1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.

183 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 10,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.Luật án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.Luật án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.Luật án tiến sĩ: Thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Hà Nội - 2020

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Mã số : 9380106

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tường Duy Kiên

Hà Nội - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 6

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 61.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 4

Ở VIỆT NAM 38

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀQUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNGHÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 382.2. NỘI DUNG PHÁP LUẬT VÀ HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNGHÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 532.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀQUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNGHÌNH SỰ 71

Trang 5

2.4. MỘT SỐ GIÁ TRỊ THAM KHẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀQUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNGHÌNH SỰ TRÊN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI VIỆT NAM 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81 Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 82

3.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯTRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 823.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤCỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 121 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 122

4.1. QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦALUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆNNAY 1224.2. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤCỦA LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAMHIỆN NAY 125

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 147 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 6

LLS : Luật Luật sư

TAND : Tòa án nhân dân

TTHS : Tố tụng hình sự

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 3.1 Số vụ án hình sự có luật sư tham gia trong các năm từ

Biểu đồ 3.1: Kết quả phỏng vấn về nội dung đánh giá mối quan hệ

giữa luật sư với chủ thể có thẩm quyền tiến hành tốtụng trong vụ án hình sự

97

Biểu đồ 3.2: Số vụ án hình sự đưa ra xét xử, số vụ án hình sự có luật

sư tham gia giai đoạn 2017 – 2019

115

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Luật sư một nghề cao quý được xã hội tôn trọng và tin tưởng Với hơn

70 năm hình thành, xây dựng và phát triển, luật sư Việt Nam trong hoạt động

tố tụng hình sự (HĐTTHS) có vai trò quan trọng, góp phần bảo đảm công lýđược thực thi hiệu quả, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơquan, tổ chức, giảm thiểu án oan, sai; xây dựng nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh, an ninh chính trị, an toàn xã hội được bảo đảm, tăng cường

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “nhà nước củaNhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân quản lí mọi mặt của đời sống xã hộibằng pháp luật” [86] Vì vậy, mọi chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng hình

sự (TTHS) đều phải chấp hành pháp luật TTHS trong toàn bộ quá trình giảiquyết vụ án Luật sư tham gia TTHS với tư cách người bào chữa cho người bịbuộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự, tuântheo pháp luật thông qua việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trongHĐTTHS Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 được ban hành

và có hiệu lực thi hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư trongHĐTTHS thông qua việc kế thừa có bổ sung các quy định tiến bộ tương thíchvới các nền tư pháp tiên tiến nước ngoài về quyền, nghĩa vụ của luật sư trongHĐTTHS Tuy nhiên, các quyền, nghĩa vụ này vẫn chưa được bảo đảm đầy

đủ do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các chủ thể khi thực hiệncòn khó khăn, không thống nhất, ảnh hưởng đến việc tìm ra sự thật kháchquan của vụ án và thực thi công lý Thực trạng cần được đánh giá một cáchkhách quan, toàn diện, kết hợp với việc nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lýluận để đưa ra phương hướng, giải pháp thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa

vụ của luật sư trong HĐTTHS

Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về

Trang 9

hoạt động của luật sư nói chung, trong đó có đề cập đến các quyền, nghĩa vụcủa luật sư Tuy nhiên, các công trình này còn chưa cập nhật các quy địnhmới của pháp luật (Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015; Luật Luật sư 2006 sửađổi bổ sung 2012, các văn bản pháp luật khác có liên quan) và mới chỉ đề cập

ở một vài khía cạnh của đề tài, chưa nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vấn đềthực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS Từ lý luận

và thực tiễn nêu trên đã đặt ra một yêu cầu bức thiết, mang tính thời sự đốivới việc thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS

Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Thực hiện pháp luật về quyền,

nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật vềquyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS; từ thực trạng pháp luật và thựchiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS Luận án đềxuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa

vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án cần thực hiện một số nhiệm

vụ chính sau:

- Nghiên cứu, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tàiluận án;

- Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa

vụ của luật sư trong HĐTTHS; nội dung pháp luật và hình thức thực hiệnpháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS và yếu tố tác độngđến thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS;

Trang 10

- Khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về quyền, nghĩa vụ củaluật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật

và thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở ViệtNam;

- Nêu quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụcủa luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề cơ sở lý luận, phápluật có liên quan và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật

sư trong HĐTTHS ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận án tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụcủa luật sư trong HĐTTHS dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và phápluật; nghiên cứu hoạt động thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư với tư cáchngười bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho bị hại, đương sự trong HĐTTHS (không bao gồm tư cách người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố)

và mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong phạm vi toànquốc Thời gian nghiên cứu được giới hạn từ năm 2006 (thời điểm Luật Luật

sư được ban hành) đến nay

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan điểm của học thuyếtMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta vềcải cách tư pháp (CCTP) trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa(XHCN), quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền XHCN, CCTP với thực hiện phápluật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở nước ta hiện nay

Trang 11

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp lịch sử, phân tích, quy nạp sử dụng chủ yếu ở chương 2, nêu lêncác cơ sở lý luận của các vấn đề đặt ra, qua đó khái quát hóa thành những luậnđiểm làm nền tảng lý thuyết xuyên suốt nội dung của vụ án;

- Phương pháp lịch sử, phân tích, thống kê, tổng hợp được thực hiện trongchương 3 về đánh giá thực trạng pháp luật và thực trạng thực hiện pháp luật

về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS;

- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện với tiêu chí lựa chọn cácchuyên gia luật sư có thâm niên, uy tín trong lĩnh vực tố tụng hình sự, ở 03khu vực của cả nước (Bắc, Trung, Nam) để phỏng vấn trực tiếp một số nộidung chính yếu liên quan đến đề tài luận án Trong quá trình thực hiện, ngoài

dữ liệu từ những luật sư được phỏng vấn, còn có các thông tin và dữ liệu mớinảy sinh có giá trị đối với đề tài Kết quả của phương pháp này được sử dụngchủ yếu tại Chương 3 của luận án

- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng tại chương 4 nhằm đưa raquan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ củaluật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước phápquyền XHCN thời kỳ hội nhập

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống vàtương đối toàn diện về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sưtrong HĐTTHS ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu có những điểm mới như sau:

- Luận án phân tích, làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiệnpháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS;

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền,nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS qua đó làm sáng tỏ ưu điểm, tồn tại vànguyên nhân của ưu điểm, tồn tại đó khi luật sư thực hiện quyền, nghĩa

Trang 12

vụ trong giải quyết vụ án hình sự hiện nay;

- Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, luận án đưa ra kiến nghị, đề xuất góp phầnhoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS, Luật Luật sư (LLS) và cácVBQPPL liên quan đồng thời đưa ra các nhóm giải pháp đảm bảo thực hiệnpháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Nam hiệnnay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Về lý luận, kết quả của luận án góp phần vào hoàn thiện lý luận về thực hiệnpháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trongHĐTTHS nói riêng; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đảm bảo thựchiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS đáp ứng yêucầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

- Về thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu hữu ích với giới luật sư, tài liệu thamkhảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các cơ sở đào tạo luật vàcác cơ sở đào tạo chức danh tư pháp

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận ánđược chia làm 4 chương, 10 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Luật sư tham gia vào HĐTTHS với tư cách người bào chữa, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng Trên thế giới, mỗi quốc gia cónhững đặc tính pháp luật riêng, ứng với đó là mô hình TTHS phù hợp Dù ở

mô hình TTHS nào thì sự tham gia của luật sư thông qua quyền, nghĩa vụ củamình đều góp phần bảo đảm quyền con người, làm rõ sự thật khách quan của

vụ án, bảo đảm công lý được thực thi Vì vậy, trong luận án “Thực hiện phápluật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự”, tác giả

sẽ nghiên cứu vấn đề này đã được đề cập ra sao, nghiên cứu như thế nào ởnước ngoài và trong nước, những vấn đề cần đặt ra cần tiếp tục nghiên cứutrong điều kiện ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Diễn đàn nghiên cứu khoa học quốc tế đã có các công trình nghiên cứu,bài báo, tham luận của các tác giả nước ngoài đề cập đến một hoặc một vàikhía cạnh về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trongHĐTTHS, như:

-“Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư” (Basic principles on the role of lawyers) [60] được thông qua bởi Đại hội Liên Hợp Quốc lần thứ VIII

về phòng chống tội phạm và đối xử với người phạm tội, Havana, Cuba năm1990: các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư được xây dựng để hỗ trợcác quốc gia thành viên trong nhiệm vụ thúc đẩy và đảm bảo vai trò đúng đắncủa luật sư, cần được Chính phủ tôn trọng và tính đến trong khuôn khổ luậtpháp quốc gia của họ Khi thực hành các nguyên tắc này cần được các luật sưcũng như những người khác chú ý, chẳng hạn như thẩm phán, công tố viên,

