cho thấy quan điểm phân chia mặt cắt đứng của rừng thành các cấp chiều cao để có cơ sở định lượng cấu trúc, được nhiều nhà khoa học tán thành và áp dụng

1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Thái Văn Trừng (1978) [37] cho rằng tái sinh tự nhiên thực vật rừng nhiệt đới có 2 cách: tái sinh liên tục dưới tán rừng rậm của các loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn các lỗ trống

Các nghiên cứu của chuyên gia Trung Quốc tại khu vực Quỳ Châu, Nghệ An năm 1964 đã phân chia tiêu chuẩn để đánh giá tái sinh tự nhiên dựa trên cơ sở số lượng cây tái sinh cho một hecta, gồm: rất tốt >12.000 cây/ha; tốt: 8000-12.000 cây/ha; trung bình: 4.000-8.000 cây/ha; xấu:2000-4000 cây/ha; Rất xấu: < 2000 cây/ha (theo Trần Xuân Thiệp (1996) [33]

Vũ Đình Huề (1975) [12] đã có đánh giá khái quát về tái sinh rừng tự nhiên ở rừng miền Bắc Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Lung (1983) [18],[19] tại Kon Hà Nừng cho thấy cây tái sinh bình quân đạt 10.000-13.000 cây/ha từ cây mạ cho tới cây có đường kính dưới 10 cm Cây tái sinh bị phân hóa mạnh, dưới tán rừng già khó tìm thấy cây con của một số loài ưu thế tầng trên

Trang 17

Theo Nguyễn Hồng Quân (1984) [28] ánh sáng có vai trò lớn trong quá trình phát triển cây tái sinh Do có những cây có D=12-30 cm với chiều cao 11-20 m, tạo nên tầng tán chính của rừng, tầng này không bị tác động qua khai thác, gây nên sự ứ đọng tán, không cho ánh sáng lọt xuống gây ảnh hưởng đến tái sinh của các loài cây

kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ (H<20 cm) chiếm ưu thế

rõ rệt so với cây ở các cấp kính khác Những loài cây gỗ mềm, mọc nhanh có khuynh hướng lan tràn và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Trong khi đó các loài cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm, chiếm tỷ lệ rất thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng ở thế hệ sau trong rừng tự nhiên

Ngô Văn Trai (1995) [36] nghiên cứu tái sinh rừng một số trạng thái rừng ở Tây Nguyên và đề xuất một số biện pháp lâm sinh phục hồi rừng

Nguyễn Duy Chuyên (1996) [5] tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng lá rộng thường xanh hỗn loài tại Quỳ Châu, Nghệ An cho thấy: trạng thái rừng loại IV và IIIB có số lượng cây tái sinh lớn nhất: 3.200-4.000 cây/ha (cao nhất là IIIB), các trạng thái rừng IIIA có số lượng cây tái sinh thấp hơn, trong đó IIIA1 có 1.500 cây/ha

Trần Xuân Thiệp (1996) [33] qua nghiên cứu tại vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh

đã cho rằng phương thức khai thác chọn đã có tác dụng thúc đẩy tái sinh thông qua việc mở tán rừng sau mỗi lần khai thác, do đó số loài và số lượng cây tái sinh phong phú hơn rừng nguyên sinh Số lượng cây tái sinh trung bình 6.000-10.000 cây/ha cho trạng thái IV và IIIB, không chênh lệch quá lớn đối với các trạng thái rừng có

độ tàn che thấp hơn IIIA1, IIIA2, IIIA3 Tác giả cũng đã dựa vào số cây tái sinh có triển vọng (H ≥ 1,5 m) để đánh giá tái sinh theo 3 cấp: tái sinh xấu < 1.000 cây/ha; tái sinh trung bình: 1.000 -3.000 cây/ha; tái sinh tốt: > 3.000 cây/ha Đối với trạng

Trang 18

thái rừng loại IV phân chia theo: xấu < 500 cây/ha; trung bình 500- 1.500 cây/ha; tốt > 1.500 cây/ha

Nhiều tác giả khác cũng đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên như Vũ VănNhâm (1992) [23], Trần Ngũ Phương (1970, 1998) [24],[25] Ngô Kim Khôi (1999) [16] đã dùng tiêu chuẩn U để nghiên cứu hình thái phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng, đã chọn hàm Meyer để mô hình hóa quy luật cấu trúc tần số phân bố số cây, số loài tái sinh theo cấp chiều cao tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Mát

