1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã hòa thạch, huyện quốc oai, hà nội

124 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới Từ các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm quy hoạch sử dụng đất trên thế giới cho phép rút ra một số khái niệm sau: - Mặc dù đã có nhiề

Trang 1

TRƯƠNG THU HOÀI

" NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP

XÃ HOÀ THẠCH, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

TRƯƠNG THU HOÀI

" " NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP

XÃ HOÀ THẠCH, HUYỆN QUỐC OAI, HÀ NỘI”

Trang 3

Để hoàn thành chương trình đào tạo đại học và sau đại học trường Đại

học Lâm nghiệp Việt Nam, gắn việc đào tạo với thực tiễn sản xuất, tôi thực

hiện luận văn: “ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất

các giải pháp quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

tại xã Hoà Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội”

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp,

Khoa sau đại học và các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, đặc biệt là

PGS.TS Trần Hữu Viên, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi

trong quá trình thực hiện luận văn

Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cán bộ

UBND xã Hoà Thạch đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình

nghiên cứu đề tài này

Mặc dù làm việc rất nỗ lực nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian

nghiên cứu nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận

được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè

Trang 4

ĐHLN Đại học lâm nghiệp

CBA Phương pháp phân tích chi phí và lợi ích

CHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NPV Giá trị hiện tại của thu nhập ròng

PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người

dân

SALT Hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc

Trang 6

biểu trang

3.1 Biểu chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất từ năm 2005 đến năm 2010 48

3.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Hoà Thạch 63

3.3 Lịch mùa vụ xã Hoà Thạch 69

3.4 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của một số giống lúa 71

3.5 Tổng hợp hiệu quả kinh tế cây hoa màu trên 1ha/1năm 72

3.6 Tổng hợp hiệu quả kinh tế cây ăn quả trên 1ha/năm 72

3.7 Tổng hợp hiệu quả cây lâm nghiệp chính trên 1ha/10năm 73

3.8 Tổng hợp hiệu quả kinh tế cây công nghiệp trên 1ha/ 10năm 74

3.9 Tổng hợp lựa chọn cây trồng lâm nghiệp 75

3.15 Kết quả phân bổ quy hoạch sử dụng đất xã Hoà Thạch đến năm

3.16 Phân bổ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Hoà Thạch đến năm

3.18 Quy hoạch phân bổ đất chuyên dùng xã Hoà Thạch đến năm 2020 97

3.19 So sánh diện tích cơ cấu đất đai trước và sau khi quy hoạch 100

3.21 Tổng hợp vốn và hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp trong chu kỳ

Trang 7

Hình vẽ:

STT

Số trang

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong nhiều thập kỷ qua, diện tích rừng ở nước ta đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng (Năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%; thời kỳ 1980 - 1995, bình quân mỗi năm mất 110 nghìn ha rừng Năm 2006 diện tích rừng toàn quốc là 12.873.850 ha với độ che phủ rừng 38% và tính đến ngày 31/12/2009 diện tích rừng toàn quốc là 13.258.843 ha, độ che phủ là 39,1%) Do nạn khai thác rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, du canh du cư đã làm cho diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng, môi trường sinh thái bị hủy hoại nghiêm trọng Vì vậy, việc quản lý, bảo

vệ, khôi phục và phát triển tài nguyên rừng là công việc cần thiết nhằm chấm dứt tình trạng mất rừng, nâng cao độ che phủ của rừng là mục tiêu của Đảng, Nhà nước

ta trong thời kỳ đổi mới

Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành lâm nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà nghề rừng đem lại Nhưng sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như các ngành sản xuất khác Do đó, để sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng lâu dài, bền vững thì việc xây dựng phương án sử dụng nguồn tài nguyên này một cách hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý

Hòa Thạch là xã mà người dân sống chủ yếu dựa vào lâm - nông nghiệp là chính Trong khi đó việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu cây trồng vật nuôi còn nhiều lúng túng, hệ thống canh tác còn lạc hậu, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu khoa học kỹ thuật Do đó, việc giúp xã phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp kết hợp với kỹ thuật canh tác nông lâm kết hợp nhằm tạo cho người dân tự giác ngộ phân tích và quan tâm đến hoàn cảnh của mình từ đó thúc đẩy cộng đồng phát triển Đồng thời giúp người dân đề xuất được cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với gia đình mình, với nền kinh tế thị trường

Trang 9

Xuất phát từ nhận thức thực tiễn trên nhằm góp phần xây dựng một số cơ sở

lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất cấp xã trên địa bàn nông thôn miền núi và vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm

căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hòa Thạch – huyện Quốc Oai - Hà Nội”

Trang 10

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu liên quan tới cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô

Lịch sử về quy hoạch sử dụng đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu về phân loại đất, xây dựng bản đồ đất đã được sử dụng làm

cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả

Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984) [29] Hệ thống canh tác bao gồm các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt) trong nông trại với điều kiện nhất định (Wilem C.Beet, 1990)

Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifiting cultivation),

đó chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được phát quang một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conklin, 1957) du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng Bởi du canh được coi như sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá ngày càng nghiêm trọng

Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taugya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới Hệ thống Taugya được nhiều người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh Ở Indonexia người ta gọi là Taubansang, ở Philipin người ta gọi là Kaigining,

ở Malaixia người ta gọi là Ladang, ở Srilanka là China, Theo Von Hesmen (1966,

Trang 11

1970) và King (1979), hầu hết các rừng trồng ở vùng nhiệt đới đều được hình thành

từ phương thức này, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi [32] Taugya được xem như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1978) Hệ thống canh tác Taugya được cải tiến, sửa đổi và dần được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả kinh tế lẫn môi trường sinh thái Theo FAO, 1990 đến nay đã có 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này

Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp, lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau Còn Taugya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng Đứng trên quan điểm quản lý, sử dụng đất thì cả hai quá trình trên đều có sự tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng lên chính là nhờ thảm mục của cây gỗ

Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã trên 6 tỷ người, đang sử dụng 1,476

chiếm 63,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989)