Trang 14

thành viên của cơ quan hành pháp và lập pháp, và công chúng nói chung.Những nguyên tắc này cũng sẽ được áp dụng, khi thích hợp, cho những ngườithực hiện các chức năng của luật sư mà không có tư cách chính thức của luật

sư Các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư bao gồm: Tất cả mọi người

có quyền kêu gọi sự giúp đỡ của luật sư về sự lựa chọn của họ để bảo vệ vàthiết lập quyền của họ và bảo vệ họ trong tất cả các giai đoạn TTHS; Chínhphủ sẽ đảm bảo rằng các quy trình hiệu quả và cơ chế đáp ứng để tiếp cậnhiệu quả và bình đẳng với luật sư được cung cấp cho tất cả mọi người tronglãnh thổ của họ và thuộc thẩm quyền của họ, không phân biệt đối xử bằng bất

kỳ hình thức nào, như phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, màu da, nguồn gốcdân tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hoặc ý kiến khác, nguồn gốcquốc gia hoặc xã hội, tài sản, sinh, kinh tế hoặc địa vị khác; Chính phủ đảmbảo cung cấp đủ kinh phí và các nguồn lực khác cho các dịch vụ pháp lý chongười nghèo và, khi cần thiết, cho những người thiệt thòi khác Hiệp hội luật

sư chuyên nghiệp sẽ hợp tác trong việc tổ chức và cung cấp dịch vụ, cơ sở vậtchất và các nguồn lực khác; Chính phủ và hiệp hội nghề nghiệp của luật sư sẽthúc đẩy các chương trình thông báo cho công chúng về các quyền và nghĩa

vụ của họ theo luật pháp và vai trò quan trọng của luật sư trong việc bảo vệcác quyền tự do cơ bản của họ Các nguyên tắc này đặc biệt chú ý đến việc hỗtrợ người yếu thế trong xã hội để cho phép họ khẳng định quyền lợi của mình

và ở bất kỳ đâu Những nội dung trên là tài liệu tham khảo hữu ích với đề tàiluận án

- Bài viết “ Sự phát triển của luật hình sự Hoa Kỳ” (Evolution of USCriminal Law) [46] của James B.Jacobs đề cập đến việc bảo vệ quyền conngười trong suốt quá trình tố tụng trong đó có quyền bào chữa, quyền cóngười bào chữa Tác giả lấy Hiến pháp Hoa Kỳ làm cơ sở xây dựng thủ tụcTTHS và trong giới hạn của Luật hình sự Hoa Kỳ với các nguyên tắc suyđoán vô tội; quyền xuất trình chứng cứ, quyền không bị buộc phải đưa ra

Trang 15

chứng cứ tự buộc tội mình, các cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh họ

có tội; quyền được xét xử công bằng và công khai; quyền được xét xử nhanhchóng Quyền có luật sư và quyền bào chữa nhằm bảo đảm tất cả bị can, bịcáo đều có luật sư bào chữa, trường hợp người bị tình nghị phạm tội không cótiền thuê luật sư thì Tòa án có thể sẽ chỉ định luật sư bảo vệ quyền lợi hợppháp cho họ Luật sư cũng có quyền khai thác các nhân chứng của họ nhằmthẩm tra về những nhân chứng của phía bên kia để kiểm tra chéo (Cross-Examination) Bài viết này là tài liệu tham khảo hữu ích với đề tài luận án

- Sách “Hướng tới một tố tụng hình sự quốc tế” (Toward an international criminal procedure) [12] của tác giả Christoph J.M Saffeling

viết về cách phát triển một trật tự TTHS quốc tế với nội dung so sánh, phântích những quy định bảo đảm các chuẩn mực quốc tế về quyền con người củangười bị tình nghi phạm tội và quyền được bào chữa của họ Vì vậy, sáchcũng chú trọng đề cập đến việc tạo hành lang pháp lý nhằm bảo đảm việc xét

xử được công bằng, các điều kiện cần thiết để luật sư giúp người bị tình nghiphạm tội thực hiện quyền được bào chữa như nguyên tắc về nghĩa vụ chứngminh lỗi của bị cáo, việc kiểm tra chéo nhân chứng (Cross- Examination), giảđịnh vô tội, chế định thương lượng nhận tội trong tố tụng hình sự (chỉ trongmột số trường hợp đáp ứng điều kiện và quy định của pháp luật)

- Báo cáo “Nghiên cứu điều tra về vấn đề có liên quan đến luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự” của tác giả Ninh Hồng, Tôn Lợi [43] Bài viết đưa ra

một số kiến nghị bổ sung vào "Báo cáo nghiên cứu điều tra về vấn đề có liênquan đến luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự" của Bộ tư pháp Trung Quốcnhằm thúc đẩy công tác bảo đảm quyền lợi hành nghề của luật sư, cải thiệnmôi trường hành nghề của luật sư Trung Quốc Bài viết cho rằng muốn cảithiện triệt để môi trường hành nghề của luật sư, giải quyết các vấn đề còn tồntại trong hoạt động tố tụng hình sự của luật sư, một mặt luật sư phải nâng cao

tố chất bản thân, đồng thời với việc tăng cường ý thức phòng

Trang 16

chống rủi ro nghề nghiệp, đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp và kỷluật hành nghề; mặt khác tích cựu tiến hành phối hợp với các cơ quan tư pháp

có liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi của luật sư hơn nữa Tài liệu này có ýnghĩa tham khảo liên quan đến thực tiễn và giải pháp của luận án

- Báo cáo “Quyền con người trong hệ thống tư pháp hình sư” (The human rights in criminal justice systems) tại Cuộc họp thông tin Châu Á - Châu Âu

của Param Cumarawamy và Manfred Nowak [72] Hệ thống tư pháp hình sựtrong một xã hội dân chủ, tuân thủ luật pháp, phải cân bằng cẩn thận các lợiích khác nhau và đôi khi mâu thuẫn Luật nhân quyền quốc tế thừa nhận sựcần thiết phải cân bằng quyền lực Nhà nước và quyền tự do cá nhân, đưa racác đảm bảo tối thiểu mà các quốc gia phải tuân thủ trong suốt quá trình tưpháp hình sự của mình Báo cáo lưu ý rằng trong khi hình phạt về thể xác đã

bị đặt ra ngoài vòng pháp luật nhân quyền quốc tế và có một xu hướng toàncầu đang gia tăng đối với việc bãi bỏ án tử hình, các yếu tố đóng góp cho sựphát triển tiến bộ của nhân quyền, vẫn còn là một vấn đề tranh luận đối vớicác quốc gia rằng muốn duy trì các hình thức trừng phạt này như là một phầncủa hệ thống tư pháp hình sự trong nước họ Tuy nhiên, các vấn đề mà cảnhững nước châu Á và châu Âu phải đối mặt cho thấy rất nhiều điểm tươngđồng Hội thảo đã đề cập đến một loạt các vấn đề nhân quyền liên quan đếntất cả các giai đoạn của quá trình tư pháp hình sự, nhấn mạnh nhận thức cònsót lại rằng một cuộc xung đột tồn tại giữa lợi ích của an ninh và bảo vệ nạnnhân và quyền của bị cáo; tầm quan trọng của sự tôn trọng các chuẩn mựcquốc tế; và những khó khăn và sự phức tạp đáng kể vốn có trong việc đảmbảo hoạt động hiệu quả của bất kỳ hệ thống pháp lý nào Xu hướng về Quyềncon người được bảo đảm trong tư pháp hình sự của các nước là một khía cạnhtham khảo cần thiết với đề tài

- Cuốn sách “Tài liệu về quyền con người của Brownlie” (Brownlie’s

document on human rights) [45] của tác giả Ian Brownlie, đây là cuốn sách

Trang 17

tổng hợp bao quát các nội dung, nguyên tắc về quyền con người; hình thứcthể hiện cụ thể, rõ ràng có đề dẫn, chú thích; nội dung về những văn kiệnđược Liên Hợp Quốc và các bên liên quan thông qua mang tính pháp lý quốc

tế và có ý nghĩa quan trọng về quyền con người, bởi những tổ chức trong khuvực và những người am hiểu về luật pháp là tài liệu tham khảo hữu ích vềquyền con người đối với luận án

- Cuốn sách “Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga” [61] do Liên hợp quốc

thực hiện năm 2010 đã làm rõ cơ cấu tổ chức cơ quan tư pháp hình sự, quyđịnh về quyền bào chữa, tạo điều kiện để luật sư tham gia bào chữa của 5quốc gia chọn lọc Trong đó, luật sư được phép sử dụng nhiều phương phápđặc biệt để thu thập chứng cứ, có thể đề nghị ĐLS địa phương yêu cầu cơquan, tổ chức cung cấp tài liệu, việc hỏi cung không được ghi hình, ghi tiếngkhi chưa có sự hiện diện của luật sư Những nghiên cứu về mô hình tố tụngnói trên có những nội dung liên quan đến hoạt động bào chữa của người bàochữa, trong đó có luật sư Vì vậy, việc tham khảo các tài liệu trên giúp choviệc nghiên cứu của tác giả có những hiểu biết cần thiết về các mô hình tốtụng, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật, phù hợp với

mô hình tố tụng kết hợp mà CCTP ở Việt Nam đang hướng tới

- “Báo cáo Quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam” do Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thực hiện năm

2010 [13] đã nghiên cứu và so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật cácquốc gia (Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Australia) về quyền bào chữa - mộttrong những chuẩn mực bắt buộc của việc xét xử công bằng, được pháp luậtquốc tế công nhận và bảo vệ; chỉ ra các điểm tích cực về tiếp cận quyền bàochữa có thể vận dụng vào Việt Nam, đồng thời đánh giá tổng quan những tồntại trong việc tiếp cận, thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra, xét

xử vụ án hình sự ở nước ta Từ đó, đưa ra một số đề xuất phù hợp để hoànthiện

Trang 18

pháp luật, đồng thời bảo đảm, phát huy hiệu quả thực hiện quyền bào chữa trongTTHS tại Việt Nam Tài liệu này được xây dựng để phục vụ cho việc đóng góphoàn thiện dự thảo BLTTHS 2015, tuy nhiên vẫn có giá trị tham khảo đối vớiluận án ở khía cạnh nghiên cứu về thực hiện quyền của luật sư bào chữa trongTTHS tương quan so sánh với pháp luật một số nước về vấn đề này.