Theo nghiên cứu của Viện Điều tra quy hoạch rừng (2005) [48] cho biết mật

độ cây gỗ của trạng thái IIA, IIb biến động tùy theo từng vùng, thường trong khoảng 700-1000 cây/ha Rừng kín cây lá rộng thường xanh phục hồi thường có mật độ cao hơn so với rừng cây lá rộng nửa rụng lá và rụng lá phục hồi Tái sinh dưới tán rừng phục hồi có mật độ tái sinh tương đối cao và biến động từ 2000 đến 18.000 cây/ha Rừng phục hồi thường xanh có mật độ cây tái sinh cao hơn so với rừng nửa rụng lá và rụng lá

Phạm Đình Tam (2001) [31] nghiên cứu tại Kon Hà Nừng cho rằng tái sinh

tự nhiên ở rừng khai thác chọn với cường độ 50% có nhiều triển vọng hơn so với cường độ 30% Vấn đề này cần được thảo luận thêm, vì do tán rừng được mở quá rộng không phải loài nào cũng có điều kiện thuận lợi cho quá trình tái sinh, nhất là các loài cây gỗ ưa bóng trong giai đoạn đầu

Đinh Hữu Khánh (2006) [14] đã nghiên cứu cơ sở khoa học xác định và phân loại đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng ở một số tỉnh Nam Trung bộ, đã xác định được 9 nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng và dựa vào các yếu tố chủ yếu: mật độ cây tái sinh/ha, chiều cao trung bình của các loài cây gỗ tái sinh, số tháng hạn trong năm, lượng mưa trung bình năm, cấp hạng đất để phân chia khả năng phục hồi rừng

từ trạng thái IC với các khoảng thời gian >8 năm; 5- 8 năm và < 5 năm,

Như vậy, vấn đề tái sinh rừng tự nhiên đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều vùng snh thái cũng như nhiều kiểu rừng khác nhau Tuy nhiên, do đặc

Trang 19

điểm tái sinh tự nhiên có nhiều khác biệt giữa các vùng, các địa phương nên để ứng dụng cần có những nghiên cứu cụ thể

1.2.3 Nghiên cứu về cây Dẻ xanh

* Tên gọi, phân loại:

Dẻ xanh hay còn gọi là Sồi xanh có tên khoa học là Lithocarpus pseudosundaicus (Hicket et A Camus) Camus Là cây thuộc họ Dẻ Fagaceae, chi Lithocarpus Ngoài ra, Dẻ xanh còn có một số tên khoa học khác như: Pasania pseudosundaicaHickel & A Camus hoặc Quercus sundaica Drake [58] Tuy nhiên, tên khoa học Lithocarpus pseudosundaicus (Hicket et A Camus) Camus được phần

lớn các nhà phân loại thực vật trên thế giới sử dụng (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [4]

* Đặc điểm hình thái:

Dẻ xanh là cây gỗ nhỡ, cao 14 - 17m Thân thẳng, vỏ nứt dọc Cành non phủ lông mềm, màu nâu vàng sau nhẵn Lá hình trái xoan hay trứng ngược dài 8 - 15cm, rộng 3,5 - 8,5 cm, đầu có mũi lồi dài, đuôi nhọn dần, mép lá nguyên, gân bên 10 -

12 đôi nổi rõ ở mặt dưới lá, mặt trên lá nhẵn, mặt dưới hơi bạc phủ lông ngắn màu nâu vàng nhạt Cuống lá dài 0,5 - 1 cm Lá kèm hình ngọn giáo dài, dễ rụng.Hoa đơn tính cùng gốc Hoa đực hình bông đuôi sóc dựng nghiên, hoa nhỏ xếp sát nhau, bao hoa 6, nhị 10 - 12 Hoa tự cái hình bông đuôi sóc dài 20cm, cuống thô Đaá không cuống mọc từng cụm 3 chiếc, đỡ 1/3 quả Vẩy trên đấu hình tam giác xếp thành vòng, phủ nhiều lông, hàng vẩy phía trong có mũi dài Quả hình nón cong, đường kính 1.7 - 2cm, hơi dẹt, khi chín màu nâu, nhẵn bóng Sẹo lõm gần bằng đường kính quả (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [4]

