ĐỀ TÀI MÔ HÌNH TỔ CHỨC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG TẠI VIỆT NAM
Trang 1UBND TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HUẾ KHOA TỰ NHIÊN - KINH TẾ
MÔ HÌNH TỔ CHỨC NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Ở VIỆT NAM
GVHD : SVTH : MSSV :………
LỚP : ………
KHÓA: 2011-2014
Huế, 11/2013
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Will Rogers - một nhà văn hài hước người Mỹ từng nói: “Có 3 phát minh
vĩ đại từ khi bắt đầu sự sống của loài người là lửa, bánh xe và Ngân hàng Trung ương” Hàm ý sâu xa của câu nói này cho thấy Ngân hàng Trung ương có tầm quan trọng như thế nào trong lịch sử phát triển của loài người
Nếu hệ thống ngân hàng được ví là huyết mạch thì Ngân hàng Trung ương chính là trái tim của nền kinh tế Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển lành mạnh khi có một Ngân hàng Trung ương thực hiện tốt chức năng điều tiết hệ thống tiền
tệ Ngược lại, những trục trặc trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương cũng
có thể gây ra những cú “đột quỵ”đối với cả nền kinh tế Vì vậy, ở bất kỳ quốc gia nào, Ngân hàng Trung ương cũng đều đóng vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, trước khi hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời ( 5/1990), hệ thống Ngân hàng hoạt động theo mô hình một cấp, tức là Ngân hàng Trung ương vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh tiền
tệ, tín dụng Sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng ra đời, hệ thống Ngân hàng chính thức chuyển sang hoạt động theo quy mô hai cấp Ngân hàng Trung ương giữ vai trò trọng yếu, là ngân hàng duy nhất chuyên làm nhiệm vụ phát hành tiền, thực hiện các điều tiết vĩ mô và lĩnh vực tiền tệ ngân hàng Ngân hàng Trung ương là cơ sở kiểm soát tiền tệ của Nhà nước và hoạt động theo mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ
Việc nghiên cứu mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương thông qua việc phân tích thực trạng, đánh giá những mặt đạt được cũng như tồn tại nhằm tăng cường hơn nữa phạm vi, hiệu quả điều tiết tiền tệ đáp ứng yêu cầu thực tiễn, xây dựng một nền kinh tế phát triển và tiến tới hòa nhập với kinh tế khu vực và thế
giới Xuất phát từ những vấn đề nêu trên em đã chọn đề tài “Mô hình tổ chức
Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam” làm tiểu luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 3Nghiên cứu cơ sở lý luận về Ngân hàng Trung ương và mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương
Tìm hiểu và phân tích mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
Đưa ra các giải pháp phát triển mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp
5 Phạm vi nghiên cứu
Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương ở Việt Nam
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Ngân hàng Trung ương
1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng Trung ương là ngân hàng duy nhất của một quốc gia chuyên làm nhiệm vụ phát hành tiền và thực hiện việc điều tiết vĩ mô, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng Ngân hàng Trung ương là cơ quan kiểm soát tiền tệ của Nhà nước
1.1.2 Bản chất của Ngân hàng Trung ương
Bản chất của Ngân hàng Trung ương được thể hiện qua các điểm:
- Là ngân hàng phát hành độc quyền của Nhà nước
- Là bộ máy quản lý kinh tế tài chính tổng hợp của Nhà nước
- Là trung tâm tiền tệ, trung tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của toàn
bộ nền kinh tế
1.2 Chức năng của Ngân hàng Trung ương
1.2.1 Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ
Tình hình thu - chi của Chính phủ được thể hiện qua Ngân sách Nhà nước Ngân sách nhà nước thường rơi vào một trong ba trường hợp sau:
- Thu lớn hơn chi: Ngân sách thặng dư, Chính phủ dư tiền để tiêu dùng
- Thu bằng chi: Ngân sách cân bằng, thu đủ trang trải chi
- Thu nhỏ hơn chi: Ngân sách bội chi, nghĩa là thu không đủ trang trải chi
* Phát hành qua kênh tín dụng
Một trong các cách để NHTW đưa tiền vào lưu thông đó là cho ngân hàng trung gian vay thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các ngân hàng trung gian Khi NHTW cho ngân hàng trung gian vay tiền, tiền mặt sẽ thông qua ngân hàng trung gian để tới tay công chúng
* Phát hành qua thị trường mở