Trong quá trình sử dụng con người đã làm thoái hoá khoảng 1,4 tỷ ha đất Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cầu mất khoảng 11 triệu ha đất Theo FAO đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm đến 45% diện tích đất nông nghiệp Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng Do những yêu cầu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng, để lấy lâm sản và đất canh tác đã làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe doạ đến môi trường sống Diện tích trồng rừng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất, riêng ở Châu Á Thái Bình Dương trong thời gian từ năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng Cũng trong khoảng thời gian này ở Châu Phi mất khoảng 37 triệu ha rừng, Châu Mỹ mất khoảng 18,4 triệu

ha rừng Do tình trạng mất rừng mà hiện tượng xói mòn, sa mạc hóa ngày càng diễn

ra nghiêm trọng (có khoảng 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hóa)

Sa mạc hóa đã làm mất đi mỗi năm khoảng 26 tỉ đô giá trị sản phẩm mỗi năm, hiện

Trang 12

tượng xói mòn mỗi năm làm thế giới mất đi 12 tỉ tấn đất (ước tính mất khoảng 50 triệu tấn lương thực, hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần làm tuổi thọ của nhiều công trình thủy điện vùng này bị rút ngắn tuổi thọ)

Theo dự báo của Tổ chức dân số thế giới, nếu tốc độ tăng trưởng dân số diễn

ra như hiện nay thì đến năm 2025 dân số thế giới trên 8 tỷ người, tập trung ở các nước đang phát triển và kém phát triển Nếu mức tiêu thụ lương thực theo đầu người vẫn giữ nguyên như hiện nay thì sự tăng dân số thế giới đòi hỏi phải tăng năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào năm 2025, tức là tăng 57% so với năm

1990 Nhưng nếu khẩu phần được cải thiện cho thế giới người nghèo đói (ước tính 1

tỉ người) thì nhu cầu lương thực thế giới phải tăng gấp đôi, tức 4,5 tỉ tấn nữa[6] Nếu bằng con đường tăng năng suất cây trồng (năng suất các hạt ngũ cốc phải tăng trên 80% trong thời kỳ 1990-2025), theo kỷ yếu của FAO và tính toán của Norman E.BlorLaug thì nguồn lương thực hạt ngũ cốc thế giới chỉ mới đạt 3,97 tỉ tấn vào năm 2025[6] Trên thực tế thì đất đai mở mang có hạn và không thể đáp ứng được với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu Vì vậy, để thoả mãn nhu cầu về lương thực ngày càng cao, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích cach tác Để làm được điều đó thì công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lí, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu cấp bách

Công cuộc tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm biện pháp về sử dụng đất đai màu mỡ Một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra Hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstic Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay [34]

Trang 13

- Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture Land Techlonogy) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm

- Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Techlonog) với cơ cấu 40%

NN + 20% LN + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại

- Mô hình SALT 3 ( Sustainable Agro – Forest Land Techlonogy) với cơ cấu 40% NN + 60% LN

- Mô hình SALT 4 (Small Agro - Fruit Likelihood Techlonogy) với cơ

cấu 60% LN + 15% NN +25% cây ăn quả

Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự nghiên cứu phân bố các loại đất một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và vững nhất về mặt môi trường sinh thái

Kết quả tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch phát triển địa phương chỉ ra rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận Sodeo của Peter Hildebrand (Hildebrand,1981); Tiếp cận “nông thôn - trở lại – nông thôn” của Robert (Rhoades Rhoades, 1892); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L.W Harrington nhìn chung các phương pháp tiếp cận đi theo hai hướng chính là: Tiếp cận từ trên xuống (Top – down approach) và tiếp cận từ dưới lên ( Bottom – up approach) Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ những hạn chế, kém hiệu quả khi không có sự tham gia của cộng đồng và khi các chương trình thực hiện ở cấp vĩ mô Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng sự “không thể thiếu được” vai trò của nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers) Từ đó

“Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng ” (Community-based Planning) bắt đầu xuất hiện khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn “Phát triển hệ thống canh tác” Công trình đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp tiếp cận [34]

Từ cuối thập kỷ 70 nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm phát triển các phương pháp thu thập thông tin cho quy hoạch với các nhóm thông tin chính như: Khí hậu,

Trang 14

độ dốc, địa mạo, thổ nhưỡng gồm cả thủy văn, đất, nước, tài nguyên nhân tạo như

hệ thống tưới tiêu, thảm thực vật Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), phương pháp quá trình sáng tạo ( Creative Process), đặc biệt phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất vi mô được nghiên cứu rộng rãi Những nghiên cứu, thử nghiệm các phương pháp RRA vào thập kỷ 80 và PRA vào đầu thập kỷ 90 trong phát triển nông thôn và kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Robert Chambers, 1994) đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch Một số kết quả thử nghiệm phân tích hệ thống canh tác tại Châu Âu, Châu Phi và Nam Mỹ đã chứng minh hệ thống canh tác là công cụ trong quy hoạch sử dụng đất cấp địa phương LEFSA ( Land Evaluation and Farming System Analysis) là phương pháp kết hợp giữa đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho lập kế hoạch sử dụng đất cấp vi mô Luning (1990), Anaman (1994) và một số tác giả khác đã nghiên cứu và áp dụng LEFSA tại Thái Lan Tác giả Erwin, 1990 đã phân tích hệ thống canh tác là công cụ cho phân tích các trở ngại trong hệ thống nông trại hộ gia đình, đề xuất mục tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất hiện tại và phương án sử dụng đất, đánh giá phương án sử dụng đất khác nhau nhằm chọn ra phương án tốt nhất

Những kết quả phân tích hệ thống canh tác xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ của quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương Năm 1990 tổ chức FAO đã xuất bản cuốn Phát triển hệ thống canh tác (Farming system development)[34] Trong đó đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống Qua nghiên cứu và thực tiễn đã đưa ra phương pháp tiếp cận mới nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững

1.1.2 Những nghiên cứu liên quan đến sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia của người dân

Vấn đề quy hoạch đất có sự tham gia của người dân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong nước nghiên cứu và công bố kết quả:

Trang 15

- Năm 1995, nhóm chuyên gia quốc tế về quy hoạch sử dụng đất được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch sử dụng đất với 4 câu hỏi:

1 Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu của quy hoạch là gì?

2 Có các phương án sử dụng đất nào đang tồn tại?

3 Phương án nào là tốt nhất?

4 Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?

