1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động du lịch đến môi trường ở khu du lịch hồ tuyền lâm thành phố đà lạt tỉnh lâm đồng luận văn thạc sỹ lâm học GVHD

114 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Chương 1

  • TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 1.1 Trên thế giới

    • 1.2 Ở Việt Nam

  • Chương 2

  • ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI

  • KHU DU LỊCH HỒ TUYỀN LÂM

    • 2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

    • 2.2 Các tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch

      • 2.2.1 Tiềm năng văn hóa của đồng bào dân tộc K’Ho

      • 2.2.2 Tài nguyên di chỉ, di tích khảo cổ

      • 2.2.3 Tài nguyên về lịch sử

      • 2.2.4 Tài nguyên về du lịch tôn giáo

      • 2.2.5 Tiềm năng về mặt nước Hồ Tuyền Lâm

    • 2.3 Điều kiện tự nhiên - Dân sinh - Kinh tế - Xã hội

      • 2.3.1 Vị trí địa lý

      • 2.3.2 Phạm vi, ranh giới

      • 2.3.3 Địa hình

      • 2.3.4 Đất đai

      • 2.3.5 Khí hậu, thủy văn

      • 2.3.6 Tình hình kinh tế, xã hội

  • Chương 3

  • MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

  • PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

      • 3.1.1 Mục tiêu chung

      • 3.1.2 Mục tiêu cụ thể

    • 3.2 Nội dung nghiên cứu

    • 3.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

      • 3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

      • 3.3.2 Phạm vi nghiên cứu

    • 3.4 Phương pháp nghiên cứu

      • 3.4.1 Phương pháp luận

      • 3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

        • 3.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu

        • 3.4.2.2 Quá trình nghiên cứu

          • 3.4.2.2.1 Quá trình thu thập tài liệu thứ cấp

          • 3.4.2.2.2 Quá trình điều tra

      • 3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

  • Chương 4

  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1 Điều tra, đánh giá các hoạt động du lịch tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

      • 4.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch trong rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm

      • 4.1.2 Các hoạt động du lịch trong Hồ Tuyền Lâm

        • 4.1.2.1 Công ty TNHH Maico Đà Lạt

        • 4.1.2.2 Công ty du lịch cáp treo Đà Lạt

        • 4.1.2.3 Khu du lịch thác Đatanla

        • 4.1.2.4 Hợp tác xã du thuyền

        • 4.1.2.5 Thiền Viện Trúc Lâm

        • 4.1.2.6 Điểm du lịch dã ngoại Suối Tía, Đá Tiên, Nam Qua

        • 4.1.2.7 Các kiốt khu vực bến du thuyền

    • 4.2 Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực Hồ Tuyền Lâm

      • 4.2.1 Đa dạng thực vật và thảm thực vật rừng

        • 4.2.1.1 Đa dạng loài thực vật

        • Hệ thực vật ở khu vực Hồ Tuyền Lâm có 8 ngành, 76 bộ, 103 họ, 176 chi và 379 loài. Trong đó ngành nấm (Mycota): 6 bộ, 8 họ, 13 chi, 34 loài; Nhóm Địa y (Lichens): 01 bộ, 01 họ, 02 chi, 02 loài; Nghành Thông đất (Lycopodiophyta): 02 bộ, 02 họ, 03 chi, ...

        • 4.2.1.2 Đa dạng về loài thực vật quý hiếm

        • 4.2.1.3 Đa dạng về nguồn tài nguyên

        • 4.2.1.4 Đa dạng thảm thực vật

      • 4.2.2 Đa dạng hệ động vật rừng

        • 4.2.2.1 Lớp thú

        • 4.2.2.2 Lớp chim

        • 4.2.2.3 Lớp Bò sát, ếch nhái

        • 4.2.2.4 Lớp côn trùng

        • 4.2.2.5 Lớp cá

    • 4.3 Ảnh hưởng các hoạt động du lịch đến môi trường ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm.

      • 4.3.1 Tác động của các hoạt động du lịch đến kinh tế, xã hội địa phương

        • 4.3.1.1 Hiệu quả về kinh tế

        • 4.3.1.2 Về văn hóa - Xã hội

        • 4.3.1.3 Đời sống người dân

      • 4.3.2 Tác động đến tài nguyên rừng

        • 4.3.2.1 Ảnh hưởng đến khu hệ động vật

        • 4.3.2.2 Ảnh hưởng đến khu hệ thực vật

      • 4.3.3 Tác động tài nguyên nước

        • 4.3.3.1 Nước mặt

        • 4.3.3.2 Nước ngầm

        • 4.3.3.3 Nước thải

      • 4.3.4 Tác động cảnh quan

        • 4.3.4.1 Rác thải

        • 4.3.4.2 Chất thải rắn

      • 4.3.5 Đánh giá của người dân

        • 4.3.5.1 Tác động của hoạt động du lịch đến kinh tế - xã hội

        • 4.3.5.2 Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên

      • 4.3.6 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

        • 4.3.6.1 Rác thải

        • 4.3.6.2 Nước thải

        • 4.3.6.3 Tổn thất đa dạng sinh học

        • 4.3.6.4 Tiếng ồn

        • 4.3.6.5 Ô nhiễm nguồn nước

    • 4.4 Đề xuất một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng các hoạt động du lịch đến môi trường Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

      • 4.4.1 Một số giải pháp bảo vệ môi trường ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

        • 4.4.1.1 Những giải pháp kinh tế

        • 4.4.1.2 Những giải pháp xã hội

        • 4.4.1.3 Những giải pháp khoa học công nghệ

      • 4.4.2 Đề xuất một số giải pháp quy hoạch phát triển du lịch bền vững ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

        • 4.4.2.1 Mục tiêu quy hoạch

          • 4.4.2.1.1 Mục tiêu chung

          • 4.4.2.1.2 Mục tiêu cụ thể

  • Chương 5

  • KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ

    • 5.1 Kết luận

    • 5.2 Tồn tại

    • 5.3 Khuyến nghị

Nội dung

Các dự án du lịch nói chung, dự án Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm nói riêng mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội cho địa phương song cũng tiềm ẩn nhiều vấn đề tác động tiêu cực đến

Trên thế giới

Du lịch trên thế giới đã xuất hiện từ lâu, theo liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống Theo tổ chức du lịch thế giới (1980): Du lịch là việc lữ hành của mọi người, bắt đầu từ mục đích không phải di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hoá và tinh thần cùng với việc thúc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người

Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế phát triển nhanh và chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia Theo thống kê của UNWTO và WTTC, năm 2000 thu nhập ngành du lịch chiếm 10,7% GDP của toàn thế giới, ở Việt Nam năm 2007 thu nhập ngành du lịch chiếm 11% Du lịch là một ngành công nghiệp không khói mang lại thu nhập lớn cho nền kinh tế [23]

Du lịch ngày càng phát triển đồng nghĩa với những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên như: suy thoái đất đai, nguồn nước, cảnh quan tự nhiên Trước những tác động xấu ngày càng gia tăng do du lịch mang lại, các nhà nghiên cứu du lịch đã tìm kiếm những cách thức mới nhằm đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển du lịch với bảo vệ môi trường Do đó, một loại hình du lịch mới ra đời đó chính là “du lịch sinh thái”

Du lịch sinh thái (hay con gọi là du lịch tự nhiên) là loại hình du lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế giới Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotorism society): "Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương" Cùng với việc khai thác tài nguyên du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển của môi trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài Du lịch sinh thái có quy mô không lớn, nhưng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá ở đó, tổ chức du lịch thế giới đã khẳng định du lịch sinh thái là loại hình du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ở vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng nhưng đồng thời chú trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai

Tại hội nghị môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Rio de Janiero (Brazil) năm 1992, đưa ra định nghĩa về du lịch bền vững: Là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa nhưng vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về kinh tế, xã hội, môi trường nhưng vẫn duy trì được sự toàn vẹn văn hóa, đa dạng sinh học, phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống khác hỗ trợ cho con người

Tại hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về phát triển du lịch bền vững Rio+20 diễn ra trong tháng 6/2012 được đồng tổ chức bởi UNWTO, Bộ du lịch Brazil và Ủy ban Liên hiệp quốc về phát triển du lịch đã nhấn mạnh vai trò của du lịch trên hành tinh hướng tới phát triển bền vững toàn cầu Hội nghị khẳng định cam kết về phát triển bền vững và giải quyết những thách thức mới nảy sinh, hội nghị thảo luận hai vấn đề chính: một nền kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo, khung thể chế cho phát triển bền vững

Ngày nay, du lịch đóng góp trực tiếp 5% GDP và hơn 1,1 nghìn tỷ USD trong kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, du lịch tạo ra nhiều việc làm cho phụ nữ và thanh thiếu niên, cứ 12 lao động trên thế giới thì có 01 người hoạt động trong lĩnh vực du lịch Du lịch đã trở thành một công cụ quan trọng để xóa đói, giảm nghèo, ứng phó với biến đổi khí hậu, xây dựng môi trường bền vững và đóng góp vào thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ [23] Một chính sách du lịch hợp lý, đúng đắn sẽ thúc đẩy các hệ thống quản lý du lịch có lợi cho môi trường Du lịch bền vững là tổng hợp phát triển của các nhân tố nằm trong sự bền vững của môi trường và tài nguyên quốc gia Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo các yếu tố sau: Quá trình phát triển trong một thời gian dài, mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, đáp ứng được nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ mai sau.