Trang 5Trong ngõ phát hành này, chủ yếu NHTW tham gia trên thị trường tiền tệ Khi NHTW muốn phát hành thêm tiền ra lưu thông qua thị trường mở, nó sẽ thực hiện nghiệp vụ mua chứng khoán trên thị trường này Việc làm đó của ngân hàng sẽ làm cho lượng tiền trong nền kinh tế tăng lên
* Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ
Thông qua việc tung tiền mặt ra thị trường vàng và ngoại tệ để mua các đồng tiền của nước ngoài NHTW vừa làm tăng dự trữ vàng và ngoại tệ, vừa làm tăng lượng tiền mặt trong lưu thông một khoảng tương ứng Đây cũng là một kênh phát hành tiền
1.2.2 Là ngân hàng của các ngân hàng
hàng thương mại, các tổ chức tín dụng
Tiền gửi các ngân hàng trung gian gửi vào NHTW bao gồm 2 loại:
- Tiền gửi dự trữ bắt buộc: Khoản tiền này áp dụng bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian có huy động vốn tiền gửi của công chúng Mức dự trữ cao hay thấp tùy theo quy định của NHTW trong từng thời kỳ cho phù hợp với chính sách tiền tệ
- Tiền gửi thanh toán: Đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên giữa các ngân hàng với nhau và để điều chỉnh mức dự trữ bắt buộc khi cần
- Thanh tra và kiểm soát một cách thường xuyên và toàn diện mọi mặt hoạt động của các Ngân hàng trung gian
Trang 6- Quyết định việc đình chỉ hoạt động hoặc giải thể các ngân hàng vi phạm nghiêm trọng luật pháp hoặc mất khả năng thanh toán
1.2.3 Là ngân hàng của Chính phủ
* Làm thủ quỹ cho Kho bạc Nhà nước
NHTW có trách nhiệm theo dõi, chi trả, thực hiện thanh toán và cấp vốn theo yêu cầu của kho bạc và sử dụng số dư đó khi nhàn rỗi tương tự như tài khoản của khách hàng tại một ngân hàng trung gian
* Quản lí dự trữ quốc gia
NHTW chỉ cần giữ cho dự trữ không rơi xuống dưới mức tối thiểu mà luật quy định Còn trong quá trình hoạt động của mình, NHTW có thể hoàn toàn sử dụng dự trữ quốc gia để phục vụ cho các thao tác trong chính sách tiền tệ
* Cho Chính phủ vay
NHTW có thể cấp cho Chính phủ các khoản tín dụng nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong năm tài chính hoặc bội chi ngân sách vào cuối năm tài chính
* Làm đại lí, đại diện và tư vấn cho Chính phủ
NHTW thực hiện một dịch vụ đại lý toàn phần cho các dịch vụ phát hành chứng khoán
- Thông báo việc phát hành chứng khoán mới về loại chứng khoán, mệnh giá, số lượng, thời hạn, lãi suất, phương thức phát hành
- Nhận đơn và tổ chức đấu thầu
- Thông báo kết quả đấu thầu
- Phân phối chứng khoán trúng thầu và nhận tiền cho kho bạc
- Tổ chức thanh toán chứng khoán khi đến hạn thông qua các NHTG
1.3 Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương
1.3.1 Mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ
Khái niệm
Là mô hình trong đó NHTW nằm trong nội các Chính Phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về nhân sự, tài chính và đặc biệt là các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ
Trang 7Đặc điểm
Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với NHTW thông qua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành NHTW và can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
Các nước đang áp dụng
Tiêu biểu cho mô hình này là Nhật Bản, Anh, Việt Nam, phần lớn là các nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Indonesia… hoặc các nước thuộc khối XHCN trước đây
Sơ đồ 1.1: Mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ
- NHTW mất đi sự chủ động trong việc thực thi chính sách tiền tệ
- Làm xa rời mục tiêu dài hạn
1.3.2 Mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Quốc hội
Khái niệm
Quốc hội
Chính phủ
Bộ và các cơ quan ngang Bộ
( Tài chính, Kế hoạch đầu tư,
Công thương…)
Ngân hàng Trung ương
Các mục tiêu kinh tế, xã hội
Trang 8Là mô hình trong đó NHTW không chịu sự chỉ đạo của Chính phủ mà là Quốc hội
Đặc điểm
Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động của NHTW, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ NHTW không chịu sự kiểm soát của Chính phủ Tuy nhiên, Chính phủ cũng có thể tham gia vào các cuộc họp của Ngân hàng nhưng việc thực hiện hay không phụ thuộc vào quyết định của NHTW
Sơ đồ 1.2: Mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Quốc hội
Các nước đang áp dụng
Tiêu biểu cho mô hình này là hệ thống dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) và Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật và gần đây là ngân hàng Trung ương châu Âu
