Do đó, việc quản lý bền vững rừng là một quá trình rất cần thiết đối với các chủ thể rừng hiện nay nhằm đạt được nhiều mục tiêu quản lý đã đề ra một cách rõ ràng về việc đảm bảo sản xuất
Trên thế giới
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai" Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
Vậy con người đã cần và đang cần sử dụng khả năng phục vụ của rừng vào các mục đích gì mà họ mong muốn Đây chính là vấn đề vừa có ý nghĩa lịch sử, vừa cho hiện tại và tương lai do từ những ngày tiền sử, con người nguyên thuỷ đã biết sử dụng rừng làm nơi sinh sống để tránh được mọi thiên tai khắc nghiệt như gió bão, lũ lụt, hạn hán, biết sử dụng lâm sản làm nguyên liệu xây dựng, thức ăn, chất đốt, thuốc chữa bệnh
Trải qua các giai đoạn lịch sử tiến hoá dài, nhận thức của con người về rừng ngày càng tốt hơn, đúng hơn, đặc biệt từ hội nghị thượng đỉnh toàn cầu
1992 tại Rio deJaneiro (Brazil) thì rừng cần được quản lý tốt để cung cấp ổn định lâu dài cho con người các lợi ích kinh tế, các lợi ích môi trường và các lợi ích xã hội Vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm đặc biệt là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế được Có nhiều định nghĩa về QLRBV mà ta có thể sử dụng được như sau Theo tổ chức Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO): "QLRBV là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội"
Hoặc Tiến trình Helsinki định nghĩa như sau: Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác Điều quan trọng nhất cần giải thích là vì sao QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần QLBV, tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc Đây là vấn đề nhận thức của quốc gia về làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều Chương trình, hiệp ước, công ước quốc tế (CITES-
1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994, UNCCD-
1995) Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được QLBV, từ đó một loạt tổ chức QLBV (gọi tắt là quá trình hay process) đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới, và đề xuất tiêu chuẩn QLRBV với 6,7,8,10 tiêu chí như sau: - MONTREAL cho rừng tự nhiên (RTN) ôn đới, gồm 7 tiêu chí, - ITTO cho rừng tự nhiên, gồm 7 tiêu chí, - PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki), gồm
6 tiêu chí, - AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi, - CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung, gồm 8 tiêu chí, - FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới, gồm 10 nguyên tắc v,v Trong số này, FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cả cho rừng tự nhiên và rừng trồng (RT), cả cho rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Chứng chỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu đều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước công nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBV trong hội nhập quốc tế Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có
77 nước được cấp chứng chỉ QLRBV cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) và diện tích 57.264.882 ha Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do, một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực dân số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng , hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế Chứng chỉ rừng (hay chứng chỉ gỗ) thực chất là chứng chỉ ISO nhưng đặc thù cho ngành lâm nghiệp sản xuất gỗ và lâm sản ngoài gỗ Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-2000, ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố HCM và được phê duyệt tại hội nghị
Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001
Song, do bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy nên các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế Tại Indonesia, một tổ chức phi chính phủ (NGO) là "Viện sinh thái Lambaga" (viết tắt là LEI) ra đời vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước để hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV đến khi đạt chứng chỉ gỗ quốc tế Malaysia thành lập tổ chức NGO có tên "Hội đồng chứng chỉ gỗ quốc gia" (NTCC) nay đổi tên là "Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia" (MTCC) để đảm nhiệm chức năng hỗ trợ CCR Malaysia đang thử nghiệm đi theo 2 bước (chứng chỉ quốc gia, và chứng chỉ quốc tế) Chứng chỉ quốc gia không có giá trị trên thị trường thế giới, nhưng là một mức đánh giá năng lực quản lý của chủ rừng đã đạt mức xấp xỉ để xin thẩm định quốc tế Đoàn tham quan học tập của Cục Lâm nghiệp và các tỉnh có rừng 2005 tại Malaysia đã rất ấn tượng cách làm này LEI và MTCC là tổ chức NGO nhưng do chính phủ tài trợ và có sự đóng góp của các chủ rừng nên hoạt động rất mạnh và hiệu quả cao nhất trong các nước thuộc khối ASEAN
Nói ngắn gọn, mục tiêu của QLRBV là phải đạt được sự bền vững môi trường, kinh tế và xã hội ở những khu rừng được quản lý Bằng giải pháp QLRBV rừng sẽ vừa đảm bảo đáp ứng các nhu cầu kinh tế vừa thoả mãn các lợi ích về môi trường và xã hội.