Ở Việt Nam

Từ khi thực hiện chính sách mở cửa, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nước ta, du lịch có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam theo số liệu của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, năm 2010 ngành du lịch đóng góp 12,4% vào GDP tương đương 12,5 tỷ USD, tạo ra 4,53 triệu việc làm trực tiếp và dán tiếp Việt Nam đứng thứ 2 trong ASEAN về tốc độ tăng trưởng, đứng thứ 4 về tỷ trọng đóng góp vào lền kinh tế quốc dân và đứng thứ 5 về kết quả tuyệt đối Trong 181 quốc gia trên thế giới, du lịch Việt Nam đứng thứ 12 về tốc độ tăng trưởng, thứ 54 về tỷ trọng đóng góp vào nền kinh tế quốc dân và đứng thứ 47 kết quả tuyệt đối Du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng về mọi mặt: tăng GDP, tạo việc làm, xuất khẩu và đầu tư [23]

Là một nước được biết đến với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, trên toàn quốc có khoảng 4.000 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó 2.250 di tích được nhà nước xếp hạng Đặc biệt là các điểm du lịch nổi tiếng được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới: Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn (Quang Nam), khu di tích Cố Đô Huế (Thừa Thiên Huế), Động Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình) là điểm đến lý tưởng của bạn bè du khách quốc tế Để thu hút khách du lịch, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh đầu tư và nâng cấp hạ tầng cơ sở du lịch ngày càng tốt, hoàn thiện hơn

Một trong những biện pháp cơ bản để thu hút khách du lịch là tạo ra các sản phẩm dịch vụ hấp dẫn đáp ứng nhu cầu và sở thích của du khách Để phát triển du lịch, điều kiện không thể thiếu là nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó môi trường tự nhiên như môi trường nước, không khí, đất đai, đồi núi là yếu tố chính đem đến sự thoả mãn cho du khách du lịch, môi trường tự nhiên là yếu tố quyết định trong việc thu hút khách du lịch Du lịch đến với thiên nhiên đồng thời cũng là con đường cứu thiên nhiên bằng cách thị trường hóa nó, tìm được sự cân bằng giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế

Bên cạnh việc khai thác thế mạnh tài nguyên du lịch, việc bảo vệ các di sản văn hoá, các công trình lịch sử, các cảnh quan thiên nhiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội Đây vừa là tài sản quốc gia, vừa là những điều kiện cần thiết để duy trì và phát triển bản sắc văn hoá, cuộc sống tinh thần, duy trì môi trường ổn định cho phát triển kinh tế trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội trong nước và quốc tế [20]

Hiện nay, tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, loại hình du lịch sinh thái rất phát triển, nhờ du lịch mà các Vườn quốc gia giải quyết được vấn đề kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương đồng thời nâng cao nhận thức, kiến thức của mọi người về bảo vệ thiên nhiên và định hướng những hành động của họ theo chiều hướng có lợi cho thiên nhiên

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm có vị trí địa lý thuận lợi, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 4,0 km về hướng Nam, nằm dọc theo Quốc lộ 20 nối tỉnh Lâm Đồng với các tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Khu vực Hồ Tuyền Lâm được Thủ Tướng Chính Phủ công nhận là thắng cảnh Quốc Gia và là một trong 20 khu du lịch quốc gia tại văn bản số 1095/CP-KTTH ngày 28/11/2000 của Chính Phủ, số 158/TCDL-KHĐT ngày 27/2/2001 của Tổng Cục Du Lịch

Tuyền Lâm là một địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Đà Lạt và cả nước, những năm qua thu hút rất nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế Diện tích 2.827 ha với trung tâm là Hồ Tuyền Lâm rộng 296,70 ha với nhiều nhánh ăn sâu vào đất liền theo dạng hình lông chim [15], địa hình chia cắt thành nhiều bán đảo có diện tích khá rộng rất thích hợp cho sự phát triển các loại hình du lịch, đây là nơi duy nhất có rừng thông tự nhiên, rừng lá rộng thường xanh còn lại gần trung tâm thành phố Đà Lạt Khu vực Hồ Tuyền Lâm có tài nguyên rừng đa dạng với nhiều kiểu rừng: rừng lá rộng thường xanh, rừng lá kim, rừng hỗn giao; hệ động vật phong phú; mặt hồ thơ mộng với hoạt động du thuyền phục vụ du khách thưởng ngoạn toàn cảnh Khu du lịch, các giá trị văn hóa, nhân văn: văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số K’Ho; tài nguyên di chỉ, khảo cổ học; tài nguyên lịch sử; du lịch tôn giáo là những tài nguyên lợi thế cho phát triển du lịch

Nhằm khai thác thế mạnh du lịch, tạo điểm nhấn thành phố Đà Lạt UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 5/11/2003 thành lập Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm trực thuộc UBND tỉnh với nhiệm vụ quản lý, phát triển Khu du lịch theo hướng bền vững, phát triển du lịch nhằm khai thác thế mạnh tài nguyên thiên nhiên đồng thời vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa, môi trường Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm được Thủ Tướng Chính Phủ cho phép chuyển 292 ha từ đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng phục vụ xây dựng Khu du lịch

Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch vẫn còn những mặt tiêu cực: diện tích rừng bị suy giảm do xây dựng các công trình, chất thải trong quá trình xây dựng, khách du lịch làm ô nhiễm môi trường Khu du lịch, sự gia tăng dân số cơ học, tiếng ồn tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên.

Các tiềm năng tự nhiên để phát triển du lịch

2.2.1 Tiềm năng văn hóa của đồng bào dân tộc K’Ho

Phía Đông Nam của khu vực Hồ Tuyền Lâm là nơi sinh sống của làng dân tộc Đarahoa, đây là khu định cư của 42 hộ dân tộc K’Ho Nhóm dân cư này bảo tồn được truyền thống văn hóa của dân tộc mình với những lễ hội truyền thống như lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu và các phong tục tập quán của dân tộc mình có giá trị phục vụ du lịch

2.2.2 Tài nguyên di chỉ, di tích khảo cổ

Khu vực chân Núi Voi, ven các con suối đầu núi Voi (suối Đạ Bộ Way, Đạ B’Năm Ruôi) thuộc địa phận thôn Phú Thạnh, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, từ năm 2002 đã phát hiện được một số di chỉ khảo cổ, từ đó đến nay đã có nhiều đoàn khảo sát thuộc các cơ quan khảo cổ Trung ương và Tỉnh đến nghiên cứu Trong quá trình khảo sát đoàn đã thu được nhiều hiện vật có giá trị, những hiện vật này là của cư dân thời đại đá cũ, theo đánh giá của giáo sư Trần Quốc Vượng – đại học Quốc gia Hà Nội thì di chỉ, di tích Núi Voi có thể có liên đại trên 3 – 4 vạn năm cho đến 5 – 6 vạn năm về trước [13] Ngoài ra cũng phát hiện một số chế phẩm được làm từ đá opal là công cụ lao động của dân cư hậu kỳ đá mới khá phổ biến ở Tây Nguyên, chúng có niên đại cách đây khoảng 3.000 năm

Như vậy, núi Voi không chỉ có vết tích văn hóa của cư dân thời đá cũ mà còn có dấu tích văn hóa của cư dân hậu kỳ đá mới, sự phát hiện này có ý nghĩa quan trọng xác nhận sự có mặt của nhiều lớp cư dân thời tiền sử tại đây, trong đó có thể là lớp cư dân cổ nhất được biết hiện nay ở Lâm Đồng