- Cuốn sách Luật của Black: Một luật sư hình sự tiết lộ những chiến lượcbảo vệ trong Bốn vụ án tiêu biểu (Black's Law: A Criminal Lawyer RevealsHis Defense Strategies in Four Cliffhanger Cases Paperback) [91] của RoyBlack - một trong những luật sư bào chữa hình sự cứng rắn và sắc sảo nhấtnước Mỹ Dù bảo vệ một người nổi tiếng giàu có hay một tử tù nghèo khổ,Black luôn cố gắng mọi cách để khách hàng của mình được xét xử công bằng.Cuốn sách viết về hậu trường của bốn vụ án khó khăn và nguy hiểm để tiết lộcác chiến lược pháp lý, chiến thuật “vô căn cứ” và tâm lý phòng xử án mà tácgiả đã sử dụng để đảm bảo khách hàng của mình nhận được mọi sự bảo vệtheo luật Các vụ án minh họa các cuộc đấu tranh sinh tử xảy ra thường ngàytại các tòa án hình sự của Hoa Kỳ Trong vụ án "Alvarez", tác giả đã thuyếtphục bồi thẩm đoàn gác lại việc công khai xét xử vụ án nhạy cảm liên quanđến một cuộc bạo loạn chủng tộc và áp lực của xã hội đối với việc ban hànhbản án để bảo vệ một sĩ quan cảnh sát Tây Ban Nha trẻ tuổi thoát án tù vì giếtmột thanh niên da đen Hoodlum trong khi làm nhiệm vụ Trong vụ án "Hiệpsĩ", Black phải đấu tranh với các vấn đề về giai cấp và chủng tộc khi anh taphải trải qua cuộc đấu tranh pháp lý kéo dài bốn năm để thuyết phục các thẩmphán tòa phúc thẩm liên bang lật lại án tử hình đối với một kẻ giết người điên

rồ, tàn bạo vì sự tắc trách của các luật sư bào chữa trước đó Trong vụ án

"Hicks", Black phải chứng minh sự vô tội của một khách hàng bằng cáchthuyết phục bồi thẩm đoàn rằng cảnh sát đã tiến hành một cuộc điều tra giếtngười cẩu thả vi phạm tố tụng nghiêm trọng Và trong vụ án "De La Mata,"thời điểm mà nhà nước và xã hội đã trao cho các công tố viên, thẩm phán

Trang 19

nhiều quyền lực hơn để đưa những người tình nghi tội phạm vào nhà tù, cácluật sư bào chữa được coi là đứng về phía kẻ xấu Nhưng Roy Black tin rằngkhi luật sư bỏ qua các quyền của bị cáo, cũng là làm giảm quyền của chínhmình Trong hệ thống pháp lý có tính đối nghịch, người duy nhất đứng giữa bịcáo và nhà tù hay án tử hình - là luật sư bào chữa hình sự Tác giả cho thấycác nguyên tắc của luật pháp, tiêu biểu là kiểm tra chéo (Cross- Examination),bằng chứng cũng như quyền yêu cầu lựa chọn bồi thẩm đoàn và sử dụng khéoléo các nhân chứng trong vụ án - có thể tạo thế cân bằng với thẩm quyền ưuviệt của công tố viên tiểu bang và liên bang Cuốn sách đã chỉ ra vai trò quantrọng của luật sư bào chữa hình sự khi bảo vệ các quyền cơ bản của con ngườitrong một phiên tòa công bằng, một tài liệu có giá trị tham khảo cao cả về mặt

lý luận và thực tiễn pháp lý liên quan đến đề tài luận án

- Bài viết “Vai trò của luật sư bào chữa: không chỉ là một người biện hộ”(The role of the defense attorney: not just an advocate) của tác giả RobertaK.flowers [90] phân tích các yêu cầu đối với luật sư trong tình huống kháchhàng có kế hoạch thực hiện khai man Qua đó, chỉ ra vai trò của luật sư khôngchỉ thể hiện ở nghĩa vụ người biện hộ cho khách hàng mà phải bảo đảm cácnghĩa vụ đối với tòa án và công chúng Vì vậy, để thực hiện chức năng bàochữa có hiệu quả, phải đảm bảo vai trò 3 bên: vai trò của luật sư bào chữa, vaitrò của tòa án và vai trò của bên công tố Bài viết có tính mới và gợi mở hơn

về chức năng xã hội của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự với tư cáchngười bào chữa, một tài liệu tham khảo hữu ích đối với luận án

- Bài viết “chức năng bào chữa” (“Defense function”) của Đoàn luật sưHoa Kỳ [31] đã nêu lên các tiêu chuẩn chung của người bào chữa và các chứcnăng của luật sư bào chữa Theo đó, Luật sư bào chữa là một thành phần thiếtyếu của hệ thống tố tụng hình sự, bảo vệ công lý và lẽ phải Một tòa án thànhlập đúng quy định để xét xử một vụ án hình sự phải được xem như là mộtthực thể ba bên bao gồm các thẩm phán, công tố viên và luật sư bào chữa cho

Trang 20

bị cáo Các tiêu chuẩn cũng như chức năng của luật sư bào chữa đó là: Luật

sư bào chữa phải có lòng can đảm, sự tận tâm để tham gia giải quyết vụ ánmột cách hiệu quả và chất lượng, thể hiện bằng việc hành động tuân theo cácquy định của pháp luật Đồng thời, khi gặp các bất cập liên quan đến chínhsách hình sự và quy định của pháp luật, người bào chữa phải đề xuất ý kiến,tìm cách cải cách và cải thiện hành chính tư pháp hình sự Người bào chữakhông có nhiệm vụ phải thực hiện bất kỳ chỉ thị nào của bị cáo mà khôngđúng với quy định của pháp luật hoặc vi phạm pháp luật Người bào chữakhông được xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật, cung cấp các chứng cứ, tài liệusai sự thật cho Tòa án… Người bào chữa phải được hướng dẫn và tuân theocác chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, những điều được làm và không đượclàm khi hành nghề luật sư

- Cuốn sách chuyên khảo “Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới” do Tô Văn Hòa chủ biên [39] đã giới thiệu các báo cáo nghiên cứu của

các nhà khoa học có uy tín quốc tế về mô hình TTHS điển hình của bảy quốcgia trên thế giới là: Hoa Kỳ, Italia, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và HànQuốc Các kết quả nghiên cứu được thực hiện công phu, nghiêm túc, có ýnghĩa tham khảo rộng rãi, sâu sắc và có giá trị đặc biệt góp phần vào quá trìnhxây dựng và hoàn thiện Đề án “Mô hình TTHS Việt Nam” theo yêu cầu củacải cách tư pháp Có thể khái quát một số mô hình tố tụng về đặc điểm luậtTTHS và vai trò, địa vị pháp lý của luật sư, như sau:

Mô hình TTHS Nhật Bản do GS Byung-Sun Cho báo cáo nghiên cứu đãthể hiện khái quát mô hình TTHS Nhật Bản thông qua việc giới thiệu hệ thống

tư pháp với hệ thống tòa án gồm: tòa án giản lược (cấp thấp nhất), tòa án quận(thẩm quyền chung trong giải quyết mọi vụ án), tòa án gia đình (thẩm quyền xét

xử về quan hệ gia đình và trẻ vị thành niên), tòa án cấp cao và tòa án tối cao;xác định hệ thống TTHS Nhật Bản là hệ thống lai với mô hình tố tụng tranhtụng là chủ yếu và BLTTHS năm 1948 vẫn giữ được các đặc tính của pháp luậtlục địa,

Trang 21

chủ yếu là pháp luật Anh - Mỹ đã được đưa vào đáng kể; tác giả cũng phân tích

về các giai đoạn TTHS gồm: điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; phần địa vị

tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia TTHS cũng nêu nên địa vịpháp lý của luật sư bào chữa khi có cả các quyền đại diện và quyền hạn cá nhânvới tư cách là người bảo vệ bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội, trong đóvới tư cách đại diện có quyền hạn rất toàn diện để thực hiện mọi hành vi tố tụngcủa bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội Sau khi bị truy tố, bị cáo được tự

do gặp luật sư của mình để chuẩn bị các lý lẽ bào chữa,…;

Về mô hình TTHS của Trung Quốc do GS Liling Yue nghiên cứu đãkhái quát về TTHS của Trung Quốc; các chủ thể tố tụng và các giai đoạn củaquá trình TTHS; chứng cứ hình sự và xu hướng cải cách luật TTHS TrungQuốc Trong đó, TTHS được chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn trướcxét xử (bao gồm lập hồ sơ vụ án, điều tra và truy tố) và giai đoạn xét xử (baogồm xét xử sơ thẩm, kháng cáo nếu có hoặc các thủ tục tố tụng đặc biệt khác).Vai trò của luật sư bào chữa bị hạn chế trong giai đoạn điều tra, đến khi cóquyết định truy tố và nghi phạm chính thức thuê luật sư thì được thể hiện rõhơn với quyền hạn như có thể tra cứu, trích dẫn và sao chép tài liệu, văn bản

tố tụng; phỏng vấn, liên lạc với nghi phạm bị tạm giữ; … nhưng quan trọng

và thể hiện toàn diện nhất trong giai đoạn xét xử với quyền hạn của người bàochữa và quyền tương tự của bị cáo

- Cuốn sách “ So sánh các hệ thống Tư pháp Hình sự” (ComparativeCriminal Justice Systems) [74] của tác giả Philip L Reichel (Hoa Kỳ) tái bản lầnthứ 6, 2012 viết về các mô hình TTHS Trong cuốn sách này, tác giả đã phântích đặc điểm và so sánh các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới.Cuốn sách cũng phân tích làm rõ và so sánh các loại mô hình TTHS, đặc biệt là

mô hình TTHS kiểm soát tội phạm và mô hình TTHS công bằng Những nghiêncứu cho thấy rằng mặc dù cùng chung mục đích là tìm ra sự thật, phát hiện và

xử lý tội phạm nhưng mỗi truyền thống pháp luật lại sử dụng mô hình TTHSkhác

Trang 22

nhau và đặt vấn đề là cách thức nào được xem là tốt nhất để tìm ra sự thật Sựkhác nhau giữa các mô hình TTHS tất yếu dẫn đến sự khác nhau, trong đó có sựkhác nhau về địa vị pháp lý của các chủ thể và cách thức vận hành các chứcnăng TTHS, luật sư bào chữa là một trong những chủ thể đó.