1.1.2 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC
Với bất kỳ một Chương trình cấp CCR nào việc xem xét mối liên hệ của một sản phẩm gỗ từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và được đem tiêu thụ tại thị trường là một việc rất vì nó cung cấp các cơ sở cho việc dán nhãn sản phẩm Khái niệm này được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody) - CoC Ở Brazil hệ thống kiểm tra của Chính phủ sử dụng để thẩm tra tính hợp pháp và nguồn gốc gỗ, sản phẩm gỗ dựa 2 văn bản chính thức và bắt buộc sau: Ở Cameroon việc kiểm tra trước khi khai thác là nền tảng thành lập hệ thống chuỗi hành trình của Chính phủ Trong rừng, Công ty khai thác hoàn thành Bản đăng ký khai thác DF10 nêu tên Công ty, đơn vị quản lý rừng và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như loại cây, đường kính (ngọn, gốc, trung bình), chiều dài, thể tích và giá trị Ở Malaysia: Tất cả các rừng bảo tồn ở Peninsular Malaysia và một vài khu rừng trồng ở Sabah và Sarawak đã được cấp chứng chỉ, chủ yếu bởi Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia Với các khu vực được chứng chỉ, rất dễ theo dõi gỗ tròn tới tận gốc đốn, ở các rừng khác, gỗ tròn có thể được theo dõi tới vùng được chứng chỉ, tại đó gỗ đã được khai thác
Hiện nay, ITTO đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp Các Công ty gỗ được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát
1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR)
Lập KHQLR là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng
Theo nghĩa rộng, cách tiếp cận QLRBV ban đầu chỉ đề cập đến việc sản xuất gỗ được duy trì liên tục Nhưng ngày nay QLRBV còn bao gồm cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Hội nghị thượng đỉnh về trái đất của UNCED năm 1992 nhận định “nguồn tài nguyên rừng và đất rừng chỉ được quản lý bền vững khi đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần của loài người trong thời điểm hiện tại và cho cả các thế hệ mai sau”
QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp.
Tại Việt Nam
Vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là vấn đề được Chính phủ đặc biệt ưu tiên, được nhấn mạnh trong Chương trình tái cơ cấu của ngành lâm nghiệp và chiến lược lâm nghiệp Từ năm 1998 có "Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR" cũng là một tổ chức NGO thuộc Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam soạn thảo Bộ tiêu chuẩn QG về QLRBV, và vận động thành lập mạng lưới mô hình các chủ rừng quản lý tốt, mà ngày nay WWF và REFAS vẫn đang chỉ đạo 4 mô hình QLRBV tại Gia Lai và Đắc Lắc Giống như các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và thương mại tự nguyện phấn đấu thực hiện các tiêu chí quản lý chất lượng và môi trường để đạt chứng chỉ ISO 9000 và 14000 vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích và uy tín của quốc gia mình QLRBV và chứng chỉ rừng (CCR) là cách áp dụng đặc thù cho ngành lâm nghiệp Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu ha (mất 5,1 triệu ha), tốc độ mất rừng cao nhất là giai đoạn 1980-1990 (mất 1,5 triệu ha rừng), mà lý do chính là do quản lý rừng không bền vững
Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các Chương trình lớn như: 327, 661 trên 2 triệu ha rừng đã được phục hồi Song đó mới là con số về số lượng, nếu rừng không được quản lý bền vững thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với quá trình phục hồi rừng, và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xoá đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Chính vì vậy, quá trình QLRBV đang là 1 phong trào rộng lớn quy mô toàn cầu, và là chủ đề chính trong hợp tác lâm nghiệp của ASEAN Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (LNQG) giai đoạn 2006-2020 đang được xây dựng và sẽ được thực hiện từ đầu năm 2006, trong 3 Chương trình phát triển ưu tiên của chiến lược LNQG (2006-2020) thì Chương trình QLRBV là Chương trình thứ nhất Để QLRBV trước hết cần tạo ra các điều kiện cần và đủ về rừng, về pháp luật, và về xã hội, thị trường, trước hết cần xác định được một lâm phận ổn định không chỉ trên quy hoạch, trên bản đồ, mà phải cả trên thực địa của cả nước và từng khu rừng
Mục tiêu chính của QLRBV là nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả quản lý của chủ rừng đối với từng khu rừng cụ thể, sử dụng tối đa các lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường và lợi ích xã hội của rừng, nhưng ổn định và bền vững lâu dài Quốc tế và từng quốc gia có các bộ tiêu chuẩn chủ để chủ rừng so sánh, phấn đấu cho đạt tiêu chuẩn QLRBV, khi đó sẽ được cấp chứng chỉ rừng và cho lâm sản khai thác từ các khu rừng này Các sản phẩm có chứng chỉ QLRBV được mọi thị trường thế giới tiêu thụ ưu tiên với giá cao Vì vậy trong chiến lược LNQG 2006-2020, Chương trình QLRBV là Chương trình được phân kỳ thành giai đoạn 2006-2010, 2011-2020 và xác định từng bước đi cho tới kết quả đạt chứng chỉ cho các đơn vị quản lý rừng sản xuất theo một lộ trình xác định trong từng kế hoạch 5 năm Đây là Chươngtrình rất cơ bản để đưa quản lý lâm nghiệp Việt Nam vào ổn định, hiệu quả, đem lại không chỉ lợi ích kinh tế rõ rệt cho chủ rừng mà còn đảm bảo ổn định diện tích, chất lượng rừng cùng các lợi ích môi trường, xã hội cho cộng đồng và quốc gia trong quá tình hội nhập quốc tế
