1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Chuyên đề Văn 11 CHUYÊN đề 2 THƠ văn VIỆT NAM TRUNG đại (THẾ kỷ XVII – XIX) – (tiếp)

12 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thảo luận, làm rõ triết lí, quan niệm sống tích cực của các nhà thơ: Khao khát lập công danh, khẳng định bản lĩnh, cái tôi của mình; không ngại gian khó trên đường đời; đề cao đạo đức,

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 2 THƠ VĂN VIỆT NAM TRUNG ĐẠI (THẾ KỶ XVII – XIX) – (tiếp)

MỤC TIÊU

1 Kiến thức

- Giới thiệu các nét chính về tác giả (Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đinh Chiểu) và các thể hát nói, truyện Nôm, thể hành

- Thảo luận, làm rõ triết lí, quan niệm sống tích cực của các nhà thơ: Khao khát lập công danh, khẳng định bản lĩnh, cái tôi của mình; không ngại gian khó trên đường đời; đề cao đạo đức, nhân nghĩa

2 Kĩ năng

- Làm rõ đặc điểm thể loại hát nói, thể hành, truyện Nôm

- Nói/ viết được đoạn văn/bài văn phân tích nhân vật trữ tình trong tác phẩm

- Biết giải mã các từ ngữ khó, hình ảnh ẩn dụ, điển cố trong thơ ca

A VĂN BẢN VĂN HỌC

I LÝ THUYẾT TRỌNG TÂM

BÀI CA NGẤT NGƯỠNG Nguyễn Công Trứ

1 Ngất ngưỡng khi làm quan

- Ý thức rõ về trách nhiệm với đời; mà muốn thực thi trách nhiệm cần có vị trí tương xứng, vì thế ông quyết định ra làm quan dù biết làm quan là mất tự do

- Tự nhận là “tài bộ” Tài năng đó được minh chứng bằng chính cuộc đời oanh liệt hiển hách mà nhà thơ vô cùng tự hào (thủ khoa, tham tán, tổng đốc Đông, đại tướng, Phủ Doãn Thừa Thiên)

- Lúc làm quan thì hiển hách, lúc từ quan thì đơn giản, không cần nghi lễ, chỉ có “đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”

2 Ngất ngưỡng khi về hưu

- Xác định ra làm quan là để cống hiến, nhưng cống hiến phải đi đôi với hưởng thụ;

- Nguyễn Công Trứ làm quan nhưng sống thoải mái, giữ nguyên cá tính, không cố tỏ ra đạo mạo theo phép tắc

Trang 2

- Cuộc sống cá nhân với lối sống phóng túng, vượt ngoài khuôn khổ dẫn đến những hành động bị coi là phản cảm

- Những hành động đó đều là cách thách thức, chế giễu những lễ nghi hà khắc, ủng hộ đời sống tự do

3 Lẽ sống ngất ngưỡng

- “Ngất ngưỡng” là lối sống của kẻ tự tin; dám tự tin là vì: có tài năng hơn người, và tài năng đó đã dùng vào việc giúp đời

- Kẻ có tài dám sống, dám hưởng thụ cuộc sống của mình, dám “chơi” hết mình, chơi cũng phải khác người

- Sống “ ngất ngưỡng”, con người coi nhẹ chuyện được – mất, không bận lòng lời khen – chê của người đời

- Lối sống ngất ngưỡng phải tuân theo những nguyên tắc đạo đức nền tảng (nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung); cần bản lĩnh thực sự

BÀI CA NGẮN ĐI TRÊN BÃI CÁT

Cao Bá Quát

1 Giới thiệu

+ Tác giả

- Cao Bá Quát (1809? - 1855), được xưng tụng là Thánh Quát

- Thơ ca trữ tình, nội dung và ngôn từ táo bạo, khuynh hướng phê phán

+ Hoàn cảnh sáng tác

- Bối cảnh lịch sử: xã hội bảo thủ trì trệ, lối học khoa cử tầm chương trích cú, con người chỉ nghĩ đến quan trường để kiếm tìm danh lợi