- Cuốn sách “ Hệ thống pháp luật và luật pháp của Liên Bang Nga” (Lawand legal system of the Russian Federation) của William Burnham [129] đượcviết để giới thiệu cho sinh viên luật, luật sư về các đặc điểm chính của luậtpháp và các tổ chức pháp lý của nước Nga ngày nay Cuốn sách với 14 chươngbao gồm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của pháp luật Nga, trong đó có cácvấn đề về thủ tục tố tụng hình sự (chương XI), luật sư (phần D chương IV), cácquyền cá nhân trong đó nổi bật quyền được bảo vệ tư pháp và đối xử bình đẳng(mục D chương VI) Cuốn sách đã nghiên cứu, phân tích về quyền của luật sưbào chữa trong giải quyết vụ án hình sự, cụ thể tập trung vào các vấn đề: Liệt

kê các văn bản pháp luật của các nước cộng hòa thuộc liên bang quy định vềquyền của luật sư bào chữa; đưa ra tỷ lệ phần trăm các vụ án hình sự có sựtham gia của luật sư bào chữa từ giai đoạn xét xử; chủ thể nào được đại diệncho bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự… Nổi bật nên một số quyền củaluật sư như: chỉ cần sự thừa nhận của Đoàn luật sư nơi mà luật sư tham gia và

có một lệnh từ tổ chức luật sư ủy quyền cho luật sư đại diện nhận bào chữacho khách hàng; trong giai đoạn điều tra, luật sư bào chữa được quyền có mặtkhi người bị tình nghi hoặc bị can đưa ra lời khai trước điều tra viên (thậm chítrước cả giai đoạn đó trong một số trường hợp); quyền thu thập chứng cứ củaluật sư bào chữa như hoạt động điều tra độc lập (điểm mới đáng ghi nhận tạiĐiều 83 BLTTHS Liên bang Nga năm 2001); luật sư có quyền tham gia bàochữa từ thời điểm khách hàng bị bắt trên thực tế; trong giai đoạn xét xử, nếuluật sư bào chữa theo chỉ định không xuất hiện tại phiên tòa thì việc xét xử vụ

án phải được hoãn sang thời điểm khác Bị cáo có thời hạn 05 ngày để lựachọn người bào chữa mới và nếu người bào chữa mới không thể có mặt thì tòa

án chỉ

Trang 23

định người bào chữa khác Cuốn sách này là một tài liệu nghiên cứu tham khảohữu ích liên quan đến luật sư trong HĐTTHS với tư cách là người bào chữa.

- Bài “Sự thật về việc trở thành một luật sư bào chữa hình sự” (The Truth

About Being a Criminal Defense Attorney) [23] của Dylan Thomson vonBrendel phỏng vấn hai luật sư bào chữa hình sự có tiếng của Hoa Kỳ làRobert Foley và Dana Kinsella về lý do lựa chọn nghề, những nguy hiểm,nhìn nhận của xã hội cũng như thách thức khi làm luật sư bào chữa hình sự,hai người cũng chia sẻ những trải nghiệm trong hoạt động hành nghề Cuộcphỏng vấn chân thật và sâu sắc về quan điểm, nhìn nhận của người trong nghềkhi trở thành một luật sư bào chữa hình sự trong xã hội Hoa Kỳ, khi ai đóphải đối mặt với một hành vi phạm tội hình sự thì toàn bộ sức nặng của hệthống tư pháp và nhà nước cùng việc truy tố đang giáng xuống người đó, khi

ấy có luật sư bào chữa; luật sư là một phần quan trọng của hệ thống kiểm tra

và cân bằng trong thực hiện pháp luật, làm cho mọi thứ hoạt động hiệu quả vàhợp pháp, bởi vì nhìn vào thẩm quyền và quyền lực mà cơ quan thực thi phápluật có, cần có cơ chế để kiềm chế sức mạnh đó, kiểm tra lại công việc của họ,đảm bảo rằng họ tuân theo đúng các quy tắc pháp luật, đồng thời bảo vệquyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội Tài liệu tham khảo hữu ích với việcthực hiện phỏng vấn chuyên sâu phục vụ cho đề tài

- Cuốn sách “Cẩm nang luật hình sự - Biết quyền của bạn, tồn tại hệ thống”

(The criminal law handbook - Know your right, Survive theo System)

[73] của tác giả Paul Bergman và Sara J Berman được thiết kế dưới dạng câuhỏi, câu trả lời dễ hiểu và các ví dụ minh họa để giải thích hệ thống tư pháphình sự, trong và ngoài phòng xử án, giúp người đọc có những kiến thức cơbản về luật, thủ tục tố tụng hình sự của Hoa Kỳ Cuốn sách gồm 27 chương,trong đó nội dung về luật sư (bao gồm cả luật sư công, luật sư tư), quyền bàochữa, thủ tục bào chữa, chất vấn tại tòa… tập trung tại các chương 7 (luật sưbào chữa hình sự), chương 8 (tìm hiểu mối quan hệ giữa luật sư và khách

Trang 24

hàng trong vụ án hình sự, chương 11 (xây dựng chiến lược bào chữa), chương

14 (trao đổi thông tin với công tố), chương 15 (điều tra các sự kiện), chương

16 (điều trần sơ bộ), chương 17 (quyền cơ bản của bào chữa), chương 18 (quytắc chứng cứ cơ bản trong các phiên tòa hình sự) đã giải thích quyền có luật

sư, sự khác biệt giữa luật sư công và luật sư tư, sự giữ bí mật của luật sư vớikhách hàng, diễn giải, minh họa các thủ tục tố tụng có sự tham gia của luật sưtrong quá trình bào chữa cho khách hàng, đồng thời cũng chỉ ra điểm khácbiệt giữa luật Liên bang với luật của các bang về các nội dung liên quan đếnvấn đề này

- Trong cuốn La bàn đạo đức của luật sư Hoa Kỳ: Sự thật, Công lý, Quyền lực

và Lòng tham (The Moral Compass of the American Lawyer: Truth, Justice,Power, and Greed) [89], Richard Zitrin và Carol M Langford cố gắng giảithích đạo đức pháp lý cho những người không phải là luật sư Trong khi họcung cấp một sự bảo vệ mạnh mẽ của hệ thống công lý Mỹ, họ cũng lưu ýnhững thảm họa đạo đức gây ra bởi sự thái quá của quá trình đối nghịch Cácluật sư không được trả tiền để bảo vệ "Sự thật, Công lý và Con đường Mỹ",các tác giả lưu ý; họ được trả tiền để bảo vệ khách hàng của họ, và nghĩa vụcủa sự vận động nhiệt tình đôi khi thúc đẩy các luật sư làm việc bên lề của sựchính trực Một số luật sư đứng trên đường lối đạo đức, hoặc bỏ qua lại với sựtrừng phạt; những người khác lặn dài qua rìa và không bao giờ quay trở lại.Khách hàng muốn thuê luật sư thành công, tất nhiên, và luật sư thành côngthường là những người sẵn sàng bỏ qua ranh giới của trách nhiệm nghềnghiệp Đạo đức của nghề nghiệp dường như được xác định bởi bất cứ điều gìkhó khăn nhất có thể thoát khỏi Các luật sư chân chính sẽ đi đến tận cùng của

sự thật và sẵn sàng chịu đựng những mũi dùi của dư luận khi bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của khách hàng Một tổng quan sâu rộng về những tìnhhuống khó xử về đạo đức phải đối mặt với mọi luật sư của nghề luật mỗi ngày

- cho dù họ là luật sư bào chữa hình sự, luật sư tư, luật sư nội bộ công ty

Trang 25

Các tác giả cũng đưa ra một đánh giá thẳng thắn về những thiếu sót của toàn

bộ hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, từ các trường luật đến phòng xử án, và những gì

có thể được thực hiện để khắc phục tình hình Một tài liệu tham khảo hay vềkhía cạnh đề cao đạo đực hành nghề luật sư đối với luận án