Trong quá trình dài nửa thế kỷ vừa qua, rừng Việt Nam bị suy giảm liên tục, ngay sau Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc mã số 327 (1993-
1997), chính phủ đã xây dựng Chươngtrình trồng 5 triệu ha rừng (1998-2010) và được thông qua trong kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá X năm 1997 bằng Nghị quyết số 08/1997/QH 10
Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng chỉ có ý nghĩa nếu 9 triệu ha rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt, vì vậy ngay từ tháng 2/1998 một hội thảo quốc gia để xây dựng Chương trình QLRBV và thành lập tổ công tác quốc gia về CCR đã được Bộ Nông nghiệp & PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại TP.HCM 7 năm vừa qua, được sự tài trợ của đại sứ quán Hà Lan, dự án REFAS, FSC quốc tế, quỹ FORD, một phong trào QLRBV đã được phát động và một số công việc cần thiết ban đầu đã được tiến hành cùng với ASEAN dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV theo 7 tiêu chí của ITTO, tổ công tác cũng đã chủ động soạn thảo cho VN bộ tiêu chuẩn QLRBV theo 10 nguyên tắc của FSC Nay đã tạm sử dụng và ổn định được ở lần thứ 8 hội thảo bổ sung sửa chữa năm 2004; Tổ chức tuyên truyền giới thiệu cho các cán bộ lâm nghiệp từ cấp quản lý ở Trung ương, các Cục, Vụ, Viện, Trường, Sở, Chi cục, bằng hội thảo quốc gia, hội thảo vùng, tỉnh, qua báo chí, truyền hình, truyền thanh, giảng dậy cho sinh viên, cao học Khảo sát và tập huấn cho mọi loại chủ rừng (LT, BQL, Cty, Trang trại); Xây dựng mạng lưới các chủ rừng tự nguyện tăng cường năng lực quản lý RBV và phân công giữa tổ công tác quốc gia với WWF và TFT đối với các mô hình tốt trong mạng lưới hiện nay, đó là: Các công ty LN: Long Đại (Quảng Bình), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Công ty Lâm nghiệp Hoà
Bình; các lâm trường Con Cuông (Nghệ An), Hà Nừng và Sơ Pai (Gia Lai); và Xí nghiệp trồng rừng tư nhân Đỗ Thập (Yên Bái) - Đã khảo sát đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn QLRBV đã dự thảo, vừa để nắm vững trình độ quản lý của các loại chủ rừng ở các miền so với tiêu chuẩn FSC, đồng thời cũng thấy rõ hành lang pháp lý để chủ rừng quản lý bền vững còn rất nhiều hạn chế Các khảo sát trước đây của tổ chức được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ rừng SMATWOOD tại một số lâm trường ở Tây Nguyên, cũng giống như của
Tổ công tác quốc gia, cho thấy cần đổi mới lâm trường để trở thành một doanh nghiệp độc lập, tự chủ về kế hoạch, về tài chính, về tổ chức nhân sự, trong khi các công ty lâm nghiệp và lâm trường ở miền Bắc cũ vừa nói trên thì đã khá gần với tiêu chuẩn quản lý bền vững của FSC Các chủ rừng VN đang chờ đón chứng chỉ QLRBV đầu tiên của FSC Tiến trình QLRBV vẫn đang tiến triển, và đã vào giai đoạn không thể chậm chễ so với các nước bạn bè ASEAN kể cả bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu hàng hoá chế biến Mặc dù Tổ công tác quốc gia đã bao hàm mọi cơ quan quản lý, mọi nhà khoa học, đại diện các chủ rừng, các đoàn thể, và tổ chức quần chúng xã hội và có 10 thành viên của tổ ra nhập tổ chức FSC quốc tế, song hoạt động chưa đủ mạnh, đơn độc, và thiếu sự kết hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng của nhà nước Đã đến lúc Tổ công tác QG về QLRBV và CCR cần được củng cố, nâng cấp, để trở thành 1 tổ chức pháp nhân mạnh mẽ của Việt Nam, đủ năng lực thực hiện quá trình QLRBV, và đặc biệt là sức thu hút sự hỗ trợ quốc tế về kỹ thuật, về vốn mà trước hết là của tổ chức FSC quốc tế
Hiện nay "những tiêu chuẩn và những tiêu chí Quản lý Rừng" (viết tắt là P&C) của FSC quốc tế đã được công nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Nhiều tổ chức được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ rừng và nhiều quốc gia đã và đang dùng bộ tiêu chuẩn này để xây dựng tiêu chuẩn cấp vùng hay cấp quốc gia cho việc đánh giá quản lý và cấp chứng chỉ rừng Tài liệu "tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững" (tiêu chuẩn FSC Việt Nam) được tổ công tác quốc gia Việt Nam về quản lý rừng bền vững (NWG) biên soạn trên cơ sở Bộ tiêu chuẩn của FSC quốc tế (P&C), có sử dụng những ý kiến đóng góp của nhiều nhà quản lý và kinh doanh lâm nghiệp trong nước và quốc tế để vừa đảm bảo được những tiêu chuẩn quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam (tiêu chuẩn QLRBV - 9C)
Vì tài liệu áp dụng cho cả nước và phải phù hợp với những tiêu chuẩn của quốc tế nên khó có thể hoàn toàn phù hợp với từng trường hợp riêng biệt, cho nên việc áp dụng bộ tiêu chuẩn quốc gia cần có sự linh hoạt trong phạm vi nhất định nhưng phải được Tổ công tác FSC quốc gia (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng) chấp nhận Những chủ rừng đạt Tiêu chuẩn FSC Việt Nam đều có thể gửi đơn xin chứng chỉ rừng tới các tổ chức cấp chứng chỉ do FSC uỷ quyền Quá trình áp dụng sẽ thu được thêm những kinh nghiệm để hoàn thiện bộ tiêu chuẩn này cho phù hợp với thực tế