- Hoàn cảnh cụ thể: hình thành trong những lần từ Hà Nội vào Huế thi Hội, băng qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng

+ Chủ đề: Sự chán ghét con đường mưu cầu danh lợi, và khao khát một xã hội mới tiến bộ

hơn

2 Hình tượng bãi cát – con đường danh lợi

- Bãi cát tượng trưng cho con đường danh lợi - con đường mà xã hội đang nô nức theo đuổi (đèn sách, đi thi, làm quan)

Trang 3

- Cuộc hành trình trên bãi cát cũng chính là cuộc hành trình của con người trên đường đời: vất vả chỉ vì mù quáng theo đuổi những mục tiêu vô nghĩa

3 Khao khát thoát khỏi vòng danh lợi

- Nhà thơ thấy rõ thế lưỡng nan của mỗi người: con đường bằng phẳng (danh lợi) thì mờ mịt, con đường khác thì nhiều nguy cơ bất trắc

- Nhận ra con đường mình đang đi là “cùng đồ” (đường cùng), con người khao khát thoát khỏi nó, tự do đi con đường của mình

- Câu hỏi cuối bài vừa là tự chất vấn, vừa chất vấn mỗi người về cách sống, về lựa chọn

4 Nghệ thuật

- Hình tượng bãi cát ẩn dụ cho con đường danh lợi tạo ấn tượng trực quan mà có ý nghĩa sâu sắc

- Thể ca hành (hành) với nhịp điệu độc đáo mô phỏng hình tượng bãi cát và những bước chân nặng nề

LẼ GHÉT THƯƠNG Nguyễn Đình Chiểu

1 Giới thiệu

+ Tác giả

- Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), là thầy thuốc, thầy giáo đồng thời là một nhà thơ xuất sắc

- Thơ văn đề cao đạo đức làm người, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí chiến đấu chống ngoại xâm

- Lời thơ mộc mạc, bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày

+ Xuất xứ: Trích “Truyện Lục Vân Tiên” (câu 473 - 504), kể lại cuộc hội thoại giữa ông

Quán và nhóm Vân Tiên trước lúc họ vào trường thi

2 Đối tượng ghét – thương

- Đối tượng bị căm ghét: những đời vua, triều đại khi cai trị đã gây đau thương cho người dân (Kiệt, Trụ, U, Lệ, Ngũ Bá, Thúc Quý)

- Đối tượng thương xót là những người có tài, có tâm giúp dân nhưng không được trọng dụng: (Khổng Tử, Hàn Dũ, Đổng Trọng Thư, Gia Cát Lượng, Đào Tiềm)…

Trang 4

- Đối tượng ghét - thương không phải là cá nhân ngoài đời, mà là những triều đại, nhân vật lịch sử có thật

3 Lẽ ghét – thương

- Ông Quán là con người phân minh, yêu ghét rõ ràng, đã ghét là “ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”

- Quan tâm đến số phận của người dân, của những cá nhân bất hạnh hơn là chuyện thịnh suy của các triều đại

- Mặc dù nói “vì chứng hay ghét cũng là hay thương”, nhưng rõ ràng phần “thương” của ông Quán vẫn nhiều hơn

4 Nghệ thuật

- Màu sắc Nam Bộ thể hiện qua các từ địa phương

- Cách sử dụng điển tích điển cố hàm súc, giàu giá trị

- Thể thơ lục bát có ưu thế khi thể hiện cảm xúc sôi nổi, nhiệt tình, bộc trực

II BÀI TẬP CỦNG CỐ

Bài 1:

Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng.

(Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ)

Hai câu thơ thể hiện một triết lý sống, đó là gì? Phân tích hai câu thơ để làm rõ Anh/ chị đánh giá như thế nào về triết lý sống ấy?