- Báo cáo “Quyền trong thực tế: tiếp cận với luật sư và quyền tố tụng trong tốtụng hình sự và lệnh bắt giữ ở châu Âu” (Rights in practice: access to alawyer and procedural rights in criminal and European arrest warrantproceedings) của Cơ quan Liên minh châu Âu về các quyền cơ bản (FRA)[33] xem xét cách thức áp dụng trong thực tế các quyền tố tụng hình sự quantrọng (bao gồm quyền tiếp cận luật sư), dựa trên các cuộc phỏng vấn với hơn

250 người là thẩm phán, công tố viên, cảnh sát, luật sư, nhân viên của các cơquan giám sát các nhà tù, cũng như các bị cáo của 08 quốc gia thành viên EU.Báo cáo tập trung phân tích về quyền tiếp cận luật sư; bị cáo bị tước quyền tự

do đặc biệt phải đối mặt với những khó khăn thực tế trong việc tiếp cận trựctiếp với luật sư Cảnh sát đôi khi ngăn cản các bị cáo tiếp xúc với luật sư từđầu, tước đi cơ hội của luật sư để đặt câu hỏi có thể giúp bị cáo chuẩn bị bàochữa hiệu quả Các bị cáo không phải lúc nào cũng được phép nói chuyệnriêng với luật sư của họ trước khi thẩm vấn lần đầu, thay vào đó là cuộc traođổi ngắn diễn ra trong các hành lang công cộng với sự có mặt của cảnh sát.Báo cáo cũng chỉ ra rằng đối với các vụ án xuyên biên giới, xuyên quốc giathì vấn đề rào cản ngôn ngữ là nguyên nhân khó khăn trong việc tiếp cận luật

sư Liên quan đến việc cung cấp cho các bị cáo thông tin về quyền của họ đểtiếp cận luật sư, cũng như việc tiếp cận hiệu quả với luật sư trong thực tế, báocáo phát hiện sự tôn trọng và hiệu quả khác nhau giữa các quốc gia thành viênthực thi và các quốc gia thành viên ban hành Các cơ quan thực thi thườngkhông cảm thấy có thẩm quyền bình luận về các quyền ở các quốc giakhác, vì vậy không thông báo cho những người bị bắt theo EAW (đảm bảobắt giữ Châu Âu) về quyền liên hệ và chỉ định luật sư tại nước thành viên,

Trang 26

không hỗ trợ đầy đủ cho các bị cáo trong việc chỉ định luật sư ở đó Tàiliệu có giá trị tham khảo hữu ích đối với đề tài luận án ở khía cạnh thựctiễn về thực hiện quyền tiếp cận luật sư trong hội nhập với các nền tưpháp TTHS Châu Âu.

Từ những tài liệu nghiên cứu tham khảo trên, tác giả nhận thấy mặc dù

mô hình TTHS ở mỗi nước có sự khác nhau nhưng pháp luật TTHS đều cóquy định về việc bảo đảm quyền con người, quyền được bào chữa của người

bị tình nghi phạm tội hay người bị buộc tôi; luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp cho họ bằng các hoạt động chung cơ bản của các nền tư pháp hình sựtrên thế giới Các công trình nghiên cứu đã đề cập, phân tích một số vấn đề lýluận và thực tiễn về luật sư trong TTHS (chủ yếu với tư cách là người bàochữa) trong bảo đảm quyền con người, quyền lợi hợp pháp của người bị buộctội/người tình nghị phạm tội

Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả một khối lượngkiến thức nền tảng về quyền con người, quyền có luật sư bào chữa, một sốnguyên tắc bảo đảm vai trò của luật sư trong TTHS một số quốc gia và của quốc

tế Tham khảo các tài liệu trên giúp cho việc nghiên cứu của tác giả có thêmnhững kiến thức về các mô hình TTHS và địa vị pháp lý của luật sư trong các môhình tố tụng đó Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luậtTTHS, nâng cao vị thế của luật sư thông qua việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong

mô hình TTHS kết hợp thẩm vấn - tranh tụng theo yêu cầu CCTP mà Việt Namđang hướng đến

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự

+ Đề tài Bộ Tư pháp “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiệnpháp luật về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong điều kiện ở Việt Namhiện nay”, chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn Thảo – Viện khoa học Pháp lý, Bộ

Tư pháp [94] là công trình nghiên cứu lớn có liên quan đến luật sư và tổ chức

Trang 27

hành nghề luật sư Đề tài nghiên cứu của Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp

đã tiếp cận các hoạt động tư pháp của luật sư khi hành nghề ở nhiều lĩnh vực,trong đó có hoạt động tham gia tố tụng hình sự, đưa ra quan điểm và các giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hành nghề luật sư, hoạt động của luật sưtại Việt Nam Tuy nhiên, do đề tài thực hiện và hoàn thành ở thời điểmBLTTHS 2003 mới có hiệu lưc hơn 01 năm, phạm vi nghiên cứu rộng nênvấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trongHĐTTHS chưa được nghiên cứu, cập nhật đầy đủ, chuyên sâu và kịp thời.+ Đề tài cấp Bộ Tư pháp “Phương pháp đào tạo các chức danh tư phápđáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do PGS TS Phan Hữu Thư là chủ nhiệm

đề tài [96] đã chỉ ra được cơ sở khoa học và thực tiễn của sự cần thiết phảihoàn thiện phương pháp đào tạo các chức danh tư pháp trong đó có luật sư;xác định phương pháp đào tạo mới trên cơ sở quan điểm lấy người học làmtrung tâm nhằm tạo sự chủ động cho người học và người dạy trong việc nhanhchóng chiếm lĩnh tri thức nghề nghiệp; phân tích thực trạng áp dụng cácphương pháp đào tạo trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp, qua đó

đề xuất những biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế đó Đề tại phântích đặc thù trong đào tạo luật sư qua đó xây dựng phương pháp đào tạo tíchcực phù hợp trong đó nhấn mạnh việc tham gia các buổi đóng vai, diễn án lànhằm rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, hiểu hơn về vai trò, chức năng của cácchủ thể khác trong phiên tòa Đề xuất “đào tạo thực tế” thay cho “thực tập”phải được tăng lên, phù hợp với mục đích, yêu cầu của giai đoạn đào tạo nàyvới sự phân bổ quỹ thời gian hợp lý cho việc đào tạo tại toà án, viện kiểm sát

và các văn phòng, công ty luật Đề tài có giá trị thực tiễn cao liên quan đếnkhía cạnh nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nguồnluật sư

+ Sách “Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Văn

Tuân [106] trình bày một các có hệ thống về vị trí, quyền và nghĩa vụ của

Trang 28

Luật sư cũng như chức năng của Luật sư trong TTHS, những đóng góp thiếtthực của luật sư vào việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án, hỗ trợ cho tòa ántrong việc ra những bản án hình sự bảo đảm được các yêu cầu của công tácxét xử Cuốn sách là tài liệu tham khảo, bổ ích cho những người làm công tácbào chữa trong việc sử dụng quyền do pháp luật quy định để tự bảo vệ các lợi

ích hợp pháp của mình Tác giả cũng là chủ biên cuốn sách “Luật sư và vấn

đề đạo đức nghề nghiệp” [108] trình bày về thực trạng vấn đề đạo đức của

luật sư và yêu cầu nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp luật sư,các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của luật sư và các văn bản pháp luật

về tổ chức và hoạt động luật sư tính đến năm 2004 Cuốn sách chuyên khảophân tích về vấn đề đạo đức nghề nghiệp đối với luật sư, một định hướngchính trong việc xây dựng, ban hành bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghềnghiệp của luật sư Việt Nam năm 2011, một tài liệu hữu ích liên quan đến đề

tài luận án nghiên cứu Hay bài “Về sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự” [107] của Nguyễn Văn Tuân nêu ra một trong những quyền quan

trọng nhất của bị can, bị cáo là quyền được có người bào chữa Luật sư là mộttrong những diện người bào chữa cho bị can, bị cáo Bài viết nêu các quyềncủa luật sư với tư cách người bào chữa, bao gồm quyền tham gia tố tụng hình

sự, giai đoạn tố tụng mà luật sư tham gia và quan điểm của tác giả

+ Sách “Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự và chỉ dẫn áp dụngpháp luật tố tụng hình sự - dành cho thẩm phán, thẩm tra viên, hội thẩm, kiểmtra viên, luật sư, các học viên tư pháp” [21] Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự làmột hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ ánhình sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng và luật sư Sách chỉ ra mối liên

hệ giữa chất lượng nghiên cứu hồ sơ của luật sư có ảnh hưởng nhất định đếnhiệu quả giải quyết vụ án hình sự Theo đó, nếu luật sư nghiên cứu hồ sơnghiêm túc, chặt chẽ và khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng giải quyết

vụ án, ngược lại làm qua loa sơ sài thì chất lượng giải quyết vụ án không cao,

Trang 29

có thể dẫn đến làm gia tăng tỷ lệ án bị hủy, sửa hoặc nghiêm trọng hơn là làmoan, sai người vô tội Chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự phụ thuộcvào kỹ năng phương pháp nghiên cứu hồ sơ của mỗi luật sư, nếu nghiên cứu

hồ sơ tốt và phương pháp nghiên cứu chuyên sâu, khoa học thì chất lượngnghiên cứu sẽ cao Việc nâng cao chất lượng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án hình

sự, một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tố tụng hình sự Vì vậy, cuốnsách nhấn mạnh rằng những người tiến hành tố tụng và luật sư cần nâng cao

kỹ năng nghiên cứu hồ sơ góp phần tìm ra sự thật vụ án hình sự

+ Cuốn Sổ Tay Luật Sư [59] do Liên ĐLS Việt Nam và Nhà xuất bảnChính trị quốc gia sự thật thực hiện giới thiệu và phân tích chuyên sâu về luật

sư, hành nghề luật sư và các kỹ năng hành nghề cần có của luật sư trong từng

lĩnh vực cụ thể, bao gồm: Tập 1 - Luật sư và hành nghề luật sư; Tập 2 - Kỹ năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, hành chính, dân sự: giới thiệu

những kỹ năng hành nghề của Luật sư tham gia tranh tụng các loại vụ án hình

sự, hành chính, dân sự và kỹ năng của Luật sư khi tham gia tố tụng trọng tài,trong đó ở Chương 2 Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia tố tụng hình sự