- Tại hội thảo giữa trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam với Trường tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân

đã được Holm Uibig đề cập khá đầy đủ và toàn diện Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất, phương pháp tiếp cận mới trong quy hoạch sử dụng đất

- Tại hội thảo quốc tế Việt Nam năm 1998 về vấn đề quy hoạch sử dụng đất cấp làng bản đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược quy hoạch sử dụng đất và giao đất cấp làng bản [6]

Trong tài liệu hội thảo VFC – TV dresden, 1998 của Dr Habil Holm Uibrig associate Selection concerus for Viet Nam, tác giả đề cập tới:

- Quy hoạch rừng

- QHSDĐ

- Phân cấp hạng đất

- Phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ

Cũng trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998), tài liệu hội thảo về QHSDĐ của FAO đã đề cập một cách chi tiết khái niệm sự tham gia và đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất, về cơ bản chiến lược nêu lên:

- Sự tham gia của người dân trong hoạt động QHSDĐ và giao đất

- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xây dựng bản đồ đất

- Thu thập số liệu và phân tích

Trang 16

- QHSDĐ và giao đất

- Xác định đất canh tác nông nghiệp

- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển nhượng đất nông – lâm nghiệp

- Mở rộng quản lý và sử dụng đất

- Kiểm tra và đánh giá

1.1.3 Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới

Từ các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm quy hoạch sử dụng đất trên thế giới cho phép rút ra một số khái niệm sau:

- Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch, phương pháp chuyển giao sử dụng đất song nhìn chung các phương pháp đều phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, chưa quan tâm tới lợi ích của người dân cũng như vấn đề đang nóng bỏng hiện nay là đảm bảo an toàn sinh thái theo hướng phát triển bền vững

- Việt Nam có thể áp dụng những thành tựu nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới song phải thực hiện một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể đối với từng cộng đồng nông thôn Việt Nam Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng là quy hoạch sử dụng đất, kết hợp quy hoạch từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược và ưu tiên phạm vi cùng với nhu cầu của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển và xây dựng kế hoạch cấp thôn bản

- Phương pháp cùng tham gia, phân tích hệ thống canh tác cần được vận dụng vào đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và thể chế chính sách của Việt Nam

- Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ

Ở Việt Nam những hiểu biết về nghiên cứu đất đai, quy hoạch sử dụng đất được bắt đầu từ rất sớm Từ thế kỷ 15, Lê Quý Đôn đã tổng kết kinh nghiệm của mình về canh tác nông nghiệp trong “Vân Đài loại ngữ” khuyên nông dân áp dụng

Trang 17

luân canh cây họ đậu nhằm giúp người dân đạt năng suất cao nhất trong sản xuất nông nghiệp

Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch

sử dụng đất đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy mô rộng lớn

- Giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc Nhưng đến sau 1975 các số liệu nghiên cứu phân loại đất mới được thống nhất Xung quanh chủ đề phân loại đất đã

có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994, ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trong cả nước

Ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây Cấp vi mô thực chất đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, cho đến nay những nghiên cứu đó vẫn còn hết sức tản mạn và chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ

sở lý luận để có thể áp dụng vào thực tiễn Công trình “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững”của Nguyễn Xuân Quát (1996) [22] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mô hình sử dụng đất bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam, những điều kiện cần biết về đất đai Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững

Tài liệu “Đất rừng Viêt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình [1] đã đưa ra quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam

Về luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả: Phạm Văn Chiểu, 1964, Bùi Huy Đáp, 1977; Vũ Tuyên Hoàng,

Trang 18

1987; Lê Trọng Cúc, 1971; Nguyễn Ngọc Bình, 1987; Bùi Quang Toản, 1991 đã đề cập tới việc lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam

Năm 1996, công trình “Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta”, Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi và trung du Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của Trường Đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất, đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam [11] Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích về:

Vấn đề hệ thống sinh thái và những quy định về quản lý sử dụng đất, cũng như hệ thống quản lý đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong “Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về LNXH” nhóm luật và chính sách 1998 của Trường Đại học lâm nghiệp [26] Vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý sử dụng đất cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết Tài liệu tập huấn “Những quy định và chính sách về quản lý sử dụng đất “ của Trần Thanh Bình,1977 [2], Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại

Vấn đề sử dụng đất đai gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) [30] đã nêu:

Trang 19

- Tiềm năng đất vùng trung du

- Hiện trạng sử dụng đất trung du

- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững

Quan điểm về vấn đề hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập trong chương trình tập huấn dự án LNXH, Trường Đại học lâm nghiệp, các tác giả Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) dựa trên quan điểm của hệ thống sử dụng đất của FAO đã đề cập tới [34]:

và đề xuất các mục tiêu, giải pháp

Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên (1993) [36] đã xây dựng giáo trình hệ hống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hóa nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc

và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên cả 2 phương diện lý luận và thực tiễn

Năm 1994, Tổng cục địa chính xây dựng quy trình quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 1995 – 2000 trên quy mô cả nước Trong đó, việc lập kế hoạch ra đất nông nghiệp, nông nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới [25] Năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình sử dụng đất dốc

đã đi đến kết luận, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí một chế độ thâm cách hợp lý, triệt để lợi dụng nước trời, áp dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ, giữ gìn độ ẩm tối đa trong các lớp đất đảm bảo cây trồng phát triển tốt [18] Năm 1997, chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường ĐH Lâm Nghiệp đã đề cập

Trang 20

đến các phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình [23] đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với những vấn đề chính sau:

- Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia

- Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

- Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn

- Thực hành tổng hợp

Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu dài, Nguyễn Huy Phồn (1997), trong luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông-lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núi Bắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất nông – lâm nghiệp, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250000 đối với một số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng [20]

Tài liệu tập huấn về QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân tác giả Trần Hữu Viên (1997) [28] đã xây dựng tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất nông nghiệp có sự tham gia của người dân đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang

áp dụng tại một số vùng dự án tại Việt Nam Trong đó tác giả đã trình bày khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất cho người dân tham gia

Trong tài liệu hướng dẫn công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) [4] đã tập trung vào các chủ đề sau:

- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

- Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án GCP/VIE/024/ITA

Trang 21

- Những tồn tại của quy hoạch sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam

1.2.2 Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp quy hoạch sử dụng đất vào thực tiễn ở Việt Nam

Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp được tiến hành với quy mô rộng rãi Việc nghiên cứu đầu tiên được tiến hành tại các xã: Tử Nê, huyện Tân Lạc, xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình vào năm 1993 do Dự án đổi mới chiến lược pháp triển lâm nghiệp thực hiện Sau khi tổng hợp những bài học kinh nghiệm từ dự án cho thấy công tác quy hoạch sử dụng đất được coi là nội dung chính cần được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, Già Làng, Trưởng bản và chính quyền xã Cần phải có kế hoạch sử dụng chi tiết, tránh được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch

Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam – Thuỵ Điển giai đoạn

1996 – 2001 trên phạm vị năm tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia đình Công tác quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất với cách tiếp từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn

Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân Quảng Ninh [14] đã đề suất 6

Trang 22

nguyên tắc và các bước cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch Các nguyên tắc đó là:

- Kết hợp hài hòa giữa ưu tiên của Quốc gia và nhu cầu, nguyện vọng của người dân địa phương

- Tiến hành trong khuôn khổ luật pháp hiện hành và các nguồn lực hiện có tại địa phương

- Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ

- Đảm bảo phát triển bền vững

- Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia

- Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng

Khi thử nghiệm các phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai,

Sa Đéc tác giả đã cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu, nghĩa

vụ của nhân dân Xem xét mọi vấn đề liên quan đến đất đai và sử dụng tài nguyên Cho thấy cách tiếp cận tổng hợp và toàn diện này phù hợp với xu thế chung của thế giới hiện nay về áp dụng các phương pháp quy hoạch tổng hợp

Trong 2 năm 1996, 1997 trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước

hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm –nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng để quy hoạch lâm – nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã cho

5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả, cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thủy lợi lập

kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ dự án xã Sau 3 năm thực hiện thấy bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm Tuy nhiên, những hạn chế do thiếu nghiên cứu về đất, phân tích hệ thống canh tác dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý Kinh nghiệm

Trang 23

này đang được đúc rút cho giai đoạn tiếp theo của dự án được triển khai trên 4 xã mới

Trong 2 năm 1996, 1997 trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước

hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm –nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng để quy hoạch lâm – nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã cho

5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả, cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thủy lợi lập

kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ dự án xã[10] Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm 1994, nó đáp ứng phần nào về hướng dẫn cơ bản, về nội dung và nguyên tắc Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống phù hợp với điều tra rừng trước đây Bản hướng dẫn này cần hoàn thiện theo hướng dừng lại ở những nguyên tắc và phương pháp cơ bản, không nên có bản hướng dẫn chi tiết dẫn đến ngộ nhận rằng việc quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương theo một chu trình cứng

Chương trình hợp tác Việt - Đức, về phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà năm 1997 ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp tại 2 xã của huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) trên cơ

sở hướng dẫn của Chi cục Kiểm lâm với cách làm 6 bước đã lấy cấp thôn bản làm đơn vị quy hoạch và giao đất lâm nghiệp và áp dụng tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao

Kết quả nghiên cứu “Đề tài” của Nguyễn Bá Ngãi [15] cùng với nhóm tư vấn của dự án khu vực Lâm nghiệp Việt Nam – ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch lâm – nông nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để

Trang 24

xây dựng tiền Dự án lâm – nông nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị [19]

Trong đầu những năm 1990, vấn đề quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Nghiên cứu của Reichenberg, Bo (1992) [24] cho rằng Việt Nam chưa có quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô, được xây dựng dựa trên cơ sở xem xét tất cả các khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai

Trong giai đoạn 2000 - 2005, Dự án phát triển nông lâm Sơn La, Lai Châu

do Liên minh Châu Âu tài trợ bằng nguồn vốn ODA, Mục tiêu của dự án là cải thiện an toàn lương thực ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam thông qua việc sử dụng bền vững và hữu ích nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu Những hoạt động chính của dự án đó là: Quy hoạch sử dụng đất và giao đất, quản lý rừng đầu nguồn và phân loại đất lâm nghiệp, cải thiện giống cây trồng trên nương, cải tiến chăn nuôi, tăng cường dịch vụ khuyến nông và đào tạo

Dự án phát triển nông thôn Cao Bằng, Bắc Cạn thực hiện các hoạt động quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp, tăng cường kỹ năng nông lâm kết hợp cho 41 bản với 1.155 người tham gia bao gồm các kỹ thuật viên nông nghiệp, quản lý trồng trọt và lập kế hoạch phát triển thôn bản, đồng thời phát triển được 612 mô hình ở Bắc Cạn và 89 mô hình ở Cao Bằng

Trong những năm gần đây, các chương trình và dự án nông lâm nghiệp như

dự án PAM, dự án trồng rừng Việt - Đức (KWF) tại Lạng sơn, Bắc Giang, Thanh Hoá, Quảng Ninh….do GTZ tài trợ cũng đã sử dụng triệt để phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia Về mặt lý luận, một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn

Đề, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Bá Ngãi [19], Nguyễn Phúc Cường….cũng đã tiến hành ở một số địa phương, có những đánh giá và kết quả có ý nghĩa thực tiễn nhất định

Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương nên đi theo hướng sau:

- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông lâm nghiệp chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng đất đai

Trang 25

- Rà soát và xem lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất bằng đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng

- Gắn 2 quá trình quy hoạch và giao đất và coi đó là hai bộ phận có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương và cộng đồng

- Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp xã

1.2.3 Những kết luận rút ra từ nghiên cứu và kinh nghiệm của Việt Nam

Đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất

ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:

Việt Nam đã có nghiên cứu khá đầy đủ về quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô song cấp vi mô còn nhiều hạn chế, mới nghiên cứu chủ yếu đối tượng đất phục vụ cho sản xuất mà chưa chỉ ra được vai trò quan trọng của môi trường sinh thái

Phương pháp quy hoạch còn nhiều hạn chế và thiếu thống nhất, phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân đã được áp dụng ở một số địa phương nhưng chưa tổng kết xác định đối tượng cụ thể tham gia và vai trò của họ