Gợi ý trả lời:

- Triết lý sống: cống hiến, tận hiến cho xã hội, làm những điều phi thường xứng đáng với tài năng phi thường

- Đánh giá: triết lý sống giản dị, tích cực, lạc quan, tuy nhiên chỉ có những người có bản lĩnh và ý thức sâu sắc về giá trị cá nhân mới có thể sống như vậy

- Hai câu thơ không chỉ cho thấy một con người cao cả mà còn thể hiện tâm hồn yêu tự

do, ghét cuộc sống gò bó khuôn thúc, hoàn toàn tự tin vào khả năng của mình, quyết đoán khi hành xử và dám chấp nhận hậu quả của mình

Trang 5

Bài 2: Ý nghĩa của hình ảnh “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” trong bài Bài ca ngất

ngưởng.

Gợi ý trả lời:

- Màn từ quan không kèn không trống, không nghi thức rườm rà, đúng với triết lý sống

“vũ trụ nội mạc phi phận sự”, không ham hư vinh

- Thời trẻ Nguyễn Công Trứ từng làm tướng quân xông pha trận mạc, cưỡi ngựa oai phong, về già không còn sức cưỡi ngựa cho nên cưỡi bò, nhưng vẫn đeo nhạc ngựa cho bò

- Hình ảnh thoáng trông có vẻ hài hước, chính là một hình thức giễu nhại, thách thức dư luận thường coi “một khiêm tốn bằng bốn tự kiêu”

- Lấy mo cau che mông bò, gọi là “che miệng thế gian”: thể hiện rõ ràng thái độ kiêu ngạo, xem thường thị phi, nhưng đó là sự kiêu ngạo có cơ sở

Bài 3: “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”, có ý nghĩa như thế nào?

Gợi ý trả lời:

- “Bụt” có thể xem là nói chung các thần thánh, các thế lực siêu nhiên vượt ngoài suy nghĩ của con người

- “Bụt” ở đây hiện lên với một chân dung gần gũi, thân thiện, không kiểu cách, thái độ của “Bụt” cũng khoan hòa, hiền từ khi chứng kiến những hành động của con người

- Liên kết với hai câu thơ trên, hình ảnh “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng” đối lập hai chân dung: một bên là dư luận (người thường) tỏ ra gay gắt đến mức đạo đức giả, một bên là những thánh thần thực sự lại vô cùng khoan dung, cởi mở với con người

- Câu thơ ẩn chứa một cái cười nhẹ, cũng là sự chế giễu sâu cay những lề luật hà khắc

vô lối trong xã hội

Bài 4: Chân dung Nguyễn Công Trứ hiện lên như thế nào trong tác phẩm Bài ca ngất

ngưởng?

Gợi ý trả lời:

Chân dung Nguyễn Công Trứ, giống như nhan đề bài thơ, là chân dung “ngất ngưởng”

- Vô cùng kiêu ngạo, nhưng là sự kiêu ngạo của kẻ có tài, sống ngay thẳng và có sự nghiệp lẫy lừng

Trang 6

- Con người tự nhiệm, tự nhận lãnh lấy trách nhiệm với cuộc đời, trách nhiệm với những quyết định của mình

- Cuộc sống cá nhân nhiều thị phi, có đôi lúc hành xử không theo lẽ thường

- Thường không quan tâm đến dư luận thị phi, thậm chí có xu hướng thức thức dư luận

- Bề ngoài hành xử phóng khoáng, bên trong vẫn có những quy tắc đạo đức cơ bản làm

“kim chỉ nam” cho hành động

=> “Ngất ngưởng” không phải vô tổ chức, tùy tiện, muốn sống “ngất ngưởng” con người càng cần có bản lĩnh lớn hơn ai hết

Bài 5: Phân tích hình tượng bãi cát trong Sa hành đoản ca của Cao Bá Quát.

