Phân tích tác phẩm - Vẻ đẹp của sông Hương trong dòng chảy tự nhiên: + Sông Hương ở thượng nguồn Trường Sơn hùng vĩ.. Bài 2: Về nhân vật thị trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến
Trang 1Nghị luận về ý kiến bàn về văn học
I KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
NGHỊ LUẬN MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
1 Tìm hiểu đề
- Đọc kĩ đề bài
- Gạch chân từ quan trọng
2 Phân tích đề
- Xác định các yếu tố sau:
+ Tác phẩm, nhóm tác phẩm hoặc giai đoạn văn học cần nghị luận
+ Vấn đề cần nghị luận
+ Phạm vi kiến thức cần huy động
+ Yêu cầu cụ thể về mặt hình thức
3 Lập dàn ý
- Mở bài:
+ Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu tác giả tác phẩm
+ Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến
- Thân bài
+ Giải thích, làm rõ vấn đề:
Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến
Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì, có ý nghĩa như thế nào? + Bàn bạc, khẳng định vấn đề:
Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai?
Lí giải tải sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy? Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống? Phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học
- Mở rộng, nâng cao: Đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học
4 Viết bài
5 Đọc sửa
II BÀI TẬP CỦNG CỐ
Trang 2Bài 1: Có ý kiến cho rằng: Sông Hương là bản tình ca ca ngợi về thiên nhiên và văn
hóa xứ Huế Qua phân tích tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc
Tường), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Gợi ý làm bài:
a Khái quát về tác giả, tác phẩm
b Phân tích tác phẩm
- Vẻ đẹp của sông Hương trong dòng chảy tự nhiên:
+ Sông Hương ở thượng nguồn Trường Sơn hùng vĩ
+ Sông Hương về đến ngoại vi thành phố
- Sông Hương với vẻ đẹp văn hóa Huế
+ Là bà mẹ phù sa ôm ấp, che chở cho một vùng văn hóa, xứ sở
+ Vẫn trong chi lưu của nó, sông Hương làm nên một nét văn hóa rất riêng cho Huế Đó
là những đêm hội hoa đảng, là những tiếng đàn thả theo dư âm của sóng nước,
+ Từ lâu nay, tà áo dài tím và chiếc nón bài thơ là những hình ảnh quen thuộc gắn bó với xứ Huế mơ màng
+ Hơn cả một dòng sông, Hương giang còn là một dòng thi ca đem lại nguồn cảm hứng bất tận cho các thi nhân
- Những nét đặc sắc về nghệ thuật kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài 2: Về nhân vật thị trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là
người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh Nhưng cũng có ý kiến khác lại
nhấn mạnh: Thị là người giàu nữ tính và khát vọng Từ cảm nhận của mình về nhân vật,
anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên
Gợi ý làm bài:
a Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và ý kiến được đưa ra
b Bình luận hai ý kiến:
- Cả hai ý kiến này đều sâu sắc mang đến cho người đọc cái nhìn đúng đắn về người vợ nhặt - nạn nhân của nạn đói năm 1945
- Ý kiến thứ nhất:
+ Đi suốt chiều dài của tác phẩm đúng là người vợ nhặt là “người phụ nữ nghèo, cùng đường và liều lĩnh" Thị là nạn nhân của nạn đói với cuộc sống trôi nổi, bấp bênh Dưới
Trang 3ngòi bút của Kim Lân, người vợ nhặt là người phụ nữ không tên không tuổi, không quê hương, không quá khứ
+ Thị bị cơn bão nạn đói thổi cho phiêu dạt đến miền đất này, cuộc sống lê la tháng
ngày không biết đến ngày mai nếu như không có cái lần anh Tràng hò một câu chơi cho
đỡ nhọc ấy.
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, người “vợ nhặt” lại có một lòng ham sống mãnh liệt Thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống Trái lại, thị vẫn vượt lên trên cái thảm đạm để dựng xây mái ấm gia đình
- Ý kiến thứ hai:
+ Phía sau hình ảnh một kẻ “cùng đường và liều lĩnh” là một người phụ nữ giàu nữ tính, giàu lòng tự trọng và có khát vọng sống mãnh liệt
+ Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách cùa thị Ấy là lúc thị về đến nhà
Tràng, nhìn thấy ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi
cỏ dại, thị nén một tiếng thở dài Chính hạnh phúc, lòng nhân ái đã làm cho người ta đổi
thay, vui vẻ, tự tin vượt lên cái tăm tối của thực tại, vươn tới những ngày tươi sáng, tốt đẹp
+ Đến lúc này người đọc chợt nhận ra, bên trong vẻ chao chát, chòng lỏn, thị lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan và cũng giàu lòng tự trọng
+ Trong bữa cơm đầu đón nàng dâu: Dù bữa ăn chỉ có niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn, lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng.