Tuy nhiên, các tác giả Trần Hợp, Nguyễn Bội Quỳnh lại cho rằng chiều cao của Dẻ xanh từ 10 - 20m, đường kính thân có thể đạt tới 30 cm (Cây gỗ kinh tế, trang 379) [10] Theo quan niệm hiện nay thì gỗ có đường kính >25cm là đạt tiêu chuẩn gỗ lớn, vì vậy gỗ Dẻ xanh có thể xem là gỗ lớn (Thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011) [1]

* Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Trang 20

Dẻ xanh là cây sinh trưởng nhanh Mùa ra hoa tháng 4, quả chín tháng 8 - 10 Cây ưa sáng, tái sinh chồi tốt dưới độ tàn che thấp Cây phân bố rải rác trong rừng thứ sinh ở độ cao 400 - 500m trở xuống so với mực nước biển, thường gặp ở miền Bắc Cây có khả năng tái sinh hạt tốt (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [4]

Thường gặp Dẻ xanh trong các khu rừng thường xanh, rừng mưa mùa nhiệt đới hay á nhiệt đới tại các tỉnh Bắc Bộ như Sơn La, Cao Bằng, Yên Bái, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội (Ba vì) và các tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Komtum, các tỉnh Nam Trung Bộ như Ninh Thuận, Bình Thuận (Trần Hợp, 2002) [10]

Kết quả điều tra đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bến En - tỉnh Thanh Hóa của Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008) [56] đã cho thấy Dẻ xanh là loài khá phổ biến ở khu vực và chiếm ưu thế ở tầng tán chính có chiều cao khoảng 15m

Ngoài ra, Dẻ xanh cũng phát hiện thấy có phân bố trong rừng tự nhiên nghèo kiệt tại Quảng Bình [45]

* Tình hình nhân giống và kỹ thuật gây trồng:

Cũng như đa số các loài cây trong họ, việc nghiên cứu và gây trồng loài Dẻ xanh còn rất ít được thực hiện ở Việt Nam Hiện chỉ có một số vườn sưu tập thực vật của các trường đại học, các vườn quốc gia có nhân giống và trồng thử nghiệm loài cây này như vườn quốc gia Xuân Sơn, vườn quốc gia Đền Hùng,… với số lượng cây trồng không lớn, thường 20 - 40 cây/vườn Tuy nhiên, kết quả bước đầu cho thấy cây tỏ ra sinh trưởng rất nhanh và có triển vọng cao để trồng rừng cung cấp gỗ lớn

Trang 21

- Dẻ xanh là loài cây bản địa có biên độ sinh thái rộng, sinh trưởng nhanh, gỗ cứng, tỷ trọng gỗ từ 0,52 - 0,75, gỗ ít cong vênh, chống mối mọt, cây có thể đáp ứng được mục tiêu các sản phẩm làm đồ gỗ nội thất, đồ gia dụng Đây là loài cây rất

có triển vọng trong trồng rừng gỗ lớn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, cũng giống như nhiều loài cây bản địa khác, việc phát triển trồng rừng Dẻ xanh ở nước ta hiện nay còn rất nhiều khó khăn do những hiểu biết về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài còn rất nhiều hạn chế, thông tin tản mạn Chính vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm phân bố, cấu trúc, tái sinh của loài trong môi trường phân

bố tự nhiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm lâm học của loài, làm cơ sở cho việc định hướng các nghiên cứu chuyên sâu về nhân giống cũng như trồng rừng thâm canh loài Dẻ xanh cho mục tiêu cung cấp gỗ lớn Do đó, nghiên cứu của đề tài là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn cả về khoa học lẫn thực tiễn

Trang 22

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát:

Góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ xanh trong môi trường phân bố tự nhiên làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển loài cây bản địa có giá trị này cho mục tiêu cung cấp gỗ lớn

2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số trạng thái rừng tự nhiên có loài Dẻ xanh phân bốở một số tỉnh miền núi phía Bắc

* Giới hạn nghiên cứu:

- Giới hạn về nội dung:

Đề tài chỉ tiến hành điều tra một số đặc điểm về phân bố, cấu trúc của tầng cây cao và tầng cây tái sinh rừng tự nhiên nơi có loài Dẻ xanh phân bố làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển Do hạn chế về mặt thời gian cũng như kinh phí thực hiện các nghiên cứu về hình thái, vật hậu, không được thực hiện trong đề tài này

- Giới hạn về địa điểm:

Nghiên cứu được thực hiện tại một số trạng thái rừng tự nhiên (IIA, IIB, IIIA1, IIIA3) thuộc 8 tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có loài Dẻ xanh phân bố bao gồm: Bắc Giang, Hà Giang, Hà Nội (Vườn Quốc gia Ba Vì), Cao Bằng, Hoà Bình, Lào Cai, Tuyên Quang và Vĩnh Phúc

Trang 23

- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9

năm 2015 đến tháng 4 năm 2016

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra các nội dung sau:

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Dẻ xanh

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Dẻ xanh phân bố

- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Dẻ xanh

- Bước đầu đề xuất một số giải pháp phát triển loài Dẻ xanh tại một số tỉnh miền núi phía Bắc

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận

- Rừng tự nhiên nơi có loài Dẻ xanh phân bố là một hệ sinh thái với sự tồn tại của nhiều quần thể, quần xã khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ mật thiết Do

đó, việc nghiên cứu không thể tách rời loài Dẻ xanh mà cần xem xét sự tồn tại và phát triển của nó với tổng hoà các mối liên hệ với lâm phần Trên cơ sở đó, phát hiện những đặc điểm lâm học của loài

- Dẻ xanh hiếm khi mọc thành quần thụ tập trung mà thường mọc rải rác trong các lâm phần rừng tự nhiên, ở nhiều đai cao khác nhau Do đó, để có thể phát hiện quy luật phân bố của loài cần thực hiện nghiên cứu điều tra theo tuyến kết hợp với phương pháp điều tra chi tiết trên OTC theo phương pháp điều tra rừng thông dụng

- Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc và tái sinh của rừng tự nhiên nơi có loài Dẻ xanh phân bố mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu phục vụ cho việc đề xuất những định hướng nghiên cứu chuyên sâu về chọn, tạo giống, gây trồng sau này

- Do hạn chế về mặt thời gian, cũng như kinh phí thực hiện, quan điểm kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở trong và ngoài nước luôn được sử dụng trong chuyên đề nghiên cứu

Trang 24

- Việc điều tra, sơ khám dựa trên những hiểu biết của cán bộ quản lý lâm nghiệp các cấp (tỉnh, huyện, xã) và người dân địa phương là rất cần thiết Do đó, phương pháp tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên đều được sử dụng trong chuyên đề

Sơ đồ các bước thực hiện nghiên cứu của đề tài được thể hiện tại hình 2.1

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài

2.4.2 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa có chọn lọc:

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu, công

trình nghiên cứu về loài Dẻ xanh ở

trong và ngoài nước

Phỏng vấn cơ quan quản lý lâm nghiệp các cấp và người dân địa phương để xác định khu vực có loài Dẻ xanh phân

- Mật độ

- Tổ thành

- Tầng thứ và độ tàn che

Điều tra đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh:

- Mật độ, tổ thành

- Nguồn gốc, chất lượng tái sinh

- Tỷ lệ cây tái sinh triển vọng,

Trang 25

- Các số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan về đặc điểm phân

bố, sinh thái của loài Dẻ xanh đã được thực hiện ở trong và ngoài nước

- Các tài liệu về mô tả và phân loại thực vật đã công bố

- Các số liệu, tài liệu, báo cáo về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thuỷ văn, đặc điểm đất đai khu vực có loài Dẻ xanh phân bố tự nhiên,…

- Các tài liệu, báo cáo có liên quan tới phương pháp điều tra một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự nhiên thông dụng ở Việt Nam

2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu ngoài hiện trường

2.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố loài Dẻ xanh

Trên cơ sở các tài liệu đã công bố về nơi phân bố tự nhiên của loài Dẻ xanh,

đề tàiđã lựa chọn 8 tỉnh thuộc vùng miền núi phía Bắc để điều tra bao gồm: Bắc Giang, Hà Giang, Hà Nội (Vườn Quốc gia Ba Vì), Cao Bằng, Hoà Bình, Lào Cai, Tuyên Quang vàVĩnh Phúc