Gợi ý trả lời:

Hình tượng bãi cát vừa là hình ảnh tả thực, vừa ẩn dụ cho con đường danh lợi, con đường khoa cử

- Những bãi cát dài nối tiếp nhau (trường sa, phục trường sa), con người đi mãi không thấy điểm dừng

- Cuộc hành trình nhọc nhằn vô nghĩa vì không thể tiến bộ, mãi dậm chân một chỗ (đi một bước như lùi một bước)

- Không thể dừng lại nghỉ ngơi, đến lúc xế chiều, khi về già vẫn phải bước tiếp, “khách nước mắt lã chã rơi”

- Con người muốn quên đi cuộc hành trình vô nghĩa đó, cứ bước tiếp (học tiên ông phép ngủ kĩ), nhưng không thể được, ta phải thức nhận mà chịu đựng đau khổ vô nghĩa

- Đích đến “quán rượu đầu gió có rượu ngon”, chính là bả vinh hoa phú quý, làm con người nhụt chí, tha hóa, quên mất ý nghĩa thực sự của cuộc sống

=> Bãi cát là nơi con người dễ sa lầy, cũng giống như con đường danh lợi là nơi làm hỏng con người

Bài 6:

Trường sa, trường sa nại cừ hà Thản lộ mang mang úy lộ đa.

Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp

Trang 7

Nam sơn chi nam ba vạn cấp Quân hồ vi hồ sa thượng lập.

Mạch thơ có sự chuyển biến như thế nào ở đoạn thơ này? Sự chuyển biến đó thể hiện ở các yếu tố không gian, thời gian, cảm xúc của nhân vật trữ tình v.v như thế nào?

Gợi ý trả lời:

Nửa đầu bài thơ là nỗi chán chường, thất vọng vì con đường danh lợi, nửa sau bài thơ là nỗi phẫn uất, hoang mang, và nhu cầu khao khát vượt thoát

- Nhịp thơ nhanh, gấp, hào hứng, giàu cảm xúc

- Bãi cát không còn thuần túy là khách thể đối tượng mô tả, mà trở thành chủ thể ngang hàng với nhân vật trữ tình, để con người dốc bầu tâm sự

- Phần trên, nhà thơ chỉ thấy một con đường, đến đây nhà thơ thấy hai con đường: thản

lộ (con đường bằng phẳng) và úy lộ (con đường gian khổ, nhiều bất trắc)

- Sự bế tắc lên đến đỉnh điểm khi nhà thơ khao khát hát khúc “đường cùng”, nhưng bế tắc chỉ là xúc tác để con người nhận ra phương hướng đúng đắn

- Ba câu thơ cuối mở ra không gian khoáng đạt cao rộng; phép đối có tác dụng kéo dãn, kéo căng không gian, mở rộng tầm nhìn của con người, cũng là cho thấy thế giới rộng lớn bao la không bó hẹp ở một con đường nào

- Câu hỏi “Quân hồ vi hồ sa thượng lập?”: “quân” là tiếng gọi trân trọng dành cho người khác, dịch là “anh” thể hiện sự đối thoại; câu hỏi này vừa là tự hỏi, vừa hướng đến những

kẻ khác - những người cũng thức nhận bản chất của con đường danh lợi - nhưng chưa có dũng khí hành động, hãy dám thay đổi, dám từ bỏ để tự do sống cuộc đời ý nghĩa hơn

Bài 7: Ông Quán trong đoạn trích Lẽ ghét thương liệt kê 4 lần “ghét”, bao gồm những đối

tượng nào? Nhận xét về những đối tượng đó?