2.2.3 Tài nguyên về lịch sử

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, với đặc điểm vị trí, địa hình khu vực Núi Voi, Suối Tía là căn cứ quan trọng trong phong trào cách mạng của thành phố Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức (tỉnh Lâm Đồng ngày ngay) Khu căn cứ này là nơi chỉ đạo các phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang của quân và dân thị xã Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức, là nơi dừng chân tập kết, huấn luyện các lực lượng vũ trang, các đội công tác của Tỉnh và Quân khu, là bàn đạp để các lực lượng tấn công vào Đà Lạt và cơ động đánh địch ở các mặt trận trong tỉnh Tuyên Đức

Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoài cơ quan Thị ủy còn có các đơn vị đóng quân như Ban kinh tài, bệnh xá, Đội công tác phụ nữ, thanh niên, học sinh, Đội công tác nội thị, Đội biệt động thị 850, 852, 860, các cơ quan lãnh đạo, đơn vị tiền phương cũ của Tỉnh như: Tỉnh ủy, Tỉnh đội, Trạm hành lang, Đại đội 810, Đội điệp báo Tỉnh và lực lượng quân khu 6: tiểu đoàn 186, 145, 200C hiện nay, các di tích lịch sử vẫn còn

Khu vực trung tâm của căn cứ Núi Voi: đồi Ngo, đồi Sân bay, đồi Công sự, Yên ngựa 1, Yên ngựa 2, đồi Bà cả, đồi C1, đồi Tân binh, đồi Ông Danh, đồi Hòm thơ, đồi cây đa, dốc Quế với tổng số 46 điểm di tích, hầm hào, nơi đóng quân

Khu vực Núi đá là nơi đóng quân của Đội công tác an ninh, đơn vị biệt động Thị 820, đội công tác quân báo Quân khu 6 tại đây vẫn còn 3 di tích

Khu căn cứ địa Núi Voi đang được tôn tạo, tu bổ để hình thành một khu bảo tồn di tích lịch sử để phục vụ du lịch

2.2.4 Tài nguyên về du lịch tôn giáo

Trong khu vực Hồ Tuyền Lâm có Thiền Viện Trúc Lâm, là công trình văn hóa tôn giáo quan trọng và nổi tiếng của Phật giáo được xây dựng từ năm

1993 và khánh thành ngày 19/3/1994, tọa lạc trên đồi Phượng Hoàng với độ cao 1.450 m so với mực nước biển với các công trình: Chánh điện, Lầu Chuông, nhà tăng, thư viện, vườn thiền được xây dựng theo lối kiến trúc cổ truyền kết hợp với hiện đại trang nghiêm và thanh thoát Đây là địa điểm hàng năm thu hút rất nhiều du khách thập phương các nơi đến tham quan, vãn cảnh, chiêm bái

2.2.5 Tiềm năng về mặt nước Hồ Tuyền Lâm

Hồ Tuyền Lâm có diện tích lưu vực 32,8 km 2 , địa hình dạng hình lòng chảo nên diện tích của mặt hồ khá lớn, rộng 296,70 ha với nhiều nhánh ăn sâu vào đất liền theo dạng hình lông chim, địa hình chia cắt thành nhiều bán đảo có diện tích khá rộng rất thích hợp cho sự phát triển các loại hình du lịch Hệ thông thủy văn của hồ gồm những thác nước đẹp đã và đang đưa vào khai thác phục vụ phát triển du lịch: Thác Đatanla, Thác Bảo Đại

Nguồn cung cấp nước cho Hồ Tuyền Lâm là hệ thống suối từ các dãy núi cao xung quanh như Suối Tía, khu dân cư An Bình, Quảng Thừa Lượng mưa tập trung vào mùa mưa chiếm tới 88,6% tổng lượng mưa hàng năm tạo nên sự phân hóa về dòng chảy và mức chênh lệch mặt nước giữa hai mùa là khá lớn

Kết quả điều tra cho thấy dòng chảy bình quân năm tại Hồ Tuyền Lâm với tần suất 75% là 0,550 m 3 /s, tổng lưu lượng 17,35 triệu m 3

Tiềm năng nguồn nước của Hồ Tuyền Lâm không chỉ đảm bảo cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp khu vực huyện Đức Trọng, điều hòa tiểu khí hậu khu vực mà còn là cảnh quan quan trọng trong việc quy hoạch phát triển du lịch khu vực Hồ Tuyền Lâm

Các thông số kỹ thuật cơ bản của Hồ Tuyền Lâm:

Diện tích lưu vực 32,80 km 2

Chiều cao lớn nhất của đập 32,00 m

Mực nước dâng bình thường 1.377,50 m

Dung tích hồ chứa 10,60 triệu m 3

Dung tích hiệu dụng 9,6 triệu m 3

Diện tích mặt hồ khi mực nước dâng bình thường 296,70 ha

Điều kiện tự nhiên - Dân sinh - Kinh tế - Xã hội

Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm nằm trên địa bàn phường 3, phường 4 thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố 4,0 km về hướng Nam Từ trung tâm thành phố có thể đến Khu du lịch bằng 2 tuyến đường: theo đường Quốc lộ 20 đến km số 5 từ thành phố Đà Lạt về thành phố Hồ Chí Minh và đường Triệu Việt Vương, hoặc có thể di chuyển bằng đường cáp treo với chiều dài 2,4 km

Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm nằm trong thung lũng được bao bọc bởi các dãy núi cao, địa hình của Khu du lịch được xác định theo đường phân thủy, diện tích tự nhiên 2.827 ha có giới cận như sau:

Phía Đông giáp Quốc lộ 20

Phía Tây diện tích rừng Ban quản lý rừng Lâm Viên

Phía Bắc giáp khu vực Sầm Sơn, Quảng Thừa

Phía Nam giáp núi Voi thuộc địa bàn Ban quản lý rừng Đại Ninh

Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm nằm trong vùng rìa chuyển tiếp từ cao nguyên Lâm Viên có độ cao trung bình 1.500 m xuống bậc địa hình thấp hơn là cao nguyên Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà có độ cao trung bình 1.200 m Địa hình khu vực chủ yếu là đồi, núi có độ cao trung bình xen kẽ với các thung lũng, mức độ phân cắt dọc và ngang lớn Các sông, suối chảy theo các đứt gãy và thung lũng giữa núi nên có bờ rất sâu, dốc, nhiều ghềnh, thác có giá trị du lịch cao như thác Bảo Đại, thác Đatanla

Trung tâm của khu vực là Hồ Tuyền Lâm có diện tích 296,70 ha với nhiều nhánh ăn sâu vào đất liền theo dạng hình lông chim, chia cắt địa hình thành nhiều bán đảo có diện tích khá rộng thuận lợi cho việc xây dựng du lịch với nhiều loại hình du lịch như: Du lịch nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo, làng biệt thự ven hồ … tạo nên nhiều cảnh quan thơ mộng, trữ tình Trên hồ sử dụng thuyền máy để du ngoạn và nghé thăm các điểm du lịch như: Thác Bảo Đại, điểm du lịch Đá Tiên, Nam Qua, Suối Tía Quanh Hồ Tuyền Lâm là những cánh rừng trồng, rừng thông tự nhiên, rừng lá rộng tạo cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng Trên đỉnh đồi phía Bắc là Thiền Viện Trúc Lâm, một công trình kiến trúc phật giáo lớn của thành phố Đà Lạt, hàng năm thu hút rất nhiều du khách thập phương đến tham quan vãn cảnh, chiêm bái

Theo kết quả điều tra lập địa của Phân viện điều tra quy hoạch rừng II, đất ở đây chủ yếu là đất vàng xám phát triển trên đá mẹ Granit và Dacid, độ phì của đất tương đối tốt, diện tích đất bị thoái hóa không đáng kể Thành phần cơ giới biến động từ thịt nặng đến sét, tầng đất dày và khá sâu Một số diện tích có độ dốc lớn nên dễ bị rửa trôi và xói mòn trong mùa mưa, khả năng giữ nước và dinh dưỡng không cao

Khí hậu khu vực Hồ Tuyền Lâm có đặc chưng của khí hậu thành phố Đà Lạt, khí hậu nhiệt đới vùng núi cao

Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn thành phố Đà Lạt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 18,3 0 C, nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 5 và tháng 6 là 19,5 0 C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau là 16,4 0 C Nền nhiệt này rất thích hợp với sức khỏe của con người, đặc biệt đối với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh, biên độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá lớn, cao nhất vào mùa khô khoảng