-Đánh giá:
+ Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau để hoàn thiện vẻ đẹp của nhân vật
+ Viết về sự đổi thay trong tâm tính của thị, Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo
Bài 3: về đoạn thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Trang 4Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gằm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
(Tây Tiến, Quang Dũng)
Có ý kiến cho rằng: Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng song cũng đầy dữ dội, khắc nghiệt Ý kiến khác lại khẳng định: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài
về người chiến sĩ Tây Tiến kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, hào hoa
Từ cảm nhận của mình về đoạn thơ, anh (chị) suy nghĩ như thế nào về hai ý kiến trên?
Gợi ý làm bài:
a Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và ý kiến
b Phân tích nhận định
- Nhận định thứ nhất: Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng song cũng đầy dữ dội khắc nghiệt:
+ Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, thơ mộng
+ Thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt
Khẳng định với con mắt thi, nhạc, họa kết hợp với cảm hứng bi tráng, lãng mạn, Quang Dũng đã tái hiện sinh động một bức tranh nghệ thuật ngôn từ về thiên nhiên Tây Bắc với
sự kết hợp của nhiều nét vẽ: vừa thơ mộng, trữ tình; vừa hùng vĩ, dữ dội
- Nhận định thứ hai: Đoạn thơ vẽ nên bức tượng đài về người chiến sĩ Tây Tiến kiêu hùng, bi tráng song cũng rất đỗi lãng mạn, tài hoa
+ Họ phải đối mặt với bao khó khăn, thử thách, mất mát, hi sinh:
Trang 5+ Tâm hồn lãng mạn, hào hoa:
Như vậy, người chiến binh hiện lên vừa kiêu hùng, bi tráng vừa lãng mạn, hào hoa (lí giải từ xuất thân của họ)
c Đánh giá chung
- Hai nhận định đều khái quát được nội dung cơ bản của đoạn thơ
- Cả hai nhận định đều cho thấy cái nhìn đầy đủ, rõ nét về thiên nhiên Tây Bắc và người lính Tây Tiến dội về trong nỗi “nhớ chơi vơi” của nhà thơ khi ông đã rời xa Tây Tiến, rời
xa sông Mã
- Đoạn thơ là sự phối hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và bút pháp lãng mạn
Bài 4: Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: "Người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước” Ý kiến khác thì nhấn
mạnh “Hình tượng người lính mang vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng chiến chống Pháp”.
Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/ chị hãy bình luận các ý kiến trên
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện
Bài 5: Có ý kiến cho rằng: ở Tnú không có vấn đề nhận đường, tìm đường như nhân vật
A Phủ Câu chuyện về Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần khép lại.
Anh/ chị hãy so sánh hai nhân vật A Phủ (Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài) và nhân vật Tnú (Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành) để thấy được những phẩm chất mới mẻ ở Tnú.
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện
Bài 5: Nhà văn Kim Lân tâm sự:
Rất lạ những con người khốn cùng chẳng hề từ bỏ lòng ham sống, ham hạnh phúc Trong cái đói người ta vẫn chỉ nghĩ tới sung sướng Vì vậy họ lấy nhau Những người đói
họ không hề nghĩ tới cái chết mà nghĩ tới sự sống.
Anh/ chị hãy làm sáng tỏ điều đó qua truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn.
Gợi ý làm bài:
Học sinh tự thực hiện
II HỆ THỐNG BÀI TẬP TỰ LUYỆN
Trang 6Bài 1: Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được
trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn để tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên cùng thứ vàng mười đã qua thử lửa ở tâm hồn của những con người lao động và chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng đó.
(Ngữ văn 12, tập 2)
Phân tích đoạn trích “người lái đò sông Đà” để thấy được vẻ đẹp của “chất vàng của thiên nhiên” và “thứ vàng mười đã qua thử lửa” của miền Tây Bắc mà nhà văn nói đến
Bài 2: Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu:
Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vịnh xưa cổ Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người nơi đây; và để nhân cách hoá nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của
nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ ” Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hoá xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.