Gợi ý trả lời:

- Đối tượng căm ghét là những triều đại/ thời kì lịch sử: Kiệt, Trụ, U, Lệ, Ngũ Bá, Thúc Quý

- Kiệt, Trụ, U, Lệ là bốn hoàng đế nổi tiếng trong sử sách là hôn quân bạo chúa, cách nhìn của ông Quán tương đồng với cách nhìn của Nho gia

Trang 8

- Ngũ Bá, Thúc Quý không phải là đối tượng phê phán quá gay gắt của sử sách, nhưng theo quan điểm của ông Quán đó cũng là những thời đại đáng căm giận vì “chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn”, “sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân”

- Như vậy, ông Quán không đánh giá lịch sử dựa trên quan điểm Nho giáo thuần túy, điều ông quan tâm trước nhất là đời sống nhân dân của một triều đại/ thời kì lịch sử, lấy đó làm tiêu chí đánh giá

Bài 8: Tình thương của nhân vật ông Quán trong (Lẽ ghét thương) dành cho những ai?

Anh (chị) có nhận xét gì về tình thương của ông Quán?

Gợi ý trả lời:

- Ông Quán dành 16 câu để kể về những người đáng thương trong sử sách, như: Khổng

Tử, Nhan Hồi, Gia Cát Lượng, Đổng Trọng Thư, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Chu Đôn Di, Trình Hạo

- Tất cả những nhân vật được kể tên đều là những nhân vật lịch sử nổi tiếng với tài năng hơn người, sự nghiệp lớn lao vĩ đại, danh tiếng lẫy lừng, thường được người đời tôn kính/ sùng bái, coi như bậc thầy

- Ông Quán nhìn những nhân vật lịch sử này ở khía cạnh khác: họ đều là những người bất đắc chí, lỡ dở sự nghiệp, có những người qua đời mà vẫn chưa đạt được ước nguyện của mình, sau khi qua đời mới được thừa nhận

=> Đều là những người đau khổ lúc sinh thời, sự nghiệp có thể lớn nhưng không trọn vẹn vì hoài bão không thành, tài năng càng lớn, đau khổ càng nhiều

- Tình thương của ông Quán xuất phát từ chính cảnh ngộ của tác giả Nguyễn Đình Chiểu (muốn làm quan, giúp nước cứu đời nhưng hoàn cảnh không cho phép)

=> Giữa Nguyễn Đình Chiểu và những nhân vật kia nảy sinh lòng đồng cảm của những người chung cảnh ngộ

- Phẩm chất chung của những nhân vật được nhắc tới ngoài tài năng xuất chúng còn có tấm lòng ưu dân ái quốc, khát vọng giúp nước cứu đời

=> Đời sống người dân vẫn là tiêu chí hàng đầu để đánh giá một con người

B BÀI TẬP TỰ LUYỆN

Trang 9

Bài 1: Hình ảnh nhà nho Nguyễn Công Trứ có điểm gì giống và khác với những nhà nho

khác như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm? Phân tích tác phẩm của họ trong chương trình để thấy được nét tương đồng và sự khác biệt?

Gợi ý làm bài:

- Điểm tương đồng: Đều là những hình mẫu nhà Nho điển hình, mang lý tưởng Nho gia, dành cả cuộc đời để phấn đấu theo hình mẫu Nho giáo đề ra

- Điểm khác biệt:

+ Nguyễn Trãi là nhà Nho hành đạo, dành cả cuộc đời để tham dự vào chính trị, sự nghiệp chính trị được ông chú trọng nhiều hơn sự nghiệp văn chương, mối quan tâm lớn nhất là “ưu dân ái quốc”

+ Nguyễn Bình Khiêm là nhà Nho ẩn dật, vì bất mãn với thời cuộc cho nên thoái lui về

ở ẩn, “tạc tỉnh canh điền”, sống vui thú điền viên, thường có cái nhìn châm biếm nhẹ nhàng và sâu cay dành cho thói đời ô trọc, chốn quan trường trọng danh lợi