Lượng mưa trung bình cả năm đạt 1.729 mm Lượng mưa bình quân thấp nhất vào tháng 01 đạt 7,5 mm, cao nhất vào tháng 9 đạt 290,2 mm Chế độ mưa theo mùa đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch Độ ẩm bình quân khá cao đạt 84%, nhờ tác động mặt nước Hồ Tuyền Lâm làm cho thời tiết dễ chịu hơn vào mùa khô, mùa mưa độ ẩm tương đối cao tạo nên sự ẩm ướt

2.3.6 Tình hình kinh tế, xã hội

Thành phố Đà Lạt có diện tích 391,06 km 2 với 12 phường và 3 xã, dân số thành phố Đà Lạt tính đến năm 2004 là 183.000 người, trong đó dân số thành thị là 163.954 người (chiếm 89%), nông thôn là 19.766 (chiếm 11%) Dân số của phường 3, 4 là 28.668 người [21]

Nhằm phục vụ quy hoạch phát triển du lịch dưới tán rừng phòng hộ khu vực Hồ Tuyền Lâm theo Nghị quyết của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Lâm Đồng Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm phối hợp cùng UBND thành phố Đà Lạt di dời người dân trong vùng dự án đến nơi ở mới và thực hiện công tác đền bù, tái định cho các hộ dân trong vùng Hiện nay, trong Khu du lịch hồ Tuyền Lâm chỉ còn lại một số ít hộ dân chuyển sang kinh doanh buôn bán hàng lưu niệm, ăn uống, giải khát tại khu vực bến 1, 2 bến du thuyền và làm việc tại một số dự án đang khai thác kinh doanh du lịch trong Hồ Tuyền Lâm.

Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần bảo vệ môi trường và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

- Xác định và đánh giá ảnh hưởng những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường và những nguyên nhân gây ra tác động

- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến môi trường tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm.

Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá các hoạt động du lịch tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

- Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên rừng khu vực Hồ Tuyền Lâm

- Nghiên cứu ảnh hưởng các hoạt động du lịch đến môi trường ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động tới môi trường của các hoạt động du lịch ở Hồ Tuyền Lâm.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Các hoạt động du lịch tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

- Một số Công ty đang khai thác các hoạt động du lịch

- Khách du lịch đến Hồ Tuyền Lâm

- Các nhân tố môi trường như: đất, nước, thực vật

Do thời gian hạn chế nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng hoạt động du lịch đến tài nguyên rừng và tài nguyên nước khu vực Hồ Tuyền Lâm.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, các yếu tố kinh tế, sự phân bố, quy luật phân bố và biến động của chúng, những mối quan hệ tương tác, chế ngự lẫn nhau giữa các yếu tố hợp phần của lãnh thổ

Du lịch hiện nay đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng, các hoạt động kinh tế không chỉ tính đến lợi ích và chi phí Những lợi ích thu được từ hoạt động du lịch không chỉ có ý nghĩa kinh tế, văn hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường Vì vậy, những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến môi trường, tới hệ sinh thái tại các điểm, tuyến du lịch cần phải được tính đến

Phát triển bền vững là mục tiêu mà cộng đồng đang hướng tới trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Quan điểm phát triển bền vững được xem xét trong các phạm trù: bền vững về hệ sinh thái, hệ kinh tế, hệ xã hội

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp điều tra được thực hiện trong đề tài này thông qua phiếu điều tra và điều tra ngoài thực địa

- Điều tra thông qua phiếu: là phương pháp điều tra tập trung vào một chủ đề, thực hiện trong thời gian ngắn, được áp dụng cho số lượng lớn thành viên trong cộng đồng

Phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi đã được soạn sẵn theo một trình tự đã định Dữ liệu thu được thông qua phiếu điều tra có tính hệ thống và dễ phân tích Quá trình phân tích dữ liệu nhanh và ít tốn kém, cho phép người điều tra thu thập được nhiều loại dữ liệu từ một số lượng lớn người được phỏng vấn

- Điều tra ngoài thực địa: nhằm đánh giá thực trạng các hoạt động du lịch ảnh hưởng đến môi trường ở thời điểm hiện tại, số liệu thu thập được mang tính định lượng Từ những dữ liệu thu thập được, đưa ra những đánh giá, dự báo, đề xuất các giải pháp quản lý đạt hiệu quả cao nhất

3.4.2.2.1 Quá trình thu thập tài liệu thứ cấp

Tài liệu thứ cấp là những tài liệu, số liệu có sẵn của khu vực nghiên cứu (cả ở dạng xuất bản và không xuất bản) về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu Tài liệu thứ cấp giúp giảm bớt nội dung điều tra, bổ sung những nội dung không điều tra được hay không tiến hành được Thông qua thông tin thứ cấp giúp định hướng những công việc cần làm trong điều tra thực địa

Những tài liệu thứ cấp thu được ở địa điểm nghiên cứu bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu

- Hệ thống hạ tầng cơ sở của địa điểm nghiên cứu

- Những công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học về tài nguyên của khu vực nghiên cứu

- Tình hình bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

- Hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch của khu vực

- Những chính sách, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Tuy nhiên, các số liệu thống kê thường không đầy đủ và độ tin cậy chưa cao nên đề tài cần phải thu thập thông tin, số liệu qua điều tra nhằm bổ sung những thông tin cần thiết phục vụ đề tài

* Điều tra thông qua phiếu

Phiếu điều tra là những câu hỏi đã được định sẵn câu trả lời giúp người phỏng vấn tiết kiệm thời gian, câu trả lời không bị lệch vấn đề, thuận tiện khi tổng hợp và xử lý số liệu trên cơ sở những thông tin thu được

Phiếu điều tra được xây dựng cho ba nhóm đối tượng: Cán bộ và nhân viên Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm, khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương

Tác giả tiến hành điều tra một số doanh nghiệp đang khai thác hoạt động du lịch trong Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm: Công ty TNHH Maico (ĐaLat Edensee Resort); Công ty du li ̣ch thác Đatanla, Công ty du li ̣ch cáp treo Đà

Lạt, điểm du li ̣ch dã ngoa ̣i Suối Tía, Đá Tiên, Nam Qua; Thiền Viện Trúc Lâm; Hợp tác xã du thuyền Thu thâ ̣p các thông tin:

- Số lượng khách tham quan, lưu trú

- Chất thải sau sinh hoạt: rác thải, nước thải

- Hệ thống xử lý rác, chất thải

Phối hợp với Trung tâm quan trắc tài nguyên và Môi trường – Sở Tài nguyên môi trường lấy một số mẫu nước mặt, nước ngầm, nước thải tại một số vị trí trong Khu du lịch phân tích, kết quả được so sánh với các mẫu phân tích năm 2005 để so sánh

Chất thải từ các hoạt động du lịch trong Khu du lịch: rác thải khách du lịch, chất thải rắn trong quá trình xây dựng, dầu, nhớt từ hoạt động du thuyền thải ra …

Thu thập số liệu một số dự án đang triển khai trong Khu du lịch

* Các nguồn dữ liệu khác

Ngoài dữ liệu thu được từ quá trình thu thập tài liệu thứ cấp, điều tra thực tế, tác giả tìm các tài liệu tham khảo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Những tài liệu này là những báo cáo, nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch, hình ảnh trong quá trình điều tra thực địa

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Dù ng phần mềm Mapinfo 10.0 xây dựng bản đồ vị trí chuyển mục đích sử dụng đất, bản đồ trồng rừng các nhà doanh nghiệp trong Khu du lịch

- Dùng phần mềm Excel thống kê và tổng hợp số liệu điều tra

Điều tra, đánh giá các hoạt động du lịch tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

4.1.1 Quy hoạch phát triển du lịch trong rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm

Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm có lợi thế về tiềm năng tự nhiên, nhân văn để phát triển các loại hình du lịch trên cơ sở bảo vệ và tôn tạo cảnh quan, hình thành Khu du lịch quốc gia bền vững, có quy mô lớn mang tầm cỡ khu vực và quốc tế với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn mang tính chất tĩnh, hiện đại góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch của thành phố Đà Lạt [13] Để tạo điểm nhấn cho thành phố Đà Lạt, UBND tỉnh Lâm Đồng quy hoạch và xây dựng khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm thành Khu du lịch trọng điểm, UBND Tỉnh phê duyệt dự án điều chỉnh quy hoạch Khu du lịch