1 Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên
2 Biện pháp tu từ nào được sử dụng nhiều lần trong đoạn trích Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó
3 Cảm nhận về vẻ đẹp sông Hương qua đoạn trích trên
Bài 3:
Hai người lặng lẽ rẽ xuống một con đường nhỏ Con đường sâu thăm thẳm, luồn giữa hai bờ tre cao vút ở đây vắng vẻ, thoải mái Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ
mà chẳng biết nói thế nào Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào vai kia đi bên người đàn bà Thị cũng không nói gì, hai con mắt tư lự nhìn ra phía trước Tiếng gió trên
bờ tre rì rào và tiếng lá khô kêu sào sạc dưới bàn chân.
Trang 7Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chè, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ,
lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.
(Vợ nhặt, Kim Lân)
1 Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào
2 “hắn” và “thị” ở đây là ai? Trong tác phẩm nào? Hắn và thị đã được tác giả đặt vào tình huống nào?
3 Viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật “hắn” qua đoạn trích này
Bài 4:
Bấy giờ Mỵ ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng Từ nay
Mỵ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước Mỵ trẻ,
Mỵ vẫn còn trẻ Mỵ muốn đi chơi Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết Huống chi
A Sử với Mỵ không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại, chì thấy nước mặt ứa ra Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.
Anh ném pao Em không bắt Em không yêu
Quả pao rơi rồi
(Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài)
- Từ đoạn trích trên, lí giải tại sao nhân vật Mỵ lại “muốn đi chơi”?
- Khi ở một không gian tù túng, trói buộc, thứ giúp cho Mỵ giao tiếp với thế giới bên ngoài là những âm thanh của tiếng khèn, câu hát gọi bạn Viết bài văn ngắn phân tích vai trò của âm thanh hội hè với việc đánh thức khát vọng tuổi trẻ trong con người Mỵ
Bài 5:
Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt
(Người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu)
Trang 81 Nhân vật “người đàn bà”, “người đàn ông”, “thằng nhỏ” là là những ai? Có mặt trong tác phẩm nào?
2 Phân tích tác dụng của biện pháp so sánh trong đoạn văn trên
3 Viết bài văn cảm nhận về người đàn bà trong tác phẩm
Bài 6:
- “Không! Không! Tôi không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi này lắm rồi, chán lắm rồi! Cái thân thể kềnh càng thô lỗ này, ta bắt đầu sợ
mi, ta chỉ muốn rời xa mi tức khắc! Nếu cái hồn của ta có hình thù riêng nhỉ, để nó được tách ra khỏi cái xác này, dù chỉ một lát!”;
- “Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm được đủ mọi cách để lấn át ta Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? “Chẳng còn cách nào khác”! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần!”
1 Đây là những lời của ai nói với ai, trong tác phẩm nào? Các lời này đã được viết nên bởi thủ pháp nghệ thuật nào?
2 Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm, tư tưởng nhà văn gửi gắm qua nhan đề là gì?
3 Phân tích ý nghĩa các lời trên
Bài 7: Trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình, một nhân vật đã nói: “Chuyện
gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc để ghi vào
đó Trăm sông đổ về một biển, con sông của gia đình ta cũng chảy vè biển mà biển thì rộng lắm”.
- Đó là lời nhân vật nào? Nói với ai?
- Hàm ý của lời nói đó là gì? Chứng minh rằng “chuyện gia đình đó cũng dài như sông”
Bài 8: Trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), sau khi cắt dây trói cho A Phủ, “Mị cũng chạy
vụt ra Nhưng Mị vẫn băng đi Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy chạy xuống lưng dốc, Mị
nói thở trong hơi gió thốc lạnh buốt - A Phủ cho tôi đi” Phần cuối truyện Vợ nhặt (Kim
Lân), khi nghe người vợ nhặt nói về những người dân đi cướp kho thóc Nhật, trong đầu
Tràng “vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm".