đã tập trung làm rõ hơn những kỹ năng cụ thể của Luật sư trong các giai đoạnTTHS khác nhau, bắt đầu từ khi Luật sư nhận được yêu cầu từ phía kháchhàng cho đến khi Luật sư tham gia tại phiên tòa Có thể nói cuốn Sổ tay Luật

sư tập 2 đã giới thiệu khá chi tiết các kỹ năng của luật sư khi tham gia TTHS

từ việc tiếp xúc khách hàng, thủ tục đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền lợi; thamgia hoạt động điều tra; các kỹ năng trao đổi công việc, phối hợp thực hiệntrong quan hệ với viện kiểm sát, tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án; xây dựng đềcương xét hỏi; chuẩn bị luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

cho khách hàng; nhận thức và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa; Tập 3: Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại.

Cuốn Sổ tay Luật sư đặc biệt là tập 2 phần 1 và phần 2 có giá trị tham khảo

Trang 30

hữu ích đối với phần cơ sở lý luận và phần thực trạng của luận án tác giả đangnghiên cứu.

+ “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phan Trung Hoài [40] Tác giả đã đưa ra những vấn đề

có tính khái quát chung về nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạtđộng luật sư thông qua việc làm rõ các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình hoạt động của luật sư; khái niệm, vị trí, vai trò của luật sư, nghề luật sư

và pháp luật về luật sư trong đời sống xã hội; trong hoạt động nghề nghiệp vàtrong hệ thống pháp luật tư pháp của Việt Nam, luận án tập trung phân tích vềmặt lý luận nhu cầu khách quan của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối vớiluật sư thông qua các khái niệm khoa học về luật sư, nghề luật sư và pháp luật

về luật sư, phân tích thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật; đánh giá đượcnhu cầu về hoàn thiện pháp luật về luật sư, trên cơ sở đó đề xuất phươnghướng cơ bản để hoàn thiện pháp luật về luật sư Tuy nhiên, thời điểm thựchiện luận án sử dụng BLTTHS năm 2003 để phân tích, đánh giá thực trạng từ

đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về luật sư, nên đến nay khiBLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực thì không còn nhiều giá trị và tính thời sựnữa Nhưng việc phân tích, khái niệm, bản chất, vai trò của nghề luật sư vàluật sư ở Việt Nam trong luận án này vẫn là giá trị tham khảo hữu ích để củng

cố và làm rõ thêm về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ở Việt Namhiện nay

+ “Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt

Nam” [75] của Nguyễn Trọng Phúc đã đưa ra khái niệm về biện pháp ngăn

chặn, các tiêu chí, căn cứ phân loại, phân biệt các biện pháp ngăn chặn và ýnghĩa của chúng, phân tích nguyên tắc áp dụng, thay thế, hủy bỏ các biệnpháp ngăn chặn, hệ thống hóa lịch sử ra đời và phát triển của các biện phápngăn chặn trong pháp luật TTHS từ thời kỳ phong kiến cho đến năm 2010, từ

đó rút ra những giá trị tiến bộ, nhân đạo để kế thừa Luận án đánh giá các biện

Trang 31

pháp ngăn chặn theo 4 tiêu chí: đối tượng áp dụng, căn cứ áp dụng, người cóthẩm quyền áp dụng, thủ tục thực hiện cũng như bồi thường thiệt hại chongười bị oan do người có thẩm quyền gây ra, chỉ ra những tồn tại và nguyênnhân Khái quát các nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng, thaythế, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự,quyền lợi cho người bị oan Qua đó, nêu quan điểm và phương hướng hoànthiện các biện pháp ngăn chặn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong côngcuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam.

+ “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam - những vấn đề lý luận

và thực tiễn” [36] của Nguyễn Văn Hiển đã nêu quan điểm tranh tụng là

nguyên tắc cơ bản trong TTHS và khả năng áp dụng nguyên tắc này trong các

mô hình TTHS khác nhau Phân tích, đánh giá về mặt lịch sử và thực tiễn thểhiện nguyên tắc tranh tụng trong xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS ViệtNam, tham khảo kinh nghiệm của các nước về áp dụng nguyên tắc tranh tụngtrong các mô hình TTHS cụ thể, rút ra kinh nghiệm cho xây dựng và áp dụngnguyên tắc tranh tụng trong điều kiện Việt Nam Từ đó xác định yêu cầu cơbản và những điều kiện cần thiết phục vụ cho việc đề xuất các định hướng,giải pháp thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTHS trên phương diện lýluận, pháp lý, thực tiễn Hệ thống pháp luật theo truyền thống pháp luật nướcXHCN và có ảnh hưởng của truyền thống pháp luật các nước châu Âu lục địanên mô hình tố tụng xét hỏi có tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình tốtụng tranh tụng Luận án nghiên cứu tranh tụng với tính chất là một nguyêntắc cơ bản trong TTHS và đặt chúng trong mô hình TTHS cụ thể của ViệtNam thời điểm BLTTHS năm 2003 đang có hiệu lực Đây là một tài liệu thamkhảo có ích với phần lý luận và quan điểm, giải pháp của luận án

+ “Các chức năng trong tố tụng hình sự ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Mạnh Hùng [44] đưa ra một số lý luận về

chức năng của TTHS; thực trạng các vấn đề đặt ra đối với các chức năng

Trang 32

TTHS, qua đó đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật

về chức năng của TTHS đáp ứng yêu cầu về CCTP và xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN ở nước ta Tác giả đã phân tích làm rõ về cơ sở lý luận, ýnghĩa nội hàm, phạm vi của từng chức năng trong TTHS, xác định được 3chức năng cơ bản của TTHS là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử, mỗichức năng có nhiều chủ thể tham gia, mỗi chủ thể có tư cách khác nhau trongTTHS Trong luận án, tác giả nêu ra chức năng bào chữa hiện diện trong 3giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố và xét xử), là trao cho người bị buộc tội cơhội được bảo vệ quyền lợi chính đáng, hỗ trợ họ tự vệ trước các cáo buộc củabên buộc tội, từ đó phản ánh khách quan nguyên tắc công bằng giữa các bên.Luận án đã đổi mới quan điểm về nhận thức mô hình TTHS ở Việt Namkhông còn nguyên nghĩa là mô hình thẩm vấn mà đã có sự kết hợp hài hòacủa 02 mô hình tố tụng: thẩm vấn và tranh tụng Tác giả cũng đưa ra đượcmột số nguyên tắc và một số giải pháp đổi mới chức năng tố tụng trong môhình TTHS ở Việt Nam Luận án mới chỉ dừng lại trong việc đánh giá chứcnăng từng mô hình tố tụng, các chủ thể thực hiện chức năng ấy trong việc bảo

vệ quyền con người, quyền công dân mà không đề cập đến quyền, nghĩa vụcủa Luật sư trong TTHS

+ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Hiền [37] Tác giả đã đưa ra cơ

sở lý luận, cơ sở thực tiễn và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng nguyên tắctranh tụng trong TTHS Việt Nam và thực trạng, quan điểm giải pháp xâydựng nguyên tắc tranh tụng trong TTHS ở Việt Nam hiện nay Luận án chỉtập trung vào nguyên tắc tranh tụng dưới góc độ nghiên cứu lịch sử Nhà nước

và pháp luật; đóng góp trong vấn đề xác lập khái niệm nguyên tắc tranh tụngtrong TTHS với những đặc điểm, nội dung, vai trò, ý nghĩa cũng như mốiquan hệ của nguyên tắc này với một số nguyên tắc khác của luật TTHS; chỉ ranhững bất cập, nguyên nhân trong quy định và thực tiễn áp dụng về tranh tụng

Trang 33

của pháp luật TTHS Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với các nguyêntắc khác trong TTHS Việt Nam: không ai bị coi là có tội khi chưa có bản ánkết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Nguyên tắc này đã được sửa đổi,

bổ sung trong luật TTHS 2015: không ai bị coi là có tội cho đến khi đượcchứng minh theo thủ tục luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệulực pháp luật)

+ Bài “Vai trò của Luật sư bào chữa trong tố tụng hình sự theo mô hình tranh tụng ở một số nước” của Nguyễn Ngọc Khánh [48] đề cập đến một

số vấn đề mang tính chất chung nhất về vai trò của luật sư bào chữa trong tốtụng hình sự theo mô hình TTHS tranh tụng- một mô hình TTHS đang được

áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Đồng thời, tác giả đưa ra những bài họckinh nghiệm giúp các nhà làm luật tham khảo trong quá trình xây dựng vàhoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự ở Việt Nam