Hồ Tuyền Lâm tại Quyết định số 3907/QĐ-UBND ngày 30/12/2003 đến năm

2010 tầm nhìn đến năm 2020, phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm tại Quyết định số 2117/QĐ-UBND ngày 17/7/2006, phê duyệt dự án quy hoạch phát triển du lịch trong rừng phòng hộ khu vực Hồ Tuyền Lâm tại Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 6/01/2006 Khu du lịch được Thủ Tướng Chính Phủ cho phép chuyển 292,0 ha từ đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng phục vụ xây dựng Khu du lịch

- Các loại hình và sản phẩm du lịch: Du lịch nghỉ dưỡng, nghỉ cuối tuần kết hợp với hội nghị, hội thảo; Du lịch thể thao và vui chơi giải trí chất lượng cao; Du lịch sinh thái: nghiên cứu sinh thái rừng và đa dạng sinh học; quan sát chim, thú hoang dã; du lịch leo núi, thám hiểm, cắm trại, đi bè, câu cá; Du lịch tham quan thắng cảnh bằng đường bộ, đường thủy, cáp treo; Du lịch văn hóa, tôn giáo

Hình 4.1: Bản đồ phân khu chức năng Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

* Quy hoạch các phân khu chức năng

Khu biệt thự du lịch: Diện tích 150,0 ha bố trí trên đất nông nghiệp khu vực phía Tây Bắc Hồ Tuyền Lâm với các biệt thự có kiến trúc phù hợp với cảnh quan tự nhiên được xây dựng trên các sườn đồi, biệt lập, có sân vườn, tập trung theo từng nhóm bao gồm biệt thự ven hồ, biệt thự đồi, biệt thự phố, biệt thự kiểu miền núi bám theo địa hình hiện trạng sẵn có Trên các đỉnh đồi xây dựng các dinh thự, các công trình công cộng và các cơ sở dịch vụ kèm theo [13]

Hình thức kiến trúc của các biệt thự theo kiểu kiến trúc Châu Âu, mái dốc sử dụng các vật liệu phù hợp với cảnh quan thiên nhiên trong khu vực Các mảng xanh được bố trí xen lẫn trong các khu nhà ở để tạo môi trường cảnh quan sinh thái cho khu vực và tạo sự gần gũi giữa con người và thiên nhiên Mật độ xây dựng công trình từ 25 – 30%

Khu nghỉ dưỡng cao cấp: Diện tích 550,0 ha với các loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch vui chơi giải trí và tham quan thắng cảnh, du lịch mạo hiểm với các hoạt động leo núi, cắm trại, du lịch lễ hội, giao lưu văn hóa và thưởng thức nghệ thuật, du lịch chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, du lịch ẩm thực

Phía dưới cáp treo quy hoạch khu nghỉ dưỡng và vui chơi, giải trí, dã ngoại Những vị trí đất trống, đất nông nghiệp thu hồi của người dân được trồng rừng nhằm tăng độ che phủ rừng và bảo vệ cảnh quan khu vực

Khu bán đảo phía Tây và phía Bắc Hồ Tuyền Lâm quy hoạch khu nghỉ dưỡng, an dưỡng có chất lượng cao kết hợp với điều dưỡng Các công trình có kiến trúc tầng thấp, hiện đại và hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, mật độ xây dựng công trình từ 18 – 27%

Khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo: Diện tích 346,0 ha quy hoạch phía Đông của Hồ Tuyền Lâm, công trình xây dựng có lối kiến trúc đặc sắc với các công trình kỳ quan chọn lọc trên thế giới, công viên hoa quốc tế, các vườn hoa với các loại cây kỳ hoa dị thảo sinh động và quý hiếm, du lịch dã ngoại, thể thao mạo hiểm, du lịch văn hóa, tham quan thắng cảnh với các khu vực:

+ Khu nghỉ dưỡng, văn hóa, hội nghị, hội thảo chuyên đề có tầm cỡ quốc gia và quốc tế, khu khách sạn cao cấp hình thành cụm các công trình giải trí, sinh hoạt mang tính thẩm mỹ cao kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên Một trung tâm hội nghị đa năng có khả năng tổ chức các hoạt động biểu diễn ca múa nhạc, thời trang, triển lãm, tổ chức các hội nghị, hội thảo kết hợp với các loại hình vui chơi, giải trí như hệ thống chiếu phim, bơi thuyền, nhà hàng và trưng bày hàng lưu niệm

+ Bán đảo giữa hồ xây dựng khu khách sạn cao cấp kết hợp vui chơi giải trí, vui chơi có thưởng dành riêng cho người nước ngoài, khách sạn tiêu chuẩn 5 sao quốc tế và các dịch vụ bổ trợ kèm theo

+ Trên hai đỉnh núi Pihatt và B’Nam Qua xây dựng loại hình du lịch sinh thái công nghệ cao bao gồm đài vọng cảnh, khu vui chơi giải trí, vườn hoa, nhà hàng, khu camping, các cụm bungalow, mật độ xây dựng từ 15 – 24%

Khu trung tâm đón tiếp: Diện tích 24,0 ha, là trung tâm dịch vụ công cộng trên ngọn đồi tiếp giáp khu kỳ quan thế giới và công viên hoa quốc tế, là trung tâm tiếp đón tại cửa ngõ, lối vào Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm Trung tâm là nơi điều hành, quản lý, kèm theo các dịch vụ có chức năng hỗ trợ cho các dự án thành phần, là nơi giới thiệu tổng thể các dự án thành phần trong Khu du lịch, giao dịch và cung cấp các dịch vụ thông tin liên lạc, tài chính ngân hàng và các dịch vụ sinh hoạt thiết yếu cho du khách với các hạng mục quản lý, điều hành và dịch vụ, mật độ xây dựng 25%

Hình 4.2: Khu du lịch sinh thái Suối Tía

Khu du lịch tôn giáo (Thiền Viện Trúc Lâm): diện tích 26,0 ha với loại hình du lịch chính là tham quan, vãn cảnh chùa đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của du khách, mật độ xây dựng 25%

Khu sân golf: diện tích 160,2 ha khu vực phía Đông Nam của Hồ Tuyền Lâm với công trình xây dựng gồm sân golf 36 lỗ, hệ thống nhà nghỉ dưỡng và các cơ sở dịch vụ phục vụ cho các hoạt động của sân golf, mật độ xây dựng 7%

Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực Hồ Tuyền Lâm

Hiện trạng tài nguyên rừng và sử dụng đất tại khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm như sau:

Bảng 4.4: Hiện trạng tài nguyên rừng trong Khu du lịch

TT Loại đất, loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ %

Tổng diện tích tự nhiên 2.827,00 100,0

- Rừng thông gần thành thục (T31) 690,10 24,4

1.3 Rừng hỗn giao (IIIA1-Th) 1,90 0,1

Kết quả cho thấy, khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm có diện tích rừng che phủ khá cao, chiếm 70,7% tổng diện tích tự nhiên Trong đó: rừng tự nhiên chiếm 52,7%, rừng trồng chiếm 18%

4.2.1 Đa dạng thực vật và thảm thực vật rừng

Theo kết quả điều tra cho thấy khu vực Hồ Tuyền Lâm có thảm thực vật rừng phong phú với nhiều loài thực vật quý hiếm, đa dạng nguồn tài nguyên tạo điều kiện thuận lợi phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái 4.2.1.1 Đa dạng loài thực vật

Hệ thực vật ở khu vực Hồ Tuyền Lâm có 8 ngành, 76 bộ, 103 họ, 176 chi và 379 loài Trong đó ngành nấm (Mycota): 6 bộ, 8 họ, 13 chi, 34 loài; Nhóm Địa y (Lichens): 01 bộ, 01 họ, 02 chi, 02 loài; Nghành Thông đất (Lycopodiophyta): 02 bộ, 02 họ, 03 chi, 04 loài; Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta): 01 bộ, 01 họ, 01 chi, 01 loài; Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 08 bộ, 15 họ, 43 chi, 50 loài; Ngành Dây gấm (Gnetophyta): 01 bộ, 01 họ, 01 chi, 01 loài; Ngành Thông (Pinophyta): 04 bộ,

05 họ, 05 chi, 07 loài; Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 54 bộ, 69 họ, 108 chi, 280 loài [9]