Từ việc xác định được tỉnh điều tra, đề tài đã tiến hành khảo sát, làm việc với Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh nêu trên để nắm bắt các thông tin

về các huyện có loài Dẻ xanh phân bố tập trung Trên cơ sở đó, tại mỗi tỉnh đề tài tiến hành lựa chọn 1 huyện có loài Dẻ xanh phân bố tập trung để tiến hành khảo sát, điều tra Sau khi lựa chọn được huyện, đề tài tiến hành làm việc với các hạt Kiểm lâm huyện để xác định khu vực điều tra và lập ÔTC

Số người điều tra phỏng vấn ở các cấp như sau:

- Cấp tỉnh: 4 người (2 người thuộc chi cục kiểm lâm, 2 người thuộc chi cục Lâm nghiệp)

- Cấp huyện: 2 người thuộc hạt kiểm lâm

- Cấp xã: 2 người (1 kiểm lâm địa bàn + 1 người dân có kinh nghiệm đi rừng trong xã)

Sau khi đã sơ bộ nắm được các thông tin về nơi phân bố của loài Dẻ xanh trong rừng tự nhiên ở từng địa phương nghiên cứu, đề tài tiến hành lập tuyến điều tra để khảo sát sự phân bố của loài Dẻ xanh theo các đai cao, trạng thái rừng Mỗi địa điểm nghiên cứu lập tối thiểu 2 tuyến điều tra Chiều dài mỗi tuyến từ 2 - 3 km

Trang 26

Căn cứ vào các tài liệu đã công bố ở trong và ngoài nước, Dẻ xanh có phân

bố chủ yếu ở độ cao dưới 500m so với mực nước biển Do đó, đề tài sẽ tiến hành lập các tuyến khảo sát ở 3 cấp đai cao:

+ Cấp đai cao 1: Độ cao < 300m so với mực nước biển

+ Cấp đai cao 2: Độ cao 300 - 500m so với mực nước biển

+ Cấp đai cao 3: Độ cao > 500 so với mực nước biển

Ở mỗi cấp đai cao nơi phát hiện có loài Dẻ xanh phân bố kết hợp với các tài liệu thứ cấp thu thập được, tiến hành mô tả các chỉ tiêu về nơi phân bố của loài Dẻ xanh như:

+ Độ cao phát hiện; trạng thái rừng có loài Dẻ xanh phân bố

+ Đặc điểm các nhân tố khí hậu: Nhiệt độ bình quân năm, lượng mưa bình quân năm, độ ẩm,

+ Tại mỗi vị trí xác định lập ô đo đếm, đào 1 phẫu diện để xác định độ dày tầng đất (tầng A + B)

Các thông tin trên sẽ là cơ sở cho việc xác định nhu cầu sinh thái của loài và phục vụ cho việc gây trồng, phát triển loài Dẻ xanh sau này

2.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

Từ kết quả điều tra theo tuyến, tại mỗi đai cao, ở khu vực có Dẻ xanh phân

bố tương đối tập trung tiến hành lập OTC để điều tra Mỗi tỉnh bố trí 3 ÔTC diện tích 2.500m2, mỗi cấp đai cao bố trí 1 OTC để điều tra chi tiết về đặc điểm cấu trúc tầng cây cao của lâm phần nói chung và loài Dẻ xanh nói riêng Tổng số các ÔTC

đã lập 24 ÔTC, mỗi đai cao 8 ÔTC

Trong OTC sơ cấp 2.500m2, tiến hành điều tra các thông tin về:

- Xác định tên loài cây và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng: chiều cao vút ngọn, đường kính D1.3; đánh giá chất lượng của toàn bộ những cây có đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3m lớn hơn hoặc bằng 6 cm Việc đo đếm được sử dụng các loại thước đo thông dụng trong điều tra rừng như thước đo vanh, thước đo cao Blumeliess

Trang 27

- Mô tả các yếu tố về trạng thái thực vật, trạng thái thực bì, độ dốc, loại đất,

độ cao so với mực nước biển của OTC

- Xác định độ tàn che bằng phương pháp cho điểm

2.4.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh

Trong mỗi OTC sơ cấp diện tích 2.500 m2 tiến hành lập 5 ô dạng bản (ODB) (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa của OTC sơ cấp), mỗi ODB có diện tích 25 m2 (5mx5m)