Ưu điểm
- Tăng hiệu quả các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính
- Được trao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp, chỉ đạo
từ Chính phủ hay cơ quan liên quan
Quốc hội
Chính phủ
Bộ và cơ quan ngang Bộ
( Tài chính, Kế hoạch đầu
tư, Công thương…)
Ngân hàng Trung ương
Các mục tiêu kinh tế - xã hội
Trang 9- Độc lập trong việc thực thi các chính sách tiền tệ nên tăng tính chủ động
và giảm độ trễ của chính sách tiền tệ
- Có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách
- Tự chủ về tổ chức và cơ chế tài chính, nhân sự
- Trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch
2.1 Ngân hàng Trung ƣơng ở Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành của Ngân hàng Trung ƣơng Việt Nam
Được thành lập tháng 5/1951, lúc đầu có tên là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đến năm 1960 đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đây là cơ quan cấp Bộ trực thuộc Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước ta
- Thời kỳ 1951 - 1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên là phát hành giấy bạc Ngân hàng, thu hồi giấy bạc Tài chính, thực hiện quản
lý Kho bạc Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân sách; phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch
- Thời kỳ 1955 - 1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ, miền Bắc vừa xây dựng, chiến đấu, vừa chi viện cho cách mạng giải phóng miền Nam
Trang 10- Thời kỳ 1975 - 1985: Là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh giải phóng và thống nhất nước nhà Nhiệm vụ cụ thể của ngành ngân hàng là tiến hành thiết lập hệ thống Ngân hàng thống nhất trong cả nước và giải thể hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam Theo đó, Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước, phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Thời kỳ 1986 đến nay:
Là quá trình đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống Ngân hàng Việt Nam + Tháng 7/1987: Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 218/CT cho phép làm thử việc chuyển hoạt động của Ngân hàng sang kinh doanh XHCN
+ Tháng 3/1988: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh
+ Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh
về ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính)
+ Tháng 10/1993: Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và cộng đồng tài chính quốc tế (Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á) được tái lập và khơi thông
+ Ngày 2/12/1997: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa X chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1998
+ Ngày 16/6/2010: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, NHNN Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trang 11Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHTW Việt Nam thực hiện theo Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Trung ƣơng Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Trung ương Việt Nam được thể hiện qua
63 chi nhánh NHNN tỉnh,TP
Tạp chí NH
Trung tâm thông tin tín dụng Trường bồi dưỡng cán bộ NH
Ban quản lý các dự
án tín dụng quốc tế
Trang 12Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Trung ƣơng Việt Nam
2.1.3 Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ƣơng ở Việt Nam hiện nay
Để ổn định mô hình tổ chức, NHTW đã đề ra một số phương án nhằm xây dựng mô hình NHTW đặc trưng về cách thức và hoạt động bằng cách xây dựng hệ thống giám sát thanh toán quốc gia
Việc xây dựng hệ thống giám sát quốc gia bao gồm quản lý, đánh giá, yêu cầu chỉnh sửa hệ thống Các hoạt động này không phải là chức năng thanh toán và quyết toán của NHTW ở khía cạnh cung ứng các dịch vụ quyết toán và vận hành
hệ thống Tuy nhiên, nhằm đạt tới các mục tiêu chính sách về an toàn và hiệu quả
cho các hệ thống thanh toán Giám sát hệ thống đồng thời cũng bổ sung cho việc
thanh tra trên cơ sở rủi ro - một trong các chức năng quan trọng của NHTW
* Những yếu tố chính của một hệ thống thanh toán quốc gia:
- Các công cụ thanh toán được sử du ̣ng để khởi xướng và hướng dẫn chuyển tiền giữa tài khoản của người thanh toán và người được thanh toán ta ̣i các định chế tài chính