Hiện nay, tổ chức Rainforest Alliance/Smart Wood đang sử dụng tiêu chuẩn tạm thời để đánh giá quản lý rừng để cấp chứng chỉ rừng cho Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng và Công ty lâm nghiệp Xuân Đài thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam Tiêu chuẩn tạm thời của Smart Wood sử dụng để đánh giá Quản lý rừng của Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng và Xuân Đài cũng trên cơ sở 10 tiêu chuẩn QLRBV (9C) Do quá trình triển khai đề tài này tiến hành trước khi có “tiêu chuẩn tạm thời” đánh giá quản lý rừng của Smart Wood nên trong đề tài chúng tôi vẫn sử dụng 10 tiêu chuẩn đánh giá QLRBV (9C) của Việt Nam để đánh giá
Tóm lại: Tiến trình QLRBV tại Việt nam đang trong giai đoạn sôi nổi,
Doanh nghiệp lâm nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang tự nguyện và hào hứng tham gia tiến trình QLRBV mặc dù biết rằng còn cần phấn đấu nhiều mới đạt được tiêu chuẩn, khó khăn chủ yếu của doanh nghiệp lâm nghiệp không chỉ là ở chỗ tự nâng cao năng lực quản lý rừng mà còn phải chuyển đổi mạnh mẽ từ hệ thống chức năng dịch vụ công ích sang doanh nghiệp kinh doanh Ngoài ra, giai đoạn hạn chế khai thác gỗ rừng tự nhiên để phục hồi rừng nghèo kiệt
(1997 - 2010) cũng ảnh hưởng tới khả năng khai thác gỗ một cách khách quan của từng doanh nghiệp Song Việt Nam sẽ không chậm chễ trong sự hợp tác với các nước ASEAN để đẩy mạnh tiến trình QLRBV, tăng sức cạnh tranh hàng hoá lâm sản vào các thị trường AFTA, APEC, WTO, và trước hết là các thị trường truyền thống là Tây Âu và Bắc Mỹ
Mục tiêu
Hỗ trợ Công ty Lâm nghiệp Cầu Ham quản lý rừng bền vững để tiến tới được chứng chỉ rừng
- Xác định được những khiếm khuyết trong quản lý rừng và quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
- Lập được kế hoạch quản lý rừng cho Công ty trong giai đoạn một chu kỳ kinh doanh (2010 - 2017).
Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
- Đánh giá QLR theo 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí của FSC Việt Nam
- Xác đi ̣nh được các khiếm khuyết trong quản lý rừng của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn cu ̉ a Viê ̣t Nam
- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo 09 yêu cầu, các chỉ số và nguồn kiểm chứng của Việt Nam
- Xác đi ̣nh được các khiếm khuyết trong chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.3 Đa ́ nh giá điều kiê ̣n cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho
2.2.3.1 Đá nh giá các điều kiện cơ bản quản lý rừng của Công ty
- Kết quả quản lý rừng của Công ty
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn của các điều kiện cơ bản
2.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng
1) Căn cứ lập kế hoạch quản lý rừng
- Chức năng, nhiệm vụ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang giao cho Công ty
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Bắc Quang
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty
2) Xa ́ c đi ̣nh mục tiêu quản lý rừng
3) Bố trí sử dụng đất đai
4) Kế hoạch qua ̉ n lý rừng
- Kế hoạch khai thác rừng
- Kế hoạch vận chuyển, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
- Kế hoạch trồng rừng, chăm sóc rừng
- Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
- Kế hoạch giảm thiểu tác đô ̣ng môi trường
- Kế hoạch giảm thiểu tác đô ̣ng xã hô ̣i
- Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kế hoạch nguồn nhân lực và đào tạo
- Kế hoạch đánh giá, giám sát
- Kế hoạch huy động nguồn vốn
5) Hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Quan điểm, phương pha ́ p luận nghiên cứu
- QLRBV là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mu ̣c tiêu chính, CCR là kết quả của QLRBV
- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào tiêu chuẩn QLRBV, nhưng có vâ ̣n dụng vào điều kiê ̣n thực tế
- Công ty tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trơ ̣ và chuyển giao kỹ năng đánh giá của chuyên gia
- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
- Lập KHQLR có tham gia (cán bộ tư vấn và chủ rừng cùng thực hiện)
2.3 2 Ca ́ c phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam (tiêu chuẩn 9C)
1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC
2) Tiêu chuẩn 2- Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;
3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại
4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng
6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;
7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;
8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;
9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường; và tham vấn các cơ quan hữu quan
Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Cầu Ham tổng hợp như sau
Sơ đồ 1: Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Cầu Ham
Cho điểm các tiêu chuẩn
Xác định kết quả sơ bộ cho mỗi tiêu chuẩn (chấm điểm, cung cấp bằng chứng Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa)
1 Hoàn chỉnh (Việc thực thi rõ ràng, nổi bật) 8,6 - 10
2 Khá (Việc thực thi có triển vọng) 7,1- 8,5
3 Trung bình ( Việc thực thi đúng) 5,6 - 7,0
4 Kém (Thực thi yếu, cần cải thiện) 4,1 - 5,5