Trang 9Từ hai cảnh kết thúc truyện đó, chứng minh rằng: giá trị nhân đạo của tác phẩm biểu hiện ở chỗ nhà văn đã tìm được những lối thoát, giải phóng thân phận khốn khổ của con người trong xã hội cũ
Đáp án
NGHỊ LUẬN Ý KIẾN VĂN HỌC
Bài 1:
Gợi ý làm bài:
1 Mở bài:
- Giới thiệu về Nguyễn Tuân và kí của Nguyễn Tuân: Dường như có mối liên hệ mật thiết giữa Nguyễn Tuân - một nhà văn tài hoa uyên bác, ngông với đời - với thể loại tùy bút, một thể loại cũng đòi hỏi ở nhà văn những phẩm chất như vậy Nguyễn Tuân tìm đến thể tài này cũng để thỏa chí sáng tạo, chất chơi ngông của mình
- Tùy bút Sông Đà là những trang viết đặc biệt thành công, có sự hòa quyện ở tâm hồn tài năng của người nghệ sĩ và ở vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của chính dòng sông Đà Trong bài tùy bút, Nguyễn Tuân đã tìm thấy chất vàng thiên nhiên Tây Bắc và chất vàng mười ở con người Tây Bắc
2 Thân bài
a Giải thích nhận định:
- Nhà văn dùng các thức so sánh, dùng chữ “vàng” với vẻ đẹp và sự quý giá của nó để
nói đến vẻ đẹp và quý giá của sông núi và tài trí của con người lao động Nếu vẻ đẹp của thiên nhiên là chất vàng thì vẻ đẹp con người là “vàng mười”, tức là vẻ đẹp hoàn thiện, hoàn mĩ
- Nhưng vẻ đẹp và sự quý giá ấy không dễ tìm thấy, mà nó còn đang náu mình trong những vùng đất xa xôi, ở những thứ xù xì thô ráp, ở trong đời sống hàng ngày Điều đó đòi hỏi nhà văn phải là người biết tìm kiếm, sàng lọc và phát hiện ra vẻ đẹp ấy, và thể hiện nó bằng tài năng của mình Qua đó, tác phẩm là món quà dâng cho đời, góp nhặt những thứ
“vàng mười” đẹp đẽ của thiên nhiên đất nước và con người
b Phân tích:
- Trong tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” , Nguyễn Tuân đã phát hiện ra “chất vàng” quý báu của một dòng sông: “Đà giang độc bắc lưu” là một dòng sông vừa hung bạo vừa trữ
Trang 10tình, hai mặt tính cách vừa bổ sung, vừa hòa hợp làm nên vẻ đẹp riêng và sức sống mãnh liệt của dòng sông:
+ Tính cách hung bạo: những đoạn sông đầy đá chìm và thác dữ Nhưng bên cạnh sự hung bạo ấy ta vẫn thấy ở sông Đà một biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước Sự dữ dội của sông Đà: “đá bờ sông dựng thành”, “nước xô đá,
đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt năm”, “những hút nước xoáy tít” vẻ đẹp dữ dội có phần man dại của sông Đà cho ta thấy cái quý giá của sức nước, những
“tuốc bin thuỷ điện” Đến đây, chất vàng không chỉ còn là hình tượng mà còn có ý nghĩa thực tế, đó là sức mạnh kinh tế, kĩ thuật của con người, biến sông Đà thành tài sản quý giá đối với cuộc sống con người
+ Tính cách trữ tình: Sông Đà là dòng sông thơ mộng, trữ tình: hình dáng mềm mại
“tuôn dải như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc” Đó
là hình ảnh so sánh đẹp, gợi cảm, con sông như người con gái đẹp “áng tóc mun dài ngàn ngàn vạn vạn sải ”; cảnh sắc hai bên bờ sông cũng rất đỗi thơ mộng “như bờ tiền sử”,
“hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” Không gian mơ màng, thời gian huyền thoại đem đến cho sông Đà diện mạo khác thường, đầy sức huyền ảo, hấp dẫn
- Chất vàng mười - hình tượng người lái đò sông Đà Nguyễn Tuân dùng Chữ “vàng mười” để chỉ vẻ đẹp và giá trị của người lao động Đồng thời, nhà văn cũng nhắn nhủ ý tưởng rằng: phẩm chất, tài năng của con người cũng như thứ vàng mười phải được tôi luyện, thử thách trong cuộc sống, giống như vàng được tôi luyện trong lửa vậy vẻ đẹp con người Tây Bắc càng quý giá, đáng trân trọng vì đó là những con người lao động, đang hòa mình vào với thiên nhiên, chinh phục và cải tạo thiên nhiên
+ Người lái đò là người lao động vô danh, như bao quần chúng khác Nhưng con người
vô danh ấy nhờ lao động, nhờ chinh phục, chế ngự thiên nhiên hung bạo Nguyễn Tuân không tiếc lời miêu tả và ca ngợi người lái đò sông Đà vừa hấp dẫn vừa hùng tráng cuộc thuỷ chiến sông Đà Trong những cuộc thuỷ chiến ấy, ông đò đã bằng sự dũng cảm, phi thường, mưu trí đề vượt qua hết vòng vi này đến vòng vi khác, ông giành thế chủ động bởi ông ông lái đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá” Ông lái đò hiện lên với tư thế một người chiến thắng, làm chủ thiên nhiên: cưỡi lên thác ghềnh của sông Đà như một lão tướng dày dạn kinh nghiệm Hình ảnh ông đò như mang dáng dấp của những anh hùng trong các thiên anh hùng ca thời cổ đại