- Cơ sở ha ̣ tầng thanh toán cho giao di ̣ch và thanh toán bù trừ các công cu ̣ thanh toán, xử lý và truyền thông tin thanh toán , chuyển tiền giữa các đi ̣nh chế thanh toán và nhâ ̣n khoản thanh toán
- Các định chế tài chính cung cấp các tài khoản , công cụ và di ̣ch vu ̣ thanh toán cho khá ch hàng , các doanh nghiệp và tổ chức có hoạt động thanh toán, các mạng lưới thanh toán bù trừ và quyết toán cho các định chế tài chính này
- Những dàn xếp về thi ̣ trường như các th ỏa thuận, quy đi ̣nh và hợp đồng cho viê ̣c khởi ta ̣o, đi ̣nh giá, chuyển giao, chấp nhâ ̣n các công cu ̣ và di ̣ch vu ̣ thanh toán khác nhau
- Luật lê ̣, các chuẩn mực, quy đi ̣nh và thủ tu ̣c do các nhà lâ ̣p pháp, tòa án, nhà quản lý thiết lập để xác định và quản lý quy t rình thanh toán và quản lý thị trường di ̣ch vu ̣ thanh toán
Trang 13* Một số nguyên tắc mà hoạt động giám sát hệ thống phải tuân thủ:
- Minh bạch: NHTW phải thiết lập một cách công khai các chính sách giám sát, bao gồm cả các yêu cầu hay chuẩn mực đối với các hệ thống thanh
toán và những tiêu thức để xác định xem hệ thống nào phải áp dụng
- Tuân thủ thông lệ quốc tế: NHTW phải thông qua các chuẩn mực quốc
tế được thừa nhận chung đối với các hệ thống thanh toán và quyết toán
- Hiệu lực và năng lực: NHTW phải có đủ thẩm quyền và năng lực để đảm nhận các trách nhiệm giám sát của mình một cách hiệu quả
- Sự nhất quán: Các chuẩn mực giám sát phải được áp dụng một cách nhất quán với các hệ thống thanh toán và quyết toán tương đồng, kể cả hệ thống do NHTW vận hành
- Phối hợp với các cơ quan chức năng khác: NHTW với mục tiêu thúc đẩy
sự an toàn và hiệu quả của hệ thống thanh toán, phải phối hợp với các cơ quan hữu quan khác
Sơ đồ 2.2: Mô hình giám sát tài chính hiện nay của Việt Nam
* Mô hình tổ chức Ngân hàng Trung ương chịu ảnh hưởng của các xu hướng:
- Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được coi là xu hướng chủ đạo chi phối sự phát triển của ngành
Ngân hàng Nhà Nước
Bộ tài chính
CHÍNH PHỦ
Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia
hiểm
Chứng khoán
Bảo hiểm
Tổ chức tín dụng
BHTG
Việt
Nam
Trang 14ngân hàng trong 10 năm tới, đem lại nhiều cơ hội cho sự phát triển của khu vực
tài chính của Việt Nam
- Xu hướng phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế mới nổi và Châu Á Thái Bình Dương: Giai đoạn 2001 - 2010 đánh dấu sự nổi lên của những nền kinh tế lớn mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil (còn được gọi tắt là khối BRIC) và khu vực Châu Á Thái Bình Dương Tốc độ tăng trưởng ngoạn mục của những nền kinh tế này trong những năm qua như Trung Quốc với tốc
độ trung bình hàng năm là hơn 10%, Nga hơn 7% đã góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, các nền kinh tế mới nổi này dự báo sẽ chiếm hơn 50% tăng trưởng của thế giới trong 20 năm tới và sẽ làm đầu tàu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thế giới, quy mô kinh tế châu Á sẽ vượt nhóm 7 nước công nghiệp lớn (G7) và trở thành khu vực kinh tế lớn nhất thế giới
- Xu hướng phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế trí thức: Đặc biệt là xu hướng hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức đã tạo ra những lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của khu vực tài chính trên phạm vi toàn cầu
* Dự báo một vài xu hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong năm 2012:
- Xu hướng khai thác dịch vụ ngân hàng bán lẻ: Đây là một xu thế tất yếu
của ngành ngân hàng Việt Nam khi mà hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhu cầu tiện ích của người dân ngày càng đa dạng thì các NHTM đều đang cố gắng mở rộng thị phần, tiếp cận một lượng lớn người dân chưa biết đến các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng
- Xu hướng tổ chức lại kênh phân phối, tăng năng suất lao động: Là một phần gắn kết doanh nghiệp với thị trường, kênh phân phối là một cấu phần tất yếu phải có trong quá trình sống của doanh nghiệp, đó là phạm trù mô tả cách thức doanh nghiệp tiếp cận tới thị trường và cung cấp sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng Hiện nay, thông qua sự trợ giúp của công nghệ thông tin như ATM, Mobile Banking với nhiều ưu điểm về thời gian và mức phí