Khu hệ thực vật trong khu vực Hồ Tuyền Lâm có 02 taxon thuộc ngành hạt trần (Pinophyta) có chỉ số đa dạng chiếm trên 50% so với taxon của hệ thực vật Việt Nam, taxon ngành chiếm 53,3%, taxon họ chiếm 61,2% [9] Tính chất đa dạng này là do quá trình phát triển, tiến hóa lâu đời của ngành hạt trần (Pinophyta) trong khu vực hồ Tuyền Lâm, chỉ số đa dạng của bậc taxon loài cao hơn bậc taxon họ, điều này cho thấy nơi đây cũng là một địa điểm thích hợp cho nhiều loài thực vật duy trì được sự ổn định và phát triển phồn thịnh Đây là tính chất đặc thù của hệ thực vật á nhiệt đới núi thấp đồng thời cũng mang tính chất của một hệ thực vật cổ xưa với những loài còn sót lại do quá trình tiến hóa đang trong quá trình nguy cấp cần được bảo vệ 4.2.1.2 Đa dạng về loài thực vật quý hiếm

Trong số 379 loài thực vật thống kê được trong khu vực Hồ Tuyền Lâm có 10 loài trong sách đỏ Việt Nam tập trung chủ yếu ở ngành hạt trần, chiếm

60% tổng số loài cây quý, hiếm ghi nhận được ở đây, chiếm 54% loài cây ngành hạt trần nghi nhận trong sách đỏ Việt Nam [9] Đây là những loài có giá trị về khoa học, kinh tế và y học như: Thông đỏ (Taxus wallichiana Zucc), Cẩu Tích (Cibotium barometz J.Sm), Đỉnh tùng (Cephalotaxus hainanensis H.L.Li), Thông tre (Podocarpus neriifolius D.Don), Bạch tùng (Podocarpus imbricatus Blume), Kim giao nam (Podocarpus wallichiana Presel), Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz), Hồng quang (Rhodoleia champoinii Hook.f.), Thổ phục ninh (Smilax glabra Roxb), Đảng sâm (Codonopsis javanica Hook.f)

4.2.1.3 Đa dạng về nguồn tài nguyên

Cùng với sự phong phú và đa dạng về thành phần loài, thảm thực vật, loài cây quý hiếm, khu vực Hồ Tuyền Lâm còn ẩn chứa nhiều tiềm năng to lớn với những loài có giá trị cao về tài nguyên như tài nguyên cây thuốc, tài nguyên cây gỗ và tài nguyên cây cảnh Đa dạng về tài nguyên cây thuốc: Tài nguyên cây thuốc rất đa dạng, chúng xuất hiện ở hầu hết các taxon, nhưng tập trung chủ yếu ở một số taxon dạng thân thảo và cây gỗ nhỏ Thống kê cho thấy có 83 loài thuộc 44 họ chiếm 22% số loài, 43% số họ trong khu vực điều tra [9] Trong đó có những loài cho dược liệu quý như Thông đỏ có hàm lượng taxol cao dùng để chữa trị các bệnh: ung thư vú, ung thư buồng chứng, u nang tử cung … Thạch tùng răng chữa trị các vết thâm tím, sưng tấy, chảy màu ngoài … Thổ phục linh có tác dụng giải độc, chữa viêm thận, viêm khớp, nghẻ ngứa Cẩu tích chữa phong hàn, tê thấp, đau lưng, nhức mỏi, đau thần kinh tọa … Đa dạng về tài nguyên làm cây cảnh: Có 40 loài cây thuộc 16 họ chiếm 11% số loài, 15% số họ điều tra được, đó là những loài cây có hình dáng và màu sắc đẹp, lạ mắt

4.2.1.4 Đa dạng thảm thực vật

Khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm có các kiểu rừng chính như sau:

- Kiểu rừng rậm thường xanh ưa ẩm á nhiệt đới núi thấp: Kiểu rừng này phân bố ở độ cao từ 1.000 đến 1.800 m thuộc các kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh ít bị tác động, phát triển trên các vành đai thấp của á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng này còn sót lại rất ít trên các vùng núi thuộc khu vực Núi Voi chạy từ phía Nam của Hồ Tuyền Lâm về huyện Đức Trọng, kiểu rừng này vẫn còn giữ được tính chất nguyên sinh tuy đã bị khai thác Cấu trúc của rừng đơn dản chỉ có hai tầng, không có tầng vượt tán

- Kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp: Phát triển trên các đai cao của á nhiệt đới núi thấp từ độ cao 1.000 m đến 1.800 m với kiểu rừng cây lá rộng thường xanh và lá kim ít bị tác động Ở vành đai này càng lên cao xuất hiện các cây trong ngành phụ hạt trần, cây lá kim Cấu trúc gồm 02 tầng

- Kiểu rừng cây lá kim ẩm ôn đới núi vừa: Phân bố ở độ cao từ 900 m đến 2.000 m, chủ yếu là trạng thái rừng Thông ba lá mọc tập trung thành những diện tích lớn Đây là kiểu rừng thưa thứ sinh được hình thành từ các loại rừng lá rộng thường xanh do bị con người tán phá, lửa rừng cháy hàng năm Rừng thông ba lá có 3 kiểu phụ về cấu trúc: Rừng Thông ba lá thuần loài, rừng Thông ba lá hỗn giao với loài cây lá rộng, rừng Thông ba lá hỗn giao với Dầu trà beng

4.2.2 Đa dạng hệ động vật rừng

Khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm tiếp giáp với 02 huyện Lâm Hà và Đức Trọng, trạng thái rừng chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, đối tượng rừng trung bình và rừng nghèo Diện tích rừng lá rộng được ngăn cách bởi Hồ Tuyền Lâm nên các tác động con người đến tài nguyên rừng được hạn chế rất nhiều làm cho khu hệ động vật ở khu vực này tương đối phong phú cả ở lớp thú, lớp chim và lớp bò sát, ếch nhái

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khu vực hiện có 220 loài thuộc 84 họ, 26 bộ và 04 lớp [22]

Bảng 4.5: Bảng tổng hợp số lượng Bộ, Họ các loài động vật

Thành phần phân loại học

Số bộ Số họ Số loài

Bò sát (Reptilia) 2 10 32 Ếch nhái (Amphibia) 1 5 22

Danh lục thú Hồ Tuyền Lâm gồm 32 loài thuộc 18 họ, 7 bộ [22] Nhiều loài thú lớn trước đây có hiện diện ở khu vực rừng Hồ Tuyền Lâm như: Gấu chó, Sơn dương, Mang nhỏ nhưng đến nay rất ít xuất hiện, các loài thú thường gặp như: Nai, Hoẵng, Cheo, Lợn rừng, Khỉ, Tê tê, Cầy hương, Nhím … các loài lưỡng cư: Kỳ đà, Rùa núi, Trăn, Rắn …

Mặc dù thành phần loài không nhiều, khu hệ thú ở Hồ Tuyền Lâm có ý nghĩa trong bảo tồn đa dạng sinh học cao với 10 loài quý hiếm (chiếm 31,25% tổng số loài trong khu vực nghiên cứu) đang bị đe dọa diệt vong Trong đó có

04 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2000), 01 loài ghi trong Danh lục đỏ của IUCN (2003), 09 loài ghi trong danh lục của Nghị định 48/2002/NĐ-CP

(2002) [20] Ngoài những loài có giá trị quý hiếm còn có các loài có giá trị về mặt kinh tế, du lịch: Cầy vòi mốc (Paguma larvata), Cầy vòi đốm (Paradoxurus hermaphroditus), Nhím (Acanthion brachyurus), Lợn rừng (Sus scrofa), Hoẵng (Muntiacus muntjak) …

Gồm 134 loài thuộc 51 họ, 16 bộ So với khu hệ chim Việt Nam, khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm có số loài chiếm 16,18% tổng số loài chim ở Việt Nam [22], đây là tỉ lệ tương đối cao, tương tự như các khu bảo tồn thiên nhiên khác ở khu vực Tây nguyên Các loài chim thường gặp: Bách xanh, Sáo sậu, Cu gáy, Gà gô, Bìm bịp, Gõ kiến xanh đã xác định có các loài chim đặc hữu: Khướu đầu đen má xám (Garulax yersini), Khướu đầu đen (garulax milleti), Sẻ thông họng vàng (Carduelis monguilloti), Mi Lang Biang

Trong đó có 16 loài chim quý hiếm (chiếm 11,94% tổng số loài chim khu rừng), 02 loài nằm trong Danh lục đỏ thế giới IUCN (2003), 07 loài trong Sách đỏ Việt Nam (2000), 13 loài ghi trong Danh lục của Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002): 01 loài thuộc nhóm IB, 12 loài thuộc nhóm IIB [22] 4.2.2.3 Lớp Bò sát, ếch nhái