5 Rất kém (Thực thi yếu kém, không có triển vọng, không có thông tin)
- Cho điểm đánh giá trong phòng: đối với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước
Tiến hành ngoài hiện trường
(10 tiêu chuẩn) + Chuỗi hành trình sản phẩm
- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không
- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm rõ những mối liên hệ
Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ TIÊU CHUẨN , TIÊU CHÍ VÀ CHỈ SỐ
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI CTLN CẦU HAM
Họ tên người đánh giá:
Thực hiện Điểm số Nhận xét
Xác định các lỗi không tuân thủ
- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn 35 0 , độ dốc nhỏ nhất 15 0
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
- Công ty Lâm nghiệp Cầu Ham nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và được phân chia thành hai mùa tương đối rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 – 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình năm là 23 0 C, cao nhất 38 o C, nhiệt độ thấp nhất là 8 0 C
- Độ ẩm trung bình: 75%- 85% Cao nhất: 90%; thấp nhất 40%
- Lượng mưa bình quân năm: 2600mm Có năm mưa 4000mm (vì huyện Bắc Quang được coi là rốn mưa của Miền Bắc), phân bố gần như hầu hết các tháng trong năm, lượng mưa cao nhất vào tháng 4 đến tháng 7, lượng mưa thấp nhất vào tháng 10 đến tháng 12
- Chế độ gió: Gió mùa Đông Bắc là gió chính hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam vào tháng 3 đến tháng 6 Từ tháng 11 đến tháng 2 hàng năm thường xuất hiện sương muối rét đậm và rét hại
- Qua điều kiện khí hậu trên trong địa bàn Công ty quản lý rất phù hợp cho việc trồng rừng vào vụ xuân hàng năm (từ tháng 2 đến tháng 5)
Bên cạnh đó cũng còn một số hạn chế, thường có rét đậm rét hại kéo dài, lượng mưa nhiều, độ ẩm không khí cao
Do địa hình chia cắt lớn nên trong khu vực có rất nhiều suối, có 3 con sông lớn chảy qua Tại phía Bắc huyện Bắc Quang có Sông Lô chảy qua, phía Tây Nam có Sông Chừng và Sông Bạc chảy qua hầu hết các xã có địa bàn sản xuất của Công ty Do gỗ nguyên liệu giấy của Công ty chủ yếu là gỗ keo, là loại gỗ nặng chìm, việc vận chuyển bằng đường thuỷ chi phí lớn do phải có phao và có sự rủi ro cao Công ty không sử dụng hình thức vận chuyển thuỷ
3.1.4 Đặc điểm về đất đai
- Đất đai thuộc diện tích Công ty quản lý chủ yếu là đất feralit màu vàng nhạt phát triển trên nền đá mẹ phiến thạch sét, độ dầy tầng A+B bình quân từ
40 đến 80 cm, thành phần cơ giới: Thịt trung bình, hơi chặt, tỷ lệ đá lẫn từ 10 – 20%, đất chủ yếu là nhóm đất II Thích hợp cho việc trồng cây keo
- Đất đai đều có độ che phủ bởi rừng trồng nguyên liệu giấy, rừng tự nhiên vầu, nứa, không có đất trống đồi núi trọc
- Đất đai trong khu vực của Công ty đang quản lý sử dụng chủ yếu là đất trồng rừng nguyên liệu giấy có ít nhất là 2 chu kỳ và một phần là rừng tự nhiên khoanh nuôi bảo vệ, lượng đất không thể trồng rừng là đất khe rãnh ít, đất có độ dốc lớn, nhiều đá, bãi bờ sông suối lớn
* Đánh giá chung về tiềm năng đất đai:
- Với tiềm năng đất đai hiện có và điều kiện khí hậu, thuỷ văn, đất đai trên địa bàn rất phù hợp cho kinh doanh trồng rừng nguyên liệu giấy mà đặc biệt là loài cây Keo Tai Tượng là cây cho năng suất cao, ổn định và hiệu quả, đồng thời có tác dụng cải tạo đất, giữ nước và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR)
3.1.5 Rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác
3.1.5.1 Phân loại rừng, trữ lượng, sản lượng gỗ, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) a Rừng trồng
+ Tổng diện tích rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty đến 31/12/2008 có 1.349,5 ha như sau
Biểu 3.2: Tổng hợp diện tích rừng trồng theo loài cây, năm trồng
Năm trồng Tổng cộng Keo tai tượng Keo lai
Diện tích: 703,3 ha loài cây chủ yếu là vầu, nứa, dùng nằm trên địa bàn 4 xã là Yên Hà, Yên Bình thuộc huyện Quang Bình; xã Việt Hồng, thị trấn Việt Quang thuộc huyện Bắc Quang; trạng thái rừng là một số là rừng sản xuất sản lượng khai thác bình quân hàng năm là 1000 tấn/ năm, một số là rừng nghèo kiệt c Lâm sản ngoài gỗ ( LSNG)
Một số khe ướt và rừng trồng có mọc cây lá dong, chuối rừng, sâm thục, củ ba mơi, nấm, mộc nhĩ, cây thuốc nam, dược liệu Các loại lâm sản trên Công ty không tận dụng mà để cho người dân địa phương thu hái Công ty chỉ thu hoạch sản phẩm chính là vầu, nứa, dùng, gỗ nguyên liệu giấy
3.1.5.2 Tài nguyên đa dạng sinh học và các khu rừng có giá trị bảo tồn cao
Trên phạm vi diện tích đất Cty quản lý ngoài cây NLG còn có nhiều loài động thực vật sinh sống có mối quan hệ qua lại, tác động hữu cơ với nhau, có một số loài thực vật có tác dụng làm thuốc nam, dược liệu, chữa bệnh như: Ba kích, môn thục, hoài sơn, chè dây, nhân trần v.v
Không có động thực vật quý hiếm trong sách đỏ và khu GTBTC trên địa bàn, do diện tích rừng của Công ty nằm xen kẽ với các khu dân cư, là rừng sản xuất đối với rừng tự nhiên chu kỳ 4 năm, rừng trồng thuần loài chu kỳ 7 –
3.1.5.3 Các loại tài nguyên thiên nhiên khác và tiềm năng khai thác dịch vụ môi trường
Công ty quản lý 703,3 ha rừng tự nhiên; 1.349,5 ha rừng trồng có giá trị dịch vụ môi trường.