+ Bài Vai trò của Luật sư trong hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 [76] của Bùi Thị Chinh Phương nêu ra Bộ

luật TTHS 2015 đã có nhiều quy định tiến bộ nhằm nâng cao vị thế, vài trò vàquyền của luật sư; vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự gópphần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo đồng thời giúp choviệc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật Bài viết cũng nêu ra một sốyêu cầu đối với luật sư để bảo đảm tranh tụng hiệu quả và bảo đảm quyền, lợiích hợp pháp của thân chủ Bài viết này là một tài liệu tham khảo liên quanđến đề tài ở khía cạnh góp phần bảo đảm quyền của luật sư trong tranh tụngtại phiên tòa hình sự

+ Bài Quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra [41]của tác giả Phan Trung Hoài nêu ra những khó

khăn thực tế khi thực hiện quyền gặp, làm việc của luật sư với người bị tạmgiữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra mặc dù quyền này đã được Hiến pháp

2013, Bộ luật TTHS 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Thông tư

Trang 34

liên tịch số 01/2018/TTLT ngày 23-1-2018 của Bộ Công an - Bộ Quốc phòng

- TAND tối cao - Viện KSND tối cao quy định cụ thể, rõ ràng Nhiều cơquan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra vẫnnhận thức và yêu cầu luật sư thực hiện quyền này với người bị tạm giữ, tạmgiam phải được sự chấp thuận của cơ quan điều tra hoặc theo kế hoạch hỏicung của điều tra viên; hay trong các buổi làm việc, hỏi cung, thường các luật

sư không được đặt câu hỏi, hoặc nội dung hỏi cũng bị kiểm soát,… mặc dùkhông có bất cứ từ ngữ nào quy định về việc luật sư gặp khách hàng tronggiai đoạn điều tra bắt buộc phải có mặt điều tra viên hoặc phải được sự chấpthuận trước của cơ quan điều tra Qua đó, tác giả đề xuất cơ quan có thẩmquyền sớm ban hành VBQPPL để kịp thời hướng dẫn, quán triệt cơ quan,người tiến hành tố tụng trong bảo đảm quyền gặp riêng của luật sư với người

bị tạm giữ, tạm giam Đây cũng là một phân tích thực tế hữu ích liên quan đến

đề tài nghiên cứu nhằm bảo đảm dân chủ hóa hoạt động tố tụng, tôn trọng sựthật khách quan và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, côngdân trong các vụ án hình sự

- Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện pháp luật

về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự

+ Đề tài cấp Bộ Tư pháp “Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng, nhucầu và định hướng phát triển” do TS Nguyễn Văn Tuân chủ nhiệm đề tài[109] đã chỉ ra sự cấp thiết phải nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện vềthực trạng nhu cầu hoạt động dịch vụ pháp lý ở Việt Nam với đội ngũ luật sư

là lực lượng nòng cốt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Đề tài đãnghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý; nghiên cứuđánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về dịch vụ pháp lý ở ViệtNam, bên cạnh nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và thực tiễn của các nước

về dịch vụ pháp lý mà chủ yếu do các tổ chức hành nghề luật sư và luật sưthực hiện bao gồm cả dịch vụ tư vấn và tham gia tố tụng để rút ra bài học kinh

Trang 35

nghiệm ở nước ta Mục tiêu hướng đến bảo đảm các quyền và lợi ích hợppháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội, góp phần tiến tới xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân thông qua xây dựng mô hìnhdịch vụ pháp lý phù hợp đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Kết quả nghiên cứucủa đề tài là cơ sở để bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống các văn bản phápluật có liên quan trong đó có LLS 2006 Đề tài này có giá trị tham khảo rấthữu ích đối với luận án ở khía cạnh chức năng xã hội quan trọng của luật sưViệt Nam thông qua các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm hoạtđộng tham gia tố tụng trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.

+ Cuốn sách “Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam” [30] của

Nguyễn Minh Đoan chuyên khảo về thực hiện và áp dụng pháp luật, gồm 05

chương, trong đó: Chương 1- Thực hiện pháp luật bàn về khái niệm, mục

đích, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật, các hình thức thực hiện pháp luật.Đưa ra quan điểm về thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiệnthực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trởthành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật (trang 15);được tiến hành thông qua các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp

luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật (trang 15-18) Chương 2 Áp dụng pháp luật Chương 3 Quy trình thực hiện và áp dụng pháp luật thì quy

trình thực hiện pháp luật gồm hai giai đoạn: chuẩn bị đưa văn bản hay quyđịnh pháp luật vào thực tiễn và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trên

thực tế Chương 4 - Những bảo đảm thực hiện pháp luật, tác giả dành chương

này để phân tích một số yếu tố và điều kiện cơ bản bảo đảm, gồm: Chất lượngcủa hệ thống pháp luật thực định; trình độ ý thức pháp luật trong xã hội và các

điều kiện và môi trường thực hiện pháp luật (trang 49-75) Chương 5- Hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam luận bàn về các tiêu chí đánh giá hiệu quả

thực hiện pháp luật, thực trạng hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam vàmột số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Trang 36

(trang 119-161) Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích trong phần cơ sở lýluận về thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS ởViệt Nam.

+ PGS TS Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên), “Thực hiện pháp luật những vấn đề lý luận và thực tiễn” [67] Trong công trình này các tác giả đã

-phân tích các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật (khái niệm, chủ thể, nộidung, hình thức, các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật), những vấn đề đặt ratrong thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam Đây là những vấn đề lý luận

cơ bản về thực hiện pháp luật có giá trị tham khảo khi nghiên cứu cơ sở lýluận của việc thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ luật sư trong HĐTTHS.+ Vấn đề thực hiện pháp luật cũng được đề cập và phân tích tương đối

sâu dưới góc độ xã hội học pháp luật có cuốn sách: Xã hội học pháp luật [70] của TS Ngọ Văn Nhân (Tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung), Nxb.

Hồng Đức, Hà Nội, 2012 (408 trang) Cuốn sách dành 02 chương phân tíchvấn đề thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật dưới góc độ xã hội học pháp

luật (Chương VII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện pháp luật và Chương VIII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động áp dụng pháp luật) Tại

hai chương này, tác giả trình bày khái quát về hoạt động thực hiện pháp luật

và áp dụng pháp luật; phân tích nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội củahoạt động thực hiện pháp luật như: sự phù hợp giữa các quy tắc của chuẩnmực pháp luật với lợi ích của chủ thể thực hiện pháp luật; cơ chế thực hiệnpháp luật; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật Tác giảphân tích nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động áp dụngpháp luật về mối quan hệ giữa chính trị và áp dụng pháp luật; mối quan hệgiữa chuẩn mực pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật; vai trò của cácnhân tố chủ quan và khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật; vấn đềhậu áp dụng pháp luật Cuốn sách cũng dành nhiều trang viết để phân tích,luận giải những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp

Trang 37

luật Cuốn sách có giá trị tham khảo đối với việc khảo sát thực tiễn phục vụviệc viết luận án ở những vấn đề có liên quan.

+ Tài liệu “Khảo sát Luật sư chỉ định theo pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn tại Việt Nam” do Văn phòng luật sư NHQuang & Cộng sự thực hiện

trong khuôn khổ của Dự án “Tăng cường Năng lực Hội Luật Gia Việt Nam”

do UNDP tài trợ [121] đã nghiên cứu về quyền bào chữa và người bào chữachỉ định tại Việt Nam theo Công ước về Quyền dân sự và Chính trị (ICCPR)trong các vụ án mà theo quy định của pháp luật đòi hỏi phải có người bàochữa thông qua khảo sát thực tế tại các Đoàn luật sư ở Việt Nam Đây là mộttài liệu góp ý trong việc xây dựng dự thảo Bộ luật TTHS 2015 Qua đó, đãlàm rõ “quyền được xét xử công bằng”,“quyền bào chữa” theo ICCPR, có liênquan trực tiếp đến luật sư và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của luật sư, đặcbiệt là luật sư bào chữa chỉ định, vì vậy là tài liệu tham khảo hữu ích đối với

đề tài luận án

+ “Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS” của

Hoàng Thị Sơn [93] phân tích vai trò của người bào chữa trong TTHS, tậptrung vào sự tham gia tố tụng của luật sư với tư cách người bào chữa là chính,không đi sâu phân tích đối với bào chữa viên nhân dân và người đại diện Luận

án cơ bản đã giải quyết có tính hệ thống các vấn đề về thực hiện quyền bàochữa của bị can, bị cáo trong TTHS, đưa ra được các khái niệm quyền bào chữa,

cơ sở để quy định quyền bào chữa, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiệnquyền bào chữa ở nước ta và đưa ra các kiến nghị của tác giả về hoàn thiệnpháp luật và giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa

+ Đề tài “Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” [120] của Ngô Thị Ngọc Vân đưa ra khái niệm Hoạt

động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cáccông việc, thao tác nghề nghiệp do luật sư tiến hành trong giai đoạn xét xử sơthẩm vụ án hình sự trên cơ sở quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức luật

Trang 38

sư nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội hoặc giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho người bị buộc tội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của

họ, góp phần xác định sự thật vụ án Hoạt động bào chữa của Luật sư trongxét xử sơ thẩm góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả xét xử vụ án hình sưnhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế trong thực tiễn Nguyên nhân tồn tại đó

do bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức và tổ chức thựchiện hoạt động bào chữa trên thực tế Tác giả nhận định trong quá trình cảicách tư pháp cần củng cố, tăng cường tổ chức và hoạt động của Luật sư vàphải đặt trong tổng thể cải cách tư pháp, trên cơ sở quán triệt quan điểm củaĐảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