để điều tra cây tái sinh Cây tái sinh là cây thân gỗ có đường kính D1.3 nhỏ hơn 6cm Các ODB được bố trí theo sơ đồ sau:

Hình2.2: Sơ đồ bố trí các ODB trong OTC diện tích 2.500 m2

Trong mỗi ODB tiến hành điều tra các chỉ tiêu về:

- Loài cây tái sinh

- Chiều cao cây tái sinh, phân ra 3 cấp: <1m, 1 - 2m và >2m

- Nguồn gốc cây tái sinh: Cây có nguồn gốc tái sinh từ hạt, từ chồi

- Chất lượng cây tái sinh: Phân ra cây có phẩm chất tốt, xấu, trung bình Trong đó:Cây tốt là những cây thân thẳng, cân đối, tán tròn đều, không sâu bệnh; cây trung bình là cây sinh trưởng bình thường, tán nhỏ hoặc hơi lệch, phân cành sớm; cây xấu là những cây thân cong queo, tán lệch, bị sâu hại

2.4.3.4 Bước đầu đề xuất một số giải pháp phát triển loài Dẻ xanh

Trên cơ sở các kết quả đã điều tra về đặc điểm khí hậu, đất đai, trạng thái rừng nơi có loài Dẻ xanh phân bố; đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, tầng cây tái sinh rừng tự nhiên nơi có loài Dẻ xanh phân bố, đề tài tiến hành đề xuất một số giải pháp

kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp vào tầng cây cao cũng như tầng cây tái sinh

50m

50m 5m

5m

Trang 28

nhằm thúc đẩy sự phát triển của loài Dẻ xanh cũng như định hướng một số nghiên cứu tiếp theo nhằm gây trồng và phát triển loài cây bản địa có giá trị này

2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu thu thập ngoài hiện trường về được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel dưới sự trợ giúp của các hàm thống kê toán học thông dụng, cụ thể một

số phương pháp tính toán số liệu như sau:

- Mật độ được xác định theo công thức sau:

(Importance Value) theo công thức sau:

Theo Daniel Marmillod, những loài cây nào có chỉ số IV>5% là những loài

có ý nghĩa về mặt sinh thái

- Xác định tầng thứ: Căn cứ vào chiều cao bình quân của lâm phần để phân chia tầng thứ rừng tự nhiên tại khu vực ra 3 cấp:

+ Tầng vượt tán: Có chiều cao lớn hơn 14m, là chiều cao lớn hơn khoảng biến động đường kính bình quân của lâm phần (X2Sx)

dt S

n ha

Trang 29

+ Tầng tán chính: Chiều cao từ 9 - 13m Những cây thuộc tầng này là những cây có chiều cao biến động xung quanh chiều cao bình quân của lâm phần (X2Sx

), tạo thành dải liên tục

+ Tầng dưới tán: Chiều cao <9m Gồm những cây gỗ nhỏ, cây tái sinh dưới tán rừng

+ Tầng cây bụi, thảm tươi: Chiều cao 2 - 3m

- Xác định hệ số tổ thành cây tái sinh theo mật độ:

m: Là số cá thể mỗi loài trong ô tiêu chuẩn

n: Là tổng số cây trong ô tiêu chuẩn

- Tính toán các đặc trưng mẫu: Tính các chỉ tiêu thống kê cho các nhân tố mật độ, đường kính bình quân thân cây, đường kính tán, chiều cao bình quân, tổng tiết diện ngang, trữ lượng Những chỉ tiêu này được tính toán bằng Excel

- Chất lượng cây tái sinh: Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức sau:

Trong đó: n là số cây tái sinh có triển vọng (cây tái sinh có chiều cao trên

2m, sinh trưởng phát triển tốt hoặc trung bình)

N là tổng số cây tái sinh điều tra

N n

N

n

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm phân bốcủa loài Dẻ xanh

3.1.1 Phân bố của loài Dẻ xanh theo địa phương và trạng thái rừng

Kết quả điều tra đặc điểm phân bố của loài Dẻ xanh được tổng hợp ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Đặc điểm phân bố của loài Dẻ xanh tại 8 tỉnh nghiên cứu

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w