Ảnh hưởng các hoạt động du lịch đến môi trường ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

4.3.1 Tác động của các hoạt động du lịch đến kinh tế, xã hội địa phương

4.3.1.1 Hiệu quả về kinh tế

Các hoạt động du lịch tại Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm có những tác động tích cực góp phần phát triển kinh tế địa phương: tạo thu nhập cho người dân, tăng nguồn thu ngân sách địa phương, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo dây chuyền phát triển các ngành nghề liên quan, khai thác tiềm năng sẵn có… nhằm nâng cao mức sống cộng đồng góp phần phát triển kinh tế địa phương Hoạt động du lịch tạo ra các nhân tố để phát triển và mở rộng các ngành nghề khác như kinh doanh, xây dựng, dịch vụ

Thay đổi cơ cấu xã hội: Hoạt động du lịch làm thay đổi cơ cấu dân số khu vực Hồ Tuyền Lâm về số lượng cũng như thành phần, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, tăng thu nhập kéo theo sự chuyển biến về cơ cấu ngành nghề, lực lượng lao động địa phương Du lịch phát triển làm giảm các hoạt động ngành nghề truyền thống địa phương, đồng thời phát triển một số ngành nghề mới với số lượng nhiều hơn và thu nhập cao hơn Khu du lịch Hồ

Tuyền Lâm sau khi hoàn thành sẽ tạo thêm từ 2.500 – 3.000 lao động phục vụ thường xuyên tại các dự án [13]

Thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực: Khu du lịch đi vào khai thác sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người dân cũng như cộng đồng dân cư địa phương thông qua việc làm trực tiếp và các dịch vụ kèm theo, đặc biệt là các nghề dịch vụ, góp phần thúc đẩy kinh tế trong vùng, chất lượng và đời sống người dân trong khu vực ngày càng được nâng cao

Cơ sở hạ tầng khu vực nâng cấp: trước khi có các hoạt động du lịch, hệ thống giao thông trong khu vực rất hạn chế, các con đường đất rất nhỏ, không có đường nhựa, chỉ có những con đường mòn nhỏ, người dân di chuyển rất vất vả, chủ yếu bằng đường thủy với các phương tiện chính như thuyền Hệ thống giao thông hiện nay được đầu tư xây dựng mới với 30 km đường giao thông thảm nhựa theo tiêu chuẩn đường cấp 4 miền núi bao gồm: đoạn 1, 2 nhánh trái; đoạn 1, 2, 3, 4 nhánh phải đường vòng Hồ Tuyền Lâm và đường nối Khu du lịch với đường cao tốc Liên Khương - Prenn với chiều dài 8 km

[1] Hệ thống điện sinh hoạt được đầu tư dọc các tuyền đường nhánh trái, nhánh phải, hệ thống viễn thông của hai mạng Vinaphone và Viettel được xây dựng, hệ thống điện chiếu sáng đoạn 1,2 nhánh trái đã hoàn thành đưa vào hoạt động từ tháng 4 năm 2012

4.3.1.2 Về văn hóa - Xã hội

Góp phần bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, các giá trị văn hóa cư dân bản địa, tăng giao lưu, trao đổi văn hóa giữa du khách và người dân địa phương góp phần phong phú thêm bản sắc văn hóa của cả hai phía Các hoạt động du lịch tác động tới xã hội thông qua số lượng nhân khẩu, nghề nghiệp, các chuẩn mực xã hội, nhu cầu hưởng thụ của người dân

Chuẩn mực xã hội: Các chuẩn mực truyền thống, phong tục tập quán của người dân địa phương bị ảnh hưởng do sự giao lưu với du khách có những phong tục tập quán khác nhau

Nhân khẩu: Hoạt động du lịch ảnh hưởng tới phân bố dân cư địa phương thông qua sự gia tăng dân số cơ học do thu hút các lao động từ nơi khác tới tham gia vào các hoạt động du lịch và các ngành nghề hỗ trợ Do tập trung nhiều lao động về Khu du lịch dẫn đến nhiều phức tạp trong công tác quản lý an ninh trật tự, nhân khẩu địa phương

Nghề nghiệp: Khi tuyển chọn nhân viên phục vụ các hoạt động du lịch thì tuổi, giới tính, trình độ là những điều kiện quan trọng do yêu cầu của nghề nghiệp Do vậy, đại bộ phận người dân nằm trong vùng dự án trước đây chủ yếu lao động bằng chân tay như nghề trồng trọt, đánh bắt cá … không cần trình độ, hầu hết tuổi những người lao động cao nên họ không thể tham gia vào các hoạt động du lịch địa phương, chỉ một bộ phận rất nhỏ được tuyển vào làm bảo vệ, chăm sóc cây cảnh và lao động tạp vụ tại một số dự án trong Khu du lịch

Hiện nay, trong Khu du lịch hồ Tuyền Lâm có khoảng 1.000 lao động đang làm việc, trong đó 600 lao động làm việc thường xuyên tại các doanh nghiệp và 400 công nhân lao động thời vụ cho các nhà thầu xây dựng công trình

Trước khi xây dựng Khu vực Hồ Tuyền Lâm có khoảng 500 hộ dân nằm trên địa bàn phường 3, phường 4 thành phố Đà Lạt, sống tạm trú để sản xuất nông nghiệp Tỉ lệ có hộ khẩu thường trú là 32%, tạm trú là 54%, cư trú là 14% [21] Ngành nghề chính của dân cư trong vùng là trồng cây nông nghiệp, đánh bắt cá Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 639 ha tập chung chủ yếu ở quanh khu vực Hồ Tuyền Lâm, gần các vùng trũng có nguồn nước Nguồn thu nhập chính của người dân từ sản xuất nông nghiệp nhưng không ổn định vì năng suất và giá cả luôn biến động, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, tình hình sâu bệnh, thị trường đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, thu nhập của các hộ dân rất thấp

Khi dự án quy hoạch phát triển du lịch trong rừng phòng hộ khu vực

Hồ Tuyền Lâm thực hiện, số hộ dân thực hiện di dời, giải tỏa phục vụ xây dựng Khu du lịch là 715 hộ với số tiền đền bù 250 tỷ đồng, số hộ được tái định cư là 360 hộ, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi 530 ha Sau khi bàn giao đất và nhận tái định cư, người dân sống trong Hồ Tuyền Lâm đã quen với sản xuất nông nghiệp nên họ rất khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm mới Số hộ xây nhà tại khu tái định cư rất ít vì họ thiếu việc làm, hầu hết các hộ dân sau khi nhận tái định cư đã sang nhượng cho người khác và tìm đến các xã vùng ven thành phố Đà Lạt như: xã Tà Nung, xã Xuân Trường, xã Xuân Thọ và xã Trạm Hành tìm kiếm mua các vườn, rẫy và tiếp tục sản xuất nông nghiệp Để hỗ trợ người dân trong việc tìm kiếm việc làm mới, Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm đã tổ chức một số lớp tập huấn việc làm, gửi các phiếu đề nghị tuyển dụng lao động người địa phương đến các doanh nghiệp đang hoạt động trong Khu du lịch nhưng kết quả đạt được không cao

4.3.2 Tác động đến tài nguyên rừng Để phục vụ xây dựng Khu du lịch hồ Tuyền Lâm, tổng số diện tích bị tác động 292,6 ha bao gồm đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp Trong đó diện tích đất có rừng 151,20 ha (chiếm 52% tổng diện tích), đất nông nghiệp và đất khác 141,40 ha (chiếm 48%) Số cây rừng bị tác động khoảng 98.534 cây bao gồm: rừng lá rộng và rừng thông tự nhiên 21.133 cây, rừng thông trồng 77.401 cây với trữ lượng rừng khoảng 11.360 m 3 [11] Mật độ che phủ của rừng giảm từ 70,7% xuống còn 65,36% Để phục hồi hệ sinh thái rừng thay thế diện tích phải chặt hạ, UBND tỉnh Lâm Đồng đồng ý chủ trương cho Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm làm chủ đầu tư 02 dự án: Dự án trồng Hoa Anh Đào và Dự án trồng rừng và cây xanh trong Khu du lịch với tổng diện tích 289,63 ha nhằm tăng độ che phủ của rừng từ 65,36% do tác động của việc xây dựng các hạng mục công trình lên 75,61% sau khi dự án hoàn thành, tăng 4,91% so với trước khi có tác động của các hoạt động du lịch, trong đó: nguồn vốn nhà nước 75,48 ha, nguồn vốn các nhà đầu tư 214,15 ha Đến thời điểm điều tra, Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm và các nhà đầu tư trong Khu du lịch đã trồng được 134,0 ha rừng (quy mật độ đông đặc 500 cây/ha theo Dự án được phê duyệt) 4.3.2.1 Ảnh hưởng đến khu hệ động vật