Thiếu sự gắn kết giữa quy hoạch nông lâm nghiệp và các ngành (Giao thông, thuỷ lợi, xây dựng….) Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mâu thuẫn và chồng chéo trong các nội dung quy hoạch sử dụng đất Các quy hoạch này thiếu tính dự báo dài hạn nên nhiều bản quy hoạch phải liên tục bổ sung, điều chỉnh gây mất ổn định trong chỉ đạo và quản lý

Mâu thuẫn giữa một bên là cá nhân, hộ gia đình thiếu đất sản xuất với một bên là các tổ chức lâm nghiệp của nhà nước được giao nhiều đất nhưng quản lý sử dụng không hiệu quả

Kết quả nghiên cứu về sử dụng đất dốc mới chỉ áp dụng cho đối tượng đất sản xuất nơi người dân có trình độ canh tác khá cao, còn những nơi vùng sâu, vùng

Trang 26

xa nơi trình độ dân trí thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì chưa được nghiên cứu đầy đủ

Công tác quy hoạch thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và tham gia của người dân Vì vậy, không khai thác được kinh nghiệm của người dân địa phương và tính khả thi không cao Hơn nữa phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng Cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm – nông nghiệp cấp xã chưa rõ ràng, thực tiễn về quy hoạch cấp xã chưa nhiều để tổng kết đánh giá

Phương pháp tiếp cận và chuyển giao kỹ thuật còn nặng về xây dựng mô hình, chưa thúc đẩy mạnh mẽ công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền, huấn luyện đồng thời ít chú ý đến các yếu tố phi kỹ thuật như tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ và yếu tố tiếp thị nhằm đảm bảo cho các tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao

và trình diễn, phát huy hiệu quả và bền vững

Từ những hạn chế trên đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu một số vấn đề như phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong quy hoạch, phương pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ thống canh tác, lựa chọn cơ cấu tập đoàn cây trồng, xác định phương thức, phương pháp và định hướng sử dụng các loại đất trên địa bàn khu vực nghiên cứu

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

2.1.1 Về lý luận

Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc đề xuất các giải pháp QHSDĐ

Trang 27

Góp phần làm sáng tỏ tác động của một số chính sách: Kinh tế, xã hội, tự nhiên

và kỹ thuật ảnh hưởng tới QHSDĐ tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.1.2 Về thực tiễn

Đề xuất phương án QHSDĐ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do yêu cầu của luận văn tốt nghiệp và thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi là xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách bảo vệ, phát triển rừng; Người dân và các hộ gia đình; Điều kiện tự nhiên –kinh tế-xã hội của xã; Các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến QHSDĐ; Một số mô hình sử dụng đất tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội Trong đó, tập trung nghiên cứu sâu về đất nông lâm nghiệp

Phạm vi nghiên cứu:Xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1.Nghiên cứu cở sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất

2.3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn tác động đến công tác quy hoạch sử dụng đất tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.3.3 Đánh giá một số yếu tố chính sách và luật pháp tác động đến công tác quy hoạch sử dụng đất tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai, Hà Nội

2.3.5 Quy hoạch các biện pháp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm phương pháp luận

QHSDĐ là một hệ thống các biện pháp về kinh tế - kỹ thuật và pháp luật của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả cao nhằm khai thác triệt để tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và nguồn lao động sẵn có

Trang 28

Việc quy hoạch sử dụng đất, phải đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trong toàn khu vực Để làm được vấn đề đó chúng ta cần giải quyết các mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, giữa cung và cầu, nắm bắt được sức sản xuất về đất đai để quy hoạch đạt hiệu quả cao nhất mà vẫn đảm bảo được tính ổn định bền vững

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.4.2.1 Những thông tin cần thu thập

* Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lí

- Điều kiện địa hình

- Điều kiện khí hậu thủy văn

- Điều kiện đất đai thổ nhưỡng

* Điều kiện kinh tế xã hội

- Dân số, lao động, văn hóa giáo dục và y tế

- Cơ sở hạ tầng

- Thực trạng sản xuất lâm nông nghiệp trên địa bàn

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Phương pháp kế thừa số liệu tài liệu liên quan

điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, hiện trạng tài nguyên rừng, tình hình

sản xuất kinh doanh, điều kiện về cơ sở hạ tầng

* Phương pháp điều tra thực địa

Tùy theo yêu cầu, đặc trưng của các loại tài liệu mà đề tài sử dụng các phương pháp thu thập khác nhau:

- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn

Phương pháp điều tra nhanh RRA được áp dụng để thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất, nguyện vọng của người dân địa phương trong việc phân bổ sử dụng đất đai thông qua các công cụ phỏng vấn và tiếp xúc lãnh đạo, các ban ngành liên quan

Trang 29

- Phương pháp điều tra chuyên đề

Phương pháp điều tra chuyên đề được sử dụng để điều tra bổ sung các thông tin không có trong tài liệu RRA tại các thôn bản theo các lĩnh vực;

+ Lĩnh vực trồng trọt

+ Lĩnh vực chăn nuôi

+ Lĩnh vực lâm nghiệp

- Phương pháp xây dựng luận chứng có sự tham gia của người dân

Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân PRA là phương pháp mới đang được sử dụng phổ biến hiện nay nhằm thay đổi phương pháp tiếp cận truyền thống theo một chiều từ trên xuống trước đây trên tất cả các cấp bậc quy hoạch và tỏ rõ tính ưu việt của nó trong điều kiện của Việt Nam hay ở các nước có hoàn cảnh tương đồng Với những ưu thế đặc biệt đó nó có khả năng khuyến khích,

hỗ trợ mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định chính xác yêu cầu của mình, đề ra các mục tiêu rồi kiểm tra và đánh giá chúng

Bản chất của phương pháp tiếp cận này trong quy hoạch sử dụng đất là tất cả những ai liên quan đến sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn đều được tham gia vào quá trình này với đúng vai trò và khả năng của mình bằng các công cụ thích hợp Như vậy, tất cả các nhà quản lý, người lập chính sách, chuyên gia kỹ thuật, cán bộ địa phương và nhân dân cũng như các chủ sử dụng đất đều được tham gia vào quá trình quy hoạch sự dụng đất

Những nội dung của phương pháp PRA:

+ Sử dụng công cụ ma trận phân loại để xác định cây trồng chính trong thôn + Thảo luận nhóm nông dân trên sơ đồ về các vấn đề sử dụng đất và ranh giới các loại hình sử dụng đất, nhu cầu về sản xuất, những khó khăn và thách thức

+ Sử dụng công cụ vẽ sơ đồ hiện trạng thôn, bản có sự tham gia của người dân và thảo luận trên sơ đồ

+ Đi Lát cắt để xác minh lại trên bản đồ, đánh giá bổ sung về hiện trạng sử dụng đất và phân tích hệ thống canh tác

Trang 30

+ Sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức để đánh gia hiện trạng sử dụng đất

+ Họp thôn để trình bày kết quả, thảo luận và củng cố thông tin

- Phương pháp đánh giá đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

+ Vẽ bản đồ được thực hiện theo 2 bước:

Bước 1: Hoàn chỉnh bản đồ ngoại nghiệp bằng cách chuyển họa ranh giới các

loại đất, loại rừng và bổ sung địa hình vật lên bản đồ Ghi các kết quả của các lô khoảnh trạng thái và tính toán diện tích trên giấy kẻ ô li

Bước 2: Xây dựng bản đồ thành quả tỷ lệ 1:10.000 theo quy phạm của Viện

điều tra quy hoạch rừng năm 1994

Sau khi hoàn chỉnh bản đồ tiến hành họp thôn để trình bày kết quả, thảo luận

và củng cố thông tin thu thập trên bản đồ

- Phương pháp phân 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ

Phương pháp phân 3 loại rừng, phân cấp phòng hộ được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành kết hợp với sự tham gia, điều chỉnh trên thực địa có sự tham gia của người dân Ranh giới 3 loại rừng dựa vào kết quả chương trình rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng Nội dung phân chia 3 loại rừng là xác định ranh giới 3 loại rừng, xác định vị trí giữa bản đồ và thực

tế, tính toán và tổng hợp diện tích các loại rừng và xác định các giải pháp kỹ thuật

Trang 31

lâm sinh xây dựng rừng, chuyển hoá ranh giới và trạng thái các loại rừng lên bản đồ phân chia 3 loại rừng

Phân chia rừng phòng hộ theo mức độ xung yếu

- Vùng rất xung yếu: Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông, gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về sự điều tiết nước đe dọa sản xuất và đời sống nhân dân có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ phải quy hoạch, đầu tư xây dựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng trên 70%

-Vùng xung yếu: Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn và điều tiết nguồn nước trung bình; có điều kiện phát triển kết hợp phát triển sản xuất lâm nghiệp, có yêu cầu cao về bảo vệ và sử dụng đất, phải xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng tối thiểu 50%

- Phương pháp phân chia các loại trạng thái rừng

Việc phân chia các loại trạng thái rừng được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành kết hợp đi điều tra khảo sát thực địa, bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp khoanh vẽ trạng thái rừng, lập ô tiêu chuẩn điều tra thu thập các tiêu chí lâm học chủ yếu và các thông tin liên quan khác

- Chọn điểm hộ gia đình điều tra

- Chọn thôn điều tra: Trong xã chọn 3 thôn đại diện điều tra với các tiêu chí: Địa hình, Sử dụng đất; Dân cư dân tộc; Trình độ dân trí và trình độ pháp triển trung bình đại diện cho toàn xã

+ Chọn hộ phỏng vấn: Mỗi thôn chọn 10 hộ để phỏng vấn, trong đó có 4 hộ nghèo, 3 hộ trung bình và 3 hộ khá giàu trên cơ sở đó tiến hành rút mẫu ngẫu nhiên các loại hộ gia đình từ các nhóm (nhóm 1 có điều kiện tốt nhất, nhóm 2 có điều kiện trung bình, nhóm 3 có điều kiện kém nhất) theo số liệu đã đề ra

+ Phương pháp thảo luận nhóm: Đi sâu vào tình hình sử dụng đất đai và chính sách liên quan đến sử dụng đất, những thuận lợi khó khăn, nguyên nhân và

Trang 32

tìm giải pháp khắc phục Khuyến khích người dân tham gia thảo luận đặc biệt là nhóm người nghèo và phụ nữ để họ đưa ra những ý kiến

+ Phương pháp phỏng vấn hộ: Xây dựng phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng đất đai của hộ gia đình, những thuận lợi khó khăn, nguyên nhân và những biện pháp giải quyết

* Phương pháp xử lý tổng hợp và phân tích số liệu

- Tổng hợp, phân tích thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội

Các nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội được tổng hợp và phân tích theo các nhóm sau:

+ Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn, được thu thập từ các tài liệu, báo cáo của xã

+ Nhóm tài liệu về điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số, dân tộc, lao động và việc làm, các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng, được thu thập từ các phòng, ban liên quan và tài liệu gốc của xã, sau đó tổng hợp, phân tích qua hệ thống phụ biểu báo cáo

+ Nhóm tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất đai được tổng hợp với các chỉ tiêu về diện tích, tình hình sinh trưởng, phát triển, trữ lượng và chất lượng rừng

+ Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế: Tổ chức cộng đồng, dịch

vụ khuyến nông, khuyến lâm, quản lý bảo vệ rừng, dịch vụ thú y, được tổng hợp

và phân tích bằng phương pháp SWOT

+ Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất và bản đồ Quy hoạch sử dụng đất bền vững được xây dựng có sự trợ giúp của phần mềm Mapinfo 7.0

Các nhóm tài liệu điều tra được xử lý tổng hợp theo từng nội dung, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng Những thông tin thu thập được bằng định tính và định lượng đều có giá trị quan trọng như nhau, được sử dụng làm số liệu xây dựng dự án và được thực hiện bằng 2 phương pháp sau:

Trang 33

- Phương pháp SWOT: là phương pháp phân tích điểm yếu, điểm mạnh

cơ hội và thách thức của hệ thống sự dụng đất

- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế (CBA) được vận dụng phân tích các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó lựa chọn các mô hình sử dụng đất có hiệu quả nhất để tiến hành QH sản xuất Việc tính toán, phân tích số liệu được thực hiện bằng phương pháp động thông qua sử dụng các hàm số: NPV, BCR, IRR