Đặc điểm KT-XH
3.2.1.1 Định hướng phát triển kinh tế
- Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp: 33,9%
- Giá trị sản xuất Công nghiệp: 31,0 %
- Giá trị Thương mại, Dịch vụ: 35,0%
- Giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn: 5%
- Số máy điện thoại: 60 máy/100 dân
- Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp: 74,0%
- Giá trị sản xuất Công nghiệp: 17,5 %
- Giá trị Thương mại, Dịch vụ: 8,5%
- Giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn: 7%
- Số máy điện thoại: 35 máy/100 dân
3.2.1.2 Cơ cấu ngành nghề chính của các xã trong vùng Công ty hoạt động
- Sản xuất nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng 34,0%
- Thương mại dịch vụ chiếm tỉ trọng 34,2 %
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm tỉ trọng 31,8%
- Lương thực tính bình quân đầu người: 408 kg/người/năm (năm 2008)
- Thu nhập bình quân đạt 6,8 triệu đồng/người/năm
- Tỷ lệ hộ đói nghèo 25% Tập trung vào nhóm các dân tộc ít người như:
Mông, Dao, các thôn xã vùng sâu, xa
Kết cấu hạ tầng được xây dựng khá đồng bộ Với vị trí địa lý thuận lợi Bắc Quang được xác định là huyện động lực của tỉnh Hà Giang
3.2.1.3 Tình hình chế biến và thị trường lâm sản
Huyện Bắc Quang diện tích rừng trồng 5.454 ha, sản lượng khai thác và tiêu thụ hàng năm: 33.060 m 3 /năm là địa bàn hội tụ nguồn lâm sản trọng điểm của tỉnh Hà Giang nên rất sôi động về hoạt động trung chuyển, mua bán, chế biến lâm sản; sản phẩm chính là gỗ xây dựng và gỗ bóc, gỗ bao bì, gỗ nguyên liệu giấy Thuận lợi cho việc tiêu thụ lâm sản Bên cạnh đó Công ty còn có thị trường tiêu thụ ổn định tại nhà máy giấy Bãi Bằng với công xuất hàng nghìn m 3 gỗ nguyên liệu giấy/năm Đảm bảo tiêu thụ sản phẩm rừng trồng của đơn vị và rừng trồng của nhân dân trên địa bàn
3.2.2 Đặc điểm xã hội, dân trí
Tình hình chính trị và trật tự an ninh xã hội trên địa bàn nói chung và địa bàn hoạt động của Công ty Lâm nghiệp Cầu Ham nói riêng được đảm bảo và ổn định
3.2.2.1 Cơ cấu dân số, dân tộc, lao động
+ Tổng diện tích tự nhiên: 109.880 ha Huyện có 23 đơn vị hành chính
(21 xã và 2 thị trấn) 227 thôn bản trong đó có 3 xã vùng thuộc Chươngtrình
135 là những xã vùng xa, vùng sâu đời sống của nhiều hộ còn gặp nhiều khó khăn
- Dân số toàn huyện 108.693 người với 19 dân tộc cùng sinh sống (nhóm dân tộc chính: Tày, Nùng )
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,27 %
- Số người trong độ tuổi lao động 48.836 người
- Số lao động trong lĩnh vực lâm nghiệp khoảng 1.620 người
+ Tổng diện tích tự nhiên: 77.463ha Huyện có 15 đơn vị hành chính xã đó có 5 xã thuộc Chươngtrình 135 là những xã vùng xa, vùng sâu đời sống của nhiều hộ còn gặp nhiều khó khăn
- Dân số toàn huyện 50.886 người với 21 dân tộc cùng sinh sống (nhóm dân tộc chính: Tày, Dao, Mông )
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,35 %
- Số người trong độ tuổi lao động 22.848 người
- Số lao động trong lĩnh vực lâm nghiệp khoảng 754 người
3.2.2.2 Văn hoá, giáo dục, y tế:
- Hai huyện Bắc Quang và Quang Bình: Trình độ học vấn thấp chủ yếu là phổ cập tiểu học, hệ thống các trường học các cấp đều đợc xây dựng kiên cố, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường đạt 99,38%, đạt 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi (năm 2008)
- Hệ thống y tế đã được xây dựng 38/38 xã của 02 huyện Trong đó có 10/23 xã của huyện Bắc Quang có bác sĩ
- Hệ thống điện lưới đã đến 38/38 xã của 02 huyện
- Hệ thống phát thanh truyền hình đã được phủ sóng 38/38 xã của 02 huyện
3.2.3 Kết cấu hạ tầng, mạng lưới đường sá, bến bãi:
+ Hệ thống đường giao thông:
- Trên địa bàn Công ty có 2 quốc lộ chạy qua là quốc lộ 2 và quốc lộ 279
- Đường lâm nghiệp thuộc Công ty quản lý là 80 km
- Mật độ đường tiếp cận cho sản xuất lâm nghiệp bình quân 25km/1.000ha = 25m/ha
- Có hệ thống đường ô tô đến trung tâm các đội sản xuât của Công ty và các xã thuận lợi cho loại hình vận chuyển gỗ bằng xe trọng tải nhỏ, vận chuyển gỗ đến các điểm tập kết cho xe trọng tải lớn vận chuyển về nhà máy giấy Bãi Bằng