+ Đề tài “Bào chữa chỉ định theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” [38]

của Trương Minh Hiếu cơ bản trình bày được các vấn đề lý luận về bản chấtpháp lý, xác định được giới hạn và cách thức điều chỉnh của pháp luật TTHSđối với chủ thể đặc biệt này và luật sư trong vai trò người bào chữa chỉ địnhchiếm đa số; một quy định có tính nhân đạo của Nhà nước và góp phần vàoviệc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Người viết đãđưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền bào chữa tốt hơn củangười dưới 18 tuổi phạm tội

+ “Thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật” [115] của Đào Trí

Úc luận bàn về bản chất việc thực hiện pháp luật là sự chuyển hóa các yêu cầuchung được xác định trong các nguyên tắc và quy phạm pháp luật vào trongcác hành vi cụ thể của các chủ thể Thực hiện pháp luật là hướng đến kết quảtích cực của quá trình điều chỉnh pháp luật, mà điều chỉnh pháp luật cần bảođảm hai yêu cầu: thực hiện hành vi hợp pháp hoặc không thực hiện hành vitrái pháp luật Ngoài ra, quá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luậtchính là thước đo hiệu quả điều chỉnh pháp luật Với những yếu tố thuộc vềnội dung và hình thức của quá trình thực hiện pháp luật cũng như các yếu tố

Trang 39

mang tính tác nhân của quá trình đó, tác giả đã thể hiện được vị trí và tầmquan trọng của thực hiện pháp luật trong hệ thống pháp lý Cụ thể, thực hiệnpháp luật là một phạm vi độc lập (các hình thức thực hiện) gắn với hoạt độngcủa các chủ thể tương ứng, theo đó là những nguyên tắc, những phạm vi thẩmquyền nội dung phương pháp và trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật tươngứng và thích hợp; thực hiện pháp luật là tổng thể những hoạt động và hành vihết sức đa dạng ở những cấp độ khác nhau, từ hành vi của cá nhân công dântrong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể pháp lý của mình, việcthực hiện các điều kiện tổ chức và hoạt động của pháp nhân, hay thực hiệncác thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan công quyền… cho đến hoạt độnglập pháp của Quốc hội Tác giả nhận định thực hiện pháp luật dù hiểu theonghĩa là một quá trình hay theo nghĩa là kết quả của quá trình đó thì đều đóngvai trò quan trọng đối với việc hình thành ý thức pháp luật và văn hóa phápluật Như vậy, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật với tính cách là những tácnhân thúc đẩy hiệu quả thực hiện pháp luật cũng chịu sự tác động mà chínhquá trình và kết quả của việc thực hiện pháp luật tạo ra.

Theo tác giả thì sử dụng pháp luật thông qua việc sử dụng các thẩmquyền luật định cũng không thể là một sự tùy tiện mà ngược lại cần phải đượccân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng Hoạt động áp dụng pháp luật cũng góp phần

bổ sung pháp luật, làm phong phú các nguồn sáng kiến pháp luật, gắn bó chặtchẽ với nhu cầu giải thích pháp luật, có tiềm năng đối với việc bổ sung sửađổi pháp luật hoặc ban hành pháp luật mới Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra vấn

đề cơ chế thực hiện pháp luật và những điều kiện bảo đảm hiệu quả thực hiệnpháp luật Trong đó, thực hiện pháp luật là hành vi và hoạt động của conngười, dù họ là cá nhân, công dân hay cán bộ, công chức của cơ quan côngquyền Đối tượng của việc thực hiện pháp luật là con người Nhận thức vềpháp luật, mức độ chia sẻ những giá trị và đòi hỏi của các quy định pháp luậtcần được thực hiện cũng là tiền đề quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với

Trang 40

thực hiện pháp luật Có thể thấy rằng, bài viết đã có những đóng góp nhấtđịnh về lý luận thực hiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật ở Việt Nam.Bên cạnh những công trình khoa học nêu trên thì cũng có những bài viết

có liên quan đến thực hiện pháp luật có thể kể đến như: GS TSKH Đào Trí

Úc, Xã hội học thực hiện pháp luật - những khía cạnh nhận thức cơ bản,

[114] Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02/2005, Hà Nội; TS Tạ Thị Minh

Lý, Bàn về tổ chức thực hiện pháp luật, [66], Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,

số 2+3/2011, Hà Nội; PGS.TS Phan Trung Lý, Bảo đảm thi hành pháp luật ở địa phương - khó khăn, thuận lợi và giải pháp [65], Tạp chí Tổ chức Nhà

nước, số tháng 4/2009, Hà Nội; TS Nguyễn Sĩ Dũng và ThS Hoàng Minh

Hiếu, Việc tổ chức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, [20], Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 13/2010, Hà

Nội Nhóm các bài viết này đã nêu khái quát về hoạt động thực hiện pháp luậttrong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể như trong bối cảnh xây dựng nhà nướcpháp quyền hay tại địa phương; luận bàn về cách tổ chức thực hiện cũng nhưcác giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật theo các hình thức cụ thể

Những công trình trên đây cũng gợi mở cho tác giả những nội dung lýluận về thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN ở nước ta để vận dụng vào nghiên cứu đề tài “Thựchiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự

ở Việt Nam hiện nay”

1.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Kết quả tình hình nghiên cứu

Thứ nhất, pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư và thực hiện pháp

luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư trong HĐTTHS có vai trò quan trọngtrong bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộctội (chủ yếu), bị hại, đương sự - người yếu thế trong vụ án hình sự, góp phần

Ngày đăng: 16/05/2021, 21:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư (2009), Chỉ thị số 33-CT/TW, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 33-CT/TW, Tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2009
2. Ban Bí thư TW Đảng (2019), Báo cáo của Ban chỉ đạo cấp Trung ương tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 33, tr.5, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chỉ đạo cấpTrung ương tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 33
Tác giả: Ban Bí thư TW Đảng
Năm: 2019
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết số 03-NQ/HNTW phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03-NQ/HNTW phát huy quyền làm chủ của nhân dân,tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trongsạch, vững mạnh
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1997
4. Bắc Bình (2019), Luật sư lãnh án 12 năm tù vì chiếm đoạt tiền của thân chủ, tại trang https://thanhnien.vn/thoi-su/luat-su-lanh-an-12-nam-tu-vi- chiem-doat-tien-cua-than-chu-1152952.html, [truy cập ngày 28/11/2019] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư lãnh án 12 năm tù vì chiếm đoạt tiềncủa thân chủ
Tác giả: Bắc Bình
Năm: 2019
5. Bộ Công an (2011), Thông tư 70/2011/TT-BCA hướng dẫn quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 70/2011/TT-BCA hướng dẫn quyđịnh của Bộ Luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyềnbào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
7. Bộ Tư pháp (1989), Thông tư 313-TT/LS Hướng dẫn thi hành Quy chế ĐLS, Điểm 4 Mục II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 313-TT/LS Hướng dẫn thi hànhQuy chế ĐLS, Điểm 4 Mục II
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1989
8. Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo số 46/BC-BTP ngày 06/3/2012 về tổng kết 5 năm thi hành LLS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 46/BC-BTP ngày 06/3/2012 vềtổng kết 5 năm thi hành LLS
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
10. Chính phủ (2011), Quyết định số 1072/2011/QĐ-TTg ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1072/2011/QĐ-TTg ngày05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triểnnghề luật sư đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
11. Chính phủ (2013), Nghị định 123/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 123/2013/NĐ-CP Quy định chitiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
12. Christoph Saffeling (2003), Toward an international criminal procedure, Oxford University Press, 1st edit Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toward an international criminalprocedure
Tác giả: Christoph Saffeling
Năm: 2003
13. Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và Liên đoàn Luật sư Việt Nam (VBF) (2011), “Báo cáo Nghiên cứu Quyền bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam - UNDP Việt Nam 2010”, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo Nghiên cứu Quyền bàochữa trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam - UNDP Việt Nam2010”
Tác giả: Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và Liên đoàn Luật sư Việt Nam (VBF)
Năm: 2011
14. Cộng hòa Liên bang Đức (1987), Bộ luật Tố tụng hình sự, Đức . 15. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự", Đức.15. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), "Hiến pháp
Tác giả: Cộng hòa Liên bang Đức (1987), Bộ luật Tố tụng hình sự, Đức . 15. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1946
16.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1959), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1959
17.Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1980
18. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1992
19. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt Nam (2013), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Viêt Nam
Năm: 2013
20. Nguyễn Sĩ Dũng và ThS. Hoàng Minh Hiếu (2010), Việc tổ chức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 13, trang 11-14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc tổchức thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng Nhà nước phápquyền ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng và ThS. Hoàng Minh Hiếu
Năm: 2010
21. Nguyễn Ngọc Duy (2013), “Ky năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự và chỉ dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự - dành cho thẩm phán, thẩm tra viên, hội thẩm, kiểm tra viên, luật sư, các học viên tư pháp”, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ky năng nghiên cứu hồ sơ vụ ánhình sự và chỉ dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự - dành cho thẩmphán, thẩm tra viên, hội thẩm, kiểm tra viên, luật sư, các học viên tưpháp”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TWngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm côngtác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về vhiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TWngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về vhiến lược xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w