+ NPV: Gi¸ trÞ hiÖn t¹i cña lîi nhuËn rßng (Net Present Value) đạt được trong cả chu kỳ đầu tư

Trang 34

01

Trong đó:

Bt là giá trị thu nhập năm thứ t

Ct là giá trị chi phí năm thứ t

i là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)

t thời gian thực hiện kế hoạch

Chỉ tiêu BCR dùng để đánh giá hiệu quả đầu t- của ph-ơng án sản xuất, BCR lớn hơn 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ng-ợc lại Hoặc IRR>r thỡ mụ hỡnh cú lói; IRR = r thỡ mụ hỡnh hũa vốn

và IRR<0 thỡ mụ hỡnh bị lỗ

- Phương phỏp dự bỏo dõn số

+ Dự bỏo dõn số được tớnh theo cụng thức:

No là dõn số năm hiện trạng

P là tỷ lệ tăng dõn số tự nhiờn

V là tỷ lệ tăng dõn số cơ học

t là số năm dự tớnh (kể từ năm hiện trạng đến năm quy hoạch)

+ Số hộ gia đỡnh trong tương lai được tớnh theo cụng thức:

No

Nt

Trong đú: Ht: Số hộ năm tương lai

Ho: Số hộ năm hiện tại

Nt, No lấy từ cụng thức

Trang 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất

3.1.1 Cơ sở lý luận

3.1.1.1 QHSDĐ lâm nông nghiệp cấp xã trong hệ thống QHSDĐ cấp vĩ mô

Hệ thống QHSDĐ ở nước ta được khởi xướng từ năm 1963 và được hoàn thiện dần theo thời gian Trước đây QHSDĐ thường dựa vào các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã) hoặc theo ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, ), quy hoạch phân bổ sử dụng đất cho các ngành chủ yếu thường dựa vào điều kiện tự nhiên mà ít quan tâm tới nhu cầu, nguyện vọng của người dân cũng như sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái nên thực sự hiệu quả sử dụng đất không cao

Luật đất đai năm 2003 quy định tiến hành lập QHSDĐ ở cả 4 cấp quản lý hành chính Nhà nước : Toàn quốc, tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã – thành phố trực thuộc tỉnh và xã - phường - thị trấn

Hiện nay hệ thống quy hoạch của cả nước bao gồm : Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện (gọi là cấp vĩ mô) Cấp thôn bản, cấp hộ gia đình (gọi là cấp vi mô) Cấp

xã là cấp chuyển tiếp giữa cấp vĩ mô và cấp vi mô Bởi vì cấp xã vừa là cấp cơ sở (vi mô) có chức năng hành pháp về quản lý nhà nước vừa là cấp quản lý kế hoạch

sử dụng đất tại địa phương theo định hướng phát triển chung (vĩ mô) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất cấp xã phải kết hợp hài hoà quy hoạch vĩ mô và vi mô, nghĩa là vừa quy hoạch định hướng và quy hoạch quản lý sản xuất

Xã là đơn vị hành chính cấp thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính

ở nước ta Quy hoạch sử dụng đất cấp xã nằm trong hệ thống QHSDĐ 4 cấp đơn vị hành chính đã được quy định trong luật đất đai năm 2003 bao gồm cấp Nhà nước, tỉnh, huyện và xã QHSDĐ cấp xã tuân thủ và cụ thể hoá quy hoạch của cấp trên mà trực tiếp là QHSDĐ cấp huyện, đồng thời QHSDĐ cấp xã là cơ sở để tổng hợp, xây dựng QHSDĐ cấp huyện

Các nội dụng trong QHSDĐ cấp vĩ mô có tính chất định hướng nguyên tắc

và luôn gắn với ý đồ phát triển kinh tế của các cấp quản lý lãnh thổ Cấp xã, thôn,

Trang 37

bản là các cấp thấp bên dưới Trong đó, xã được coi là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất nông – lâm nghiệp của thành phần kinh tế tập thể và tư nhân, vì vậy cấp xã là cấp quản lý hành chính thấp nhất yêu cầu giải quyết các nội dung, biện pháp kỹ thuật, kinh tế xã hội và cần ước tính được cả về đầu tư, nguồn vốn, hiệu quả, thời gian thu hồi vốn một cách cụ thể

3.1.1.2 QHSDĐ có sự tham gia của người dân

Những năm trước đây việc phát triển nông thôn vẫn áp dụng phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống thiếu vai trò tham gia của người dân địa phương

Mà ở đó người dân giữ vai trò trung tâm, họ vừa là đối tượng, vừa là mục tiêu, vừa

là nhân tố hành động Vì vậy, việc quy hoạch sử dụng đất phải do chính người dân trực tiếp tham gia thì mới có tính khả thi cao và mang lại hiệu quả thiết thực, cán bộ chỉ đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn thực hiện

Trong đó, mục tiêu phát triển sản xuất được người dân địa phương xác định một cách cụ thể, có thể linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo điều kiện tình hình của địa phương Người dân, được khuyến khích và coi việc quy hoạch sử dụng đất như là nhiệm vụ của chính họ Họ sẵn sàng tự giác và chủ động trong việc tham gia thực hiện các nội dung quy hoạch mà chính họ đã quyết định

QHSDĐ có người dân tham gia đựơc chia làm 3 bước : Chuẩn bị, đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu về sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất

Hoạt động 2 : Thu thập, phân tích tài liệu sẵn có, các loại bản đồ và bổ sung số liệu cấp thôn bản và xã

Hoạt động 3 : Rà soát và phân tích kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, huyện, QHSDĐ của tỉnh

Hoạt động 4 : Họp dân lần 1 (họp thôn bản) Hoạt động 5 : Chuẩn bị vật tư, kỹ thuật Hoạt động 6 : Chuẩn bị tài chính Hoạt động 7 : Lập kế hoạch tổ chức thực hiện quy hoạch

Trang 38

sử dụng đất

Bước 2 : Đánh giá hiện

trạng và xác định nhu

cầu về sử dụng đất

Hoạt động 8 : Phương pháp ARA (đánh giá nông thôn có

sự tham gia của người dân) và họp lần 2 (họp thôn bản) Hoạt động 9 : Phúc tra hiện trạng sử dụng đất