+ Kết cấu hạ tầng khác: Điện lưới Quốc Gia đã đến tới các đội sản xuất của Công ty Hiện nay mạng thông tin liên lạc (Điện thoại, truyền hình, internet ) đã có đến 100% số xã và thôn bản thuận tiện cho thông tin liện lạc, cải thiện đời sống tinh thần cho người dân
+ Cơ sở hạ tầng như: Ngân hàng, quỹ tín dụng, Bưu điện, Trường học đều được xây dựng kiên cố tại các trung tâm xã, các xã đều có chợ thuận tiện cho việc trao đổi hàng hoá và tiêu dùng, đời sống xã hội trong địa bàn
3.2.4 Đánh giá chung về những khó khăn và thuận lợi của Công ty
+ Nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu giấy cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng, có hệ thống giao thông đường sông và đường bộ thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ về nhà máy; hệ thống đường vận xuất phân bố đều trên địa bàn được xây dựng ổn định
+ Có thị trường tiêu thụ nguyên liệu giấy ổn định là: Nhà máy giấy Bãi Bằng và các cơ sở chế biến của Tổng công ty giấy Việt Nam
+ Tổ chức sản xuất của Công ty ổn định, tập thể ban lãnh đạo đoàn kết, công nhân đủ việc làm đời sống ổn định yên tâm gắn bó với xí nghiệp
+ Rừng và đất rừng đã được giao khoán lâu dài cho hộ gia đình nên việc tổ chức sản xuất kinh doanh được chủ động, chất lượng rừng đạt hiệu quả cao + Trong quá trình sản xuất kinh doanh Công ty nhận được sự tạo điều kiện thuận lợi về nhiều mặt của Tổng công ty giấy Việt Nam Hàng năm Công ty đều được vay vốn ưu đãi để tổ chức trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng + Chính quyền địa phương hai huyện Bắc Quang, huyện Quang Bình và các xã trên địa bàn luôn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty
+ Đội ngũ cán bộ công nhân viên chức trẻ khoẻ, có trình độ chuyên môn cơ bản, nhiệt tình với công việc, tâm huyết với nghề Đất đai phù hợp với trồng cây nguyên liệu giấy, kết hợp với áp dụng công nghệ kỹ thuật cao để nâng cao năng suất của rừng
+ Công ty kinh doanh cây nguyên liệu giấy trên địa bàn có địa hình phức tạp, phạm vi hoạt động rộng, manh mún, xa trung tâm tiêu thụ đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các chỉ tiêu trồng rừng, khai thác và vận xuất, đặc biệt là việc vận chuyển tiêu thụ nguyên liệu về nhà máy
+ Mặc dù hàng năm được vay vốn ưu đãi để trồng rừng nhưng việc giải ngân thường chậm, tỷ lệ vay trên suất đầu tư thấp Để trả lương kịp thời cho người lao động Công ty phải huy động vốn ngắn hạn với lãi suất cao
+ Công ty đã được cấp quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài, tỉnh
Hà Giang đã chỉ đạo rà soát xong ba loại rừng theo Chỉ thị 38/2005-TTG của Thủ tướng Chính phủ Nhưng khi Công ty làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ rừng thứ sinh nghèo đã qua bảo vệ nhiều năm không mang lại hiệu quả kinh tế, chuyển đổi để trồng rừng với loài cây năng suất chất lượng cao thì chưa được giải quyết Do vậy đã phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Đánh giá tình hình quản lý rừng trong 5 năm qua
3.3.1 Sử dụng đất, hạ tầng, vốn
+ Diện tích đất được giao hạn chế Nhìn chung Công ty sử dụng đất có hiệu quả, rừng khai thác đến đâu được trồng lại ngay tới đó Hiện nay, Công ty đang thiếu đất để mở rộng hiện trường trồng rừng
+ Công tác quản lý rừng và đất rừng còn nhiều phức tạp, hiện tượng xâm lấn đất đai, chặt rừng vẫn còn xảy ra ở mức độ nhỏ lẻ, xong nó đã tạo thêm tình hình phức tạp về thị trường gỗ trong khu vực, gây nên sự khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng
+ Cơ sở hạ tầng của Công ty có 8 đội sản xuất đều được xây dựng kiên cố nhưng đến nay đều trong giai đoạn xuống cấp vì các công trình này đã được xây dựng từ những năm 1980 Đường giao thông thuận lợi, Công ty có hệ thống đường vận xuất, vận chuyển tương đối hoàn chỉnh, đủ để phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp và phục vụ dân sinh trong khu vực