+ Nguyễn Du và Nguyễn Công Trữ đều là nhà Nho tài tử, điểm chung của họ là thị tài, khoe tài, có lối sống đôi lúc phóng túng hơn so với người bình thường, tuy nhiên cũng là người cống hiến hết mình cho xã hội, có sự nghiệp lẫy lừng; những giá trị đạo đức truyền thống với họ đôi lúc đáng bị nghi ngờ

- Nguyễn Công Trứ là điển hình hơn cả cho lớp nhà Nho tài tử, và lối sống “ngất ngưởng” của ông cũng là lối sống đặc trưng của những nhà Nho tài tử có sự nghiệp lẫy lừng vĩ đại

- Nguyễn Du lả trường hợp đặc biệt, tồn tại nhiều mâu thuẫn: đã từng “hành đạo” như Nguyễn Trãi, ẩn dật như Nguyễn Bỉnh Khiêm, sau ra triều làm quan lớn và thăng tiến nhanh như Nguyễn Công Trứ; thời trẻ ông là con người tài tử, nhưng trung niên và khi về già lại sống tương đối điềm đạm, mực thước

- Học sinh tự phân tích các tác phẩm trong nhà trường để thấy sự khác biệt của mỗi hình mẫu nhà Nho trong cách định hình thế giới nghệ thuật và khắc họa cái “tôi” cá nhân

Bài 2:

“Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi”.

Trang 10

(Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ)

Anh (chị) hiểu “tay kiếm cung mà nên dạng từ bi” là gì? Quan niệm này của Nguyễn Công Trứ có nhất quán với lối sống “ngất ngưởng” của ông hay không?

Gợi ý làm bài:

“Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi” có hai cách hiểu:

- Vốn là một võ quan (tay kiếm cung) nhưng ông đã lui về ở ẩn, lại lên chùa dạo chơi (nên dạng từ bi), ý chỉ sự đời thay đổi, “thương hải tang điền”

- Vốn là người đã từng đánh trận, làm tướng quân dẹp loạn, hạ lệnh giết hại nhiều người, nhưng ông vẫn tự xem mình là “nên dạng từ bi”, bởi với ông đó là cái “từ bi lớn”, đàn áp nội loạn để giữ vững trật tự quốc gia, bảo vệ độc lập dân tộc

=> Dù theo cách hiểu nào câu thơ của Nguyễn Công Trứ cũng cho thấy quan điểm nhất quán về lẽ sống, về đúng - sai, phải - trái, cho thấy ông đã sống một cuộc đời nhiều thăng trầm, biến cố, nhưng không hối hận về những quyết định của mình

Bài 3: Anh (chị) có nhận xét gì về lối sống, quan niệm sống của nhà thơ? Viết một bài

luận ngắn, chủ đề “Lối sống “ngất ngưởng” trong xã hội hiện đại”, bày tỏ quan niệm của mình

Gợi ý làm bài:

Học sinh tự do bày tỏ quan điểm Lưu ý, có thể để sống hoàn toàn như Nguyễn Công Trứ là không thể trong xã hội ngày nay, nhưng cách hành xử của ông có những điểm đáng

để khâm phục, nhất là trong thời đại người trẻ đang lạc lối, hoang mang khi phải tìm ra phương hướng của mình trong dòng đời thị phi

Bài 4: Trong lịch sử, Cao Bá Quát vẫn thi đi, đỗ đạt, ra làm quan cho triều đình, rồi nổi

dậy khởi nghĩa chống triều đình Từ bài thơ, hãy thử lý giải động cơ những lựa chọn của ông

Gợi ý làm bài:

Cần lưu ý Cao Bá Quát làm bài thơ khi còn trẻ, hơn hai mươi năm sau ông mới quyết định lựa chọn một “con đường khác” đó là khởi nghĩa chống lại triều đình; nhưng bài thơ phần nào hé lộ động cơ đằng sau lựa chọn đó:

- Sớm nhìn thấy tính chất vô nghĩa của con đường khoa cử

Ngày đăng: 16/05/2021, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w