Việc xây dựng Khu du lịch ảnh hưởng đến không gian sống của các loài động vật Do địa điểm xây dựng các dự án thành phần quy hoạch bao quanh Hồ Tuyền Lâm, đây là vị trí trung tâm của khu vực, do vậy khu vực bị tác động hầu như nằm trên toàn bộ diện tích Khu du lịch bao gồm các đối tượng rừng thông tự nhiên, rừng thông trồng và rừng lá rộng thường xanh như: khu vực dọc tuyến Thác Đatanla, Núi Pinhall, Núi voi, Đỉnh B’Nam Qua trừ một phần diện tích phía cuối hồ Tuyền Lâm có trạng thái rừng lá rộng thường xanh là nơi dự trữ sinh quyển thuộc khu vực bất kiến tạo Các hoạt động trên làm thu hẹp không gian sống, sinh cảnh bị chia cắt, làm cạn kiệt nguồn thức ăn của các loài động vật đặc biệt là các loài thú thuộc Bộ móng guốc, Bộ linh trưởng …

Các yếu tố hoạt động trong quá trình xây dựng như: Hoạt động của máy móc trong quá trình thi công, xe cơ giới vận chuyển nguyên, vật liệu, hoạt động vận chuyển khách, các hoạt động vui chơi giải trí của con người gây lên tiếng ồn, lượng lớn người tập trung trong phạm vi không gian hẹp … làm ảnh hưởng đến đời sống của các loài động vật đặc biệt là các loài thuộc lớp chim, thú Đây là những loài rất nhạy cảm với tiếng ồn

4.3.2.2 Ảnh hưởng đến khu hệ thực vật

Đề xuất một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng các hoạt động du lịch đến môi trường Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

4.4.1 Một số giải pháp bảo vệ môi trường ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm

Theo Quyết định phê duyệt quy hoạch của UBND tỉnh Lâm Đồng, Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm là khu đô thị sinh thái với các sản phẩm du lịch mang tính chất tĩnh [13] Việc bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn cảnh quan môi trường, hạn chế những tác động tiêu cực là rất cần thiết Căn cứ vào kết quả phân tích thực trạng phát triển du lịch ở Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm và nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, đề tài đề xuất một số giải pháp kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ nhằm bảo vệ môi trường trong Khu du lịch hồ Tuyền Lâm

* Quan điểm phát triển du lịch trong rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm Phát triển du lịch trong rừng phòng hộ theo thứ tự ưu tiên: Bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế

Coi trọng bảo tồn và tôn tạo các yếu tố tự nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên rừng và nước, bảo vệ nghiêm ngặt đa dạng sinh học của khu vực phía cuối hồ Quy hoạch số lượng khách cân đối với sức chứa của môi trường tự nhiên

Các loại hình và sản phẩm du lịch được bố trí không gây tác động tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái tự nhiên của khu rừng phòng hộ Hồ Tuyền Lâm

Phát triển Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm thành trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng hiện đại, mang tính chất tĩnh của Lâm Đồng mang tầm cỡ khu vực và quốc tế

Hệ thống cơ sở hạ tầng và dịch vụ có chất lượng cao và đồng bộ

Gắn trách nhiệm bảo vệ rừng của các doanh nghiệp giữa sự phát triển của du lịch với bảo vệ và phát triển rừng

4.4.1.1 Những giải pháp kinh tế

Xây dựng hồ lắng sinh học phía hạ nguồn những con suối có nguồn nước bị ô nhiễm để xử lý trước khi cung cấp nước cho hồ Tuyền Lâm như nguồn nước tại Thác Bảo Đại, phía hạ nguồn khe tụ thủy các dự án đang thi công xây dựng để lắng đọng đất, đá bị rửa trôi trong quá trình thi công xây dựng dự án Sau khi xây dựng xong các doanh nghiệp phải hoàn nguyên diện tích xây dựng hồ chứa tạm thời này

Các dự án thành phần trong Khu du lịch phải đầu tư hệ thống xử lý nước thải, công nghệ hiện đại để khi thải ra môi trường nước thải phải đạt tiêu chuẩn loại B theo QCVN14:2008/BTNMT, nước thải phải được thu gom tập trung vào hệ thống nước thải chung Khu du lịch

Khi đào, đắp các hạng mục công trình phải giải phóng ngay lượng đất dư thừa tránh làm chết cây rừng do bị lấp gốc, làm đất đá bị rửa trôi bồi lắng lòng hồ Các mái taluy dương, taluy âm phải được trồng cỏ chống sói mòn bảo vệ đất, bảo vệ cảnh quan dự án

Thu lệ phí là cần thiết để góp phần cung cấp tài chính cho các hoạt động tôn tạo cảnh quan, thu gom, xử lý rác thải, duy trì và vận hành hệ thống thu gom nước thải chung Khu du lịch

4.4.1.2 Những giải pháp xã hội

Trung tâm giáo dục môi trường là nơi trưng bày, giới thiệu những hiện vật, mẫu vật được coi là tiêu biểu của hệ sinh thái rừng Tuyền Lâm [2], là nơi khách du lịch, các doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh và hiệu quả trong việc tuyên truyền, quảng bá bảo vệ môi trường Vì vậy, việc xây dựng trung tâm bảo vệ môi trường, biển tuyên truyền, tờ rơi hướng dẫn, tuyền truyền, quảng bá là rất cần thiết

Thường xuyên vận động, tuyên truyền, kiểm tra, giám sát các nhà hàng trong Khu du lịch không được sử dụng các loài động vật hoang dã làm thực phẩm cho du khách, xử lý nghiêm những nhà hàng có buôn bán, sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật rừng bị pháp luật nghiêm cấm Quản lý chặt chẽ các phương tiện săn bắn, bẫy bắt động vật hoang dã trong Khu du lịch

Thành lập Phòng quản lý môi trường trực thuộc Ban quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm cùng với các trang thiết bị hiện đại, có đủ nhân lực chuyên môn phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm tiêu chí môi trường Khu du lịch

Thường xuyên vận động, tuyền truyền các doanh nghiệp trong Khu du lịch thực hiện tốt cam kế bảo vệ môi trường

4.4.1.3 Những giải pháp khoa học công nghệ

Thảm thực vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm dòng chảy mặt, giữ nước và tăng dòng chảy ngầm, làm giảm tốc độ chảy tràn của nước mưa, bảo vệ kết cấu của đất Đất trong khu vực Hồ Tuyền Lâm có thành phần cơ giới nhẹ, cát chiếm tỉ lệ lớn, xung quanh Hồ Tuyền Lâm là các triền đồi có độ dốc cao, chiều dài các sườn đồi khá lớn nên năng lượng địa hình cao Lượng mưa trong khu vực trên 1.700 mm/năm, chủ yếu tập trung vào mùa mưa, cường độ cao tạo lên tiềm năng xói mòn đất cao Vì vậy trong quá trình xây dựng dự án phải tuân thủ đúng các quy trình, quy định giảm tối thiểu các hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất làm bồi lắng lòng hồ dẫn đến ô nhiễm nguồn nước hồ

Các dự án thành phần phải có hệ thống thu gom nước mặt cho toàn khu vực dự án của mình, đồng thời phải đảm bảo một phần lượng nước mưa được thấm xuống đất cung cấp cho các mạch nước ngầm Nước mặt sau khi thu gom phải qua hệ thống hồ xử lý lắng đọng để đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thoát xuống hồ

Thi công theo từng cụm, khu vực, thi công xong phải hoàn công ngay để trả lại màu xanh vốn có của nó Các công trình xây dựng không được xây trên đường tụ thủy, đường tụ thuỷ phải được bảo vệ tối thiểu bằng 1 hành lang an toàn trong phạm vi 05 mét về mỗi bên Không san lấp hoặc có các họat động gây cản trở dòng chảy; các công trình xây dựng sẽ áp dụng khoảng lùi

15 m so với hành lang an toàn của đường tụ thủy

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w