Bước 3 : Quy hoạch sử

dụng đất

Hoạt động 10 : Dự thảo quy hoạch sử dụng 3 loại đất Hoạt động 11 : Họp dân lần 3 (đại diện các thôn, các tổ chức kinh tế) Thảo luận và đề xuất phương án quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất Hoạt động 12 : Tổng hợp phương án quy hoạch sử dụng đất

Hoạt động 13 : Trình duyệt phương án quy hoạch sử dụng đất

Ưu điểm của phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là làm thay đổi thái độ và phương pháp luận về đánh giá, phát triển của cộng đồng trước đây, tạo ra quá trình học hỏi từ cả hai phía vừa cho phép cộng đồng tự đề ra các giải pháp phù hợp với chính họ để có thể thực hiện và đạt được mục đích cao nhất

Tuy nhiên, do hạn chế về chuyên môn và tầm nhìn dài hạn nên bản kế hoạch

sử dụng đất xã, thôn bản chưa đủ tầm khái quát cao nên không đáp ứng đựơc yêu cầu phát triển tổng thể Vì vậy, thay vì QHSDĐ từ trên xuống hay từ dưới lên, phương pháp phối hợp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài nhằm phát huy vai trò của tất cả các thành phần tham gia và tất cả kiến thức liên quan đến sử dụng đất đều được phối hợp sử dụng triệt để Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) đã phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp và sự hiểu biết của mọi thành phần để có bản kế hoạch sử dụng đất lâm – nông nghiệp cấp xã tốt nhất

3.1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất theo quan điểm hệ thống

Hệ thống là một ” Tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ

và tác động qua lại ’’ Như vậy, hệ thống có thể xác định như là "Một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính, được liên kết bằng nhiều mối tương tác" Một cách diễn giải khác, hệ thống được hiểu như là một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều bộ

Trang 39

phận chức năng tạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những quy luật thống nhất, tạo nên một chất lượng mới không giống tính chất của từng yếu tố hợp thành và cũng không phải là con số động của những bộ phận đó Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trường của hệ thống

và giữa chúng có mối quan hệ tương tác

Hệ thống gồm nhiều bộ phận nhưng nhiều bộ phận chưa chắc đã phải là một

hệ thống khi chúng chỉ là một tập hợp mất trật tự, không có mối tương tác lẫn nhau

Từ những quan niệm trên cho thấy 2 đặc trưng cơ bản của hệ thống đó là :

- Gồm nhiều hệ thống thành phần hợp thành (những hệ thống nhỏ hơn),có mối quan hệ hữu cơ và rất phức tạp

- Cấu thành một chỉnh thể có tính độc lập ở mức độ nhất định và có thể phân biệt với môi trường hoặc hệ thống khác

Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trường của hệ thống và giữa chúng có mối quan hệ tương tác

Quan điểm hệ thống là sự khám phá đặc điểm của hệ thống đối tượng bằng nghiên cứu bản chất và đặc tính của mối tác động qua lại giữa các yếu tố Do đó, tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và xử lý đối với các phức hệ có tổ chức theo quan điểm sau :

- Không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà trong mối quan hệ với các phần tử khác cần chú ý tới thuộc tính mới xuất hiện

- Nghiên cứu hệ thống trong mối tương tác với môi trường của nó

- Xác định rõ cấu trúc của hệ thống đang nghiên cứu

- Các hệ thống thường là hệ thống hữu ích, hoạt động của nó có thể điều khiển được để đạt đựơc mục tiêu đã định, do đó cần kết hợp nhiều mục tiêu

- Kết hợp cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một cách tái định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc

- Nghiên cứu hệ thống trên nhiều góc độ do tính đa cấu trúc của hệ thống Quan điểm hệ thống được nhiều nhà khoa học tiếp cận trong nghiên cứu tự nhiên, KTXH nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người Trong nghiên cứu

Trang 40

về lĩnh vực Nông – lâm nghiệp đề xuất khái niệm hệ thống nông trại là một tổng thể nghiên cứu độ màu mỡ của đất Grigg (1977) đã sử dụng khái niệm hệ thống nông nghiệp để phân kiểu nông nghiệp và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng

Để thực hiện tiếp cận hệ thống có thể sử dụng 4 khâu sâu đây : (1) Các hoạt động chuẩn đoán ngoài thực địa dựa trên tiếp cận hệ thống ; (2) Sự tham gia tích cực của các thành viên tại địa phương ; (3) Khai thác dữ liệu tại các cơ quan có liên quan : địa chính, kỹ thuật, kế hoạch (của xã) ; (4) Kết hợp các xu hướng thông qua thảo luận Năm 1993, khi nghiên cứu về các hệ thống sử dụng đất, FAO đã đưa ra một số khái niệm về sử dụng đất như sau :

- Loại hình sử dụng đất (Major kind of land use) là một dạng chính trong sử dụng đất ở nông thôn bao gồm một nhóm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp nhờ nước trời, cây hàng năm, cây lâu năm, cây lâm nghiệp, nó thường được dùng để đánh giá đất đai một cách định tính hoặc để khảo sát tài nguyên thiên nhiên

- Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn so với loại hình sử dụng đất, nó chỉ ra một sự sử dụng đất thấp hơn loại hình sử dụng đất

- Hệ thống sử dụng đất bao gồm các kiểu sử dụng đất hoặc các loại hình trong sự phối hợp, tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong một mảnh đất nhất định Vì vậy, hệ thống sử dụng đất có thể có quy mô lớn nhỏ tuỳ ý và luôn luôn là một hệ cân bằng động Các yếu tố cấu thành luôn tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ biến chứng, qua đó con người phân tích bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại để đề xuất hệ thống canh tác hợp lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng của chúng phục vụ cho cuộc sống của con người

Các bước thực hiện trong QHSDĐ theo quan điểm hệ thống FAO (1993) :

- Bước 1: Thiết lập mục tiêu và các tư liệu có liên quan

Trong tình trạng hiện tại cụ thể tìm ra những nhu cầu của người dân và Nhà nước; quyết định trên vùng đất quy hoạch, diện tích cần thực hiện; những sự thống nhất nhau về mục tiêu chung và riêng của quy hoạch; sắp đặt các tư liệu liên quan trong quy hoạch

- Bước 2: Tổ chức công việc

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w