+ Cơ sơ hạ tầng và hệ thống đường giao thông cơ bản đã đầy đủ, thông tin liên lạc (điện thoại, internet), hệ thống Ngân hàng, quỹ tín dụng có đến các xã Đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân nhìn chung chưa tốt, vì vậy cần phải đầu tư, mở rộng sản xuất tạo thêm việc làm nâng cao thu nhập của người dân góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân các dân tộc trong địa bàn
+ Vốn đầu tư cho trồng rừng hàng năm được vay ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam, đáp ứng được 70%, còn lại Công ty tự bổ sung vốn và huy động của công nhân viên để đầu tư trồng rừng và xây dựng đường
3.3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh 5 năm (2005 - 2009)
Kết quả sản xuất kinh doanh trong 5 năm của công ty được thể hiện ở biểu dưới đây
Biểu 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh từ 2005 - 2009
3.3.3 Về tác động xã hội
+ Từ công tác trồng rừng đã thu hút nhiều lao động nhàn dỗi trong dân, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tình hình an ninh chính trị trong địa bàn; dần dần chuyển giao kỹ thuật thâm canh trồng tới nhân dân trong địa bàn, cải cách tư tưởng lạc hậu trong sản xuất lâm nghiệp góp phần nâng cao dân trí
+ Hằng năm Công ty đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động thông qua việc đầu tư trồng rừng theo các hình thức khoán tạo thêm thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động trên địa bàn Khâu khai thác khoảng 6.500 - 7.500 tấn m 3 , Bảo vệ rừng 2.458,1 ha, hằng năm Công ty đã tạo thêm việc làm cho trên 200 lao động địa phương với tiền công thu nhập 1,8 triệu đồng/người/tháng
+ Mỗi năm, Công ty còn để lại hàng nghìn ster củi, cành nhánh làm chất đốt phục vụ nhu cầu chất đốt của nhân dân quanh vùng, giảm tác động vào rừng
+ Giúp phần hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội địa phương hàng năm Công ty hỗ trợ kinh phí khoảng 25-30 triệu đồng duy tu đường dân sinh, các công trình công cộng
+ Mối quan hệ giữa Công ty với người dân địa phương thường xuyên gắn bó chặt chẽ Thông qua hợp tác trồng rừng với Công ty đời sống người dân được cải thiện Trình độ dân trí dần nâng cao; không có tệ nạn xã hội, tiêu cực xảy ra
Hiện tượng tranh chấp xâm lấn đất đai vẫn xảy ra
3.3.4 Về tác động môi trường
- Công nghệ sản xuất: Trồng, chăm sóc rừng bằng lao động thủ công (100% bằng sức con người) Giúp phần tăng thêm độ che phủ rừng trên 2 huyện, điều hoà nguồn nước, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt, hấp thụ khi các bon
- Diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ và duy trì Đa dạng sinh học được bảo tồn
- Rừng trồng nguyên liệu giấy không có tác động xấu mà có vai trò tích cực hạn chế xói mòn rửa trôi của đất – hạn chế xói lở bờ sông suối Cải tạo đất làm tăng độ phì của đất, hạn chế suy thoái đất rừng Phát triển rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc và thực hiện tốt công tác phòng cháy góp phần điều hoà nguồn nước, chống xói mòn, hạn hán, lũ lụt và sạt lở đất, bảo vệ môi trường sinh thái
- Không khai thác trắng với diện tích lớn mà khai thác theo đám < 5 ha và tiến hành trồng lại rừng ngay sau khi khai thác
- Tồn tại khi trồng rừng có một số lượng ít túi bầu thải ra môi trường Công ty khắc phục sử dụng loại túi bầu dễ phân hủy, dùng cách thu gom chôn lấp Trong khâu khai thác cành ngọn vỏ cây được thu gom làm củi
- Còn khai thác theo đám lớn hơn 5 ha
- Tác động khi khai thác và mở đường vận xuất vận chuyển nguyên liệu nguyên liệu giấy
3.3.5 Bảo tồn đa dạng sinh học
Trên khu vực này chỉ chủ yếu là các loại cây gỗ tạp; tre, nứa tép, vầu, giang và một số loại cây bụi và có một số loài thực vật có tác dụng làm dược liệu như: Hoài Sơn, Ba Kích, Khúc Khắc, Chè Dây vv…, một số động vật là thú nhỏ như: Cầy, Chồn, Sóc v.v Do là rừng sản xuất thường xuyên chu kỳ ngắn Rừng tự nhiên là 4 năm, rừng trồng 7 – 8 năm nên không có các loài động thực vật quý hiếm
Người dân địa phương trong khu vực hiểu hơn về giá trị của những khu rừng có giá trị bảo tồn này
3.3.6 Về kỹ thuật và công nghệ áp dụng